Kết quả phân tích thông số độ hạt các mẫu trầm tích bãi triều trong khu vực nghiên cứu tiến hành tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển.. Bãi triều được thành tạo do các động lực sóng, d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Tiến Hải
TS Trần Đăng Quy
HÀ NỘI – 2015
Trang 2[ii]
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Học viên
Nguyễn Văn Tình
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được luận văn này đầu tiên học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn là: TS Nguyễn Tiến Hải và TS Trần Đăng Quy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho học viên trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Địa chất, Bộ môn Địa chất Môi trường, Bộ môn Trầm tích và Địa chất Biển - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Hà Nội, GS.TS Trần Nghi, GS.TS Mai Trọng Nhuận, PGS.TS Nguyễn Văn Vượng, PGS.TS Chu Văn Ngợi, TS Phùng Văn Phách, TS Đinh Xuân Thành,… cùng nhiều thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho học viên trong quá trình học tập, làm việc cũng như thực hiện luận văn này
Luận văn được hoàn thành với sự hỗ trợ kinh phí và tài liệu từ đề tài nghiên cứu Khoa học và Công nghệ cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
mã số VAST.05.01/13-14 “Đánh giá tổn thương hệ thống các bãi triều và bãi cát biển ven bờ Bắc Trung Bộ do tai biến thiên nhiên liên quan tới biến đổi khí hậu và
đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại” Qua đây học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tiến Hải - chủ nhiệm đề tài, Ban lãnh đạo Viện Địa chất và Địa vật
lý biển - Cơ quan chủ quản đề tài đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho học viên trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Văn Tình
Trang 4ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC BÃI TRIỀU TỪ CỬA SÓT ĐẾN CỬA HỘI 4
1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 4
1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 6
1.2.1 Đặc điểm địa hình 6
1.2.2 Đặc điểm địa chất 7
1.2.3 Đặc điểm địa mạo 10
1.2.4 Đặc điểm khí hậu 11
1.2.5 Đặc điểm thủy văn 12
1.2.6 Đặc điểm hải văn 13
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 14
1.3.1 Dân cư – xã hội 14
1.3.2 Hoạt động kinh tế 16
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ BÃI TRIỀU, LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Tổng quan về bãi triều 18
2.1.1 Một số khái niệm 18
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bãi triều 20
Trang 5iii
2.1.3 Phân loại bãi triều 25
2.2 Lịch sử khu vực nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Tổng hợp, phân tích, kế thừa tài liệu 31
2.3.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 31
2.3.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu địa mạo 33
2.3.4 Nhóm phương pháp địa chất trầm tích 34
2.3.5 Phương pháp viễn thám và GIS 36
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ XU THẾ BIẾN ĐỘNG HỆ THỐNG BÃI TRIỀU TỪ CỬA SÓT ĐẾN CỬA HỘI 37
3.1 Đặc điểm hệ thống bãi triều 37
3.1.1 Một số vấn đề chung 37
3.1.2 Đặc điểm hệ thống bãi triều Cửa Sót – Cửa Hội 43
3.2 Xu thế biến động hệ thống bãi triều 52
3.2.1 Các yếu tố tác động đến biến động bãi triều 52
3.2.2 Các quá trình, hoạt động gây lên thay đổi bãi triều khu vực nghiên cứu 61
3.2.3 Đánh giá xu thế biến động bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội 69
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG HỆ THỐNG BÃI TRIỀU TỪ CỬA SÓT ĐẾN CỬA HỘI 74
4.1 Định hướng quản lý, chính sách và phát triển khoa học - công nghệ 74 4.1.1 Tăng cường luật pháp – chính sách 74
4.1.2 Tăng cường các giải pháp khoa học và công nghệ 75
Trang 6iv
4.1.3 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức nhân dân
75
4.2 Nhóm định hướng chính sách kinh tế - xã hội 76
4.2.1 Tăng chất lượng dịch vụ du lịch biển 76
4.2.2 Đẩy mạnh quy hoạch đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản 76
4.2.3 Khai hoang lấn biển 78
4.2.4 Cải tạo, tận dụng nguồn cát dùng trong xây dựng, nông nghiệp 78 4.3 Định hướng một số biện pháp xây dựng bảo vệ đới ven biển 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000) 4
Hình 1.2 Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000) 5
Hình 1.3 Bản đồ địa hình vùng nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000) 7
Hình 1.4 Bản đồ Đia chất – Khoáng sản Hà Tĩnh (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/200.000) 10
Hình 1.5 Cảng Cửa Hội – Nghi Xuân 17
Hình 2.1 Mô hình một bãi triều ven bờ 18
Hình 2.2.Các yếu tố của bãi triều 19
Hình 2.3 Sơ đồ phân loại bãi triều theo dao động thủy triều (Amos.C.L,1995) 27
Hình 2.4 Một số hình ảnh khảo sát ngoài thực địa 32
Hình 2.5 Sơ đồ các điểm lấy mẫu trên bãi triều 40
Hình 3.1 Khung cảnh phía trước Cửa Hội 43
Hình 3.2 Mẫu cát XH1.04 - 4 -14 và XH2.04 - 4 - 14 khu vực Xuân Hội dưới kính hiển vi soi nổi (x20) 45
Hình 3.3 Mẫu cát XHA1.04 - 4 – 14 và XHA2.04 - 4 – 14 khu vực Xuân Hải dưới kính hiển vi soi nổi (x20) 45
Hình 3.4 Bãi triều khu vực Xuân Yên 46
Hình 3.5 Mẫu XTH1.05 – 4 -14 (a), XTH2.05 – 4 -14 (b) khu vực Xuân Thành; XL1.05– 4 -14 (c) khu vực Xuân Liên và CG1.05 – 4 -14 (d) khu vực Cương Gián (x20) 47 Hình 3.6 Bãi triều khu vực Xuân Thành [6] 48
Hình 3.7 Sơ đồ mặt cắt ngang bãi triều Xuân Thành 48
Trang 8vi
Hình 3.8 Sơ đồ mặt cắt ngang bãi triều Thạch Kim 50
Hình 3.9 Mẫu cát hạt trung – nhỏ khu vực bãi triều Thạch kim (x20) 50
Hình 3.10 Bãi triều khu vực Thạch Kim, Thạch Hà 50
Hình 3.11 Bãi triều khu vực Thạch Hải [6] 51
Hình 3.12 Sơ đồ mặt cắt ngang bãi triều Thạch Hải 52
Hình 3.13 Tương tác các quyển trái đất đến sự hình thành bãi triều 52
Hình 3.14 Bản đồ nguy cơ ngập tỉnh Hà Tĩnh ứng với mực nước biển dâng 68
Hình 3.15 Bồi lấp nghiêm trọng tại Cửa Sót 71
Hình 3.16 Sơ đồ dự báo biến động địa hình bãi triều Cửa Sót – Cửa Hội 72
Hình 3.17 Sơ đồ dự báo biến động bãi triều Cửa Sót – Cửa Hội 73
Hình 4.1 Dừa và cây phi lao trồng ở bãi biển Xuân Thành 77
Hình 4.2 Trồng rau ven đê Hội Thống ở Xuân Đan [19] 79
Hình 4.3 Các giải pháp công trình đê kè ứng phó với xói lở bờ biển [6] 80
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Dân số trung bình hai huyện (đơn vị: ngàn người) 15
Bảng 2.1 Tốc độ ban đầu nhỏ nhất để vận chuyển các hạt vụn có kích thước khác nhau [4] 21
Bảng 2.2 Tốc độ lắng đọng của hạt vụn tương ứng với tốc độ dòng chảy [4] 21
Bảng 2.3 Phân loại hệ thống bãi triều 28
Bảng 2.4 Đồ thị đường cong tích lũy độ hạt [15] 35
Bảng 2.5 Đồ thị đường cong phân bố độ hạt [15] 35
Bảng 3.1 Đặc điểm một số bãi vùng triều Hà Tĩnh 38
Bảng 3.2 Kết quả phân tích kích thước hạt trầm tích bãi triều Cửa Hội – Cửa Sót 41 Bảng 3.3 Giá trị các thông số địa hóa môi trường trong trầm tích vùng Cửa Hội – Cửa Sót 42
Bảng 3.4 Nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm) 67
Bảng 3.5 Nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 67
Bảng 3.6 Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm) 67
Trang 101
MỞ ĐẦU
Khu vực ven biển Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng tuy diện tích nhỏ hẹp nhưng lại là nơi tập trung nhiều dân cư, diễn ra nhiều hoạt động kinh tế đồng thời cũng là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhiễu động thời tiết như bão lụt, hạn hán, thiên tai, các loại tai biến địa chất trong đó khu vực bãi triều là vùng chuyển tiếp nối giữa đất liền và biển, là một trong những vùng sinh thái đặc trưng
và giàu tài nguyên thiên nhiên Bãi vùng triều gồm đới trên triều, bãi triều và đới dưới triều thuộc nhóm đất ngập nước ven biển, có chức năng và vai trò sinh thái, môi trường rất quan trọng Bãi triều là vùng đệm chống lại tai biến, là nơi rừng ngập mặn có thể phát triển và lấn ra biển góp phần giảm thiểu thiệt hại do tai biến gây ra Bãi triều còn là nơi có môi trường rất thuận lợi cho một số giống loài hải sản cư trú, sinh đẻ và phát triển Vì có địa hình bằng phẳng, diện tích rộng lớn, nên bãi triều là bẫy phù sa và là túi lọc tự nhiên các chất ô nhiễm mang đến từ lục địa Vì vậy nghiên cứu bãi triều ở một số khu vực đặc thù là cần thiết để có biện pháp khai thác, bảo vệ hợp lý khu vực này
Bãi triều đông bắc Hà Tĩnh đoạn từ Cửa Sót đến Cửa Hội là nơi có nhiều thay đổi về tự nhiên cũng như môi trường Cửa Sót nằm trên địa bàn giáp ranh hai huyện Lộc Hà và Thạch Hà, là nơi ra vào của nhiều tàu thuyền đánh cá, những năm gần đây các luồng lạch ra vào cửa bị bồi lấp, khô cạn nhiều gây khó khăn cho hoạt động của tàu thuyền gây nhiều thiệt hại cho đời sống người dân Cửa Hội cũng là một trong những nơi phát triển mạnh du lịch và dịch vụ nghề cá Ngoài ra, trong vùng còn có nhiều bãi biển du lịch, khu nuôi trồng thủy hải sản do đó cần phải có nhiều nghiên cứu chi tiết hơn Xuất phát từ thực tế trên học viên đã lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và xu thế biến động hệ thống bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội (Hà Tĩnh) và đề xuất định hướng sử dụng bền vững” với mục
tiêu và nhiệm vụ như sau:
Mục tiêu
Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên khu vực bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội như đặc điểm về đường bờ, quy mô bãi triều, địa chất, địa mạo, tai biến…
Trang 11 Xác định đặc điểm hình thái, các yếu tố địa hình – địa mạo, yếu tố môi trường, cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái trên cơ sở đó nghiên cứu chi tiết sự thay đổi những yếu tố trên
Nghiên cứu các yếu tố về địa chất môi trường, các chỉ tiêu địa hóa, những loại hình tai biến có thể có và đánh giá sự thay đổi của các nhân tố trên
Cơ sở tài liệu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở tài liệu của chính tác giả thu thập trong quá trình tham gia các đề tài, tham gia khảo sát thực địa và kế thừa kết quả của các công trình, bài báo, báo cáo khoa học, luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp của các tác giả trước đây (xem tài liệu tham khảo)
Kết quả phân tích thông số độ hạt các mẫu trầm tích bãi triều trong khu vực nghiên cứu tiến hành tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Kết quả phân tích các mẫu xác định thành phần khoáng vật trong trầm tích bãi triều khu vực được tiến hành tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ các đặc điểm điều kiện
tự nhiên khu vực bãi triều Hà Tĩnh, hoàn thiện thêm hệ phương pháp nghiên cứu bãi triều ven biển
Trang 123
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về địa chất, địa mạo, môi trường, tai biến vùng triều nói chung và khu vực Hà Tĩnh nói riêng, cung cấp thêm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu đới ven biển
Góp phần làm cơ sở cho việc định hướng các chính sách về quy hoạch và phát triển bền vững khu vực cũng như các yếu tố kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng và đời sống người dân các xã ven biển đoạn từ Cửa Sót đến Cửa Hội
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 95 trang, 30 hình, 12 bảng và được bố cục gồm 4 chương chính sau:
Chương 1 Đặc điểm Tự nhiên, Kinh tế - Xã hội khu vực bãi triều từ Cửa
Trang 134
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC BÃI
TRIỀU TỪ CỬA SÓT ĐẾN CỬA HỘI
1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là bãi triều từ Cửa Hội đến Cửa Sót (Hà Tĩnh) nằm trong khoảng tọa độ từ 184710 đến 182245 vĩ độ bắc và 1053630 đến
1060130 kinh độ đông, thuộc phía đông bắc của tỉnh Hà Tĩnh, bao gồm các luồng lạch ven biển, vùng triều ven biển, ven cửa sông (Hình 1.1)
Hình 1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000)
Trang 145
Vùng nghiên cứu bao gồm các xã thuộc huyện Nghi Xuân (Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Thành, Xuân Liên, Cương Gián) và Lộc Hà (Thịnh Lộc, Thạch Bằng, Thạch Kim, Thạch Châu, Mai Phụ, Hộ Độ) (Hình 1.2)
Hình 1.2 Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ
1/100.000)
Trang 15 Đồng bằng ven biển: Đây là đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, được bồi đắp bởi
phù sa hệ thống các sông trong vùng mà chủ yếu là Sông Lam và Sông Cửa Sót, địa hình này tương đối bằng phẳng thay đổi trung bình từ 1 - 5,5m so với mặt nước biển Đây là vùng dân cư tập trung đông đúc và có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, cây hoa màu ngắn ngày và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Địa hình này chủ yếu ở các xã: Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Thành, Xuân Liên, Cương Gián, Thịnh lộc, Thạch Kim
Đồi núi thấp: Địa hình này thuộc dãy Hồng Lĩnh chiếm diện tích khá lớn so
với vùng nghiên cứu Đây là những dãy núi đá có độ dốc lớn, chủ yếu là đá magma
và magma axit, cao nhất là đỉnh núi Ông (cao 676m so với mực nước biển) Ven dưới các chân núi, sườn núi có nhiều khe rạch, xung quanh có rất nhiều hồ đập Địa hình này thể hiện ở các xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Cổ Đạm, một phần của Xuân Liên, Cương Gián [19]
Dải cồn cát ven biển: Đây là vùng cồn cát chạy dọc theo bờ biển tạo bởi các
đụn cát, dải cát ven biển, ven các các lạch triều, kênh mương Địa hình hơi nghiêng
về phía Tây-Tây bắc với bề rộng từ 50 - 200m, độ cao so với mực nước biển là 0,5 - 5m Do có cửa sông, cửa lạch, tạo thành các bãi ngập mặn vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch vụ du lịch nghỉ mát
Trang 178
Giới Mesozoi
Hệ Trias, thống trung - bậc Anisi
Hệ tầng Đồng Trầu (T2 a dt) (Jamovda A I., Mareichev A M., 1965)
Hệ tầng này phân bố ở đảo Hòn Ngư (Nghệ An) và đáy biển vùng lân cận Mặt cắt có thề chia làm 2 phần khá rõ: phần dưới là trầm tích lục nguyên xen lớp mỏng hoặc thấu kính phun trào andesit gồm bột kết, cát kết, cuội kết tuf, đá phiến sét màu đen chứa nhiều hóa đá; phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám sẫm, xám tro phân lớp mỏng, trung bình đến dạng khối bị tái kết tinh yếu, sét vôi màu nâu đỏ phân lớp mỏng, tổng chiều dày 1100-1600m
Hệ tầng Đồng Đỏ (T3n-r dd)
Đá gốc thuộc hệ tẩng Đồng Đỏ chủ yếu phát triển các loại trầm tích cuội kết, cát kết, bột kết, sạn kết, Đá có màu xám sáng, phớt hồng, nâu đến nâu đỏ, phân lớp dày; lớp cát kết dày cỡ hàng mét; lớp bột kết dày cỡ hàng đề-xi-mét Đá có độ cứng khoảng 5 đập khó vỡ Đá thường bị nứt nẻ, mặt khe nứt gần vuông góc với mặt phân lớp Khoảng cách khe nứt từ 2 đến 3 m (ở phía Nam có nơi đến 6 m), khe nứt và mặt bị phong hóa có nơi thành hàm ếch ở xã Cương Gián cao 6 m, rộng 1,2
Các thành tạo Địa chất Đệ tứ
Trang 189
Thống Pleistocen
Trầm tích sông (aQ 1 1-2 ) là loại trầm tích lòng sông, phân bố rộng rãi dọc
thung lũng Sông Lam dưới dạng thềm đã ổn định kéo dài từ Rạng (Thanh Chương), Nam Đàn, Vinh tỉnh Nghệ An đến Nghi Xuân Ở Vinh và Nghi Xuân, lớp này bị phủ dưới các trầm tích trẻ hơn nên chỉ tìm thấy trong các hố khoan thăm dò của Liên đoàn địa chất 410 - Liên đoàn địa chất Bắc Trung Bộ Thành phần là cuội sỏi
cát có độ mài mòn tốt, độ dày trên 5 m
Trầm tích biển (mQ1 3 ) là loại trầm tích biển, phân bố rộng khắp miền đồng
bằng ven biển Hà Tĩnh Thành phần là sét màu loang lổ, dày 2-6 mét Độ sâu của lớp này tăng dần vào cuối Pleistocen, địa hình ở đây không bằng phẳng, tạo thành các vũng vịnh nhỏ Thành phần hạt tương đối đồng đều phản ánh tính ổn định của môi trường trầm tích trong không gian khá rộng lớn [19]
Thống Holocen
Tại khu vực cửa sông và ven biển cửa Hội phát hiện được 3 phân vị chính có tuổi Q23, Q22-3 và có nguồn gốc sông biển (am), biển gió (mv) [5]
Trầm tích sông biển (amQ 2 2-3 ) phân bố tại phần lục địa dọc theo bờ sông
Lam kéo ra tới gần bãi triều ven biển Thành phần trầm tích cát, cát bột màu xám, xám vàng, xám sáng; sét, bột sét màu xám nâu, xám đen Dày 2-8m Cát có độ mài tròn, chọn lọc tốt, thành phần khoáng vật chủ yếu: thạch anh: 75-80%, felspat: 5-10%, mảnh đá: 10-15%
Trầm tích biển gió (mvQ 2 2-3 ) kiểu trầm tích này phân bố tại các cồn cát (cao
2-6m) ở phần ven biển tại phía Nam cửa Hội Trầm tích tại đây có thành phần chủ yếu là cát hạt mịn-trung màu xám, xám vàng Dày 2-6m Cát có độ mài tròn, chọn lọc tốt, thành phần khoáng vật chủ yếu: thạch anh: 80-85%, felspat: 5-10%, mảnh đá: 5-10%
Trang 1910
Trầm tích sông biển (amQ 2 3 ) phân bố tại cửa Hội và phát triển tới độ sâu
ngoài 10m nước Thành phần trầm tích chủ yếu là cát, cát bùn, bùn sét màu xám, xám vàng, xám nâu có lẫn di tích mùn thực vật màu xám tối, đen và ít vụn vỏ sinh vật biển Thành phần khoáng vật gồm: thạch anh 70-80%, mảnh đá 20-25%, felspat: 5% Bề dày trầm tích 1 – 12 m
Hình 1.4 Bản đồ Đia chất – Khoáng sản Hà Tĩnh (thu nhỏ từ tỷ lệ
Trang 2011
mạnh mẽ với nhiều mương xói khe rãnh Trên bề mặt sườn những nơi xâm thực sâu
lộ ra trầm tích của hệ tầng Đồng Trầu [18]
b) Đồi núi tích tụ cát biển - gió
Có độ cao thay đổi từ 3 - 10m Phân bố thành một dải khá rộng chạy dọc ven biển, đây là một bar ngầm nối đảo, nó được nâng lên cao vào cuối Holocen muộn và
bị bóc mòn Hiện tại được bồi đắp bởi các vật liệu ven bờ và bị phơi ra lúc triều rút Gió biển thổi hất cát đó lên khỏi bờ Cứ thế các đồi cát lấn vào lục địa tạo thành các đồi và đụn cát có độ cao thay đổi khác nhau [18]
c) Đồng bằng chân đồi núi hình thành do dòng chảy
Có độ cao thay đổi từ 1 - 4m, nó là tích tụ hỗn hợp của dòng chảy tạm thời, chảy tràn trên bề mặt của hệ Đệ tứ không phân chia Các quá trình xói mòn, rửa trồi
bề mặt đem vật liệu cát, sạn sỏi, sét, dăm… phong hoá từ các khối núi granit, trầm tích lục nguyên xuống hình thành tầng trầm tích nguồn gốc hỗn hợp deluvi, proluvi
1.2.4 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu thời tiết mang tính chất căn bản của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng bị chi phối bởi yếu tố địa hình sườn núi Hồng Lĩnh nên có sự phân hoá rất rõ rệt Qua trạm khí tượng Vinh cho thấy huyện điển hình cho khí hậu bờ biển với hai mùa: mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau
Số liệu trắc qua nhiều năm cho thấy nền nhiệt khu vực tương đối cao:nhiệt độ bình quân 23,8° C, cao nhất (tháng 7) là 29,4° C còn thấp nhất (tháng 1) là 18,0°C Các tháng giữa mùa Đông tương đối lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng 19,5°C Mùa hè
Trang 2112
nhiệt độ trung bình 27 - 29°C Biên độ nhiệt ngày đêm có sự chênh lệch khác nhau
tùy theo mùa; mùa hè thường lớn hơn mùa Đông từ 1,5 - 2° C [19]
Tổng lượng mưa bình quân hàng năm tương đối lớn (trên 2000mm) nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Tổng lượng mưa 5 tháng mùa Đông chỉ chiếm 26% lượng mưa cả năm; lượng mưa ở đây chủ yếu tập trung theo mùa mưa (chiếm khoảng 81%) nhưng cũng có sự phân hóa thành mưa phụ và mưa chính Mưa phụ (mưa Tiểu Mãn) thường xuất hiện đầu mùa hè, lượng mưa không cao Mưa chính tập trung chủ yếu từ cuối tháng 8 đến tháng 11, lượng mưa có thể đạt từ 300 - 400mm/tháng Số ngày mưa trung bình cũng khá cao, phổ biến từ 150 -
là vào tháng 6 và tháng 7 ứng với thời kỳ gió Tây Nam khô, nóng và hoạt động mạnh, độ ẩm không khí chỉ gần 70% Thời kỳ độ ẩm không khí cao nhất xảy ra vào các tháng cuối Đông (tháng 2 và tháng 3), khi khối không khí cực đới lục địa tràn
về qua đường biển và khối không khí nhiệt đới biển Đông luân phiên hoạt động gây
ra mưa phùn trong thời gian dài
1.2.5 Đặc điểm thủy văn
Khu vực nghiên cứu có 2 sông chính là sông Lam đổ ra cửa Hội và sông Cửa Sót đổ ra cửa Sót Sông Lam chảy qua huyện Nghi Xuân dài 20 km từ Xuân Lam đến Xuân Hội là con sông lớn nhất của Hà Tĩnh Sông Lam là phần hợp lưu của sông La và sông Cả tại Đức La - Đức Thọ Sông Rào Cái dài 69 Km, bắt nguồn từ dãy núi Voi, hợp lưu với sông Nghèn tại Hộ Độ, đoạn Hộ Độ ra biển gọi là sông Cửa Sót dài 8 Km
Trang 2212 Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng mưa lớn và tập trung trên địa hình dốc
do vậy ở vùng cửa sông và dải đồng bằng ven biển Hà Tĩnh dễ bị ngập úng
1.2.6 Đặc điểm hải văn
Chế độ sóng
Các đặc trưng của sóng biển phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố khí tượng thuỷ văn, độ sâu đáy, kích thước vùng biển và hướng của đường bờ Tại vùng biển vịnh Bắc Bộ nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng chế độ sóng phù hợp với chế độ gió Mùa gió đông bắc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, hướng sóng điển hình là đông bắc và hướng phụ là hướng đông Vào mùa này thường có biên độ sóng lớn, tần suất xuất hiện cao Độ cao sóng có thể đạt tới cấp 6 Mùa gió nam từ tháng 4
đến tháng 8 với tháng điển hình là tháng 7
Thuỷ triều
Vùng ven biển Hà Tĩnh thuộc chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có gần nửa số ngày có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày với các đỉnh triều khác nhau Thời gian triều dâng rất nhanh chỉ khoảng 10 - 11 giờ nhưng thời gian triều rút thì chậm kéo dài từ 15 - 16 giờ, biên độ triều giảm dần từ phía bắc xuống phía nam
Biên độ triều ở Cửa Hội: 0,1 – 3 m
Biên độ triều ở Cửa Sót: 0,2 – 2,7 m
Trang 2314
Dòng chảy
Dòng chảy là một trong những tác nhân quan trọng gây nên bồi xói bờ biển, vận chuyển các thành phần vật chất xa bờ hoặc tích tụ nơi khác Dòng chảy bao gồm dòng sóng, dòng sông và dòng triều Về dòng triều do thời gian triều rút nhỏ hơn thời gian triều dâng nên dòng triều có mức năng lượng lớn, có khả năng kéo vật liệu ra xa bờ mạnh Do đặc trưng của sông miền Trung và ảnh hưởng của đường bờ, lượng phù sa do sông mang ra ít Dòng chảy ven bờ của khu vực nghiên cứu thường
có xu thế từ bắc vào nam ảnh hưởng đến quá trình tích tụ hay phát tán từ các thành tạo tự nhiên cũng như hoạt động nhân sinh
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Khu vực nghiên cứu chủ yếu là các xã ven biển thuộc 2 huyện Nghi Xuân và Lộc Hà sau đây học viên chỉ trình bày những vấn đề cơ bản nhất về kinh tế - xã hội
2 huyện trên
1.3.1 Dân cư – xã hội
Nghi Xuân là một huyện có dân số ở mức trung bình so với các huyện khác trong tỉnh Hà Tĩnh Năm 2012 là khoảng 96,06 ngàn người (đứng thứ 8 toàn tỉnh, vói 25.270 hộ gia đình Điểm đáng chú ý là dân số Nghi Xuân có xu hướng giảm dần qua các năm Đây là do biến động của gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Tỷ
lệ gia tăng tự nhiên của huyện từ đầu thập niên 90 đến nay giảm một cách nhanh chóng: từ 2,69% (1991) xuống 1,73% (1995), 0,92% (2000), 0,68% (2003) 0,724% (2005) và năm 2012 là 0,713%
Về gia tăng cơ học, cũng như các huyện khác thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Nghi Xuân là một vùng xuất cư Luồng chuyển cư chủ yếu vào các vùng kinh tế mới như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Hàng năm có hơn một nghìn lượt người chuyển đến và đi trong huyện Đó là chưa kể đến một số lượng lớn lao động di cư tìm kiếm việc làm theo thời gian ngắn
Trang 24Về thành phần dân tộc, địa bàn của huyện không có dân tộc thiểu số sinh sống Vì vậy nền văn hoá chủ đạo ở đây là văn hoá Việt đặc trưng với trình độ dân trí tương đối cao
Huyện Lộc Hà được tách ra từ 2 huyện Can Lộc và Thạch Hà, với diện tích 11.830,85 ha đất tự nhiên, dân số khi thành lập huyện năm 2007 là 86.213 người, năm 2012 là khoảng 80,81 ngàn người (Bảng 1.1), mật độ dân số: 682 người/km2 với 13 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 7.579,8 ha cắt từ 7 xã của huyện Can Lộc với 43.204 nhân khẩu và 4.251,05 ha cắt từ 6 xã của huyện Thạch Hà với 43.009 nhân khẩu
Bảng 1.1 Dân số trung bình hai huyện (đơn vị: ngàn người) [22]
Trang 25Về cơ cấu kinh tế, vùng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng các ngành Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ - Thương mại và nuôi trồng thủy hải sản, từng bước giảm dần tỷ trọng các ngành Nông lâm ngư nghiệp Tuy nhiên sự chuyển dịch các ngành diễn ra còn chậm và chưa rõ nét Ngành Nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu, ngành Công nghiệp cũng như ngành Dịch vụ mặc dù có những bước phát triển đáng kể với mức tăng trưởng khá nhưng vẫn là ngành thứ yếu Đây là hạn chế lớn, ảnh hưởng đến tốc độ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế giữa các ngành
Ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá Trong trồng trọt chủ yếu phát triển các cây ăn quả, rau, đậu, đặc biệt là dưa hấu Trong chăn nuôi chủ yếu phát triển gia súc lớn như trâu bò, dê, chăn nuôi lợn siêu nạc, gia cầm, nuôi bằng thủy hải sản Tuy nhiên khó khăn trong nông
Trang 26Khai thác tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái vừa nâng cao được tiềm lực kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường Để làm tốt điều này, nhà nước và chính quyền địa phương cần có những chiến lược chính sách và giải pháp cụ thể thu hút đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ du lịch
Hình 1.5 Cảng Cửa Hội – Nghi Xuân [23]
Trang 27Bãi triều: Là vùng chuyển tiếp giữa đất liền và biển được giới hạn bởi trung
bình mực nước triều cao nhất và trung bình mực nước triều thấp nhất, bao gồm bãi triều cát ven biển và bãi triều lầy cửa sông Bãi triều được thành tạo do các động lực sóng, dòng chảy sông, dòng chảy ven bờ, thủy triều, trong đó thủy triều (dòng triều) giữ vai trò chính yếu trong quá trình thành tạo bãi triều (Hình 2.1 và Hình 2.2)
Hình 2.1 Mô hình một bãi triều ven bờ
Thủy triều: Là hiện tượng mực nước biển, mực nước ở các vùng cửa sông và
ven biển dâng lên hạ xuống theo chu kỳ do sự thay đổi lực hấp dẫn cũng như sự
chuyển động tương tác giữa mặt trăng, mặt trời và Trái đất gây ra
Đỉnh triều: Còn gọi là nước lớn, là mực nước cao nhất trong một chu kỳ triều
Trang 2819
Chân triều: Còn gọi là nước ròng, là mực nước thấp nhất trong một chu kỳ
triều
Biên độ triều: Khoảng cách từ đỉnh triều hoặc chân triều đến mực nước trung
bình, độ lớn triều bằng hai lần biên độ triều
Độ lớn triều: Khoảng cách chênh lệch từ đỉnh triều đến chân triều ứng với một chu kỳ triều
Nhật triều: Sự dao động của một chu kỳ triều với một lần triều lên và một lần triều xuống trong một ngày (có một đỉnh triều và một chân triều)
Bán nhật triều: Sự dao động của hai chu kỳ triều với hai lần triều lên và hai
lần triều xuống trong một ngày (có hai đỉnh triều và hai chân triều xuất hiện trong một ngày).
Hình 2.2 Các yếu tố của bãi triều
Trang 2920
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bãi triều
Quá trình thành tạo bãi triều ven biển đã được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm, nhất là khi nghiên cứu về dải ven biển
a Động thái vật liệu trầm tích trong vùng triều:
Quá trình thành tạo bãi triều cũng không nằm ngoài các quy luật dạng bờ bồi
tụ được hình thành ở những chỗ mà sự tích tụ của vật liệu trầm tích diễn ra tương đối lâu dài và bền vững Nguồn gốc phát sinh của các dạng bờ bồi tụ được xem xét trên cơ sở sự di chuyển dọc bờ của vật liệu ở ven bờ và ở đáy biển Sự biến động, thay đổi vận tốc di chuyển của vật liệu (và dòng vật liệu, nhất là sự suy giảm vận tốc, tham khảo thêm Bảng 2.1 và Bảng 2.2) được mang tải bởi sóng, dòng chảy làm cho toàn bộ hay một phần vật liệu lắng xuống đáy hoặc di chuyển ngang trên đáy
Do đó, mà hình thành các dạng địa hình bồi tụ: thềm, doi đất bãi nổi, đê cát,
Động thái (di chuyển hay lắng đọng) của vật liệu vụn trong nước vùng triều phụ thuộc chính vào động năng của khối nước chảy Mối quan hệ này thể hiện theo công thức dưới đây:
F = mV 2 /2 F : động năng (hoạt lực) của khối nước chảy; m : khối lượng
nước chảy; V : tốc độ dòng chảy
Trong dòng triều vectơ vận tốc V thay đổi liên tục theo không gian và thời gian về độ lớn, hướng ngay trong nửa chu kỳ triều
Về tốc độ lắng đọng của vật liệu, theo thực nghiệm của Stốc, vật liệu vụn (chủ yếu dạng hạt hình cầu), trong chế độ nước yên tĩnh với nhiệt độ ~ 20° C thì tốc
độ lắng đọng của vật liệu được tính theo công thức sau:
V= [2(d1 – d2)g/9μ] r2 V: tốc độ lắng đọng của vật liệu (cm/s); d1: tỷ trọng của vật liệu; d2: tỷ trọng môi trường; g : gia tốc trọng trường; r : bán kính hạt; μ: độ nhớt môi trường
Trang 30Kích thước vật liệu (cm)
Tốc độ (m/s)
Kích thước vật liệu (cm)
Tốc độ (m/s)
Bảng 2.2 Tốc độ lắng đọng của hạt vụn tương ứng với tốc độ dòng chảy [4]
trường nước
5oC
Nhiệt độ môi trường nước
20oC
Giới hạn trên
Giới hạn dưới
0,166 0,663 1,279 2,603 5,400
3,32 13,26 26,19 52,06 108,00
1,320 5,292 11,943 25,248 58,800
Trang 31b Cơ chế thành tạo bãi triều:
Ở các cửa sông hay ven biển nông gần cửa sông, nơi có sự tương tác của các động lực biển và động lực sông, kết quả là tạo ra một số đơn vị địa mạo trong đó có bãi triều
Bãi triều được thành tạo do động lực sóng, dòng chảy (dòng chảy sông, dòng chảy biển ven bờ), thủy triều… trong đó dòng chảy giữ vai trò chính là vận chuyển
và cung cấp vật liệu trầm tích, còn dòng triều đóng vai trò chính trong quá trình hình thành bãi triều Khi mối tương quan giữa các yếu tố động lực ở khu vực tạo bãi triều bị mất cân bằng, làm cho khả năng vận chuyển vật liệu của dòng triều, dòng chảy bị tiêu giảm, không còn đủ “năng lực” vận chuyển vật liệu; do vậy, vật liệu được lắng đọng Theo thời gian, bãi triều được hình thành trên một số vùng như sau:
Cơ chế thành tạo bãi triều tại vùng giao thoa sóng triều
Tại vùng giao thoa của các sóng triều, tính chất thủy triều bị biến đổi nói chung có sự giảm nhỏ của biên độ và vận tốc từ ngoài vào trung tâm vùng giao thoa khi triều lên; ngược lại khi triều xuống vận tốc tăng dần từ trung tâm ra phía ngoài Theo công thức ở phần trên, hoạt lực F cũng diễn biến tương tự vận tốc V; do vậy,
sự lắng đọng vật liệu tăng dần từ ngoài vào trung tâm vùng giao thoa Do sự giảm đột ngột của vận tốc dòng triều V và do đó sự giảm đột ngột của hoạt lực F, tạo ra
sự trầm lắng bùn cát dẫn tới tại vùng giao thoa sóng triều hình thành dòng dị trọng Các dòng nước đục có lượng ngậm bùn cát lớn theo dòng triều vào vùng giao thoa,
Trang 3223
dòng nước trong từ trung tâm vùng giao thoa chuyển động ra ngoài tạo nên dòng chảy vòng dọc sông hoặc lạch (rạch) triều Kích thước vật liệu trầm lắng giảm dần
từ ngoài vào trung tâm [4]
Cơ chế thành tạo bãi triều tại đoạn sông thủy triều cụt
Cơ chế xảy ra tại đoạn lạch (rạch) triều cụt (đê, đập, đường giao thông cắt qua kênh lạch) Trường hợp này diễn biến của trường vận tốc dòng triều V cũng như hoạt lực F tương tự vùng giao thoa sóng triều Do vậy, quy luật lắng đọng, phân
bố vật liệu cũng xảy ra tương tự như vùng giao thoa sóng triều Nhưng trường hợp này trung tâm vùng giao thoa sóng triều là vị trí tận cùng của sông thủy triều hoặc lạch thủy triều Tại đây xảy ra sự giao thoa của các sóng triều tới và các sóng triều phản xạ [4]
Cơ chế thành tạo bãi triều trên hệ thống sông lạch do chuyển đổi đất ngập triều sang đất không ngập triều được sử dụng (đô thị hóa, vườn cây ăn trái, đất
trồng cạn…)
Đây là trường hợp các sông lạch vùng triều không còn làm nhiệm vụ cấp và thoát nước triều cho các khu vực chứa nước nguyên thủy của nó Cơ chế thành tạo bãi triều ở đây tương tự như trường hợp thủy triều cụt, lạch triều cụt Ngoài ra, do
đô thị hóa, dòng triều trong các sông lạch bị giảm nhỏ, bị triệt tiêu, dòng chảy vòng hình thành do dòng dị trọng giữa nước đục, nước trong Nếu sông lạch được sử dụng vào việc thoát nước đô thị còn có dòng dị trọng giữa nước mặn (từ thủy triều), nước ngọt (từ nước thải), dòng dị trọng giữa nước thải (do chứa lượng lớn các chất hữu cơ, vô cơ…) với nước triều…do vậy sự bồi lắng sông rạch là điều hiển nhiên
Cơ chế thành tạo bãi triều tại những khúc uốn của sông, rạch vùng triều
Do động lực dòng triều tại khúc uốn có lực ly tâm: F= mV2/R
R: bán kính cong; m: khối lượng nước chảy; V: vận tốc dòng chảy
Lực ly tâm tại bờ lõm có mực nước cao hơn so với bờ lồi, từ đó có dòng chảy đáy ngang với hướng vận tốc sát đáy từ bờ lõm sang bờ lồi, dòng chảy mặt hướng
Trang 3324
từ bờ lồi sang bờ lõm với vận tốc tăng dần Dòng chảy ngang kết hợp với dòng chảy dọc tạo dòng chảy xoắn ốc khép kín di chuyển dọc sông Xem xét chi tiết chuyển động một nhân tố nước tại khúc uốn, ngoài tác dụng của lực ly tâm F còn có áp lực nước P và trọng lực G Hợp lực của lực ly tâm F và áp lực nước P có hướng, độ lớn của vận tốc dòng chảy, ở gần mặt nước dòng chảy hướng tới bờ lõm do lực ly tâm lớn hơn áp lực nước ở đáy dòng chảy hướng tới bờ lồi Do áp lực nước lớn hơn lực
ly tâm, dòng chảy đáy chuyển bùn cát, dòng chảy mặt xói lở bờ lõm sang bờ lồi và dưới tác dụng của trọng lực G, lượng bùn cát này sẽ lắng đọng lại
c Các giai đoạn hình thành, phát triển của bãi triều
Qua tìm hiểu nghiên cứu thực tiễn và các vấn đề vừa trình bày có thể nhận xét sự hình thành phát triển bãi triều qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn khởi đầu (hình thành địa hình ban đầu)
Tại một vị trí nào đó có điều kiện thuận lợi (đoạn sông thủy triều cụt, lạch triều cụt, các bờ lồi của đoạn sông thủy triều cong, các chỗ lồi lõm của bờ biển, vũng biển hay giữa các đảo, vùng giao thoa của sóng triều…) bãi triều được hình thành và phát triển khi bề mặt bãi triều tương đương với chân triều Dưới tác động của dòng triều, lượng vật liệu (phù sa) tích tụ lớn hơn lượng vật liệu chuyển đi Quá trình này diễn ra khi triều lên và triều xuống Song song với các quá trình này, các lạch triều cũng được hình thành Vật liệu giai đoạn này chủ yếu là cát, bùn
Giai đoạn phát triển và trưởng thành địa hình phát triển đầy đủ
Đây là giai đoạn bề mặt bãi triều thoát ra ngoài chân triều nhưng thời gian ngập nước lớn hơn thời gian lộ ra ngoài không khí Do đó, sự tương tác giữa đất và nước triều chiếm ưu thế nhưng lượng vật liệu trầm lắng nhỏ hơn so với giai đoạn khởi đầu vì thời gian trầm lắng giảm và lượng vật liệu chuyển đi có dấu hiệu tăng Giai đoạn phát triển và trưởng thành kết thúc khi thời gian ngập bãi triều bằng thời gian mặt bãi triều lộ ra ngoài không khí Trong giai đoạn này, bãi triều đã được mở rộng ra theo mặt bằng, tăng trưởng theo chiều cao, tính chất vật lý, hóa học, sinh học cũng được phát triển theo Trên bãi triều, có thể có thực vật định cư và phát
Trang 3425
triển Như vậy, từ thời gian này, sự lắng đọng vật liệu ngoài các động lực dòng chảy, tính chất hóa lý, còn có sự tham gia của thực vật
Giai đoạn ngừng phát triển
Giai đoạn này bắt đầu khi giai đoạn phát triển và trưởng thành kết thúc, diễn tiến suốt thời gian bề mặt bãi triều còn bị ngập khi triều lên (triều cường) Trong giai đoạn này, lượng vật liệu lắng đọng nhỏ hơn lượng vật liệu bị chuyển đi vì mặt bằng bãi triều được nâng cao nên lượng vật liệu trầm lắng giảm Do thời gian ngập giảm, độ sâu ngập giảm, độ dày chuẩn của bồi tích giảm và lượng vật liệu bị bào mòn, xâm thực tăng do thời gian tiếp xúc với không khí, ánh nắng mặt trời, gió và mưa tăng lên
Giai đoạn suy thoái
Giai đoạn này chủ yếu xảy ra vì một lý do nào đó, chẳng hạn: biển lùi, vận động kiến tạo nâng…mà mặt bằng bãi triều chỉ bị ngập vào một số ngày triều lớn (cực đại) trong tháng, trong năm như chu kỳ nửa tháng vào kỳ giao hội (triều sóc vọng), chu kỳ năm vào kỳ xuân phân 21/3, thu phân 23/9 và chu kỳ 18,6 năm Ngoài các điều kiện trên còn thêm kinh độ của tiết điểm lên quỹ đạo mặt trăng N-
180 đối với bán nhật triều và bán nhật triều không đều Còn nhật triều và nhật triều không đều với chu kỳ nửa tháng, triều cực đại kỳ chỉ điểm (độ xích vĩ mặt trăng lớn nhất “ max” chu kỳ năm triều cực đại khi độ xích vĩ Mặt trời lớn nhất “ max” tương ứng Hạ chí 21/6 và Đông chí 22/12, chu kỳ 18,6 năm… Do các yếu tố trên, mặt bằng bãi triều chủ yếu chịu tác động mạnh của quá trình phong hóa, bào mòn cũng như sự tác động của sinh vật, do đó bị phân dị chia cắt tạo ra một kiểu địa hình mấp mô, lồi lõm không còn bằng phẳng như giai đoạn phát triển
2.1.3 Phân loại bãi triều
Hiện nay, có thể phân loại bãi triều theo các tiêu chí khác nhau
Phân loại theo động lực hình thành:
Trang 3526
Nhóm bãi triều cửa sông: động lực hình thành gồm động lực dòng chảy sông
và động lực biển (giao thoa của 2 động lực trên), vật chất tạo bãi triều chủ yếu bùn cát; thuận lợi cho thảm thực vật (nước lợ) phát triển mạnh Bãi triều cửa sông gồm 2 loại: Bãi triều cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều và sông - biển (phân bố chủ yếu trong đới cửa biển – sông và đới sông – biển); Bãi triều cửa sông ít chịu tác động của sóng (phân bố chủ yếu trong đới cửa sông, ít hơn trong đới cửa sông - biển
và đới dòng sông
Nhóm bãi triều xa cửa sông: phân bố xa cửa sông, dọc theo đường bờ biển;
động lực thành tạo chủ yếu động lực biển, vật chất chủ yết cát, chọn lọc và mài tròn cao, các điều kiện cho thảm thực vật phát triển không thuận lợi Thuộc loại này, có thể chia ra (theo động lực biển): bãi triều đới sóng vỗ, bãi triều dưới đới sóng vỗ
Phân loại theo mức độ ngập nước (mực nước thủy triều):
Bãi triều cao (bãi bồi cao): bãi triều lộ ra trên cạn khi triều rút Bãi triều
tương ứng với phần giữa bờ tương ứng là phần phía trước (phía lục địa) của đới sóng vỗ (E Mery,1960; Donal D.R Protheo, 1989) Nhìn chung, bãi triều này phụ thuộc nhiều vào độ cao triều Ở nơi độ cao triều ~ 0, bãi triều cao gần như vắng mặt
Bãi triều thấp (bãi ngập triều): bãi triều luôn ngập triều còn gọi là mặt bờ,
tương ứng với phần sau (phía biển) đới sóng vỗ + đới sóng vỡ (theo E Mery, 1960; Donal D.R Protheo, 1989)
Phân loại theo vật chất tạo bãi triều:
Bãi triều lầy (vật chất chủ yếu là bùn, sét; nơi đó động lực sóng biển thường
yếu, phát triển mạnh thảm thực vật), loại này thường là nhóm các bãi triều cửa sông
Bãi triều cát (vật chất chủ yếu là cát, sỏi, cuội; động lực sóng biển mạnh,
thảm thực vật hầu như vắng mặt), đây chính là nhóm bãi triều xa cửa sông, các bãi cát ven biển
Trang 3627
Phân loại theo giai đoạn phát triển bãi triều:
i) Bãi triều bắt đầu hình thành; ii) Bãi triều phát triển – trưởng thành; iii) Bãi triều ngừng phát triển; iv) Bãi triều suy tàn
Phân loại theo quan điểm tướng trầm tích:
Trên cơ sở thành phần vật chất và môi trường thành tạo của bãi triều, có thể
phân loại bãi triều gồm: bãi trên triều (chịu tác động của gió, mưa , chịu tác động của biển mùa bão hoặc gió đông bắc lớn), bãi triều hiện tại (khu vực giữa mực nước triều cao và mực nước triều thấp) và bãi dưới triều (giới hạn từ mực nước triều thấp
đến cơ sở chân sóng (Bảng 2.3 và Hình 2.3)
Hình 2.3 Sơ đồ phân loại bãi triều theo dao động thủy triều
(Amos.C.L,1995)
Trang 37Bãi triều cửa sông
Bãi triều trong cửa sông Bồi tụ Phân bố phía trong cửa sông (đới cửa sông-biển, còn gọi là đầm lầy nước lợ cửa sông), thành phần chủ yếu là bùn cát, thực vật phát triển trên bề mặt
Bãi triều ngoài cửa sông Bồi tụ/xói lở
Phân bố phía ngoài cửa sông (đới cửa biển – sông, đầm lầy cửa sông), thành phần chủ yếu là cát bùn
Bãi triễu xa cửa sông
Bãi triều nơi bờ thoải Xói lở phần cao/bồi tụ phần thấp
Chiều rộng lớn, bề mặt khá bằng phẳng, nghiêng thoải, thành phần chủ yếu là cát (có nơi là cát bùn, thực vật phát triển) có độ mài tròn, chọn lọc cao
Bãi triều nơi bờ dốc Xói lở, di chuyển vật liệu Chiều rộng nhỏ, bề mặt khá bằng phẳng, độ dốc cao, thành phần chủ yếu là cát (có thể có sạn) có độ mài tròn, chọn lọc cao, nhiều vụn vỏ sinh vật Theo mức độ
ngập nước
Ngập nước khi triều cường Bãi triều cao Xói lở, bóc mòn Bề mặt nghiêng thoải, có nhiều gờ, đụn, lạch nước, thành phần chủ yếu là cát có độ mài tròn, chọn lọc cao Luôn ngập nước Bãi triều thấp Bồi tụ Bề mặt khá bằng phẳng, nghiêng thoải, thành phần chủ yếu là cát bột có độ
mài tròn cao, chứa vụn vỏ sinh vật
Theo giai đoạn
phát triển
Bãi triều bắt đầu hình thành Bồi tụ
Vật liệu giai đoạn này chủ yếu là cát, bùn, bề mặt nghiêng thoải, có mặt các lạch triều
Bãi triều phát triển - trưởng thành Xói lở phần cao, phức tạp hóa
địa hình/bồi tụ phần thấp Bề mặt ngập nước khi triều lên, tốc độ trầm tích nhỏ, di chuyển vật liệu tăng, bãi triều đã được mở rộng ra theo mặt bằng, tăng trưởng theo chiều cao; trên bãi
triều, có thể thực vật định cư và phát triển
Bãi triều ngừng phát triển Bào mòn, bóc mòn nhẹ và bắt
đầu phức tạp hóa địa hình Bồi tụ giảm, bào mòn bắt đầu, xâm thực tăng do thời gian tiếp xúc với không khí, ánh nắng mặt trời, gió và mưa tăng lên
Bãi triều suy tàn Phong hóa, bào mòn, phức tạp
hóa địa hình Mặt bằng bãi triều chủ yếu chịu tác động mạnh của quá trình phong hóa, bào mòn, tác động của sinh vật, do đó bị phân dị chia cắt tạo ra một kiểu địa hình
mấp mô, lồi lõm không còn bằng phẳng như giai đoạn phát triển
Bãi triều hiện tại (hình thành trong môi trường biển giới
Trang 3829
2.2 Lịch sử khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống bãi triều đã được tiến hành trước đây với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Cự (1993), trong luận án PTS: “Đặc điểm địa hóa trầm tích bãi triều cửa sông ven biển Hải Phòng – Quảng Yên” đã chỉ ra những nội dung
cơ bản nhất của một hệ thống bãi triều, bao gồm các đặc điểm địa hình vùng triều như địa hình bãi biển, địa hình bãi triều cao, địa hình bãi triều thấp, địa hình các hệ thống lạch triều…, đặc điểm địa chất, những giai đoạn phát triển của bãi triều, chủ yếu tập trung vào nghiên cứu môi trường địa hóa trầm tích bãi triều, địa hóa một số các nguyên tố như sulfua, lưu huỳnh…
Đặc biệt trong các dự án do Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển thực hiện: “Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên phi sinh vật vùng biển ven bờ 0-30m nước phục vụ phát triển đới duyên hải tỉnh Hà Tĩnh (năm 2001)”
do TS.Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm và đề tài: “Điều tra nguồn tài nguyên khoáng sản ilmenit - zircon, vật liệu xây dựng và hiện trạng môi trường đới duyên hải tỉnh
Hà Tĩnh (2002-2004)” do TS Vũ Trường Sơn làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khá chi tiết đặc điểm điều kiện tự nhiên, hiện trạng môi trường, đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản đới duyên hải, biển nông ven bờ tỉnh Hà Tĩnh trong đó có bao gồm vùng ven biển từ Cửa Hội đến Cửa Sót, các công trình nghiên cứu trên bước đầu đạt được kết quả tốt làm cơ sở cho việc định hướng nghiên cứu của học viên
Địa tầng Holocene và cấu trúc bãi triều ven bờ Hải Phòng được nghiên cứu chi tiết với công trình của Trần Đức Thạnh Dựa vào phân tích mẫu lõi khoan, các tài liệu cổ sinh, địa tầng Holocene khu vực được miêu tả rất tỉ mỉ với 6 kiểu mặt cắt
cơ bản địa tầng trầm tích ở đới triều hiện đại
Trần Đình Lân (2007) trong nghiên cứu: “Ứng dụng viễn thám đánh giá các chỉ thị phát triển bền vững hệ sinh thái vùng triều Hải Phòng – Quảng Ninh” đã sử dụng phương pháp Viễn thám và công nghệ GIS nghiên cứu các chỉ thị về diện tích rừng ngập mặn, diện tích đầm nuôi thủy hải sản, diện tích bãi triều áp dụng để xây
Trang 39Đặng Hoài Nhơn và nnk (2011) với nghiên cứu “Lắng đọng trầm tích trên
bãi triều Bàng La – Ngọc Hải, Hải Phòng” đã thiết kế đặt bẫy thu nhận trầm tích và
áp dụng phương pháp nghiên cứu Pb210 Ra226, mô hình tính tuổi xác định đặc điểm trầm tích tầng mặt và trầm tích lắng đọng trên bãi triều, tính toán tốc độ lắng đọng, tuổi trầm tích của các thành tạo bãi triều khu vực nêu trên
Trong các năm 2010 và 2011, Viện KH&CN Việt Nam cho triển khai thực hiện các nhiệm vụ: “Nghiên cứu, đánh giá quá trình địa mạo và biến đổi địa hình bờ biển Bắc Bộ (Móng Cái – Ninh Bình) do sự dâng lên hiện nay của mực nước biển Đông” (chủ nhiệm: Võ Thịnh, Viện Địa lý); “Nghiên cứu, xác định các dấu hiệu cổ sóng thần ở khu vực Bắc Trung Bộ (chủ nhiệm: Cao Đình Triều, Viện Vật lý Địa cầu, thực hiện chủ yếu ở khu vực Quỳnh Lưu, Nghệ An); “Nghiên cứu biến động các vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ từ thông tin viễn thám phân giải cao và GIS, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo vệ tài nguyên- môi trường” (chủ nhiệm: Phạm Quang Sơn, Viện Địa chất, thực hiện chủ yếu ở các cửa sông ở Hải Phòng, Cửa Hội và Thuận An)
Trong nghiên cứu về bãi triều, Nguyễn Văn Lập và Tạ Thị Kim Oanh (2012) chỉ ra được các đặc điểm trầm tích bãi triều và sự biến động đường bờ khu vực ven biển Cà Mau, châu thổ sông Cửu Long Dựa trên cơ sở phân tích ảnh viễn thám, thay đổi môi trường trầm tích qua các lõi khoan địa chất và các mặt cắt địa chấn
Trang 4031
nông cho phép xác định thay đổi đường bờ biển và quá trình phát triển bãi triều ven biển Trên cơ sở phân tích và tổng hợp tài liệu bản đồ, ảnh vệ tinh đã xây dựng chi tiết địa hình bãi triều góp phần quan trọng trong nghiên cứu đánh giá thay đổi đường bở biển Nhìn chung nghiên cứu khá chi tiết các đới gian triều và dưới triều
về đặc điểm trầm tích cũng như các quá trình thay đổi về môi trường và hình thái địa hình bãi triều
Các nghiên cứu trên đều ít nhiều trình bày đến vấn đề dải ven biển khu vực nghiên cứu trong đó có ít nhiều đề cập đến đặc điểm và các quá trình diễn ra tại bãi triều, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu thật chi tiết về bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Tổng hợp, phân tích, kế thừa tài liệu
Thu thập các tài liệu hiện có về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, những nghiên cứu liên quan, tư liệu ảnh viễn thám nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây và định hướng cho nghiên cứu tiếp theo, phân tích những kết quả trước đây về vùng nghiên cứu, những vấn đề đã được làm rõ, những tồn tại cần giải quyết để tiếp tục nghiên cứu Trên cơ sở nguồn tài liệu có thể đánh giá bao quát hết vấn đề tránh những trùng lặp và đem lại hiệu quả cao nhất Việc thu thập và xử lí tài liệu được tiến hành trước và trong quá trình thực hiện luận văn
2.3.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
a) Khảo sát ngoài thực địa
Sau khi có các phân tích tổng quan về khu vực cần tiến hành đi thực địa Đây
là phương pháp được tiến hành phổ biến trong công tác nghiên cứu, nhằm kiểm chứng và đánh giá nguồn cơ sở tài liệu, độ tin cậy của số liệu, làm cơ sở cho việc định hình các hướng nghiên cứu Nội dung thực địa là khảo sát, đo đạc hình thái đường bờ, xem xét sự thay đổi của chúng dưới tác động của các yếu tố động lực