LỜI NÓI ĐẦUĐảng ta đã xác định “Đường lối kinh tế của Đảng ta là : Đẩy mạnh côngnghiệp hoá – hiện đại hoá xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp;
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: Lý luận chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hóa ở nước ta: 2
I/ Lý luận chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
1 Khái niệm 2
1.1 Theo nguồn quốc tế 2
1.2 Theo nguồn Việt Nam: 2
2 Đặc điểm: 3
3 Phân loại FDI 3 3.1 Theo hình thức thâm nhập (quốc tế) 3
3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam 4
4 Tác dụng của FDI 4
4.1 Tác động tích cực 4
4.2 Tác động tiêu cực 6
Chương II: Thực trạng tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong những năm gần đây 6
I/ Tình hình thu hút vốn FDI giai đoạn 1988-2008 7
1 Tình hình thu hút vốn FDI giai đoạn 1988 – 2006: 7
2 Tình hình thu hút vốn FDI trong năm 2008 10
II/ Một số đánh giá về tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam.11 1 Những lợi thế của Việt Nam trong thu hút vốn FDI 11
2 Những hạn chế của Việt Nam trong hoạt động thu hút vốn FDI 12
III/ Một số kết quả đạt được …14
Chương III: Một số chính sách thu hút vốn FDI của Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đai hoá đất nước 15
Trang 2I/Một số chính sách Việt Nam đang thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả thuhút vốn FDI 15
II/ Một số giải pháp để tăng vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian tới 16
KẾT LUẬN………18
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đảng ta đã xác định “Đường lối kinh tế của Đảng ta là : Đẩy mạnh côngnghiệp hoá – hiện đại hoá xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xâydựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độnội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tếQuốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liềnvới phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhândân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợpphát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh” (1)
Công nghiệp hoá – hiện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xâydựng cơ sở vật chất – kỹ thuật ngày càng hiện đại, đòi hỏi phải có nhiều vốn trong
và ngoài nước, trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định , nguồn vốn bên ngoài
là quan trọng Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang ngày càng đóng một vai tròquan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta
Sau khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới ViệtNam đứng trước nhiều thách thức và cơ hội mới,thu hút vốn đầu tư,công nghệ tiêntiến… giữa các quốc gia diễn ra càng gay gắt.Chúng ta sẽ phải làm gì,có nhữngchính sách gì để thu hút nguồn lực này phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hóa đất nước
Với kiến thức của mình, bản thân em xin viết tiểu luận với đề tài “Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước”
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận không thể tránh khỏinhững thiếu sót
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Mạnh Dũng đã hướng dẫn và giúp đỡbản thân em hoàn thành đề tài này
Trang 41.1 Theo nguồn quốc tế
Khái niệm của IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiệnnhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnhthổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư
là dành quyền quản lí thực sự doanh nghiệp
1.2 Theo nguồn Việt Nam:
Luật đầu tư 2005: FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốnđầu tư và tham gia quản lí hoat động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam
bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lí hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo qui định củaluật này và các qui định khác của pháp luật có liên quan
Trang 5 FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đốivới việc quản lí doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác Tiếng nói hiệu quảtrong quản lí phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được gọi
là FDI
2 Đặc điểm:
Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàngđầu là tìm kiếm lợi nhuận Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triểncần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hànhlang pháp lí đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lí để hướng FDI vào phục
vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDIchỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trongvốn pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của pháp luật trong nước đểdành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư
Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽqui định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đượcphân chia theo tỷ lệ này
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanhchứ không phải lợi tức
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhậnđầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ,
kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lí Ví dụ như trong lĩnh vực bưu chínhviễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có được nhờchuyển giao công nghệ từ nước ngoài
Tóm lại:
Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyềnkiểm soát, quyền quản lí đối tượng tiếp nhận đầu tư
Trang 6 Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tính
ổn định và hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác do nhà đầu
tư trực tiếp sử dụng vốn Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang hìnhthức đầu tư khác nếu they sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư Do đó mức
ổn định của dòng vốn đầu tư đối với nước nhận đầu tư cao hơn Nhược điểm lànước nhận đầu tư bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI
Đối với nhà đầu tư: chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụngvốn đầu tư, lợi nhuận thu về cao hơn Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sảnphẩm, khai thác nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác củanước nhận đầu tư, tranh thủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư Tuy nhiên hìnhthức này mang tính rủi ro cao vì anh ta hoàn toàn chịu trách nhiiệm về dự án đầu
tư Hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh từ phía nước nhận đầu tư Không dễ dàngthu hồi và chuyển nhượng vốn
3 Phân loại FDI
3.1 Theo hình thức thâm nhập (quốc tế)
Đầu tư mới: là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinhdoanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sơ sản xuất kinh doanh
đã tồn tại
Mua lại và sát nhập qua biên giới: mua lại và sát nhập qua biên giới làmột hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệpnước ngoài đang hoạt động
3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành luật đầu tư năm 2005của Việt Nam, có các hình thức FDI tại Việt Nam như sau(Điều 21)
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
Trang 7 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, họp đồng BOT, hợp đồngBTO, hợp đồng BT.
Đầu tư phát triển kinh doanh
Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Đầu tư thực hiện việc mua lại và sát nhập doanh nghiệp
Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
4.1.2 Chuyển giao công nghệ
Các nước đang phát triển rất cần vốn cũng như công nghệ để phát triển kinh
tế Họ có thể có được công nghệ tiên tiến hiện đại thông qua hoạt động ngoạithương, cấp giấy phép sử dụng công nghệ hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong
đó công nghệ thông qua FDI có thể nói là nhiều ưu điểm hơn cả
Thứ nhất: Doanh nghiệp có thể có được “công nghệ trọn gói”
Trang 8 Thứ hai: Nó giúp phá vỡ sự cân bằng hiện thời của thị trường và buộccác hãng nội địa đổi mới.
Thứ ba: Công nghệ mới và hiện đại thường chỉ có được thông quaquan hệ nội bộ công ty
Thứ tư: Lợi thế của một công ty đa quốc gia giúp cho khai thác tiềmlực công nghệ hiệu quả
Các công nghệ mà các chủ đầu tư nước ngoài chuyển giao cho các nướcđang phát triển thường dưới dạng những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ,công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý,công nghệ maketing
4.1.3 Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực
FDI giúp các nước tận dụng được lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào Ởnhiều nước, khu bực có vốn FDI tạo ra số lượng việc làm lớn cho người lao độngđặc biệt trong lĩnh vực chế tạo Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo vànâng cao trình độ cho người lao động Năng suất lao động trong các doanh nghiệp
có vốn FDI thường cao hơn trong các doanh nghiệp trong nước Với tiêu chí coihiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động, cácdoanh nghiệp FDI thường xây dựng cho mình một đội ngũ công nhân và nhân viênlành nghề, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật cao
4.1.4 Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực
Với tỷ trọng vốn FDI vào các nghành công nghiệp và dịch vụ ngày càngtăng, nguồn vốn này đã góp phần vào việc tăng tỷ trọng về sản lượng, việc làm,xuất khẩu của các nghành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế các nướcđang phát triển Tỷ trọng các nghành công nghiệp truyền thống (nông nghiệp, khaithác ) giảm mạnh
4.1.5 FDI góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế
Các dự án FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô các nước đang phát triển
FDI đối với cung cầu hàng hoá trong nước
Trang 9Trong giai đoạn đầu mới phát triển, do trình độ công nghệ thấp, công nghệ,máy móc, thiết bị lạc hậu, thiếu vốn nên năng lực sản xuất của khu vực kinh tếtrong nước của các nước đang phát triển rất yếu kém, không đáp ứng được nhu cầutiêu dùng trong nước, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Khu vực có vốnFDI đáp ứng một phần hàng hoá trong nước, làm giảm căng thăng cung cầu, giảm
sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu
FDI đối với xuất nhập khẩu
Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa,FDI ngày càng hướng mạnh vào xuấtkhẩu Nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu giúp các nước đang phát triển cải thiệncán cân thanh toán
FDI đối với tăng trưởng GDP và thu ngân sách nhà nước
Ở nhiều nước đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốn FDIthường cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trong nước,chính vì vậy FDI góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, thúcđẩy các thành phần kinh tế khác phát triển
4.1.6 Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bịhiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các mặt hàng xuấtkhẩu Các dự án FDI tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, phù hợp với tiêuchuẩn quốc tế hơn Bên cạnh đó thông qua các mối quan hệ có sẵn của các nhà đầu
tư nước ngoài hàng hoá các doanh nghiệp có vốn FDI dễ dàng tiếp cận thị trườngthế giới hơn
4.1.7 Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Quan hệ thương mại của các nước mở rộng theo quá trình phát triển của cácdoanh nghiệp có vốn FDI Thông qua các dự án FDI, nhất là các dự án của MNC,các nước đang phát triển từng bước tham gia vào phân công lao động quốc tế
Trang 104.2 Tác động tiêu cực
Cạnh tranh gay gắt với các công ty địa phương
Độc quyền nêú không có một chính sách cạnh tranh hiệu quả
Mặt trái của công nghệ trọn gói
Lối sống và các vấn đề xã hội là hậu quả của hội nhập
Chương II: Thực trạng tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong những năm gần đây.
I/ Tình hình thu hút vốn FDI giai đoạn 1988-2007
1 Tình hình thu hút vốn FDI giai đoạn 1988 – 2007:
Tiến lên CNXH từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu làm cho việc tích luỹvốn từ nội bộ nền kinh tế là hết sức khó khăn, đặc biệt là trong thời kì đầu Đểthoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích luỹ thấp; tích luỹ thấp thì tăng trưởngkinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo Đối với các nước có nền kinh tế đangtrong thời kì phát triển, nguồn vốn đầu tư của nước ngoài luôn được coi là nguồnquan trọng nhằm bổ sung cho tình trạng thiếu vốn do khả năng tiết kiệm còn tươngđối hạn chế Và FDI luôn là mục tiêu theo đuổi đầu tiên của các nước đang pháttriển Bởi bên cạnh khả năng bổ sung vốn thì FDI còn có khả năng tạo việc làm,phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tích cực, góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế, củng cốquan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực vàthế giới c ậu
Tuy nhiên, cùng với sự vận động chậm chạp của một nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, làn sóng FDI vào Việt Nam cũng cónhững thăng trầm
- Giai đoạn 1988-1990:
Trang 11Ngày 29/12/1987 kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khoá VII thông qua luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam, đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho sự nghiệp thuhút vốn đầu tư nước ngoài.Trong thời gian đầu, dường như lượng vốn mới chỉmang tính chất thăm dò Con số chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn 371,8 triệu USD.Những con số này bắt đầu nhích dần lên trong những năm tiếp theo Năm 1990tổng số vốn là 735 triệu USD Thời kì này, tốc độ tăng dự án và nguồn thu hút vốnthuộc loại cao, quy mô trung bình đạt 8,42triệu USD/dự án.
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký (triệu USD)
- Giai đoạn 1991-1996:
Nhưng khi quan hệ Việt Nam và Mỹ được bình thường hoá thì các nhà đầu
tư bắt đầu kì vọng nhiều hơn vào sự cởi mở của thị trường và sự cải cách mạnh mẽ
cơ cấu thể chế của nền kinh tế nội địa Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi kháhợp lý (2 lần vào các năm 1990 và 1992) để bổ sung, tăng cường các chính sáchthu hút vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời chính phủ đã quyết định thành lập mộtloạt các khu công nghiệp ở các địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việcthu hút vốn đầu tư
Đến lúc này thì tổng số vốn FDI mới tăng thật sự ngoạn mục Năm 1991,tổng số vốn mới chỉ là 1.291,5 triệu USD, thì đến năm 1996 con số này lên tới10.169 triệu USD
Có được những kết quả đó đầu tiên phải kể đến sự kì vọng quá trình pháttriển của một thị trường mới đầy tiềm năng như Việt Nam Những tiềm năng đóđến nay vẫn là những thế mạnh của Việt Nam như nguồn tài nguyên tương đối dồidào, thị trường Việt Nam là một thị trường rộng lớn và khá mới mẻ…Nhưng đa sốcác nhà đầu tư khi vào Việt Nam đều lấy tiêu chí nhân công lao động rẻ làm lợi thếlớn nhất Hơn nữa, đây là thời gian Việt Nam bắt đầu mở cửa ra thế giới, các nhàđầu tư kì vọng vào sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ chế quản lí và cách thức làm việc
Trang 12của nước ta Bởi từ khi Việt Nam bắt đầu cải cách năm 1986, cơ chế quản lí củaViệt Nam cũng có nhiều thay đổi mạnh mẽ, nền kinh tế đạt nhiều dấu hiệu khởisắc Và đây cũng là dấu hiệu cho một sự phát triển vượt bậc trong những năm tới.
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký (triệu USD)
Năm 1991 Năm 1992 Năm 1993 Năm 1994 Năm 1995 Năm 1996
1.292,5 2.208,5 3037,4 4.168,4 6.937,2 10.164,1
- Giai đoạn 1997-2000:
Tuy nhiên, điều đó không xảy ra hay ít nhất cũng không đúng như dự kiến kìvọng của các nhà đầu tư Từ tổng số vốn thu hút được năm 1996 là 10.164,1 triệuUSD, thì đến năm 1997 số vốn này giảm gần một nửa 6.937,2 triệu USD Năm
2000 tổng số vốn chỉ còn 2.838,9 triệu USD
Để khắc phục tình trạng này, Quốc Hội đã quyết định bổ sung, sửa đổi Luậtđâù tư nước ngoài năm 2000 thay thế luật bổ sung, sửa đổi năm 1996
Có thể xét đến một vài nguyên nhân sau :
Thứ nhất, là một trong các nước Châu á, tuy không phải chịu ảnhhưởng năng nề nhưng Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực docuộc khủng hoảng tài chính Châu á đem lại
Thứ hai, chúng ta vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng hoáTrung Quốc khi mở cửa buôn bán biên giới với nước này Hàng hoá nước bạn trànvào đẩy doanh nghiệp nước ta vào thế bị động, một số ngành sản xuất phải “laođao” một số phải giải thể
Thứ ba, nước ta còn chậm bổ sung sửa đổi chính sách Trong khi cácnước xung quanh đã không ngừng sửa đổi chính sách theo hướng cởi mở, hấp dẫnthông thoáng để thu hút vốn FDI
Hơn nữa Việt Nam mới chỉ chập chững những bước đi đầu tiên trêncon đường đổi mới nên gặp phải không ít khó khăn trở ngại Hậu quả của chínhsách quản lí kinh tế tập trung quan liêu bao cấp còn để lại nặng nề Cụ thể: hệthống cơ sở hạ tầng của Việt Nam lúc đó còn rất yếu kém chưa đủ để có thể ápdụng hiệu quả một lượng vốn đầu tư ồ ạt đó vào trong thời gian ngắn Không
Trang 13những thế, cơ chế cũ còn để lại một lớp cán bộ chưa nhanh nhạy để thích nghi kịpvới cơ chế thị trường khắc nghiệt, trình độ kém, tác phong làm việc chưa hiệuquả… tạo nhiều rào cản cho các nhà đầu tư Ngoài ra còn một số vấn đề như: hệthống pháp luật chưa chặt chẽ, chính sách thuế cần phải hợp lí hơn…
Tất cả những điều đó tạo nên một môi trường đầu tư chưa hiệu quả Chính vìvậy nên ta có thể nói ta đã bỏ lỡ cơ hội mà các nhà đầu tư có thể chuyển hướng từcác nước khủng hoảng để đầu tư vào nước ta Có vẻ như các nhà đầu tư hết sứcthất vọng về tình hình không mấy sáng sủa của Việt Nam Một thực tế không thểphủ nhận được là làn sóng FDI của Việt Nam những năm 1995 – 1998 là rất cao,
có thể coi đây là làn sóng đầu tư đầu tiên vào Việt Nam Nhưng một điều đángbuồn là Việt Nam đã bỏ qua cơ hội rất tốt này, và sóng có đến rồi sóng cũng sẽ đi
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký (triệu USD)
- Giai đoạn 2001-2005
Để khắc phục tình trạng này, Quốc Hội đã quyết định bổ sung, sửa đổi Luậtđâù tư nước ngoài năm 2000 thay thế luật bổ sung, sửa đổi năm 1996 Năm 2001bắt đầu có dấu hiệu phục hồi số dự án và vốn đăng ký cao hơn năm 1999 và 2000.Nhưng bước sang năm 2002, tình hình thu hút vốn FDI lại có hướng kém đi Mặc