CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP ĐƯỢC THÀNH LẬP TẠI ĐỊA BÀN TP.HCM TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂYI.Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo loại hình doanh nghiệp 1.1 Sơ lược về các loạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC -
Môn học LUẬT KINH TẾ
Đ ề tài :
Phân tích, đánh giá về số liệu, cơ cấu các loại hình DN, lĩnh vực KD & quy mô các DN được thành lập ở TPHCM trong
Trang 2- Sở KH&ĐT TP.HCM: Sở Kế hoạch Đầu tư TPHCM
- DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 4MỤC LỤC
I.Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo loại hình doanh nghiệp 2
1.1 Sơ lược về các loại hình doanh nghiệp 2
1.1.1 Công ty cổ phần: 2
1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn: 2
1.1.3 Công ty hợp danh: 3
1.1.4 Doanh nghiệp tư nhân: 3
1.2 Tình hình cơ cấu loại hình doanh nghiệp được thành lập tại TPHCM trong 5 năm gần đây 4
II Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo quy mô 8
III Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo lĩnh vực kinh doanh 11
CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP ĐƯỢC CHỌN NHIỀU NHẤT VÀ ÍT NHẤT 14
I Ưu – Nhược điểm của từng loại hình DN 14
1.1 Công ty cổ phần 14
1.2 Công ty TNHH 15
1.3 Công ty hợp danh 16
1.4 Doanh nghiệp tư nhân 16
II Nguyên nhân loại hình DN được chọn nhiều 17
III Nguyên nhân loại hình DN được chọn ít 18
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển Công nghiệp hóa – Hiệnđại hóa và hội nhập nền kinh tế thế giới Do vậy sự đa dạng về các thành phần kinh tếcùng các hoạt động kinh doanh ở nước ta ngày càng được củng cố và phát triển Cácquyền tự do kinh doanh của các chủ đầu tư cũng ngày càng được nâng cao, họ có quyền
tự do lựa chọn cho mình loại hình kinh doanh phù hợp nhất Trong đó, xu hướng thànhlập các doanh nghiệp, công ty ngày càng gia tăng ở nước ta
Trong vòng 5 năm trở lại đây, từ 2008-2012 cuộc khủng hoảng kinh tế tàichính thế giới đã ảnh hưởng không ít đến xu hướng thành lập DN ở nước ta Thực tế,môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn, những ảnh hưởng của bối cảnh kinh tếchung của toàn cầu tác động đến tất cả các doanh nghiệp trên thế giới, không riêng gì ởViệt Nam
Song song với việc khiến nhiều công ty sụp đổ, khủng hoảng kinh tế là cơ hộituyệt vời để thành lập và phát triển doanh nghiệp cho các nhà đầu tư Việc lựa chọnloại hình doanh nghiệp phù hợp chính là rào cản đầu tiên khiến các nhà đầu tư băn
khoăn Vì vậy nhóm xin được chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá về số liệu, cơ cấu
các loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và quy mô các doanh nghiệp được thành lập ở TPHCM trong 5 năm gần đây Nguyên nhân có loại hình doanh nghiệp được chọn nhiều nhất và ít nhất” nhằm mục đích làm rõ vấn đề thành lập doanh
nghiệp hiện nay ở nước ta
Trang 6CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP ĐƯỢC THÀNH LẬP TẠI ĐỊA BÀN TP.HCM TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY
I.Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo loại hình doanh nghiệp
1.1 Sơ lược về các loại hình doanh nghiệp
Theo luật Doanh nghiệp 2005 thì loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Mỗiloại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng được quy định vụ thể trong Luậtdoanh nghiệp 2005 Về cơ bản thì mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm nhưsau:
1.1.1 Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển bởi
sự góp vốn của các cổ đông, vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phầnbằng nhau gọi là cổ phần; các cá nhân hoặc tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổđông; cổ đông được cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được gọi là cổ phiếu TheoĐiều 77 Luật doanh nghiệp 2005 thì Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạnchế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừtrường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanhnghiệp;
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh;
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
Trang 71.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp được hình thành, tồn tại
và phát triển bởi sự góp vốn của các thành viên, các thành viên cùng chia nhau lợinhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty, cũng như công tychỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác trong phạm vi tàisản của công ty
Có 2 loại hình Công ty trách nhiệm hữu
hạn:
a/ Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Điều 38 Luật doanh
nghiệp 2005 quy định:
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50;
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều
43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần
b/ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005 quy
định:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặcmột cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngàyđược cấp
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
Trang 8- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổphần.
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty;
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi số vốn đã góp vào công ty
- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký
- kinh doanh;
- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
1.1.4 Doanh nghiệp tư nhân:
Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005:
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào;
- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
1.2 Tình hình cơ cấu loại hình doanh nghiệp được thành lập tại TPHCM trong 5 năm gần đây
Số lượng doanh nghiệp đăng ký theo loại hình doanh nghiệp
Đơn vị: doanh nghiệp
Trang 9Nguồn: t p:ht / /ww w .dpi.hochim i nh c i t y g ov.vn/ (Sở KH&ĐT TPHCM)
Tỷ trọng doanh nghiệp đăng ký mới theo loại hình doanh nghiệp
Ngược lại thì tỷ lệ Công ty TNHH lại có xu hướng ngày càng tăng, trung bình tỷ lệdoanh nghiệp loại hình này tăng 1%/năm, đến nay tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký mới loạihình Công ty TNHH cao hơn hẳn và chiếm 83.31% doanh nghiệp đăng ký mới trên địabàn TPHCM
Trang 10Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp cơ cấu theo loại hình
Năm 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 Công ty cổ phần 14.16% 5.91% -7.19% -13.33%
Công ty hợp danh
Phân tích theo chiều ngang tình hình tăng giảm qua các năm:
- Giai đoạn 2008-2012 số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh nhất vàonăm 2009: tăng 25% so với năm 2008, mặc dù bị tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới nhưng số lượng doanh nghiệp ở TP.HCM vẫn tăng bởi vì:
Khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu vào cuối năm 2008 từ Mỹ và dần lansang các khu vực khác Việt Nam cũng là một trong những nước chịu ảnhhưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng này tuy nhiên thời điểm năm 2009 tácđộng của cuộc khủng hoảng chưa lan truyền mạnh mẽ đến Việt Nam, do đó sovới các năm trong giai đoạn 2008-2012 thì kinh tế Việt Nam ở năm này chưa
bị ảnh hưởng rõ rệt so với các năm khác Vì vậy số lượng doanh nghiệp đượcthành lập mới vẫn được gia tăng nhiều hơn
Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, Chính phủ và các cấp, cácngành đã đề ra nhiều giải pháp kịp thời, có hiệu quả như Gói chính sách gồm
hỗ trợ lãi suất 4%/ năm cho các tổ chức, cá nhân vay vốn để sản xuất, kinhdoanh; giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, 50% thuế VAT, miễn thuế thunhập cá nhân trong 6 tháng và kích đầu tư Tổng số tiền Chính phủ dành chocác gói kích thích kinh tế vào khoảng 150.000 tỷ đồng Vận động nhân dânhưởng ứng chủ trương “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đã gópphần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp an tâm đầu tư vực dậy sản xuất nênkết quả sản xuất, kinh doanh từng bước được khôi phục và tiếp tục tăngtrưởng
Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp - Quyết sách lớn trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Bên cạnh sử dụng các biện pháp kích thíchtài chính để vực dậy nền kinh tế, ổn định vĩ mô, Nhà nước Việt Nam còn đẩy
Trang 11mạnh hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, trong
đó nổi bật nhất là chính sách cải cách thủ tục hành chính (TTHC) trong nhiềulĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, đặc biệt là TTHC liên quan đến doanhnghiệp Việc làm này là hết sức cần thiết nhằm mục đích giảm bớt các TTHCrườm rà, không cần thiết, góp phần tiết kiệm được cho doanh nghiệp thời gian,công sức, tiền bạc… đồng thời tạo lập được một môi trường kinh doanh lànhmạnh có đủ khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong khu vực và thếgiới Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 02/2/2009 của Ban Chấp hành trungương Đảng khóa X về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiệnthắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định:
“Cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất, kinh doanh, phát triển các thànhphần kinh tế… Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, ban hành đầy đủ các văn bản hướngdẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và các luật cóliên quan; đơn giản hơn nữa các thủ tục hành chính, công khai mọi quy trình,thủ tục cấp phép hoạt động, đăng ký kinh doanh, đầu tư, nộp thuế ” Đầu năm
2007, khi các dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế toàn cầu biểu hiện, Thủ tướngChính phủ đã ký Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg về Phê duyệt đề án đơn giảnhoá thủ tục hành chính nhà nước giai đoạn 2007-2010 (hay còn gọi là Đề án30) Có thể nói, chính sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo
cơ sở pháp lý vững chắc nhằm giúp cho chủ trương cải cách TTHC của Đảngnhanh chóng đi vào thực tiễn Qua đó, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho
DN thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bền vững và nâng cao năng lựccạnh tranh của nền kinh tế
Do đó năm 2009 là 1 năm hội đủ các điều kiện để các doanh nghiệp ồ ạt xuất hiệntrên thị trường cạnh tranh, tăng trưởng đa dạng các loại hình doanh nghiệp vàcác ngành nghề đầu tư
- Bước sang 2010, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới có giảm so vớinăm 2009 nhưng mức giảm không đáng kể (3%) Theo số liệu thống kê, số lượngdoanh nghiệp thành lập mới năm 2009 là 24.482 doanh nghiệp và năm 2010 là23.746 doanh nghiệp Năm 2010, lạm phát vượt xa con số dự báo, giá vàng biếnđộng mạnh mẽ, tỷ giá thay đổi bất thường, vụ việc Vinashin và những trách nhiệm
Trang 12liên quan, hiện tượng làm giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Namdiễn ra công khai và dàn trải, bất động sản tăng giá mạnh mẽ, đã làm không ítnhà đầu tư điêu đứng và ngần ngại trước việc thành lập doanh nghiệp mới.
- Năm 2011, số lượng doanh nghiệp thành lập mới cao hơn năm 2010 (2.81%) đạt24,413 doanh nghiệp xấp xỉ so với năm 2009 Nền kinh tế Việt năm 2011 đã nỗlực vượt qua nhiều khó khăn, đạt được nhiều thành tựu đáng kể Theo báo cáo củaUBND TP.HCM, trong năm 2011, mặc dù tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn biếnphức tạp, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếpđến sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân, TP.HCM đã nỗ lực thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của năm đạtnhiều kết quả khá tốt, nhiều doanh nghiệp tại TP.HCM được thành lập
- Kinh tế - xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tếthế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa đượcgiải quyết Tăng trưởng của các nền kinh tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảmcủa các nền kinh tế khác Một số nước và khối nước lớn có vị trí quan trọng trongquan hệ thương mại với nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản và EU đối mặtvới nhiều thách thức nên tăng trưởng chậm Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh
tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cưtrong nước Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sứcmua trong dân giảm Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại Tín dụng siếtchặt, việc vay vốn tại các ngân hàng bị hạn chế làm cho việc đăng ký thành lập và
mở rộng họat động kinh doanh bị ảnh hưởng Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanhnghiệp vừa và nhỏ phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể Năm
2012, toàn TP.HCM có 23.707 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 2,89%
so với cùng kỳ năm 2011 Tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động trong 11 thángđầu năm là 21.746 doanh nghiệp, bằng 96,2% số doanh nghiệp mới được cấp mã
số thuế; trong đó đã khóa mã số thuế và chờ khóa mã số thuế chiếm 41%, không có tạiđịa chỉ kinh doanh chiếm 29,8% Như vậy cho thấy số lượng doanh nghiệp đăng kýthành lập mới năm 2012 tương đối lớn nhưng thực chất số lượng doanh nghiệp đi vàohoạt động kinh doanh ít, các doanh nghiệp chủ yếu chỉ đăng ký, chưa hoạt động kinhdoanh hoặc dừng hoạt động
Trang 13Phân tích theo chiều dọc
Tỷ trọng số lượng doanh nghiệp theo cơ cấu loại hình doanh nghiệp
Tổng cộng 100.00% 100.00% 100.00% 100.00% 100.00%
- Qua các năm từ 2008 đến 2012, loại hình Công ty TNHH luôn chiếm tỷ trọng caohơn so với các loại hình khác và tỷ trọng này ngày càng gia tăng, điều này chothấy loại hình Công ty TNHH là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu khi muốn thành lậpdoanh nghiệp của người dân TP.HCM
- Ngược lại, loại hình DNTN ngày càng chiếm tỷ trọng thấp từ 7,41% năm 2008 thìchỉ còn 3,85% năm 2012, điều này có thể đến từ những bất lợi của loại hìnhDNTN như:
Không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạnbằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpnên dễ xảy ra rủi ro khi hoạt động kinh doanh bị thua lỗ
Chủ sở hữu DNTN chỉ được làm chủ một DNTN, không được đồng thời là chủ
sở hữu của một DNTN khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh hoặc thành viên hợpdanh của công ty hợp danh
Khó khăn của DNTN liên quan đến số lượng tài sản, vốn có giới hạn mà mộtngười có thể có, DNTN dễ bị thiếu vốn và bất lợi này có thể gây cản trở cho sựphát triển
Yếu kém năng lực quản lý toàn diện, không phải người chủ doanh nghiệp nàocũng đủ trình độ để xử lý tất cả những vấn đề về tài chính, sản xuất, tiêu thụ…
DNTN không bền vững, mọi sự cố xảy ra đối với chủ doanh nghiệp có thể làmcho doanh nghiệp không tồn tại được nữa…
- Tỷ lệ Công ty cổ phần từ năm 2008 đến năm 2011 không có thay đổi nhiều, daođộng khoảng 14% - 15%, tuy nhiên đến năm 2012 thì loại hình doanh nghiệp này
Trang 14chỉ còn 12.84% tổng số doanh nghiệp đăng ký Năm 2012 là năm có nhiều bất ổntrên thị trường chứng khoán Việt Nam, VN-index có nhiều phiên sụt giảm mạnh,
có nhiều biến động về nhân sự cấp cao trên thị trưởng cùng với những thương vụgiao dịch "bí ẩn", nhiều cổ phiếu hủy niêm yết bắt buộc và tự nguyện rút khỏi sàn.Tại 2 sàn giao dịch Hà Nội và TP.HCM đã có 15 mã phải rời sàn chứng khoán.Hầu hết đây là những mã làm ăn thua lỗ triền miên nên bị bắt buộc hủy niêm yết.Ngoài ra, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM cũng công bố danh sách những mãchứng khoán có nguy cơ bị hủy niêm yết cao do lỗ vượt vốn chủ sở hữu…Do đóthị trường chứng khoán không thể tăng trưởng, cơ hội huy động vốn qua thịtrường chứng khóan giảm, gây khó khăn cho chủ đầu tư muốn thành lập doanhnghiệp mới hoặc chuyển đổi sang loại hình Công ty cổ phần
II Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo quy mô
Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp được phân làm ba loại:
- Doanh nghiệp quy mô lớn
- Doanh nghiệp quy mô vừa
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì quy mô
của DN vừa và nhỏ được xác định như sau:
Quy mô Doanh
nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
I Nông,
lâm
nghiệp và
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên
200 ngườiđến 300
II Công
nghiệp
và xây
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên
200 ngườiđến 300
III.
Thương
mại và dịch
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
100 người
Trang 15Để thuận lợi khi phân biệt doanh nghiệp theo quy mô thì chỉ xem xét trên mức vốn điều lệ của doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp theo quy mô vốn được xác định như sau:
- Doanh nghiệp quy mô lớn: Trên 100 tỷ đồng:
- Doanh nghiệp quy mô vừa: Trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ: Từ 20 tỷ đồng trở xuống
Số liệu doanh nghiệp đăng ký theo quy mô theo số liệu của Sở KH&ĐT TPHCM
Nguồn: Trang web: htt p:/ /www.dpi.hochimi nhcit y.gov.vn/
Tỷ lệ doanh nghiệp theo quy mô
DNVVN chiếm tỷ lệ cao trên tổng số doanh nghiệp ngày càng đóng góp vai trò
to lớn đối với nền kinh tế như: đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng GDP, cụ
Trang 16thể năm 2011 cả nước có 500.000 DNVVN, chiếm 98% số lượng doanh nghiệp, đónggóp hơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổngmức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 100% sản lượng hàng hóa;DNVVN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là các DNVVN thành lập ởcác vùng nông thôn sẽ làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngànhdịch vụ; ngoài ra các DNVVN còn tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm vớitrên 50% lao động xã hội (“phát triển DNVVN ở Việt Nam phù hợp với tái cấu trúc vàhội nhập kinh tế quốc tế” tạp chí phát triển và hội nhập – PGS.TS Đào Duy Huân).
Sở dĩ doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu doanhnghiệp tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung là do DNVVN có những ưuđiểm và nhà nước có những chính sách để khuyến khích phát triển DNVVN như sau:
- Dễ dàng khởi tạo kinh doanh và sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực mới: DNVVN chỉcần số vốn tương đối, mặt bằng không quá lớn và các điều kiện sản xuất đơn giản
là có thể đi vào hoạt động kinh doanh, vòng quay sản xuất nhanh nên có thể sửdụng vốn tự có hoặc huy động vốn nhanh Hơn nữa do số vốn kinh doanh bỏ rakhông lớn và sử dụng lao động tương đối ít nên DNVVN có khả năng sẵn sàngmạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực mới cũng như lĩnh vực có nhiều rủi ro, trường hợpthất bại thì cũng không thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn
- Cơ cấu quản lý gọn nhẹ: So với các doanh nghiệp lớn thì DNVVN có ưu thế hơn
là gọn nhẹ và linh hoạt, có thể bám sát thị trường và điều chỉnh linh hoạt địnhhướng kinh doanh, các quyết định kinh doanh không phải thông qua nhiều cấpnhư các công ty lớn nên khi gặp khó khăn cũng như cơ hội kinh doanh thì lãnhđạo các DNVVN có thể nhanh chóng ra quyết định Hơn nữa với cơ cấu tổ chứcgọn nhẹ, số lượng nhân viên tương đối ít nên sẽ có sự thống nhất cao từ lãnh đạođến nhân viên, từ đó các quyết định kinh doanh được triển khai thực hiện mộtcách dễ dàng hơn và có thể dễ dàng thành công hơn
- Chủ động và linh hoạt về giá cả: Với cơ cấu bộ máy gọn nhẹ thì chi phi quản lýdoanh nghiệp cũng ít hơn, điều này làm cho giá thành của các DNVVN thấp hơncác doanh nghiệp lớn nhờ đó cung cấp hàng hóa và dịch vụ với mức giá thấp hơn,tăng khả năng cạnh tranh cho các DNVVN