Có thể nói, ý thức chấp hành PL của các em phụthuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức và ý thức tự giác chấp hành PL trựctiếp của bố mẹ, những người thân trong gia đình cũng như dư luận x
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VĂN VIẾT HẢI
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN
TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS TRẦN XUÂN BÁCH
Trang 2Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Văn Viết Hải
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 7
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 9
1.2.1 Pháp luật 9
1.2.2 Giáo dục pháp luật 10
1.2.3 Học viên 12
1.2.4 Học viên học văn hóa tại Trung tâm GDTX 13
1.2.5 Giáo dục pháp luật cho học viên 13
1.2.6 Quản lý 14
1.2.7 Quản lý giáo dục 15
1.2.8 Quản lý giáo dục pháp luật 16
1.3 GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI TRUNG TÂM GDTX .1
7 1.3.1 Mục tiêu của giáo dục pháp luật 17
1.3.2 Nội dung của giáo dục pháp luật 20
1.3.3 Phương pháp giáo dục pháp luật 23
Trang 51.3.4 Hình thức của giáo dục pháp luật 25
1.3.5 Đối tượng của giáo dục pháp luật 26
1.3.6 Chủ thể của giáo dục pháp luật 27
1.3.7 Phối hợp giáo dục pháp luật 28
1.3.8 Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục pháp luật 28
1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 29
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật 29
1.4.2 Quản lý giáo dục pháp luật 30
1.4.3 Quản lý chức năng giáo dục pháp luật 31
1.4.4 Quản lý các phương pháp giáo dục pháp luật 33
1.4.5 Quản lý hoạt động của báo cáo viên 34
1.4.6 Quản lý phương tiện giáo dục pháp luật 35
1.4.7 Quản lý sự phối hợp 37
1.4.8 Quản lý kiểm tra đánh giá giáo dục pháp luật 37
1.5 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI TRUNG TÂM 38
1.5.1 Môi trường nhà trường, gia đình và cộng đồng (phong tục tập quán, Phương tiện truyền thông, giao tiếp, điều kiện tự nhiên, xã hội ) 38
1.5.2 Yếu tố tự giáo dục của học viên 39
1.5.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên 39
1.5.4 Chất lượng hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong trung tâm .40
1.5.5 Điều kiện cơ sở vật chất, tài chính 40
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 38
Trang 62.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
TỈNH KON TUM 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Kon Tum 42
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh Kon Tum 45
2.1.3 Tình hình giáo dục thường xuyên và nhu cầu học tập thường xuyên của cộng đồng tỉnh Kon Tum 49
2.1.4 Tình hình học sinh, học viên học văn hóa bậc phổ thông vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Kon Tum 51
2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 54
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 54
2.2.2 Nội dung khảo sát 54
2.2.3 Phương pháp khảo sát 55
2.2.4 Đối tượng khảo sát 55
2.2.5 Xử lý thông tin khảo sát 55
2.3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 56
2.3.1 Thực trạng về mặt nhận thức 56
2.3.2 Thực trạng công tác giáo dục pháp luật tại các trung tâm 59
2.3.3 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về công tác giáo dục pháp luật cho học viên học văn hóa 66
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX HIỆN NAY 69
2.4.1 Thực trạng quản lý nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật 69
2.4.2 Thực trạng quản lý sự phối hợp GDPL, điều kiện thực hiện 70
2.4.3 Thực trạng quản lý việc phân công phụ trách và xây dựng kế hoạch GDPL cho học viên tại các trung tâm 71
Trang 72.4.4 Thực trạng quản lý việc triển khai kế hoạch GDPL cho học viên
tại các trung tâm 72
2.5.5 Thực trạng về nhận thức tầm quan trọng về quản lý công tác GDPL cho học viên tại các Trung tâm GDTX 73
2.5 NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 74
2.5.1 Ưu điểm 74
2.5.2 Hạn chế 75
2.5.3 Nguyên nhân 77
CHƯƠNG III CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 82
3.1 NGUYÊN TẮC XÁC LẬP BIỆN PHÁP 82
3.1.1 Phải góp phần nâng cao chất lượng đào tạo 82
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn 82
3.1.3 Bảo đảm tính giai cấp 83
3.1.4 Bảo đảm tính dân chủ 83
3.1.5 Bảo đảm tính thống nhất trong quá trình giáo dục 84
3.1.6 Bảo đảm phát huy vai trò chủ động, tích cực của các lực lượng tham gia công tác giáo dục pháp luật 85
3.1.7 Bảo đảm tính khoa học 85
3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 86
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp quản lý về tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật cho học viên 86
3.2.2 Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài trung tâm tham gia giáo dục pháp luật cho học viên 91
Trang 83.2.3 Kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý công tác giáo dục pháp luật cho
học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDTX 95
3.2.4 Tăng cường công tác giáo dục đạo đức và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD 96
3.2.5 Đa dạng hóa nội dung, hình thức và cải tiến phương pháp giáo dục cho học viên 100
3.2.6 Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật thông qua giờ sinh hoạt chủ nhiệp lớp 107
3.2.7 Tăng cường các điều kiện hỗ trợ và tạo động lực cho công tác giáo dục pháp luật 108
3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 110
3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 111
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 115
1 Kết luận 115
2 Khuyến nghị 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO .118
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤC LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 10TT GDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 11hành vi thiếu văn hóa, vi phạm pháp luật
61
2.6 Nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến công tác GDPL 622.7 Các hoạt động GDPL GVCN cần phải tham gia 672.8 Các hoạt động GDPL GVBM cần tham gia 68
2.11 Phân công phụ trách xây dựng kế hoạch GDPL cho HV 722.12 Triển khai kế hoạch GDPL cho HV 722.13 Ý kiến của CBQL và GV của các trung tâm về mức độ
nhận thức GDPL
73
2.14 Ý kiến của 60 HV trung tâm GDTX huyện Đăk Hà về mức
độ nhận thức về hiệu quả của GDPL
73
2.15 Những ưu điểm trong công tác quản lý GDPL cho HV 742.16 Những hạn chế trong công tác quản lý GDPL cho HV 762.17 Những nguyên nhân trong công tác quản lý GDPL cho HV 783.1 Kết quả trưng cầu ý kiến kiểm chứng thực hiện các biện
pháp
111
b Danh mục hình vẽ, đồ thị
Số hiệu
2.1 Thống kê xếp loại hạnh kiểm THPT-GDTX trong 3 năm 53
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Giáo dục Việt Nam có mặt ngay từ buổi đầu lập quốc, khi các cộng đồng
cư dân định hình trên vùng lãnh thổ của đất nước Theo thời gian nền giáodục Việt Nam ngày nay cũng có nhiều thay đổi đáp ứng yêu cầu công cuộcđổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước đang đặt ra nhữngyêu cầu to lớn về chất lượng nguồn lực con người Đó là sự phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ, nhân cách, lối sống, tuân thủpháp luật, thực hiện đúng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước đối với thế hệ trẻ là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng
Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật (GDPL) góp phần nâng cao ýthức pháp luật (PL), văn hoá pháp lý của mọi thành viên trong xã hội trong đó
có học sinh (HS), học viên (HV), sinh viên (SV) Trong giai đoạn hiện nay,vấn đề củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang là mộtvấn đề cấp thiết Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xãhội, thực hiện Nhà nước quản lý bằng PL, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, Đại hội Đảng lần thứ VII đã
khẳng định: “điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân” Để
củng cố và tăng cường pháp chế đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp đồng
bộ trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý, xây dựng ý thức PL ởmỗi người dân Chỉ khi nào trong xã hội mọi công dân đều có ý thức PL, luôntuân thủ PL và có hành vi phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống PL, mới
có thể thực hiện quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng PL và điều này chỉ cóthể hình thành và thực hiện được trên cơ sở tiến hành GDPL
Trang 13Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL chưa thực
sự được chú trọng một cách đúng mức, nhiều nơi còn coi nhẹ, buông lỏngtrong công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho HS, HV, đây cũng lànguyên nhân dẫn đến số lượng HS, HV vi phạm kỷ cương, vi phạm PL ngàycàng tăng gây nhức nhối cho xã hội Điều đó đặt cho các nhà quản lý, cho xãhội thấy được sự cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công táctuyên truyền, phổ biến GDPL trong các đơn vị giáo dục
Lứa tuổi HS, HV đang học văn hóa phổ thông được trang bị kiến thứcvăn hóa tương đối toàn diện, các em rất năng động, có khả năng sáng tạo, tíchcực, nhạy bén trong học tập cũng như trong quan hệ xã hội Tuy vậy HS, HVcũng có nhiều hạn chế, khuyết điểm là nhân cách chưa được hoàn chỉnh, rất
dễ bị kích động, hành động nông nổi, bồng bột thiếu kiềm chế, đôi khi tự cao,
tự mãn, thích tự do phóng khoáng, hay học đòi, thích thể hiện trước mọingười mình là người lớn và đặc biệt hiểu biết về PL chưa toàn diện và sâu sắc
HS, HV dễ chịu sự tác động ảnh hưởng trực tiếp của môi trường và củanhững người xung quanh Có thể nói, ý thức chấp hành PL của các em phụthuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức và ý thức tự giác chấp hành PL trựctiếp của bố mẹ, những người thân trong gia đình cũng như dư luận xã hội.Mặt khác, do khả năng bản thân và sự phát triển quan hệ xã hội đối với các
em ngày càng lớn để phù hợp với thực tiễn, nên các em còn chịu ảnh hưởngtác động của trung tâm của xã hội Do vậy, vấn đề hết sức quan trọng là hệthống GDPL cho HS, HV phải dựa trên sự liên hệ chặt chẽ với hoạt động thựctiễn của đời sống xã hội, đáp ứng những yêu cầu bức thiết của đời sống xãhội, phù hợp với quy luật của xã hội, phù hợp với lứa tuổi, trình độ nhận thứcthì GDPL mới toàn diện và thực sự có hiệu quả
Trong xã hội hiện nay, do yêu cầu khách quan của xã hội cần phải có PLnhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong một xã hội theo một chuẩn
Trang 14mực nhất định GDPL cho mọi thành viên trong xã hội đặt biệt là đối với HVhiện đang học văn hóa tại các Trung tâm GDTX được đặt ra như là một tấtyếu, khách quan, là một phận cấu thành trong chương trình giáo dục.
Thực tế công tác GDPL cho HV tại các Trung tâm GDTX trên địa bàntỉnh Kon Tum tuy đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, từng bước khắc phụctình trạng thiên về “dạy chữ”, xem nhẹ “dạy người”, nhưng vẫn còn nhiều bấtcập, chất lượng GDPL ở các trung tâm GDTX chưa đáp ứng được yêu cầucủa xã hội Những biểu hiện vi phạm PL của lớp trẻ và thực trạng quản lýGDPL cho HV học văn hóa tại các trung tâm GDTX đang đặt ra hàng loạt cácvấn đề bức xúc cần được nghiên cứu và giải quyết Việc đánh giá đúng tìnhhình, nhận diện đúng vấn đề, phát hiện được trở ngại và vướng mắc để tìm racác nguyên nhân và đề xuất các biện pháp nhằm quản lý tốt việc GDPL cho
HV học văn hóa trên địa bàn, góp phần tạo nên những chuyển biến tích cựctrong nhận thức về GDPL, cần thiết phải nhấn mạnh về mối quan hệ giữa giáodục và nâng cao trình độ văn hóa pháp lý cho thế hệ trẻ trong xu thế hội nhậphiện nay Đó là một việc làm cần thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao cho địa phương và cho đất nước
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn “Biện pháp quản lý giáo dục
pháp luật cho học viên tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn Tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lýGDPL cho HV học văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
ở các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 15Công tác quản lý GDPL tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh KonTum
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý GDPL cho HV học văn hóa tại các Trung tâm GDTXtrên địa bàn tỉnh Kon Tum
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Việc quản lý GDPL cho HV học văn hóa ở các Trung tâm GDTX sẽ đạthiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong giaiđoạn hiện nay, nếu tăng cường quản lý công tác này qua việc thực hiện đồng
bộ và có hệ thống các biện pháp từ tác động nhận thức đến tâm sinh lý, cảitiến nội dung đến tăng cường điều kiện và hoàn thiện cơ chế quản lý góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý GDPL cho học viên tại Trung tâm GDTX
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý GDPL học viên tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường GDPL học viên tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu liên quan, nhằmxây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn, điều tra, khảo sát nhằm thu thập thông tin;đánh giá thực trạng GDPL học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDTX ở
Trang 16địa bàn nghiên cứu; tổng kết kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý tại cácTrung tâm GDTX, lấy ý kiến chuyên gia.
6.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu lưu trữ của trung tâm
Kĩ năng tìm kiếm tài liệu, biết cách chọn lọc, đánh giá, phân tích và tổnghợp một cách khoa học
6.4 Nhóm phương pháp hỗ trợ xử lý thông tin
Bao gồm phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia; xử lý số liệu bằng toánhọc, thống kê để xử lý thông tinh, số liệu thu thập được, từ đó lập bảng, sosánh, phân tích, tổng hợp số liệu và rút ra nhận xét
7 PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
7.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho họcviên học văn hóa BT THPT tại các Trung tâm GDTX hiện nay
7.2 Giới hạn nghiên cứu
Các hoạt động quản lý GDPL tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnhKon Tum những năm gần đây
8 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về mặt lý luận hệ thống hoá các kiến thức tương đối toàn diện một sốvấn đề quản lý GDPL và xác định được các biện pháp tăng cường công tácquản lý GDPL cho học viên tại các trung tâm GDTX.Về mặt thực tiễn gópphần khai thác sử dụng làm tài liệu tham khảo khi xây dựng và nâng cao hiệuquả của công tác quản lý GDPL cho học viên tại các Trung tâm GDTX trênđịa bàn tỉnh Kon Tum
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Trang 17CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục pháp luật cho học viên tại
các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
CHƯƠNG 2: Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học viên tại các
Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
CHƯƠNG 3: Các biện pháp tăng cường quản lý giáo dục pháp luật cho học
viên tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC
VIÊN TẠI TRUNG TÂM GDTX 1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
GDPL là một trong những nội dung quan trọng luôn giữ một vị trí caotrong đời sống xã hội, là một bộ phận đặc biệt trong sự nghiệp GD ở nước ta.GDPL góp phần hình thành, nâng cao nhận thức về PL cho mọi người Hiệnnay trên cơ sở coi trọng GD kiến thức văn hóa với GD đạo đức, GD ý thứccông dân thông qua GDPL trong trung tâm chính là một trong những phươngthức cơ bản để nhằm đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo GDPLgóp phần nâng cao trình độ văn hóa pháp lý, kiến thức PL, hình thành phongcách sống và làm việc theo PL, tạo lập ý thức, trang bị kiến thức để nâng cao
sự hiểu biết PL để từ đó khẳng định hành vi xử sự của bản thân
GDPL cho công dân nói chung và cho HV phổ thông nói riêng là mộtvấn đề hết sức quan trọng của mọi quốc gia và được coi là một phương thức
để xây dựng phát triển nền văn hóa pháp lí, bảo đảm sự ổn định và bền vữngcủa mỗi quốc gia Nhiệm vụ GDPL cho thế hệ công dân tương lai hoàn toànkhông thể tách khỏi những nhiệm vụ chung của GDPL đối với quần chúngnói chung Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi ham hiểu biết, dễ nhạy cảm, nhanhchóng tiếp thu, thích nghi những cái mới, luôn muốn được thể hiện và khẳngđịnh bản thân, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HV thiếu bản lĩnh, hiểu biết PLcòn hạn chế, ý thức chấp hành PL còn yếu kém dẫn đến dễ bị kích động, bị dụ
dỗ, lôi kéo, đua đòi ăn chơi dễ tham gia vào các hoạt động vi phạm PL làmảnh hưởng gia đình, nhà trường, trật tự, an toàn xã hội Chính vì vậy tronggiai đoạn hiện nay, việc nâng cao hơn nữa công tác quản lý GDPL cho HVnhằm bồi dưỡng và tạo điều kiện cho HV có ý thức trách nhiệm công dân,hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và PL góp phần tạo dựng một
Trang 19môi trường trong trung tâm là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề
cơ bản để bảo đảm cho tương lai số phận của bản thân nói riêng và sự ổn địnhcủa XH nói chung, đồng thời xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗithành viên trong XH đối với việc chấp hành PL
GDPL và quản lý GDPL cho HS, SV, cho mọi người đã được quy địnhtrong các văn bản của Đảng, Nhà nước, ngành Giáo dục& Đào tạo của tỉnhKon Tum như:
- Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 9 tháng 12 năm 2003 của Ban bí thư Trungương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổbiến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân [2]
- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 7 tháng 12 năm 2007 về việc tiếp
tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóaIX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân [13]
- Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2008 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phổ biến pháp luật từ năm 2008 đếnnăm 2012 [33]
- Kế hoạch số 366/KH-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ Giáodục và Đào tạo về “Kế hoạch thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luậttrong nhà trường” [10]
- Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến,giáo dục pháp luật trong nhà trường” năm 2012 (Ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 1252/QĐ-BĐHĐA ngày 3 tháng 4 năm 2012 của Trưởng Ban Điềuhành Đề án [12]
- Chỉ thị số 45/2007/CT-BGDĐT BGDĐT ngày 18 tháng 8 năm 2007của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường công tác phổ biến giáo dục phápluật trong nhà trường [9]
Trang 20- Kế hoạch số 131/KH-BGDĐT ngày 28 tháng 2 năm 2012 của Bộ Giáodục và Đào tạo về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của ngànhgiáo dục [11]
- Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện naychủ biên Nguyễn Duy Lãm, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1997 [23]
- Giáo dục pháp luật trong nhà trường của tác giả Nguyễn Đình ĐặngLục, NXB giáo dục, Hà Nội, 2000 [25]
- Đã có nhiều công trình khoa học, nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ,nhiều bài viết trên các tạp chí liên quan đến pháp luật chuyên ngành Nhữngcông trình, Chỉ thị, Nghị quyết, Kế hoạch, văn bản trên đã có những đóng gópnhất định trong việc hoàn thiện khung lý luận và đóng góp về nhận diện thựctrạng, những giải pháp và kiến nghị về GDPL và quản lý GDPL hiện nay.Liên quan đến GDPL và quản lý GDPL cho HS học phổ thông nói chung vàquản lý GDPL cho HV tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Kon Tumnói riêng gần như chưa có công trình nào nghiên cứu
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Pháp luật
PL là một hiện tượng XH có một vị trí đặc biệt trong đời sống chính trịcủa XH có giai cấp Ra đời trong điều kiện xã hội bị phân hóa thành các giaicấp đối kháng Cũng như Nhà nước, PL chỉ xuất hiện và tồn tại trong XH cógiai cấp Nhà nước và PL cùng có chung điều kiện và hoàn cảnh ra đời, đó là
sự phân hóa XH dẫn đến sự xuất hiện các giai cấp, tầng lớp XH khác nhau.Trong tiến trình phát triển của XH loài người, đã có một thời kỳ, thời kỳ Cộngsản nguyên thủy, không có Nhà nước và do vậy cũng không có PL Khi XH bịphân hóa thành giai cấp, mâu thuẫn giữa các giai cấp sẽ xãy ra và ngày càngtrở nên gay gắt Do vậy, cần có một tổ chức quản lý XH cao hơn, trong đềukiện như vậy Nhà nước ra đời, giai cấp thống trị đã sử dụng nó làm công cụ
Trang 21để trấn áp các giai cấp khác nhằm thiết lập và củng cố quyền thồng trị củamình thông qua hoạt động quản lý XH Để làm được điều đó, Nhà nướckhông thể chỉ dùng các quy phạm đạo đức tín ngưỡng, phong tục tập quán màđòi hỏi phải có những quy tắc mang tính chuẩn mực chung theo quan niệmcủa giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ XH Bất kỳ những hành vinào trái với những quy tắc mang tính chuẩn mực đều bị trừng trị một cáchnghiêm khắc Những quy phạm, quy tắc đã tồn tại trong quá khứ chính là PL.
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
do Nhà nước thừa nhận hoặc ban hành, được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự,
ổn định cho sự phát triển xã hội [21]
1.2.2 Giáo dục pháp luật
Trong đời sống XH, con người luôn gắn liền với cộng đồng của mình.Mối liên hệ đó luôn được nhìn nhận như là một điều kiện cơ bản để bảo đảmcho sự phát triển của mỗi cá nhân Có thể nói, quá trình trưởng thành của mỗi
cá nhân là quá trình tiếp nhận và xử lý các mối quan hệ XH thông qua sự tácđộng của nó từ nhiều phía và nhiều góc độ khác nhau Để xử lý các mối quan
hệ đó con người đã xử dụng nhiều loại quy phạm, trong đó có quy phạm PLđóng một vai trò đặt biệt quan trọng vì nó gắn liền với Nhà nước và quyền lựcNhà nước và vì thế nó giữ vai trò chủ đạo trong quá trình điều chỉnh hành vicủa con người trong XH có giai cấp Trong XH, XHCN PL được coi làphương tiện hữu hiệu để mọi công dân thực hiện quyền làm chủ và là phươngtiện để quần chúng tham gia vào quá trình hoạt động quản lý của Nhà nước.Hiện nay ở nước ta vẫn có những quan điểm, nhận thức khác nhau vềGDPL do vậy cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác GDPL Trong khoa học
sư phạm, GD được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Trang 22- Theo nghĩa rộng: GD là sự ảnh hưởng tác động của những điều kiện
khách quan như: chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống…
và của những nhân tố chủ quan như tác động tự giác, có chủ định và địnhhướng của con người nhằm hình thành những phẩm chất kỹ năng nhất địnhcủa đối tượng GD
- Theo nghĩa hẹp: GD là quá trình tác động định hướng của nhân tố chủ
quan lên khách thể GD, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh sảnxuất, những tri thức tự nhiên XH và tư duy để học có đầy đủ khả năng thamgia vào lao động và đời sống XH
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống PL, một số vấn đề bức xúc hiện nay
đó là đưa PL vào đời sống XH Trong quá trình hoạt thực tiễn, các nhà nghiên
cứ lý luận khoa học cũng đã thừa nhận tác động của các điều kiện khách quanđến sự hình thành ý thức các nhân của con người Vì vậy khái niệm GD hiệnnay chúng ta thường được hiểu theo nghĩa hẹp
GDPL là một hệ thống hết sức phức tạp bao gồm nhiều dạng, nhiềunhánh, nhiều hình thức phương pháp, phương tiện khác nhau tác động lên ýthức con người Do vậy GDPL luật hướng đến điều chỉnh hành vi con người,điều chỉnh được mối quan hệ giữa nó với người khác GDPL liên kết mộtcách hữu cơ với các dạng GD khác, trước hết là các dạng GD có mục đích tácđộng lên hành vi của con người, lên sự hợp lý của hành vi trong mối quan hệcủa XH
GDPL là sự tác động một cách có tổ chức theo một hệ thống có mụcđích rõ rệt lên mỗi thành viên của xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững
ý thức PL và những thói quen tích cực trong mọi hành vi sử thế của con ngườitrong đời sống cộng đồng
Mọi hành vi của con người nói chung là sự hoạt động có ý thức, là sựbiểu hiện ra bên ngoài tính mục đích rõ rệt có ý thức Chính vì vậy cần phải
Trang 23làm rõ nguyên nhân, động cơ dẫn con người đi đến hành động, từ đó thấynguồn gốc xuất phát chính là ý thức của con người Hoạt động của một ngườiluôn luôn xuất phát từ nhu cầu cần thiết và từ những quyền lợi gắn bó với đờisống của chính bàn thân con người đó.
Trong một thời gian khá dài, chúng ta mới chỉ chú trọng bồi dưỡngtruyền thụ cho thế hệ trẻ những kiến thức khoa học, còn về GDPL lại rất ítđược đề cập đến Sự thiếu đồng bộ trong công tác GD đã dẫn đến hậu quảnghiêm trọng là ý thức PL của quần chúng, trước hết là lớp người trẻ tuổikhông được đề cao, dẫn đến tình trạng vi phạm PL, tình trạng phạm tội ở lớpngười này xẩy ra một cách nghiêm trọng chiếm tỷ lệ cao trong tổng số ngườiphạm pháp và đang có xu hướng ngày càng tăng
Vậy GDPL là hoạt động, có tổ chức, có mục đích của chủ thể GD đượcthể hiện để cung cấp tri thức PL, bồi dưỡng tình cảm và định hướng hành vihợp pháp cho đối tượng GD nhằm hình thành ở họ ý thức, tình cảm PL đúngđắn, thói quen tuân thủ PL và tham gia tích cực vào các hoạt động PL
tổ chức hoạt động của TT GDTX [7]
1.2.4 Học viên học văn hóa tại Trung tâm GDTX
Trang 24Là người học không đủ điều kiện vào học văn hóa ở các trường phổthông công lập, là người học thường không đúng độ tuổi Về chương trìnhhọc, HV sử dụng cùng một loại sách giáo khoa theo chương trình cơ bản củaphổ thông để học, tuy nhiên trong quá trình học sẽ được bỏ bớt một số nộidung cho vừa sức của người học Về môn học, không học nhiều môn như họcsinh phổ thông, mà chỉ học có 7 môn bắt buộc là Toán, Vật lý, Hóa học, Văn,Sinh học, Lịch sử, Địa lý; ngoài ra tùy theo điều kiên, các trung tâm có thể tổchức dạy thêm các môn tự chọn (Anh văn, Tin học và Giáo dục công dân) Giáo dục thường xuyên là hình thức giáo dục theo phương thức khôngchính quy, nhằm giúp cho người học liên tục, suốt đời để mở rộng kiến thức,nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm cải thiện chất lượngcuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.
GDTX được thực hiện tại các trung tâm GDTX và có cấp chứng chỉkhông chính quy, nhưng không được dạy các chương trình GD để lấy bằng tốtnghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp cao đẳng và đại học
Học viên có nhiệm vụ và quyền hạn được ghi trong Điều 30, Điều 31 củaQuy chế tổ chức hoạt động của TT GDTX [7]
1.2.5 Giáo dục pháp luật cho học viên học văn hóa tại Trung tâm GDTX
GDPL cho HV học văn hóa tại trung tâm GDTX nhằm làm cho HV hiểubiết một cách đầy đủ, sâu sắc về cuộc sống thực tế, về ý thức XH về nhữnghoạt động có mục đích và mang ý nghĩa XH rõ rệt Những phẩm chất đó chỉ
có thể đạt được từ chính niềm tin của mỗi cá nhân vào tính cần thiết và sựcông bằng của những yêu cầu mang tính chế ước, của những tiêu chuẩn PL
Để bảo đảm cho mỗi công dân tương lai có được niềm tin vào PL và từ
đó tự giác tuân thủ PL thì chỉ riêng sự tác động từ bên ngoài là chưa đủ Vìthế cần thiết phải tăng cường và phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động,
Trang 25sáng tạo của mỗi cá nhân Đó chính là cơ sở tạo nên sự đồng bộ trong quátrình nhận thức và tuân thủ PL.
Kinh nghiệm của công tác GDPL trong thời gian qua cho thấy hiệu quảcủa sự tác động bên ngoài, không chỉ phụ thuộc vào quan hệ của cá nhân đốivới sự tác động đó mà nó còn phụ thuộc rất lớn vào sự nổ lực của chính bảnthân người đó Kết quả của công tác GD nói chung gắn liền một cách chặt chẽvới sự chín mùi của sự , nỗ lực bên trong của chính đối tượng được GD Dovậy phát huy mạnh mẽ những phẩm chất đạo đức và tính tự giác bên trongcủa đối tượng được GD chính là phát huy tìm năng vốn có từ bên trong củamỗi con người nhằm đạt được kết quả mong muốn của công tác GDPL chongười trẻ tuổi nói chung và cho HV nói riêng
Kết quả công tác GDPL chỉ được duy trì lâu dài và phát huy tác dụng khi
nó đồng thời là kết quả của hoạt động chính trị XH, kết quả của sự GD đồng
bộ của môi trường sinh sống và hoạt động khác nhau của các em Chính vìvậy khả năng nhận thức của thanh, thiếu niên được tạo nên không chỉ yếu tốnội lực mà còn là sự giúp đỡ của các tổ chức XH, gia đình, nhà trường và củacác cơ sở lao động sản xuất Bằng sự tự giác tham gia vào những hoạt độngthực tế của đời sống của chính họ là điều kiện đặc biệt quan trọng để tạo nênniềm tin và ý thức chấp hành PL
1.2.6 Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý
“Quản lý là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [39]
“Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [19].
Trang 26Thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tíchhợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái
“ổn định” Quá trình “lý” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vàothế “phát triển”
Các khái niệm “quản lý” tuy có khác nhau song chúng đều có nhữngđiểm chủ yếu sau đây:
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xãhội chúng là những tác động có tính định hướng Những tác động đó đượcphối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Tóm lại: Có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, cómục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quảnhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trongđiều kiện biến động của môi trường
1.2.7 Quản lý giáo dục
QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội:
Ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội… Quản lý GD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống quốc dân” [3]
Ở cấp độ vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác
động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [20, tr38]
Dù ở cấp độ nào chúng ta cũng có thể hiểu: QLGD là sự tác động có ýthức của chủ thể quản lý với khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạmcủa hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn
Trang 271.2.8 Quản lý giáo dục pháp luật
Quản lý công tác GDPL là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đưa công tác GDPL đạt kết quả mong muốn bằngnhững cách thức hiệu quả nhất
Quản lý công tác GDPL trước hết là phải làm cho mọi người hiểu vànhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác này đồng thời tham giavào quá trình một cách tích cực, tự giác Sau đó, người quản lý công tácGDPL phải quản lý cả về mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL,huy động đồng bộ lực lượng GD trong và ngoài trung tâm thực hiện tốt nhiệm
vụ GDPL, bên cạnh việc phát huy yếu tố tích cực, tự giác của HV Có thể nói,quản lý công tác GDPL cho HV trong Trung tâm GDTX là quá trình tác động
có định hướng của giám đốc tới các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trìnhhoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDPL
Mục tiêu quản lý GDPL trong XH nói chung và trong Trung tâm GDTXnói riêng là hướng tới sự phát trển toàn diện nhân cách cho người học, làmcho quá trình GDPL vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng Mụctiêu quản lý GDPL bao gồm:
Về nhận thức giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức XH có nhậnthức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý Giáo dục & Đào tạo.Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vềvấn đề phát triển toàn diện
Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người biết ủng hộ lẽ phải, ủng hộ nhữngviệc làm đúng, biết lên án, phê bình, đấu tranh với những biểu hiện sai tráikhông chấp hành PL, có thái độ đúng đắn với các hành vi của bản thân đốivới công tác quản lý GDPL
Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc GDPL hoạt độngtập thể, hoạt động XH, rèn luyện tu dưỡng theo chuẩn mực đạo đức chung
Trang 28Tóm lại: Điều quan trọng nhất của việc quản lý GDPL là làm sao choquá trình GDPL tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm,niềm tin đạo đức, tạo lập những thói quen sống và làm việc theo PL.
1.3 GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI TRUNG TÂM GDTX
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục pháp luật
Mục tiêu của GDPL là một trong những yếu tố cấu trúc thuộc bên trongcủa GDPL và giúp phân biệt GDPL với các dạng GD khác Đồng thời, là cơ
sở cho việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp của GDPL phù hợpvới từng chủ thể và đối tượng GDPL
Mục tiêu quan trọng của GDPL cho thế hệ công dân tương lai là nhằmtrang bị cho họ những kiến thức PL cần thiết cho cuộc sống, giúp họ hiểu mộtcách đầy đủ, chính xác và khoa học về PL Sự hiểu biết đó là sự tập hợp kiếnthức cả về chiều sâu và bề rộng của ý thức PL Vì thế, trước những đòi hỏicấp thiết của công tác GDPL, hoạt động của hệ thống các cơ quan GD củaNhà nước có ý nghĩa rất lớn Hoạt động GD của hệ thống các cơ quan đó tạonên và duy trì sự hiểu biết toàn diện và sâu sắc cho mỗi công dân tương lai.Trong khoa học PL, mục đích của GDPL được thể hiện ở một số khíacạnh sau:
Mục tiêu nhận thức: Nhằm cung cấp và từng bước mở rộng tri thức PL,
nâng cao văn hóa PL của chủ thể được GD Đây là mục đích hàng đầu, bởichính sự am hiểu PL, sự nhận thức đúng về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnhcủa PL sẽ là điều kiện cần thiết để hình thành tình cảm và lòng tin vào PL ởmỗi công dân Hơn nữa, tri thức PL còn còn giúp cho mỗi con người tổ chứcmột cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá, kiểm tra, đối chiếu vớicác chuẩn mực của PL Mục đích này đặc biệt quan trọng trong điều kiệnnước ta hiện nay, khi mà sự hiểu biết PL của nhân dân, cán bộ, SV còn ở mức
Trang 29thấp Đặc biệt là những SV vùng cao, vùng biên giới vùng đồng bào dân tộc ítngười chiếm đa số chịu ảnh hưởng nặng nề của các tập quán cổ hủ, lạc hậu,cán bộ ở đây xử lý công việc phần lớn dựa vào kinh nghiệm và tính cảm màkhông phải căn cứ vào PL Mặt khác, công tác GDPL chưa được coi trọngdẫn đến tình trạng kỷ cương phép nước chưa nghiêm, hiệu quả hoạt động của
bộ máy nhà nước chưa cao, làm giảm hiệu lực của PL
- Mục tiêu cảm xúc: Nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với PL.
Mục đích này hết sức quan trọng vì nếu có tri thức PL mà không có tình cảmtôn trọng và lòng tin vào PL cũng như các cơ quan bảo vệ PL thì thường dẫnđến con người dễ hành động lệch khỏi các chuẩn mực của PL mà Nhà nước
đã đề ra Mục đích cảm xúc của PL bao gồm việc GD tình cảm công bằng vàtrách nhiệm, tình cảm không khoan nhượng với hành vi vi phạm PL và tinhthần pháp chế Tất cả những tình cảm này có quan hệ và phụ thuộc vào nhau.Giáo dục tình cảm công bằng đó là GD cho con người biết đánh giá hành
vi đúng, sai, ủng hộ cái đúng, đấu tranh với cái sai, điều chỉnh hành vi củachính mình theo các quy phạm PL
Giáo dục tình cảm trách nhiệm đó là quá trình làm cho cho một người ýthức được những nghĩa vụ pháp luật cơ bản của mình, thực hiện những hàngvitheo yêu cầu của pháp luật
Giáo dục tình cảm không khoan nhượng được những hành vi vi phạm PLđóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức PL của cá nhân
Giáo dục tình cảm pháp chế hướng vào việc hình thành ý thức tuân thủ
PL Điều đó có nghĩa là người được GD phải ý thức được rằng mọi quyếtđịnh của mình phải dựa vào cơ sở của PL Tình cảm pháp chế phát triển sẽgiúp con người chống lại được những vi phạm PL bằng sự lên án các vi phạmấy
Trang 30- Mục tiêu GDPL nhằm hình thành động cơ hành vi và thói quen xử sự
hợp pháp Trong các mục đích GDPL động cơ và hành vi tích cực PL có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi suy cho cùng cái đích của GDPL phải được thểhiện ở hành vi xử sự theo PL của con người Những mục đích về nhận thức vàtình cảm nói trên là để phục vụ cho mục đích hình thành động cơ Do vậy,cung cấp tri thức GD lòng tin sâu sắc và sự cần thiết tuân theo một cách tựnguyện các quy định của PL là những yếu tố rất quan trọng nhằm hình thànhđộng cơ và hành vi hợp pháp Những mục đích về nhận thức và tình cảm nóitrên là để phục vụ cho mục đích hình thành động cơ Do vậy, cung cấp trithức GD lòng tin sâu sắc và sự cần thiết tuân theo một cách tự nguyện các quyđịnh của PL là những yếu tố rất quan trọng nhằm hình thành động cơ và hành
vi hợp pháp Những tình cảm công bằng, bình đẳng ý thức trách nhiệm, vàkhông khoan nhượng với các hành vi vi phạm PL là những yếu tố tâm lý, tưtưởng không tách rời với việc hình thành động cơ và hành vi hợp pháp và tíchcực Nhờ vào những thôi thúc nội tâm, những tình cảm, lòng tin vững chắcvào PL ở con người mới hình thành động cơ, hành vi hợp pháp, tích cực…
Để đạt được mục đích hình thành động cơ và hành vi hợp pháp tích cựcchỉ có thể nhờ vào quá trình GDPL một cách kiên trì, bằng nhiều hình thức,phương pháp để mọi người hiểu biết một cách sâu sắc về sự cần thiết, hợp lý
và lợi ích của mệnh lệnh PL đối với xã hội nói chung cũng như đối với tất cảcác thành viên xã hội Sự tuân thủ và tôn trọng PL trở thành thói quen trongđại bộ phận các trường hợp là kết quả của sự ý thức sâu sắc và lặp đi lặp lạinhiều lần trong những hoàn cảnh PL tương tự nhau
Như vậy, GDPL có ba mục đích cụ thể, giữa các mục đích có sự đan xenquan hệ qua lại thống nhất chặt chẽ từ nhận thức đến tự giác, từ tự giác đếntích cực, từ tích cực đến thói quen xử sự theo PL Vì vậy khi tiến hành GDPLphải hướng hoạt động GDPL vào cả ba mục đích trên Tuy nhiên để đạt được
Trang 31những mục đích đó cần phải cân nhắc, tính toán, lựa chọn từng mục đích để
có các hình thức và phương pháp GDPL thích hợp cho từng đối tượng cụ thể.Trước những yêu cầu bức thiết của công cuộc đấu tranh bảo vệ côngbằng của xã hội, bảo vệ tính nghiêm minh của PL xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi hệthống các cơ quan GD phải năng động, sáng tạo trong công tác tuyên truyềnGDPL cho hệ thống công dân tương lai của đất nước
Một vấn đề khác là hệ thống GDPL cho HS, HV phải dựa trên sự liên hệchặt chẽ với hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội, với sự GD một cáchtoàn diện có hiệu quả Toàn bộ các hoạt động GD sẽ có ảnh hưởng một cáchtrực tiếp và tích cực lên trình độ nhận thức PL của đối tượng được GD
Vậy mục tiêu của GDPL chính là quá trình làm cho các chủ thể tham giaquan hệ PL nắm vững và tham gia vào quá trình thực hiện các mục tiêu chínhtrị thông qua việc tuân thủ các quy định của PL, là quá trình tác động nhằmbiến giác ngộ chính trị thành ý thức tuân thủ PL của chủ thể
1.3.2 Nội dung của giáo dục pháp luật
GDPL là sự truyền đạt những thông tin PL với mục tiêu xác định, lànâng cao sự hiểu biết về PL, thông qua đó hình thành ý thức sống và làm việctheo PL ở các chủ thể tham gia quan hệ PL
GDPL cho thế hệ trẻ là một quá trình hoạt động có tổ chức, với nhữngmục tiêu, nội dung được xác định nhằm hình thành ở đối tượng được GDnhững nhận thức cơ bản về PL Thông qua đó tạo lập cho các em ý thức vàthói quen hành động trong khuôn khổ quy định, của PL Đây là sự chuẩn bịtốt nhất những điều kiện cần thiết để thế hệ công dân tương lai bước vào đờivới những nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dântrước yêu cầu nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bốicảnh chính trị thế giới có nhiều biến động sâu sắc
Trang 32Việc xác định nội dung của GDPL là vấn đề đặc biệt quan trọng Bởi lẽnội dung GDPL là gì, mức độ thế nào cho từng loại đối tượng là vấn đề cốt lõiquyết định hiệu quả của GDPL Hay nói cách khác trên cơ sở mục đích và đốitượng mà xác định một nội dung GDPL thiết thực để có hiệu quả cao.
Nội dung GDPL nói chung là một phạm vi rộng bao gồm kiến thức PL
cơ bản như lý luận khoa học về PL, các ngành luật, các văn bản PL thực định.Ngoài ra nội dung của GDPL còn bao hàm các thông tin về việc thực hiện PL,
về việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, cả về nghiên cứuđiều tra xã hội học PL Các thông tin hướng dẫn hành vi PL cụ thể của côngdân như thực hiện quyền và nghĩa vụ theo PL, các quy định và thủ tục để bảo
vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
và công dân
Đối với HV hiện đang học tại các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnhKon Tum nói chung Trung tâm GDTX huyện Đăk Hà nói riêng theo chúngtôi cần phải lựa chọn những nội dung GDPL phù hợp như:
- Giúp các em hiểu rõ bản chất tiến bộ của nền pháp chế xã hội chủnghĩa, nhận thức một cách có cơ sở khoa học là: PL chính là công cụ trực tiếpbảo vệ quyền lợi của chính các em khỏi sự xâm hại của mọi hành vi phạm tội
- Nghĩa vụ công dân trong việc tham gia đóng góp xây dựng PL của Nhànước, quy chế dân chủ ở cơ sở
Trang 33- Nghĩa vụ công dân trong việc cùng với toàn dân đấu tranh phòng vàchống các vi phạm pháp luật để pháp luật được thực hiện công bằng.
- Phổ biến, giải thích các văn bản pháp luật hiện hành cho học sinh mộtcách kịp thời, đặc biệt là những văn bản liên quan trực tiếp thiết thân đếnquyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên các lĩnh vực của đờisống xã hội như: Nghị định của Chính phủ về miễn giảm học phí, hỗ trợ họcphí học tập cho HS; Quán triệt một số nội dung về An toàn giao thông, Antoàn thực phẩm, An ninh trật tự xã hội; Luật Phòng chống tham nhũng, thựchành tiết kiệm chống lãng phí; Một số nội dung về Luật hình sự (tập trungmột số nội dung về gây tai nạn thương tích, sử dụng hung khí, ma túy… liênquan đến học sinh); Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bình đẳng giới; LuậtPhòng chống bạo lực trong gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem; Luật Phòng chống mua bán người…
Như đã đề cập ở trên, việc xác định nội dung GD phải dựa trên nhu cầu,điều kiện, đặc điểm của đối tượng được GD mới có hiệu quả Nội dung ấyphát sinh từ nhu cầu quản lý nhà nước bằng PL, từ yêu cầu của việc thực hiệncác nhiệm vụ, mục tiêu chính trị, kinh tế xã hội, chính sách của Đảng và PLNhà nước Trên thực tế, nội dung của GDPL phù hợp hay không phù hợp cònphải căn cứ vào thực trạng ý thức PL của người dân, vào điều kiện, khả năngtiếp thu của họ để xác định nội dung GD từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, cộng nhiều nội dung nhỏ để thực hiện nội dung phong phú đa dạnghơn, nhiều lĩnh vực PL hơn
Đối với HV ở các trung tâm ngoài những nội dung GDPL nêu trên cầnbỗi dưỡng cho các em một số kĩ năng sau: kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng giảiquyết các mâu thuẫn; kĩ năng kiểm soát cảm xúc; kĩ năng ứng phó với căngthẳng; kĩ năng giao tiếp; kĩ năng đặt mục tiêu; kĩ năng giải quyết vấn đề…
1.3.3 Phương pháp giáo dục pháp luật
Trang 34Có thể nói rằng trong khoa học pháp lý chưa có một định nghĩa nào vềphương pháp GDPL Tuy nhiên theo khoa học sư phạm thì phương phápgiảng dạy là các con đường, cách thức, biện pháp tác động để chiếm lĩnh nộidung giảng dạy và đạt được mục đích giảng dạy.
Về cơ bản phương pháp GDPL gồm ba phương pháp chính: Phương phápthuyết phục; phương pháp tổ chức hoạt động; phương pháp kích thích nhữnghành vi
- Nhóm các phương pháp tổ chức các hoạt động xã hội và hình thành cáckinh nghiệm ứng xử xã hội Đây là phương pháp đưa con người vào các hoạtđộng thực tiễn để tập dợt, rèn luyện tạo nên hành vi thói quen sống và làmviệc theo PL Nó bao gồm các phương pháp sau:
+ Phương pháp tập luyện là phương pháp tổ chức cho HV một cách đềuđặn và có kế hoạch các hành động nhất định nhằm biến các hành động đóthành thói quen
+ Phương pháp giao công việc là cách thức lôi cuốn HV vào các hoạtđộng đa dạng của tập thể, nhờ đó họ thu lượm được những kinh nghiệm trongquan hệ đối xử giữa người với người theo nguyên tắc đạo đức XHCN thôngqua việc thực hiện những nghĩa vụ xã hội
+ Phương pháp tạo dư luận xã hội: Phản ánh những đòi hỏi tập thể, nótrở thành một phương tiện GD mạnh mẽ của tập thể đối với cá nhân HV Dưluận xã hội trở thành một phương pháp GD khi đánh giá các hành vi của cácthành viên hoặc nhóm tập thể Để tạo ra dư luận xã hội lành mạnh, chúng tacần lôi cuốn HV tham gia các cuộc thảo luận tập thể các sự kiện tiêu biểutrong đời sống của lớp, của trung tâm, của địa phương hướng dẫn các emnhận xét các sự kiện đó đúng hay sai
+ Phương pháp tạo tình huống GD đó là những tình huống của lựa chọn
tự do Đặt trong tình huống đó HV nhất thiết phải lựa chọn một giải pháp nhất
Trang 35định trong số các phương án khác nhau Trong khi lựa chọn giải pháp HVphải biết phân tích xem xét hành động của mình có đúng và phù hợp haykhông.
- Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân Nhóm này gồm :
+ Phương pháp đàm thoại: Trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài GDcho HV, nhằm giúp đỡ HV phân tích đánh giá các sự kiện, hành vi các hiệntượng trong đời sống xã hội Từ đó hình thành thái độ, ý thức chấp hành PL + Phương pháp tranh luận: là hình thành cho HV phán đoán đánh giániềm tin dựa trên sự va chạm các ý kiến quan điểm khác nhau nhờ đó nângcao được tính khái quát, tính vững vàng, tính mềm dẻo của các tri thức đã thuđược
+ Phương pháp nêu gương: Đây là phương pháp quan trọng để GD ýthức chấp hành PL cho HV Việc hình thành ý thức của HV phải thườngxuyên được dựa vào những mẫu mực cụ thể, sống động, biểu hiện những tưtưởng và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa
Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng
xử của HV Nhóm này bao gồm:
+ Phương pháp thi đua: là phương pháp kích thích phương hướng tựkhẳng định ở mỗi HV thúc đẩy học, đua tài, gắng sức, hăng hái vươn lên hàngđầu lôi cuốn người khác cùng tiến lên dành được những thành tích cao nhất.Thi đua là kích thích sự nỗ lực, phát huy sáng tạo, đề cao ý thức trách nhiệm,thực hiện sự tương trợ tập thể
+ Phương pháp khen thưởng là biểu hiện sự đánh giá tích cực của xã hộiđối với cá nhân và tập thể
+ Phương pháp trách phạt biểu thị thái độ không tán thành, lên án, phủđịnh của nhà GD, của gia đình, xã hội đối với các hành vi sai trái, giúp cho
HV tự điều chỉnh bản thân với chuẩn mực đã định
Trang 36Chính vì vậy mà người ta nói rằng phương pháp GD là nghệ thuật GD.
Nó quyết định phần lớn thành công và chất lượng GD
1.3.4 Hình thức của giáo dục pháp luật
GDPL cho đối tượng là học viên THPT là một hoạt động tác động trựctiếp vào quá trình hình thành nhân cách con người Do vậy GDPL phải đượctiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Hiệu quả của công tác GDPL tùythuộc rất nhiều vào việc sử dụng các hình thúc GD
Hình thức GDPL là một yếu tố có vai trò rất quan trọng trong việc nângcao hiệu quả GD Việc áp dụng các hình thức GD phải lựa chọn trên cơ sởphù hợp với nội dung và điều kiện, phù hợp với chương trình theo từng khối,từng cấp học của các em
Qua nghiên cứu thực tế GDPL cho HV ở các Trung tâm GDTX có thểđược tiến hành theo 2 hình thức cơ bản sau:
- Các hình thức GDPL mang tính phổ biến, truyền thống được sử dụngtrong nhiều loại hình thức GD như: nói chuyện PL, dạy và học PL trong cáctrung tâm, qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, tác phẩm vănhọc nghệ thuật , câu lạc bộ pháp lý, thi tìm hiểu pháp luật, hội nghị, hội thảo,nói chuyện PL ở các cơ quan Nhà nước, Tổ chức quần chúng, khu dân cư, hộithảo khoa học pháp lý
- Các hình thức mang tính đặc thù của GDPL Tính đặc thù này thể hiệntrong mối quan hệ tác động giữa GDPL là ý thức và hành vi của công dân.Nội dung này bao gồm định hướng GDPL trong các hoạt động lập pháp,hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước Các cơ quan quản lý Nhà nướcchuyên ngành, GDPL thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội, nghềnghiệp, tổ hòa giải, dịch vụ tư vấn PL
Trong thời gian qua chúng ta đã rút ra nhiều kinh nghiệm bổ ích trongquá trình giảng dạy và học tập PL ở trường phổ thông, trung tâm GDTX Ở
Trang 37nhiều nơi đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các cơ quan bảo vệ
PL trong việc hướng dẫn GDPL cho các em, đã kết hợp GD lý thuyết với việcgiải quyết các vụ việc thực tế ở địa phương làm cho bài học về PL trở nênsinh động hơn, tạo cho các em có hứng thú trong học tập
1.3.5 Đối tượng của giáo dục pháp luật
Đối tượng của GDPL là các cá nhân, công dân hay nhóm cộng đồngcông dân, tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động của các hoạt động GDPLtiến hành nhằm đạt được mục đích đề ra
Ở Việt Nam hiện nay, đối tượng GDPL nói chung là mọi công dân, tuynhiên cần phải phân loại đối tượng GD để có các nội dung, hình thức, phươngpháp GD cho phù hợp để đạt được các mục tiêu của hoạt động GDPL Có thểchia đối tượng GDPL thành những loại như sau:
- Đối tượng GDPL là cán bộ, công chức nhà nước
- Đối tượng GDPL là các chủ Doanh nghiệp, người quản lý kinh tế ở cácthành phần kinh tế khác nhau
- Đối tượng GDPL ở trong các trường Đại học; Cao đẳng, Trung cấp.Đối tượng GDPL ở các tầng lớp nhân dân Đây là đối tượng đông đảonhất trong xã hội
Đối tượng GDPL cho HS, HV phổ thông là một vấn đề quan trọng củamột quốc gia và được coi là một phương thức để xây dựng phát triển nền vănhóa pháp lý, bảo đảm sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia Do tầm quantrọng như vậy nên các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến lĩnh vực này
và cói đó như là một bộ phận tạo nên hiệu quả của hoạt động lập pháp Trong
xu thế chung đó, Nhà nước ta cùng với việc đi dần đến sự hoàn thiện hệ thống
PL, đã đề cao công tác tuyên truyền GDPL Nhiệm vụ của GDPL cho thế hệcông dân tương lai hoàn toàn không tách khỏi những nhiệm vụ chung củaGDPL đối với quần chúng nói chung
Trang 381.3.6 Chủ thể của giáo dục pháp luật
Trong khoa học pháp luật chủ thể GDPL được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá
trình GDPL
Nghĩa hẹp: là con người cụ thể có năng lực PL, có trình độ chuyên môn,
có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách
Theo nghĩa hẹp thì chủ đề GDPL có hai loại, đó là:
- Chủ thể chuyên nghiệp: là những người có chức năng, nhiệm vụ chủyếu là GDPL, trực tiếp thực hiện GDPL như các báo cáo viên, tuyên truyềnviên pháp luật, giảng viên PL trong các nhà trường, cán bộ chỉ đạo ở hệ thốngcác cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội… Đây là những chủ thể quantrọng và chủ yếu của GDPL
- Chủ thể không chuyên nghiệp: là những cá nhân và tổ chức tuy chứcnăng chính không phải là GDPL nhưng thông qua các hoạt động chuyên môn,nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu, nộidung của GDPL Những người này bao gồm: đại biểu Quốc hội, đại biểuHĐND các cấp, các cán bộ của các cơ quan hành pháp, tư pháp, những ngườilàm công tác trợ giúp tư vấn PL…
Ngoài hai chủ thể trên chủ thể của GDPL còn các công dân, bằng sự tôntrọng giáo dục, bằng ý thức trách nhiệm và gương mẫu thực hiện PL mà cóảnh hưởng đến các công dân khác trong xã hội
Trong các Trung tâm GDTX chủ thể GDPL là các tổ chức chính trị trongtrung tâm: Chi bộ, Ban Giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, … Đặc biệt
là vai trò phụ trách trực tiếp là các tổ, các ban, trong đó vai trò của giáo viênchủ nhiệm hết sức quan trọng
Vậy chủ thể là Nhà nước hãy làm đúng công việc của nhà nước và sau
đó làm tốt công việc của mình, nhà trường làm đúng công việc của nhà trường
Trang 39và sau là làm tốt công việc nhà trường, nhà giáo làm đúng công việc nhà giáo
và sau đó làm tốt công việc của mình, gia đình làm đúng công việc của mình
và làm tốt công việc của họ và người học
1.3.7 Phối hợp giáo dục pháp luật
Quá trình GDPL cho HV diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc và chịu ảnh hưởngcủa nhiều nhân tố, đó là gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội Trong đó,
GD nhà trường chỉ là một phần Muốn đạt được kết quả mong muốn, cần phảikết hợp chặt chẽ các lực lượng GD, xây dựng môi trường GD thống nhất, lànhmạnh Trong sự kết hợp đó, sự kết hợp với gia đình có ý nghĩa rất quan trọng.Gia đình là tập thể đặc biệt vì các thành viên gia đình gắn bó mật thiết vớinhau, trước hết là ràng buộc về tình cảm Mọi yếu tố của gia đình đều có ảnhhưởng đến sự hình thành nhân cách cho trẻ, trong đó quan hệ gia đình, nề nếpsinh hoạt, tổ chức GD gia đình có tác dụng to lớn nhất
Các lực lượng xã hội như cha mẹ HV, các tổ chức xã hội, chính quyềnđịa phương, các cơ sở văn hóa, cơ sở sản xuất, các phương tiện thông tin đạichúng có vai trò to lớn trong việc GDPL; cung cấp thông tin, định hướng vềnhận thức cho HV, hỗ trợ trung tâm về vật chất và tổ chức các hoạt động rènluyện cho HV
Vì vậy, các CBQL và GVCN cần đánh giá đúng vai trò của sự kết hợp,thực hiện đúng vai trò chủ động, hướng dẫn của trung tâm trong sự kết hợpvới gia đình, cộng đồng và xã hội trong GDPL cho HV
1.3.8 Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục pháp luật
Trước hết xây dựng được tiêu chí đánh giá Tiêu chí được xây dựng trên
cơ sở: mục tiêu của GDPL, từ thực trạng thực có của trung tâm, đồng thời nóphù hợp với quy luật khách quan của xã hội
Xác định được cách kiểm tra
Trang 40Tổng kết đánh giá xếp loại từ đó khen, chê kịp thời, đồng thời có nhữngquyết định điều chỉnh những sai sót phát huy những tích cực nhằm thực hiệntốt những mục tiêu đề ra.
1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật
Mục tiêu cơ bản của GDPL trước hết bao gồm sự hình thành ở mỗi thànhviên trong XH ý thức PL Song khi nhấn mạnh điều đó, chúng ta không đượcquên rằng ý thức PL luôn gắn liền với ý thức chính trị và đạo đức, các vấn đề
đó luôn luôn gắn bó, hòa đồng và tác động lẫn nhau trong một chỉnh thểchung để đạt đến sự hoàn thiện về nhận thức của con người Ý thức PL đượchình thành và được đề cao khi mà ta có đầy đủ ý thức chính trị và đạo đức Ýthức PL sẽ được duy trì thường xuyên và được thể hiện một cách sinh động,linh hoạt mang đậm tính đạo đức trong phép xử thế của đời sống XH khi nóđược làm giàu bởi ý thức chính trị Ngược lại ý thức chính trị, đạo đức củamỗi cá nhân được biểu hiện thông qua sự tôn trọng và chấp hành PL, thôngqua ý thức PL Sự tác động qua lại nhu vậy đã tạo nên sự hoàn chỉnh về ýthức chính trị, đạo đức và PL
Mục tiêu của quản lý GDPL là làm cho quá trình GDPL vận hành đồng
bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDPL Mục tiêu quản lý GDPL baogồm:
Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức xãhội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý GDPL,nắm vững những quan điểm của Đảng, Nhà nước của ngành GD&ĐT về vấn
đề phát triển con người phát triển toàn diện