BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN PHI UY VŨ ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ GIS TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI – BẾ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN PHI UY VŨ
ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)
TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI – BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Kỹ thuật khai thác thủy sản
Mã số: 60.62.03.04
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Tính
Khánh Hòa, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu khoa học một cách độc lập của riêng tôi trong đề xuất ý tưởng và tổ chức triển khai thực hiện, đánh giá và rút ra các kết luận khoa học Đồng thời, cũng là cá nhân chủ trì và tham gia tổ chức triển khai các hoạt động của một số đề tài ở Bến Tre, hợp phần STOFA của Chương trình FSPS II tỉnh Bến Tre, làm cơ sở đầu vào cho việc nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu và những kết luận trong Luận văn chưa từng được một ai công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học vị nào; trong suốt quá trình thực hiện luận văn không xảy ra tranh chấp gì với các tổ chức,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này xuất phát từ nhu cầu thực tế về quản lý nguồn lợi nghêu nói riêng, quản lý các đối tượng thủy sản nói chung ở tỉnh Bến Tre Tuy nhiên, hiện nay việc đưa ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào quản lý thủy sản còn nhiều hạn chế, một
số ứng dụng GIS vào quản lý nuôi trồng thủy sản đã được áp dụng, nhưng chưa đồng
bộ Đề tài “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên ở huyện Bình Đại – Bến Tre” đặt ra với mục đích hỗ trợ công cụ nâng cao hiệu quả quản lý tại địa phương Đề tài được sự ủng hộ và góp ý chân thành của giáo viên hướng dẫn khoa học về nội dung thực hiện để đáp ứng mục tiêu đặt ra từ khi xây dựng đề cương đến khi hoàn thành báo cáo luận văn
Chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình về học thuật, chuyên môn của TS Hoàng Văn Tính, quý thầy trong Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
Xin chân thành cám ơn Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre, Chi cục nuôi thủy sản Bến Tre, UBND xã Thới Thuận, UBND xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, các HTX thủy sản Đồng Tâm và Rạng Đông đã tạo điều kiện trong quá trình khảo sát thực địa, thu thập thông tin, số liệu,… để phục vụ
đề tài này
Chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm Dự án Việt Nam - Đan Mạch (CLIMEEViet)
“Biến đổi khí hậu và các hệ sinh thái cửa sông của VN” đã tài trợ một phần học bổng của khóa học
Đồng thời cám ơn các đồng nghiệp, các phòng ban chuyên môn, ban lãnh đạo Viện Hải dương học đã động viện tinh thần, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học
và đề tài này
Trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Phi Uy Vũ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ 4
1.1.1 Khái niệm hệ thống thông tin địa lý 4
1.1.2 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý 4
1.1.3 Nguồn dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý 5
1.2 ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN 6
1.2.1 Ứng dụng GIS trong quản lý nghề cá trên thế giới 6
1.2.2 Ứng dụng GIS trong quản lý nghề cá ở Việt Nam 9
1.3 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU 11
1.3.1 Đặc điểm nguồn lợi nghêu 11
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và quản lý nguồn lợi trên thế giới 14
1.3.3 Tình hình nghiên cứu và quản lý nguồn lợi nghêu ở Việt Nam 16
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN BÌNH ĐẠI 18
1.4.1 Vị trí địa lý 18
1.4.2 Khí hậu, thời tiết 18
1.4.3 Gió mùa 19
1.4.4 Thủy Triều 20
1.4.5 Địa hình vùng biển ven bờ 20
1.4.6 Đặc điểm thủy văn, dòng chảy 21
1.4.7 Nhiệt độ nước biển 21
1.4.8 Đặc điểm môi trường nước và nguồn lợi 21
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
Trang 52.1.1 Vùng nghiên cứu 25
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 26
2.2.2 Phương pháp nghiêu cứu đặc điểm phân bố nguồn lợi nghêu 27
2.2.3 Phương pháp đánh giá thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu 28
2.2.4 Phương pháp ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu 29
2.2.5 Phương pháp xây dựng phần mềm ứng dụng 30
2.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH PHÂN BỐ VÀ SẢN LƯỢNG NGHÊU Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI 32
3.1.1 Vùng phân bố nghêu ở huyện Bình Đại 32
3.1.2 Tình hình biến động diện tích vùng nghêu ở huyện Bình Đại 34
3.1.3 Tình hình biến động sản lượng và năng suất nghêu ở huyện Bình Đại 37
3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI NGHÊU Ở BÌNH ĐẠI 42
3.2.1 Hệ thống tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu 42
3.2.2 Thực trạng quản lý khai thác nghêu ở Bình Đại 45
3.2.3 Thực trạng hoạt động bảo vệ nguồn lợi nghêu 48
3.2.4 Đánh giá thực trạng quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu Bình Đại 49
3.3 PHÂN TÍCH SWOT TRONG HỆ THỐNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI 51
3.4 ỨNG DỤNG GIS QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI – BẾN TRE 55
3.4.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS quản lý nguồn lợi nghêu 55
3.4.2 Xây dựng bản đồ vùng bãi triều phân bố nghêu 58
3.4.3 Phân bố và mật độ nghêu theo thời gian 61
3.4.4 Phân vùng thích hợp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu 66
3.4.5 Tích hợp hệ thống bản đồ vào Google Earth 70
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 1 82
PHỤ LỤC 2 88
PHỤ LỤC 3 89
Trang 7BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
CZAP: Đới bờ Châu Á -Thái Bình dương
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
MSC: Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TSDV: Hiển thị dữ liệu khảo sát lưới kéo
UBND: Ủy ban nhân dân
VCLL: Vật chất lơ lửng
CNTT: Công nghệ thông tin
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Biến động diện tích phân bố nghêu ở Bình Đại từ 2008 - 2012 35
Bảng 3.2: Biến động diện tích phân bố nghêu ở HTX Đồng Tâm từ 2008 - 2012 36
Bảng 3.3: Biến động diện tích phân bố nghêu ở HTX Rạng Đông từ 2008 - 2012 37
Bảng 3.4: Biến động sản lượng phân bố nghêu ở Bình Đại từ 2008 - 2012 38
Bảng 3.5: Biến động sản lượng nghêu ở HTX Đồng Tâm từ 2008 - 2012 40
Bảng 3.6: Biến động năng suất nghêu ở HTX Đồng Tâm từ 2008 - 2012 40
Bảng 3.7: Biến động sản lượng nghêu ở HTX Rạng Đông từ 2008 - 2012 41
Bảng 3.8: Biến động năng suất nghêu ở HTX Rạng Đông từ 2008 - 2012 41
Bảng 3.9: Điểm mốc vùng quản lý của HTX Đồng Tâm 59
Bảng 3.10: Điểm mốc vùng quản lý của HTX Rạng Đông 60
Bảng 3.11: Mật độ phân bố nghêu tại các trạm khảo sát ở HTX Đồng Tâm 62
Bảng 3.12: Mật độ phân bố nghêu tại các trạm khảo sát ở HTX Rạng Đông 64
Bảng 3.13: Sản lượng nghêu khai thác hàng năm ở HTX Đồng Tâm theo phân vùng 68 Bảng 3.14: Sản lượng nghêu khai thác hàng năm ở HTX Rạng Đông theo phân vùng 69 Bảng 3.15: Tọa độ các trạm canh bãi nghêu của các HTX 70
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý 5
Hình 1.2: Các nguồn dữ liệu của hệ thống GIS 5
Hình 1.3: Bản đồ vị trí huyện Bình Đại trong tỉnh Bến Tre 19
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí nghiên cứu và khảo sát bãi nghêu ở huyện Bình Đại – Bến Tre 25 Hình 3.1: Bản đồ vùng phân bố nghêu giống và thương phẩm ở HTX Đồng Tâm 33
Hình 3.2: Bản đồ vùng phân bố nghêu giống và thương phẩm ở HTX Rạng Đông 33
Hình 3.3: Diện tích bãi nghêu ở huyện Bình Đại so với toàn tỉnh Bến Tre 34
Hình 3.4: Diện tích (ha) nghêu ở huyện Bình Đại từ năm 2008 - 2012 35
Hình 3.5: Diện tích (ha) nghêu ở HTX Đồng Tâm từ năm 2008 - 2012 36
Hình 3.6: Diện tích (ha) nghêu ở HTX Rạng Đông từ năm 2008 - 2012 37
Hình 3.7: Biến động sản lượng nghêu ở huyện Bình Đại từ 2008 – 2012 39
Hình 3.8: Biến động sản lượng nghêu ở HTX Đồng Tâm từ 2008 – 2012 40
Trang 9Hình 3.9: Biến động sản lượng nghêu ở HTX Rạng Đông từ 2008 – 2012 41
Hình 3.10: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ nghêu Bến Tre 42
Hình 3.11: Sơ đồ tổ chức hoạt động của hợp tác xã 44
Hình 3.12: Sơ đồ tổ chức hoạt động điều hành của ban quản trị hợp tác xã 45
Hình 3.13: Giao diện ứng dụng GIS quản lý nghêu 56
Hình 3.14: Giao diện liên kết phần mềm quản lý bản đồ Mapinfo 57
Hình 3.15: Giao diện tích hợp với Google Earth 57
Hình 3.16: Giao diện tích hợp phần mềm Excel 58
Hình 3.17: Số hóa chuyển từ ảnh vệ tinh (Raster) thành bản đồ số (Vector) 59
Hình 3.18: Vùng quản lý của HTX Đồng Tâm 60
Hình 3.19: Vùng quản lý của HTX Rạng Đông 60
Hình 3.20: Bản đồ vùng phân bố nghêu ở HTX Đồng Tâm 61
Hình 3.21: Bản đồ vùng phân bố nghêu ở HTX Rạng Đông 61
Hình 3.22: Mật độ nghêu ở HTX Đồng Tâm tháng 9/2012 62
Hình 3.23: Phân bố mật độ nghêu ở HTX Đồng Tâm tháng 9/2012 63
Hình 3.24: Mật độ nghêu ở HTX Đồng Tâm tháng 3/2013 63
Hình 3.25: Phân bố mật độ nghêu ở HTX Đồng Tâm tháng 3/2013 64
Hình 3.26: Mật độ nghêu ở HTX Rạng Đông tháng 9/2012 65
Hình 3.27: Phân bố mật độ nghêu ở HTX Rạng Đông tháng 9/2012 65
Hình 3.28: Mật độ nghêu ở HTX Rạng Đông tháng 3/2013 66
Hình 3.29: Phân bố mật độ nghêu ở HTX Rạng Đông tháng 3/2013 66
Hình 3.30: Phân vùng quản lý nguồn lợi nghêu HTX Đồng Tâm 67
Hình 3.31: Phân vùng quản lý nguồn lợi nghêu HTX Rạng Đông 67
Hình 3.32: Sản lượng nghêu (tấn) năm 2012 ở HTX Đồng Tâm 68
Hình 3.33: Sản lượng nghêu (tấn) năm 2012 ở HTX Rạng Đông 69
Hình 3.34: Trạm bảo vệ bãi nghêu trên đất liền và trên biển 70
Hình 3.35: Vùng bãi triều các HTX quản lý trên Google Earth 71
Hình 3.36: Phân vùng quản lý nguồn lợi nghêu HTX Đồng Tâm trên Google Earth 71
Hình 3.37: Phân vùng quản lý nguồn lợi nghêu HTX Rạng Đông trên Google Earth 72
Hình 3.38: Trạm bảo vệ bãi nghêu HTX Đồng Tâm trên Google Earth 72
Hình 3.39: Trạm bảo vệ bãi nghêu HTX Rạng Đông trên Google Earth 73
Trang 10DANH MỤC HÌNH PHỤ LỤC
Hình PL1: Xu thế biến động diện tích nghêu ở Bình Đại từ năm 2008 – 2012 82
Hình PL2: Xu thế biến động diện tích nghêu ở HTX Đồng Tâm từ năm 2008 - 2012 82 Hình PL3: Xu thế biến động diện tích nghêu ở HTX Rạng Đông từ năm 2008 - 2012 83 Hình PL4: Xu thế biến động sản lượng nghêu ở Bình Đại từ năm 2008 - 2012 83
Hình PL5: Xu thế biến động năng suất nghêu ở Bình Đại theo thời gian 84
Hình PL6: Xu thế biến động sản lượng nghêu ở HTX Đồng Tâm từ năm 2008 - 2012 84
Hình PL7: Xu thế biến động năng suất nghêu ở Bình Đại theo diện tích 85
Hình PL 8: Xu thế biến động năng suất nghêu ở HTX Đồng Tâm theo thời gian 85
Hình PL9: Xu thế biến động năng suất nghêu ở HTX Đồng Tâm theo diện tích 85
Hình PL10: Xu thế biến động sản lượng nghêu ở HTX Rạng Đông từ năm 2008 - 2012 86
Hình PL11: Xu thế biến động năng suất nghêu ở HTX Rạng Đông theo thời gian 86
Hình PL12: Xu thế biến động năng suất nghêu ở HTX Rạng Đông theo diện tích 87
Trang 11MỞ ĐẦU
Nguồn lợi nghêu Meretrix lyrata được đánh giá là tài nguyên thủy sản quan trọng
nhất ở các bãi triều ven biển, cửa sông của tỉnh Bến Tre và đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) (trước đây là bộ Thủy sản) xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam Vì chúng không chỉ là nguồn thực phẩm rất quan trọng trong nước mà còn là đối tượng xuất khẩu có giá trị cao Hiện nay, nghêu
là đối tượng xuất khẩu chiến lược của nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng và ổn định
Đầu tháng 11 năm 2009, nghề khai thác nghêu của tỉnh Bến Tre vừa chính thức đạt chứng nhận của Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế (Marine Stewardship Council – MSC) khi đáp ứng được các tiêu chuẩn về sự bền vững và quản lý tốt Như vậy, Bến Tre là khu vực đầu tiên ở Đông Nam Á nhận được chứng chỉ của MSC Đây là sự kiện lịch sử – nghề cá quy mô nhỏ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á quản lý dựa vào cộng đồng được nhận chứng nhận MSC
Các HTX, tập đoàn và cộng đồng ngư dân ven biển được chính quyền giao quyền lợi và trách nhiệm giữ gìn, khai thác nguồn lợi nghêu để nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng và góp phần xây dựng kinh tế, xã hội địa phương Do vậy, việc quản lý phát triển bền vững nguồn tài nguyên ven biển này rất cần trách nhiệm cộng đồng của ngư dân Bởi vì tính đặc thù của đối tượng nghêu tự nhiên chỉ có tổ chức quản lý cộng đồng mới đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững
Tuy rằng, nguồn lợi nghêu mang lại cho địa phương nguồn thu khá lớn thông qua xuất khẩu và tiêu thụ ở các thị trường nội địa, góp phần đáng kể cải thiện đời sống của phần lớn các hộ ngư dân ven biển Tuy nhiên, hiện tại áp lực khai thác ngày càng tăng, tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái biển đang bị suy giảm nghiêm trọng và đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của cộng đồng dân cư ven biển Chính vì thế, để phát triển nguồn lợi nghêu chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên,
có kế hoạch khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên một cách hợp lý
Từ 2007 đến nay, do tác động của môi trường đã gây nên hiện tượng nghêu hàng loạt ở Bình Đại, nguồn lợi nghêu thường xuyên có sự biến động về diện tích, mật độ,
Trang 12sản lượng và vùng phân bố Việc quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu của các HTX quản lý nghêu ở Bình Đại đang gặp nhiều khó khăn
Vì vậy, thực hiện đề tài “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên ở huyện Bình Đại – Bến Tre”, nhằm mục
đích hỗ trợ cho các HTX nghêu ỡ huyện Bình Đại giải quyết những khó khăn, bất cập trên Bước đầu tiếp cận công nghệ GIS trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lợi nghêu tự nhiên ở vùng ven biển huyện Bình Đại Đồng thời làm cơ sở để áp dụng cho việc quản
lý khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên ở đới bãi triều ven biển
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Hoạt động quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
- Tình hình biến động bãi nghêu, sản lượng và mật độ nguồn lợi nghêu tại huyện Bình Đại
- Hoạt động khai thác nghêu tại huyện Bình Đại
Mục tiêu của đề tài như sau:
- Đánh giá thực trạng quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên ở vùng ven biển huyện Bình Đại - Bến Tre
- Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên ở vùng ven biển huyện Bình Đại - Bến Tre
Nội dung thực hiện của đề tài là:
- Đặc điểm phân bố nguồn lợi nghêu ở vùng ven biển Bình Đại – Bến Tre
- Đánh giá thực trạng quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu ở huyện Bình Đại – Bến Tre
- Ứng dụng GIS trong quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên ở huyện Bình Đại – Bến Tre
Đề tài thực hiện bằng cách tiếp cận mới, ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý nguồn lợi tự nhiên ở vùng bãi bồi ven biển, kết hợp với mô hình quản lý dựa vào cộng
Trang 13đồng hiện tại nhằm góp phần nâng cao hiệu quả mô hình quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên vùng ven biển Bến Tre nói chung, ở vùng ven biển huyện Bình Đại nói riêng
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
1.1.1 Khái niệm hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - gọi tắt là GIS) được hình thành vào những năm 60 thế kỷ XX và phát triển rất rộng rãi trong 10 năm lại đây GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới GIS có khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các cá nhân đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào.[27]
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa GIS Nếu xét dưới góc độ hệ thống, thì GIS có thể được hiểu như một hệ thống gồm các thành phần: con người, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quy trình-kiến thức chuyên gia, nơi tập hợp các quy định, quy phạm, tiêu chuẩn, định hướng, chủ trương ứng dụng của nhà quản lý, các kiến thức chuyên ngành và các kiến thức về công nghệ thông tin
Hệ thống thông tin địa lý có thể được định nghĩa như là tập hợp các công cụ để thu thập, lưu trữ, chỉnh sửa, truy cập, phân tích và cập nhật các thông tin địa lý cho một mục đích chuyên biệt.[15]
Định nghĩa của Nitin Kumar Triphthi (2000) học viện Công Nghệ Châu Á: "Hệ thông tin địa lý (GIS) là một hệ thống các thông tin được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xây dựng lại, thao tác, phân tích, biếu diễn các dữ liệu địa lý phục vụ cho công tác quy hoạch lập các quyết định về sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường, giao thông, đô thị và nhiều thủ tục hành chỉnh khác."[53]
1.1.2 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý bao gồm bốn thành phần quan trọng là phần cứng của máy tính, tập hợp các modul phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu GIS và yếu tố con
Trang 15người Yếu tố con người ở đây bao hàm cả các chuyên gia trong lĩnh vực GIS lẫn lĩnh vực chuyên môn hẹp là đối tượng của các ứng dụng GIS Đây là thành phần quan trọng nhất, vì chỉ có con người mới có thể sử dụng các công cụ GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu
và tạo ra các sản phẩm GIS (Hình 1.1)
Hình 1.1: Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý
1.1.3 Nguồn dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý
Dữ liệu đầu vào của GIS là hết sức đa dạng: các bản đồ được xây dựng bằng công nghệ số hoặc được số hoá Các dữ liệu thống kê, các đối tượng phi tỉ lệ (âm thanh, hình ảnh, sơ đồ, bản vẽ, văn bản) được thu thập lại dưới dạng số, được gọi là thuộc tính
Các ảnh vệ tinh và ảnh chụp bằng máy bay có thể là phương tiện để cập nhật nhanh hàng loạt thông tin lưu trữ trên GIS và ngày càng được sử dụng như một nguồn cung cấp dữ liệu cho GIS.(Hình 1.2)
Hình 1.2: Các nguồn dữ liệu của hệ thống GIS
Trang 16Cơ sở dữ liệu của GIS được lưu trữ dưới dạng các đối tượng hình học cơ bản như: điểm, đường, vùng; thông tin thuộc tính được lưu trữ dưới dạng số và chữ Hai loại
dữ liệu cơ bản này có mối liên hệ thống nhất và duy nhất với nhau Việc liên kết dữ liệu bản đồ với dữ liệu thuộc tính của GIS trong một cơ sở dữ liệu tạo thành các hình ảnh của thế giới thực sinh động, với đầy đủ các thông tin cần thiết, sẽ giúp nhìn nhận một cách tổng thể toàn bộ hiện trạng các nguồn tài nguyên, từ đó thuận tiện trong việc xác định phương thức sử dụng và quản lý tối ưu các nguồn tài nguyên đó
Về nội dung: dữ liệu bản đồ trong GIS được chia thành hai nhóm: bản đồ nền và bản đồ chuyên đề
- Bản đồ nền: là cơ sở hình học để chứa mọi dữ liệu khác lên đó, đảm bảo cho dữ liệu được đồng nhất về mặt tọa độ, lưới chiếu
- Các bản đồ chuyên đề thường phân chia thành 3 nhóm: điều kiện tự nhiên môi trường, kinh tế xã hội và hạ tầng kỹ thuật
GIS cho phép người sử dụng tích hợp nhanh chóng và linh hoạt hình ảnh đơn giản vào các mô hình dữ liệu để tạo ra các hình ảnh phức tạp, thể hiện mối tương tác đa dạng giữa các đối tượng trong thế giới thực
1.2 ỨNG DỤNG GIS TRONG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN
1.2.1 Ứng dụng GIS trong quản lý nghề cá trên thế giới
Hệ thống thông tin địa lý thường được sử dụng để hiển thị hình ảnh, định lượng
và phân tích dữ liệu không gian Dữ liệu sinh thái bao gồm dữ liệu nghề cá, thường là
cơ sở dữ liệu không gian và phù hợp tốt cho phân tích trong GIS GIS đầu tiên xuất hiện đầu tiên tại Canada vào những năm 60, hai thập kỷ sau GIS được áp dụng trong môi trường biển Meaden (2000) đã đưa ra một Mô hình khái niệm GIS trong hoạt động nghề
cá, mô tả GIS là một nhiệm vụ phức tạp sớm được áp dụng bởi các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu thủy sản Vào giữa những năm 1980, Caddy và Garcia (1986) nhấn mạnh tầm quan trọng của bản đồ trên máy tính và phân tích không gian đối với nghề cá Khoảng thời gian này, GIS đã được chứng minh là một công cụ có giá trị cho nuôi trồng thủy sản (FAO, 1985) Ứng dụng đầu tiên của GIS trong nghề cá là những ứng dụng xác định vị trí cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản [31, 45, 37]
Trang 17Trong đầu những năm 90, GIS mở rộng phạm vi ứng dụng cho nghề cá Một trong những ứng dụng phổ biến của GIS là xây dựng mô hình thích nghi giữa cá và môi trường sống ở khu vực ven bờ (rừng ngập mặn, cửa sông, thảm cỏ biển) Ứng dụng GIS
để nghiên cứu và quản lý nghề cá được áp dụng rộng rãi vào những năm 2000 qua các lĩnh vực sau: Lập bản đồ môi trường sống của thủy sản, phân bố và sự phong phú của các loài thủy sản, mô hình hải dương học nghề cá, quản lý nghề cá [39]
Năm 1996, FAO xúc tiến việc sử dụng các hệ thống thông tin địa lý (GIS) để truy cập và sử dụng một loạt các thông tin liên quan trong lĩnh vực nghề cá thông qua một
số hội thảo và các khóa học đào tạo Đồng thời phổ biến các tài liệu kỹ thuật ứng dụng GIS về dịch vụ nghề cá biển, nghiên cứu thủy sản và lập kế hoạch quản lý/phát triển, bao gồm trong các lĩnh vực môi trường, viễn thám,… Ứng dụng của GIS trong khoa học thủy sản mang lại khả năng phân tích và biểu diễn rất nhiều dữ liệu được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau Các dữ liệu trong GIS có khả năng biểu diễn mối tương quan giữa các yếu tố lý, hóa và các yếu tố sinh học trong môi trường nước Qua phân tích, so sánh mối liên hệ phức tạp giữa các yếu tố môi trường GIS mô tả sự phân bố, môi trường sống của các đối tượng thủy sản cũng như dự đoán biến động nguồn lợi thủy sản, sự di
cư của các đàn cá Qua đó, GIS có khả năng hỗ trợ quản lý, lập ra kế hoạch, quyết định việc phát triển khai thác cũng như bảo tồn nguồn lợi thủy sản [46]
Phòng thủy sản thuộc tổ chức lương thực thế giới FAO là một trong những cơ quan có những ứng dụng GIS vào thủy sản rất sớm Ngoài ra, tổ chức này còn trợ giúp cho rất nhiều chương trình nghiên cứu ứng dụng GIS trên thế giới Một chương trình nghiên cứu sâu rộng GIS đối với thủy sản được tiến hành, mà một trong những kết quả nghiên cứu là việc lập bản đồ thống kê thủy sản thế giới, trong đó các số liệu về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, cả nước ngọt và nước mặn của các nước trên thế giới năm
1999 được đưa vào bản đồ [38]
Một số trường hợp ứng dụng GIS trong nghề cá tiêu biểu như sau: Xác định thời gian tối ưu để thả giống cá hồi ở vùng nước ven biển phía bắc Nhật Bản [47]; Xác định môi trường sống (habitat) cần thiết cho các loài cá nổi nhỏ ở vùng biển Địa Trung Hải của Tây Ban Nha [30]; Phát triển ứng dụng GIS quản lý tài nguyên biển của đảo
Trang 18Rodrigues ở Ấn Độ Dương [35]; Ảnh hưởng của năng suất đánh bắt cá trong vùng cấm khai thác ở vịnh Maine, Hoa Kỳ [48, 33]
Ứng dụng GIS trong quản lý nghề cá (chỉ tổng quan nghề cá biển) là một trong những công cụ mới nhất trong các công cụ quản lý nghề cá GIS có khả năng thực hiện trong tất cả các khía cạnh của quản lý nghề cá khác nhau, từ cá lĩnh vực cộng đồng đến các lĩnh vực sinh học
Việc phân tích các số liệu điều tra lưới kéo có thể mất nhiều năm để đưa ra các
dự báo trong tương lai Với sự phát triển cơ sở dữ liệu khảo sát lưới kéo (Trawl Survey Data Viewer - TSDV), hệ thống cho phép phân tích sơ bộ dữ liệu thu thập trên tàu nghiên cứu, phân tích cơ bản và đưa ra thông tin về môi trường và sinh học quan trọng Với hệ thống này nhà quản lý có thể xem thông tin quan trọng liên quan đến việc phân bố và biến động của một loài thủy sản Thông qua phân tích số liệu bản đồ khảo sát trong lịch
sử bằng công cụ GIS và việc kết hợp nhật ký đánh bắt của ngư dân (địa điểm, thời gian, sản lượng,…), ứng dụng GIS có thể làm tăng thêm dữ liệu nghiên cứu và độ chính xác cho việc ước tính về sự phân bố và sự phong phú tương đối của các loài cá thương mại [40, 41]
Việc sử dụng GIS có thể được kết hợp với mô hình đánh bắt để hỗ trợ trong việc
ra quyết định về các vấn đề phát triển thủy sản và quy hoạch, nhằm giảm áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ Xác định môi trường sống của các loài thủy sản là một
cơ sở quan trọng trong quản lý nguồn lợi thủy sản GIS có thể được sử dụng để tạo ra một bản đồ đa tham số cần thiết về sản lượng và tính bền vững của các loài cá Sử dụng bản đồ này các nhà quản lý có thể xác định các vùng cấm khai thác, khu bảo tồn biển Đồng thời, GIS có thể tổng hợp các thông tin để xác định các bản đồ ngư trường, phân
bố sản lượng khai thác và các vùng tập trung khai thác theo mùa vụ [32, 53, 34]
GIS được sử dụng như một công cụ kết hợp với các nguồn dữ liệu nghề cá khác nhau tạo thành một công cụ quản lý nghề cá hiệu quả GIS tạo ra những hình ảnh trực quan mà trước đây các nhà quản lý nghề cá chưa quan tâm, công cụ này cho phép phân tích một khối lượng lớn dữ liệu cùng một lúc Với việc hợp tác giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và ứng dụng của GIS có thể phát triển những công cụ ứng dụng tốt cho tương lai
Trang 191.2.2 Ứng dụng GIS trong quản lý nghề cá ở Việt Nam
Tại Việt Nam, công nghệ GIS được thí điểm khá sớm và được sử dụng phổ biến
để quán lý nhiều lĩnh vực Từ năm 1995, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập dự án
Hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý tài nguyên thiên nhiên và giám sát môi trường, tạo điều kiện cho nhiều cơ quan trong cả nước tiếp cận với công nghệ thông tin địa lý (GIS) Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 362/TTg và 363/TTg ngày 30/05/1996 xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ hoạt động khoa học công nghệ từ năm 1996 – 2000, trong đó có nhiệm vụ: Triển khai các hệ thống thông tin phục vụ cho quản lý điều hành Nhà nước và hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ quản lý Nhà nước Từ đó, hàng năm công nghệ GIS đều được Bộ Khoa học và Công nghệ xác định là một trong những nội dung nghiên cứu ứng dụng phục vụ nghiên cứu chuyên ngành và hiện đại hóa quản lý nhà nước
Cho đến nay việc ứng dụng GIS cho ngành thủy sản ở Việt Nam còn rất hạn chế Ngành thủy sản chưa có cơ quan hoặc phòng ban chuyên trách nghiên cứu ứng dụng GIS; lực lượng cán bộ nghiên cứu còn rất mỏng, các công bố kết quả nghiên cứu ứng dụng GIS trong thủy sản rất ít GIS là một trong những lĩnh vực được ứng dụng rất yếu đối với ngành thuỷ sản Việc áp dụng các bài toàn trong phân tích để phục vụ quản lý chỉ mang tính cục bộ, nên dẫn đến dữ liệu manh mún Mặt khác mức độ thành công và khả thi của các vấn đề nghiên cứu phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là
dữ liệu đầu vào
Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, việc ứng dụng GIS vào nghiên cứu cung cấp các thông tin về ngư trường khai thác cho các nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, câu cá Ngừ đai dương, câu mực đại dương và cho một số đối tượng khai thác khác như cá Ngừ vằn, cá Nục heo, Mực ống, Mực nang Tuy nhiên các thông tin chỉ mang tính định tính chỉ ra các khu vực có năng suất sản lượng trung bình cao cho các đối tượng và nghề cá nói trên [23, 22, 2, 9]
Việc tổ chức đội tàu khai thác trên biển ứng dụng hệ thống GIS kết nối với hệ thống định vị toàn cầu GPS có thể quản lý đội tàu khai thác hải ở xa bờ đã được nghiên cứu Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chế tạo thử nghiệm thiết bị cũng như
Trang 20phần mềm ứng dụng quản lý đội tàu, chưa triển khai vào ứng dụng sản xuất vì nhiều lý
do khác nhau [20]
Đối với nuôi trồng thủy sản, các nghiên cứu ứng dụng GIS chỉ là một phần của các dự án và kết quả thu được là rất hạn chế Đa số các nghiên cứu này tập trung vào quy hoạch tổng thể cho các vùng ven biển Tuy nhiên, các nghiên cứu ứng dụng GIS này mới chỉ dừng lại ở mức vẽ bản đồ quy hoạch vùng, chưa đi sâu vào thông tin thuộc tính cũng như việc phân tích các thông tin thuộc tính [16, 10, 21] Một số ứng dụng tiêu biểu như sau:
“Ứng dụng GIS và AHP xây dựng bản đồ thích nghi đất đai cho nuôi tôm sú tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh” Tuy nhiên, kết quả này chỉ mới dựa trên sự đánh giá
thích nghi theo đặc tính của đất Việc xác định vùng thích nghi cho nuôi tôm cần đánh giá thêm các tiêu chuẩn về điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng và môi trường của vùng
để có cơ sở chặt chẽ hơn trong việc hỗ trợ ra quyết định quy hoạch vùng nuôi [8]
Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) vùng đồng bằng sông cửu long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 do Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản thực hiện, đã ứng dụng GIS để hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch phát triển NTTS [16]
“Ứng dụng công nghệ GIS đánh giá thích nghi cho sự phát triển của nguồn lợi
Nghêu vùng cửa sông, ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh” là một chuyên đề
nhánh thuộc đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi
Nghêu (Meretrix lyrata), Sò huyết (Anadara granosa) ở vùng cửa sông, ven biển Tiền
Giang, Bến Tre và Trà Vinh” do Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam chủ trì thực hiện, đã cung cấp một trong những cơ sở khoa học để xác định vị trí, quy mô các khu bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu [19]
Ở Bến Tre, “Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bộ tiêu chuẩn và ngưỡng môi trường tối ưu và cơ sở dữ liệu dự báo cảnh báo diễn biến môi trường vùng nuôi tôm công nghiệp ở Bến Tre” đã đáp ứng bước đầu về việc xác định bộ tiêu chuẩn và ngưỡng môi trường tối ưu cũng như dự báo, cảnh báo môi trường nuôi tôm theo mô hình quản
lý dữ liệu phân tán Client - Server [6]
Trang 21Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS “Xây dựng các chỉ tiêu môi trường tối ưu trong nuôi nghêu, sò huyết và cơ sở dữ liệu dự báo, cảnh báo diễn biến môi trường các vùng nuôi nghêu, sò huyết tập trung ở Bến Tre”, nhằm đánh giá một cách chi tiết và đầy đủ hơn các điều kiện môi trường liên quan đến đời sống của con nghêu và Sò Huyết
ở tỉnh Bến Tre và cả cơ sở phương pháp luận phục vụ cảnh báo khi có sự cố môi trường xảy ra [7]
Dự án “Xây dựng phần mềm quản lý nuôi thủy sản theo công nghệ thông tin viễn thám GIS”, đã xây dựng công cụ quản lý các đối tượng nuôi trồng thủy sản (Tôm, nhuyễn
thể và cá da trơn) dựa trên mô hình máy mạng Client – Server Việc quản lý vùng nuôi, cảnh báo dịch bệnh được thực hiện đến từng vị trí nuôi và tương tác đa chiều theo thời gian thực Đây là thống cơ sở dữ liệu ứng dụng GIS phục vụ cho công tác dự báo, thông tin và quản lý thủy sản trong tỉnh [24]
1.3 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU
1.3.1 Đặc điểm nguồn lợi nghêu
a) Phân bố
Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình
Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam Ở Việt Nam, chúng chỉ phân bố ở vùng ven biển Tây Nam Bộ như Cần Giờ (TpHCM), Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Ngọc Hiển (Cà Mau) Vùng có sản lượng cao nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang và Bến Tre Chúng sống vùi trong đáy cát bùn của vùng triều, nhưng chủ yếu ở dãi triều thấp, triều giữa và dưới triều, có thể gặp loài này
ở độ sâu dưới 4 m [13, 14]
Theo một số tài liệu về sinh học vùng triều, phân bố của nhiều sinh vật thường hình thành đai theo độ cao bãi triều Kết quả đo đạc vùng có nghêu con phân bố vào
năm 1998 trong khảo sát vùng phân bố nghêu giống Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) ở
Gò Công Đông của cho thấy chúng tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8- 1,5m so với cao
độ hải đồ.[14]
Trang 22Các đặc trưng phân bố của Nghêu cũng đã được một số tác giả nghiên cứu cho thấy Nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy Nghêu lúc nước ròng là 1,5 - 2,5 m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn bùn lỏng (10-18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 - 2,5 cm) Độ mặn từ 7 - 25‰, nhiệt độ là 26 - 32oC, các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi Nghêu biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng đều phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu Nghêu thích hợp sinh sống ở những vùng có nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát từ 60-90%, cát bùn có cấp hạt từ 0,062 - 0,25mm Phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình của nghêu Trong
tự nhiên, chưa thấy nghêu phân bố ở vùng đáy bùn hay đất sét [14,1]
Theo Trương Quốc Phú (2000) thì vùng phân bố tự nhiên của nghêu ở khu vực
gần cửa sông có chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm 80- 90% và bùn chiếm 9- 14%.[11]
b) Đặc trưng sinh thái
Tùy theo từng giai đoạn phát triển mà nghêu có tập tính khác nhau: Giai đoạn ấu trùng phù du (Trochophore) sống trôi nổi trong nước Giai đoạn ấu trùng bám (Veliger) chuyển sang giai đoạn sống đáy Giai đoạn trưởng thành nghêu sống vùi mình trong đáy cát bùn nhờ hoạt động của chân [51, 42]
Nghêu thích hợp sinh sống ở những vùng có nền đáy cát bùn với tỉ lệ cát từ 90%, cát bùn có cấp hạt từ 0,062-0,25 mm Phân bố chủ yếu ở vùng trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình của nghêu Trong tự nhiên, chưa thấy nghêu phân bố ở vùng đáy bùn hay đất sét [12]
60-Nghêu thường sống vùi trong cát hoặc cát bùn của vùng triều, chủ yếu dải triều thấp, triều giữa và triều dưới, có thể gặp loài này ở độ sâu dưới 4 m Trong tự nhiên, chúng phân bố chủ yếu ở vùng hạ triều, thời gian phơi bãi 2-8 giờ/ngày đêm Độ sâu cực đại tìm thấy lúc nước ròng 2-4 m Nghêu sống ở vùng có nền đáy cát mịn, cát bùn
có pha lẫn hữu cơ (10-15%) Độ mặn thích hợp là 5-250/0 0; pH nước 6,5-7,5 và của đất 6,7-7,8; nhiệt độ 25-33oC [3, 13, 11, 1]
Trang 23c) Đặc điểm sinh trưởng
Nghêu có tốc độ sinh trưởng khối lượng nhanh hơn tốc độ chiều dài tương đối, Nghêu là loài sinh trưởng cả vỏ lẫn phần mềm đồng thời với nhau trong quá trình sống của chúng Ngoài ra, nghêu ở Bến Tre có tốc độ sinh trưởng nhanh từ tháng 2 đến tháng
9 và sinh trưởng chậm từ tháng 10 đến tháng 1 Tốc độ sinh trưởng trọng lượng tuyệt đối trung bình 7,24 g/tháng tương ứng với 17,7%, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của chiều dài là 2,8 mm/tháng tương ứng 5,7% Như vậy, tốc độ tăng trưởng chiều dài chậm hơn tốc độ tăng trưởng trọng lượng Sự biến động sinh trưởng theo mùa do tác động của một
số yếu tố môi trường có sự thay đổi theo chu kỳ trong năm như: độ mặn, nhiệt độ, lượng thức ăn trong môi trường nước [26, 1, 11]
d) Đặc điểm sinh sản
Theo kết quả nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh hưởng đến quá
trình nuôi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby,1851) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre
cho rằng, mùa vụ chính xuất hiện nghêu giống bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với mật độ nghêu giống khá cao Bên cạnh đó nghêu giống còn xuất hiện trong mùa phụ vào các tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhưng với mật độ thấp hơn nhiều so với vụ chính (tháng 6 đến tháng 9) Thời gian xuất hiện của nghêu giống xác định mùa sinh sản của chúng, nghĩa là mùa sinh sản chính từ tháng 5 đến tháng 7, ở giai đoạn thời tiết chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa, và mùa sinh sản phụ là từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn Việc nghêu giống xuất hiện ồ ạt vào tháng 6- tháng 8/1998 cho thấy yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định so với các yếu tố khác như nguồn nghêu bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi.[5]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, mùa vụ sinh sản của nghêu thường bắt đầu vào thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, tức khoảng thời gian từ tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm Đây là thời điểm mà các yếu tố môi trường nước cũng như khí hậu thay đổi rất lớn, chính sự biến động này đã kích thích nghêu bố mẹ sinh sản, nguồn nghêu giống xuất hiện chủ yếu tại 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang.[4]
Trang 24Sự thành thục sinh dục của nghêu tuỳ thuộc vào độ tuổi, kích thước và địa lý phân
bố Sản lượng trứng, tinh trùng và sự hình thành giao tử liên quan đến kích thước của nghêu, nhiệt độ nước, số lượng và chất lượng thức ăn, đặc biệt quan trọng trong thời kỳ ban đầu của quá trình này [51]
Nghêu ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre sinh sản hầu như quanh năm, nhưng mùa đẻ chính tập trung từ tháng 4 đến tháng 6, mùa đẻ phụ từ tháng 10 - 11 hàng năm Nghêu đạt chiều dài vỏ 33,1 mm (tương ứng với trọng lượng thân 10,7 g) sẽ bắt đầu tham gia sinh sản lần đầu [26, 11]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và quản lý nguồn lợi trên thế giới
Nghêu (Meretrix lyrata) thuộc ngành nhuyễn thể hai mảnh vỏ, sinh sản và phát
triển ở vùng cửa sông và ven biển Từ lâu, các loài nhuyễn thể có vỏ (Shellfish) được xem là một nguồn lợi thủy sản tự nhiên ven biển quan trọng Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý, khai thác, phục hồi, phát triển, cũng như vấn đề về quyền lợi của cộng đồng dân cư ven biển liên quan đến nguồn lợi tự nhiên này
Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven biển nói riêng không chỉ đơn giản là các công tác kỹ thuật và quản lý thông thường, mà thực chất là một chương trình được thiết kế bao gồm một loạt hoạt động khảo sát và nghiên cứu được tiến hành liên tục và lâu dài, được phối hợp bởi các cấp chính quyền, các nhà khoa học và cộng đồng dân cư ven biển Vì tính chất phức tạp đó, Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO)
đã phát hành tài liệu “Enhancing or restoring the productivity of natural populations of
shellfish and other marine invertebrate resources” (Tăng cường và phục hồi năng suất
các quần thể tự nhiên của nhóm sinh vật có vỏ và sinh vật không xương sống khác Tài liệu này được xem là cẩm nang cho các nước có quyền lợi liên quan đến nguồn lợi nhuyễn thể tự nhiên, với nội dung phân tích một số kỹ thuật khác nhau hỗ trợ việc nâng cao sản lượng nhuyễn thể Các kỹ thuật được đề cập bao gồm: (1) các phương pháp đánh giá, theo dõi tình trạng và phục hồi nguồn giống, (2) so sánh các công cụ quản lý không gian khác nhau, (3) các chiến lược trong việc nâng cao chất lượng nguồn giống, (4) phân tích các vấn đề về môi trường sinh thái liên quan đến nguồn lợi (môi trường sống, địch hại ), (5) các hướng dẫn trong việc quản lý và đánh giá chương trình bảo vệ và nâng
Trang 25cao nguồn giống, (6) các vấn đề về chính sách quản lý của địa phương, sự hợp tác của cộng đồng dân cư ven biển Ngoài ra, tài liệu còn bàn về các mô hình nuôi, thử nghiệm sản xuất giống, những khó khăn trong công tác quản lý liên quan đến đặc tính sinh học của mỗi loài nhuyễn thể [43]
Với mục đích hỗ trợ công tác quản lý các nguồn lợi ven biển nói chung, Hội nghị Quốc tế về đới bờ Châu Á -Thái Bình dương Coastal Zone Asia-Pacific (CZAP) được
tổ chức nhằm trao đổi các kinh nghiệm, mô hình quản lý giữa các nước Báo cáo tổng hợp được 122 sáng kiến khác nhau, từ việc thiết lập một đơn vị phản hồi việc quản lý lưu vực sông và ven biển, chịu trách nhiệm bởi tỉnh Thừa Thiên-Huế; đến dự án “Các phương thức sinh kế của người dân” hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ, chính quyền, các cơ quan tài chính trong việc quản lý vùng ven biển, tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á Tuy nhiên, các tác giả cho rằng, vẫn còn 2 thách thức chủ chốt cho việc quản lý tổng hợp vùng bờ (ICM – Intergeted Coastal Management) Các thách thức này liên quan đến việc tích cực theo dõi và đánh giá các sáng kiến ICM, cũng như áp dụng các sáng kiến ICM này đến những khu vực đang nguy cấp Theo đó, báo cáo cũng
đề ra các vấn đề khẩn cấp trong quản lý vùng bờ, có thể kể ra như: cộng đồng ven biển, phương thức sinh kế, chính sách và kế hoạch tổng hợp, kèm theo đó là các ưu tiên trong hành động nhằm giải quyết các vấn đề trên [52]
Như vậy, công tác quản lý nguồn lợi ven biển nói chung, và công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi nhuyễn thể có vỏ nói riêng bao gồm nhiều nội dung khác nhau: kỹ thuật (mô hình), quản lý (chính quyền, cộng đồng ), chính sách Mỗi nội dung được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau, phụ thuộc vào từng quốc gia, từng địa phương, từng đối tượng cụ thể Tuy nhiên, có thể học được nhiều bài học quý giá, rút được nhiều kinh nghiệm từ các mô hình thành công, cũng như chưa thành công của các nước trên thế giới, nhằm xây dựng nên một quy trình tốt hơn cho công tác bảo vệ nguồn lợi tại địa phương nghiên cứu
Về mô hình kỹ thuật, có thể xem xét một mô hình mẫu của việc quản lý nguồn lợi theo mô hình trang trại thủy sản Việc quản lý sản lượng, các tác động môi trường cũng như lợi ích của việc nuôi nhuyễn thể có vỏ được đánh giá trên mô hình quản lý nguồn lợi thông qua trang trại thủy sản (thường gọi là FARM) Việc quản lý này chủ
Trang 26yếu được giao cho các nông-ngư dân và được kiểm soát bởi những người điều chỉnh Báo cáo nêu ra 3 nội dung chính của mô hình: (1) các phân tích về vị trí nuôi và lựa chọn loài nuôi, (2) các phương pháp nuôi tối ưu về sinh lý và kinh tế (thời gian, kích cỡ thả giống và thu hoạch, mật độ…), (3) đánh giá về môi trường (liên quan đến các tác động về dinh dưỡng…) Báo cáo này khẳng định, mô hình FARM cũng là một phương
án tốt cho việc quản lý dinh dưỡng tổng hợp vùng bờ.[44]
Ngoài vấn đề kỹ thuật, chính sách quản lý nguồn lợi của địa phương cũng tác động không nhỏ đến công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi ven biển Các chính sách kiểm soát “đầu vào” trước đó (như nỗ lực điều hòa, thiết lập mùa vụ và đăng ký khai thác) hoạt động không hiệu quả hơn 10 năm, kết quả là tình trạng đánh bắt vượt quá giới hạn, khai thác quá mức, suy giảm giá trị kinh tế và các hoạt động đánh bắt không an toàn Về sau, chính sách kiểm soát “đầu ra”, tiêu biểu là hệ thống hạn ngạch nhuyễn thể,
về mặt quy mô, chứng minh được sự thành công trong việc cải thiện thu nhập, kiểm soát được việc vượt quá giới hạn đánh bắt, thành công trong việc điều hòa, và can thiệp vào các quyết định mấu chốt Tuy nhiên, sự quan tâm của cộng đồng người dân hiện nay là nguồn tài sản chung này đang có nguy cơ bị nắm giữ chỉ bởi một vài người có đăng ký Ngoài ra, kết quả của việc phân hạn ngạch chính là vấn đề mất việc làm, cũng như là vấn đề về phân phối và sự công bằng [28]
Cuối cùng, một mô hình quản lý nguồn lợi cần được quan tâm, đó chính là bài học kinh nghiệm từ Quản lý tổng hợp vùng bờ (ICM- Intergrated Coastal Management) tại Philippine Năm 1991, chính phủ Philippine chuyển giao nhiều trách nhiệm về quản
lý ven biển cho chính quyền địa phương và khuyến khích sự tham gia của địa phương trong việc quản lý nguồn tài nguyên này.[29]
1.3.3 Tình hình nghiên cứu và quản lý nguồn lợi nghêu ở Việt Nam
Nghêu là loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế xuất khẩu cao được nhân dân các vùng
ven biển khai thác đưa vào nuôi Vùng biển Việt Nam chỉ gặp loài Meretrix lyrata
(Sowerby) ở Nam Bộ: ven biển Cần Giờ (TP.HCM), Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình
Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), thị xã Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu) Chưa thấy chúng phân bố tự nhiên ở ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng những năm gần đây việc di giống từ Nam bộ ra nuôi
Trang 27ở một số tỉnh ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thành công; ở Miền Nam nghêu được nuôi trên diện rộng ở những vùng phân bố tự nhiên, tập trung nuôi chủ yếu: Cần Giờ (TP.HCM), Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, đến nay một số huyện ven biển tỉnh Kiên Giang đã đem giống nghêu này qua vùng biển Tây nuôi, kết quả bước đầu nghêu sinh trưởng khá tốt.[14]
Theo kết quả nghiên cứu trước đây và căn cứ vào số liệu thống kê, nghêu giống xuất hiện với mật độ cao trùng vào những năm mùa lũ rất thấp, điều này cho thấy có mối quan hệ giữa sự tồn tại và phát triển của các ấu trùng nghêu với các yếu tố thủy văn
và chế độ mưa lũ Có thể những năm lũ lớn nghêu vẫn sinh sản nhưng ấu trùng của chúng tồn tại và phát triển kém do độ mặn giảm, tốc độ dòng chảy vùng cửa sông vào năm có lũ lớn cao làm cho ấu trùng nghêu trôi dạt ra xa bờ, đến giai đoạn chuyển sang sống đáy chúng không có nền đáy thích hợp để phát triển [4]
Nghêu phân bố ở vùng hạ triều có thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu lúc nước ròng là 2,5m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 - 18%)[60] Vùng phân bố tự nhiên của nghêu ở khu vực gần cửa sông có chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm từ 80 - 90% và bùn chiếm 9 - 14% [11] Thành phần cơ giới đất ở các bãi nghêu chủ yếu là cát mịn (68 - 75%); thành phần cơ giới phù sa chủ yếu là cát (65 - 72%); thành phần hóa học của đất nền bãi và phù sa không có sự khác biệt lớn [4]
Kết quả đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết ở vùng cửa sông ven biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh” đã tìm ra cơ chế hình thành, phát triển các bãi nghêu (bao gồm cả bãi giống và bãi bố mẹ) cũng như xác định diện tích các vùng nuôi tiềm năng ở cả ba tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh Đánh giá thực trạng khai thác nguồn lợi nghêu và hiện trạng kinh tế xã hội, chủ trương chính sách, thể chế hiện hành của địa phương cũng như các tác động của chúng đến sự phát triển nguồn lợi nghêu Xây dựng cụ thể vùng lõi (bảo tồn), vùng đệm (vùng nghêu giống thường xuyên xuất hiện), vùng phát triển (vùng thích hợp nuôi nghêu thương phẩm) Đề xuất các giải pháp phù hợp cho việc xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu [19]
Trang 28Đối với tỉnh Bến Tre, nghêu là nguồn tài nguyên được quản lý theo mô hình Đồng quản lý (người dân được nhà nước chia sẻ một số trách nhiệm và quyền hạn trong quản
lý tài nguyên), trực tiếp giao cho các cộng đồng quản lý Hợp tác xã quản lý khai thác nghêu, thực hiện quản lý theo các quy ước cộng đồng đặt ra
Nghề khai thác nghêu tự nhiên ở tỉnh Bến Tre phát triển mạnh trong nhiều năm qua Năm 2009, nghề quản lý và khai thác nghêu của tỉnh Bến Tre được Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế chứng nhận thương hiệu MSC (Marine Stewardship Council) khi đáp ứng được các tiêu chuẩn về sự bền vững và quản lý tốt Bến Tre là khu vực đầu tiên ở Đông Nam Á nhận được chứng chỉ của MSC Đây là sự kiện lịch sử – nghề cá quy mô nhỏ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á quản lý dựa vào cộng đồng được nhận chứng nhận MSC
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN BÌNH ĐẠI
1.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Bình Đại là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bến Tre, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với ranh giới hành chính phía Tây Bắc giáp huyện Châu Thành; phía Đông Bắc giáp sông Mỹ Tho, ngăn cách với huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang; phía Tây Nam giáp sông Ba Lai, ngăn cách với các huyện Giồng Trôm,
Ba Tri; phía Đông Nam là biển Đông với đường bờ biển dài 27km (Hình 1.3)
1.4.2 Khí hậu, thời tiết
Bình Đại nói riêng, tỉnh Bến Tre nói chung có đặc điểm chung về khí hậu và thời tiết của ĐBSCL, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió tây nam và đông bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt Mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26°C – 27°C Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20°C [7, 1]
Trang 29Hình 1.3: Bản đồ vị trí huyện Bình Đại trong tỉnh Bến Tre
1.4.3 Gió mùa
Huyện Bình Đại nằm trong khu vực Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai hệ thống gió mùa là gió mùa Đông bắc và gió mùa Tây Nam, cường độ gió mùa đông bắc chịu tác động yếu hơn các khu vực phía bắc và miền trung Gió mùa Đông bắc thịnh hành từ tháng 12 - 4 năm sau Mùa gió đông bắc hướng gió thịnh hành là đông bắc nhưng không phải gió đông bắc của gió mùa cực đới mà là tín phong của lưỡi cao áp phó nhiệt đới Tây Thái Bình Dương Đây là mùa có nền khí hậu lạnh, nhưng do ở xa trung tâm hoạt động nên có tác động yếu hơn khi vào đến Nam Bộ không gây mưa, do
đó trong các tháng này là mùa khô Từ tháng 3-4 có thể coi là những tháng giao mùa, gió mùa Đông bắc hoạt động yếu và giảm về cường độ và tần xuất, chưa có gió Tây nam hoặc yếu Gió mùa Tây nam từ tháng 5 - 10, có tốc độ trung bình 2,5-3,5m/s Đây là mùa có nền khí hậu nóng ẩm vào mưa rào, do hoạt động của gió mùa Tây Nam mang đến nhiều mây mưa do đó vào mùa này thường có mưa nhiều và lượng mưa khá lớn Gió chướng có hướng thịnh hành là hướng Đông, hoạt động từ tháng 11-03, có tốc độ trung bình 3,5-4,5m/s [7,1]
Trang 301.4.4 Thủy Triều
Thủy triều vùng ven bờ Bình Đại có đặc trưng bán nhật triều Mỗi năm có đến
290 ngày là bán nhật triều không đều, nằm trong khoảng thời gian từ tháng 5 - 8 và từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau Ngoài ra hàng năm, nhật triều cũng có xuất hiện nhưng không nhiều, khoảng 9 - 12 ngày Độ mặn nước vùng cửa sông có biến động lớn từ 3-17‰
Hàng tháng có 2 thời kỳ triều cao, xuất hiện sau ngày trăng non và trăng tròn độ
2 - 3 ngày Có 2 thời kỳ triều kiệt, xuất hiện sau ngày 8 âm lịch (Hạ huyền) khoảng 1 -
2 ngày Theo tài liệu của đài khí tượng thủy văn Cửu Long, trong mùa mưa lũ (Tháng 9
- 12) đỉnh triều thường chịu ảnh hưởng của mưa lũ nguồn Đỉnh cao nhất 1,6 - 1,9m thường xuất hiện vào tháng 11, có năm sớm hơn vào tháng 10 Mỗi tháng có 2 đỉnh cao, mỗi đỉnh từ 3 - 4 ngày Hàng ngày có 2 đỉnh triều cao, mỗi đỉnh kéo dài từ 3 - 4 giờ Cường suất triều lên là 30 - 40 cm/giờ, lên mạnh nhất 45 - 55cm/giờ Cường suất triều xuống trung bình 20 - 30cm/giờ, mạnh nhất là 30cm/giờ [7, 1]
Trong mùa khô, từ tháng 4 - 7 (có năm xuất hiện sớm vào tháng 3; năm muộn vào tháng 6), mực nước đỉnh triều thường thấp và đạt giá trị 1,05 - 1,3m; mỗi tháng có
2 kỳ triều thấp, mỗi kỳ kéo dài 3 - 4 ngày, mỗi ngày có 2 đỉnh duy trì mực nước liên tục
2 - 3 giờ
Trong mùa lũ (tháng 8-11), vùng kênh rạch nội đồng ven biển, hàng ngày có
12-14 giờ chu kỳ triều lên và khoản 15 giờ chu kỳ triều xuống Biên độ triều dọc hai sông Cửa Đại và sông Cổ Chiên là 200-250 cm/giờ
1.4.5 Địa hình vùng biển ven bờ
Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven bờ Bình Đại thuộc đặc trưng địa hình ĐBSCL Các phân tích trên cho thấy ở vùng cửa sông hệ thống sông Tiền (Cửa Đại, Cửa Tiểu) được đặc trưng bởi dạng hình thái kiểu châu thổ triều rút cỡ lớn (Macro tidal Inlet) và thể hiện tác động mạnh thủy triều
Độ dốc đáy biển của vùng biển Bình Đại khoảng từ 10º - 20º nhỏ, nền đáy biển
có dạng bằng phẳng, chất đáy chủ yếu là cát - bùn
Trang 31Chính các thành tạo địa hình, nền trầm tích và cấu tạo địa chất đã tạo nên một vùng bờ có điều kiện thuận lợi cho sự bồi lắng trầm tích và hình thành các bãi Nghêu,
Sò [49]
1.4.6 Đặc điểm thủy văn, dòng chảy
Khu vực nghiên cứu được xem là một hệ thống các châu thổ triều cỡ lớn thuộc thống sông Cửu Long gồm các cửa sông lớn của nhánh sông Tiền đổ ra các cửa Cửa Đại, Cửa Tiểu, Ba Lai
Lượng dòng chảy mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, lượng nước
từ thượng nguồn đổ ra biển ở cửa Tiểu 236,8 m3/giây và cửa Đại 473,6 m3/giây [17]
Lượng dòng chảy mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng nước ngọt đổ ra biển vào mùa lũ ở cửa Tiểu 960 m3/giây và cửa Đại 1.920 m3/giây[17]
1.4.7 Nhiệt độ nước biển
Nhiệt độ nước biển ở vùng biển Bình Đại sự thay đổi theo mùa và thay đổi theo
độ sâu của vùng nước Nhiệt độ nước biển ở tầng mặt tương đối cao và ổn định Trung bình nhiệt độ nước biển dao động trong khoảng từ 27,5 - 30ºC và nhiệt độ cao nhất là vào tháng 6 khoảng từ 30 - 32ºC
Nhiệt độ nước biển của vùng biển Bình Đại chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng biển nông, gần xích đạo, hấp thụ năng lượng mặt trời cao nên thường cao hơn nhiệt độ không khí từ 1,5 - 3ºC Nhiệt độ không khí trung bình thường từ 26 - 27ºC [7, 1]
1.4.8 Đặc điểm môi trường nước và nguồn lợi
a) pH, độ mặn và vật chất lơ lửng
Theo một số nghiên cứu đã chỉ ra giá trị trung bình pH tại các bãi nghêu trong tỉnh biến động từ 7,72 – 8,04, mùa mưa có pH thấp hơn mùa khô Một số kết quả khảo sát về môi trường nước trong vùng nuôi nghêu cho thấy chất lượng nước trong vùng biến động rất lớn theo mùa khô và mùa lũ trong vùng Do vùng ven bờ huyện Bình Đại chịu ảnh hưởng khá lớn của lượng nước ngọt từ các sông đổ vào trong mùa mưa dẫn đến sự biến động lớn độ mặn (vào mùa khô dao động từ 25- 29‰, trong khi vào mưa xuống thấp còn từ 5-10%) [7, 18, 55]
Trang 32Hàm lượng vật chất lơ lửng (VCLL) cũng dao động khá mạnh, và chúng phụ thuộc vào mực nước lũ hàng năm, đồng thời các số liệu đo đạc ở tại huyện Bình Đại cho thấy cũng có sự khác nhau khá lớn Hàm lượng VCLL ở trong sông và vùng ven bờ các cửa sông thay đổi phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước sông đổ ra Giá trị cực đại về hàm lượng VCLL có thể đạt tới 1250mg/l khi lúc triều xuống (vào mùa mưa) Theo số liệu thống kê 10 năm trở lại đây, sự biến động các thành phần vật chất lơ lửng trong các vùng bãi triều có khả năng quan hệ với sự xuất hiện nghêu giống với mật độ cao trùng vào những năm mức lũ rất thấp, điều này thể hiện mối quan hệ giữa sự tồn tại và phát triển của ấu trùng nghêu với các yếu tố thủy văn và chế độ mưa lũ [5, 7, 26]
b) Muối dinh dưỡng và hàm lượng chlorophyll- a trong nước
Theo kết quả một số kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng muối dinh dưỡng hòa tan trong vực nước ven bờ tại khu vực này chúng dao động rất lớn giữa 2 mùa Các giá trị muối dinh dưỡng Nitơ vô cơ biến động theo cả không gian và thời gian, trung bình muối NO2 trong vùng là 1,67 ± 0,80μg/l và đối với NO3 là 3,11 ± 2,32μg/l; và PO4
là 6,62 ± 4,07μg/l vào mùa khô Vào mùa lũ, các giá trị muối dinh dưỡng vô cơ cao hơn gấp nhiều lần so với mùa khô, trung bình muối NO2 trong vùng là 11,45 ± 12,9μg/l và đối với NO3 là 50,99 ± 59,53μg/l; và PO4 là 23.27 ± 16,50μg/l [7, 50, 1]
Ngược lại, hàm lượng sắc tố thực vật nổi chlorophyll-a tại cửa sông và vùng biển ven bờ phía ngoài lại thường đạt giá trị trung bình cao vào mùa khô khoảng 1,26 ± 0,89µg/l; và thấp dần vào mùa mưa với trung bình là 0,81 ± 0,54µg/l Điều này có thể thấy rằng của các hạt phù sa lơ lửng và bức xạ vào thời điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quang hợp của thực vật phù du trong nước, cho dù lượng chất dinh dưỡng cung cấp là rất phong phú.[7, 50, 1]
c) Hữu cơ trong nước
Ngoài ra, lượng phù sa bổ sung hàng năm cũng đã cấp cho lớp trầm tích ở khu vực cửa sông – ven biển một lượng carbon và nitơ hữu cơ khá lớn Ngoài những ảnh hưởng của dòng chảy, chất đáy cũng được xem là một yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền đáy mà nó thích ứng Bởi động vật thân mềm thường chọn nền đáy cát bùn làm nơi sinh sống Nhóm sống trong cát và trên bề mặt cát là nhóm ăn lọc
Trang 33các chất lơ lửng trong nước, trong khi các loài sống trong bùn thường ăn các mùn bã hữu cơ trong bùn [1, 11]
Từ đó đưa ra nhận định rằng mỗi loài sinh vật sống đáy phân bố theo một loại chất đáy riêng, chất đáy sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống của sinh vật, nhất là trong giai đoạn ấu trùng của sinh vật Ở trong những vùng bãi triều ven biển, nơi trầm tích thường là cát mịn (chiếm khoảng 70%) hoặc các bãi có nhiều bùn sét chứa hàm lượng các chất hữu cơ rất cao Nó là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của động vật thân mềm, và cung cấp nguồn thức ăn phong phú cho các loài sinh vật sống ở đây Hàm lượng carbon hữu cơ (Chc), Nitơ hữu cơ (Nhc), và Phospho (P) trong trầm tích ở vùng cửa sông cũng biến động khá mạnh, đối với Chc trong trầm tích hàm lượng dao động từ 0,19 – 0,75%, đối với Nhc dao động từ 0,026 – 0,176%, và đối với P dao động từ 0,008 – 0,084% [50, 1]
d) Nguồn giống ven bờ
Vùng biển ven bờ Bến Tre nói chung và vùng biển ven bờ Bình Đại nói riêng là nơi tập trung nguồn giống thủy sinh với mật độ cao, đó chính là đối tượng bổ sung vào quần đàn thủy sản khai thác
Theo kết quả nghiên cứu trước đây tại vùng biển ven bờ Bến Tre, phân bố sinh khối (khối lượng) chung của con giống thủy sinh dao động trong khoảng 0,08 – 17,33 g/100m³, trung bình 1,67 g/100m³ Sinh khối cao phân bố ở dải nước phía trước các cửa sông Mật độ ấu trùng tôm He (Penaeidae) trung bình 7,2 con/100m³, tôm Tít (Stomatopoda) 2 con/100m³, Cua 242 con/100m³, ấu trùng hai mảnh vỏ (Bivalvia) dao 0,49 con/100m³.[25, 1]
Trứng cá – cá con (TCCC) ở vùng ven bờ - cửa sông đã xác định được 16 nhóm loài thuộc 12 họ; trong đó họ cá Bống Trắng (Gobiidae) chiếm 66% tổng số cá bột, giống cá Cơm (Stolephorus) chiếm 69% tổng số trứng, họ cá Đù (Sciaenidae) chiếm 8% tổng số cá bột, họ cá Bơn Cát (Cynoglossidae) chiếm 12,8% tổng số trứng cá, Nhìn chung hầu hết các nhóm loài TCCC đều thuộc bọn cá biển thích nghi với vùng cửa sông (như Bống, Bơn, Cơm, Trích, )
Trang 34Sinh vật lượng của TCCC khá cao: Mật độ trứng cá trung bình 767 trứng/m³ (dao động 1 - 4382 trứng/m³) và mật độ cá con trung bình 257 con/m³ (dao động 16 - 949 con/m³) Khu vực có sinh lượng trứng cá cao là các vùng cửa sông – đó là vùng giao thoa của các dòng nước lục địa và khối nước lợ ven biển Khu vực có sinh lượng cá bột cao là vùng nước lợ cửa Đại, thành phần chủ yếu là cá Bống Trắng (chiếm 96% tổng số lượng cá thể).[25, 1]
Trang 35CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Vùng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu ở vùng bãi triều ven biển, nơi có các bãi nghêu tự nhiên phân
bố thuộc huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre và nằm trong khoảng tọa độ địa lý: Từ 106o35’ đến 106o40’ kinh độ Đông và từ 10o10’ đến 10o 15’ vĩ độ Bắc (Hình 2.1)
Ở huyện Bình Đại có 2 bãi nghêu thuộc quyền quản lý của HTX Thủy sản Đồng Tâm (xã Thừa Đức) và HTX thủy sản Rạng Đông (xã Thới Thuận)
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí nghiên cứu và khảo sát bãi nghêu ở huyện Bình Đại – Bến Tre
Trang 362.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu tự nhiên tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
- Tình hình biến động bãi nghêu, sản lượng và mật độ nguồn lợi nghêu tại huyện Bình Đại
- Hoạt động khai thác nghêu tại huyện Bình Đại
Nguồn lợi nghêu ở Bình Đại gồm có hai loại:
- Nghêu giống: là loại nghêu nhỏ từ giai đoạn ấu trùng bám đáy đến khi đạt được kích cỡ nhỏ hơn 5.000con/kg
- Nghêu thương phẩm: là loại nghêu phát triển đến kích cở 20 – 100 con/kg được khai thác để làm thực phẩm
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
Thu thập nguồn dữ liệu hiện có từ các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây tại Bến Tre Đặc biệt chú ý đến những nghiên cứu trong thời gian gần đây (2006-2012) liên quan đến nguồn lợi nghêu
Thu thập số liệu thống kê về diện tích phân bố, sản lượng khai thác nghêu từ Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, Phòng NN&PTNT huyện Bình Đại, các HTX thủy sản Rạng Đông, Đồng Tâm
Tiến hành khảo sát thực địa tại bãi nghêu của HTX Đồng tâm và HTX Rạng Đông vào tháng 9/2012 và tháng 3/2013 về mật độ phân bố Ngoài ra, còn khảo sát bổ sung một số chuyến về sự phân bố và xuất hiện nghêu giống khi có thông tin thông báo của các HTX
Kết hợp định vị vệ tinh GPS với sự tham gia của ban quản lý HTX xác định diện tích phân bố nghêu
Trang 372.2.2 Phương pháp nghiêu cứu đặc điểm phân bố nguồn lợi nghêu
2.2.2.1 Phương pháp thu mẫu
Để đánh giá đặc điểm phân bố nguồn lợi nghêu áp dụng phương pháp thu mẫu vùng triều (English et al, 1997)
Dùng máy định vị GPS xác định các vị trí thu mẫu theo phương pháp phân ô Dụng cụ thu mẫu là loại khung chuyên dùng diện tích 0,5m x 0,5m = 0, 25m2 và thu ở
Khảo sát sự phân bố của nghêu giống trên bãi thông qua khảo sát thực tế tùy theo thời điểm và vị trí xuất hiện nghêu giống
2.2.2.2 Phương pháp ước tính mật độ và sinh khối
- Mật độ: 𝐷 =𝑛
𝑠
Trong đó:
D: Mật độ (con/m2)
n: Số cá thể thu được (con)
s: Diện tích thu mẫu (m2)
- Sinh lượng: 𝐵 = 𝑚𝑠
Trong đó:
B: Sinh khối (kg/m2)
m: Khối lượng thu được (kg)
s: Diện tích thu mẫu (m2)
Trang 382.2.2.3 Phương pháp ước tính sản lượng
B: Sinh khối trung bình tại một trạm khảo sát (kg/m2)
S: Diện tích bãi nghêu (ha)
2.2.3 Phương pháp đánh giá thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi nghêu
Kế thừa các nguồn dữ liệu, số liệu, các kết quả điều tra, nghiên cứu đã có liên quan đến nội dung đề tài Tổng hợp, sắp xếp, phân tích theo chức năng dữ liệu đối với từng nội dung nghiên cứu
* Số liệu thứ cấp: được thu thập từ Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, Phòng
NN&PTNT huyện Bình Đại, các HTX thủy sản Rạng Đông, Đồng Tâm
Thu thập văn bản, báo cáo định kỳ về tình hình khai thác và quản lý nguồn lợi nghêu từ các cơ quan quản lý, thông tin liên quan đến khu vực xuất hiện nghêu giống và nghêu thương phẩm ở địa phương
* Số liệu sơ cấp: 30 hộ xã viên HTX Rạng Đông (xã Thới Thuận), 30 hộ xã viên HTX Đồng Tâm (xã Thừa Đức)
Thu thập thông tin liên quan hoạt động và phương thức khai thác nghêu ở địa phương, phỏng vấn trực tiếp từ 60 hộ ven biển có tham gia khai thác nguồn lợi nghêu bằng phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia cộng đồng (Participatory Rapid Appraisal - PRA)
Phương tiện được sử dụng để thu thập số liệu là các câu hỏi phỏng vấn nhanh với các nội dung nghiên cứu được thiết kế riêng cho từng nhóm đối tượng, phù hợp cho tình hình thực tiễn từng địa phương
Trang 392.2.4 Phương pháp ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong quản lý khai thác và
bảo vệ nguồn lợi nghêu
Sử dụng công nghệ GIS để phân tích và xử lý dữ liệu về hiện trạng phân bố của nghêu và kỹ thuật chồng lớp thông tin để xây dựng bản đồ bãi triều, phân bố của nghêu, xây dựng các bản đồ phân vùng
Số hóa các đối tượng bản đồ bằng phần mềm Mapinfo
Nắn chỉnh bản đồ về hệ tọa độ VN2000, lưới chiếu 3° vùng Bến Tre
Liên kết các dữ liệu thuộc tính với các đối tượng không gian mà nó đại diện Xây dựng bản đồ bãi triều vùng Bình Đại
Biên tập các dữ liệu thuộc tính thành lập bản đồ chuyên đề
Dữ liệu thuộc tính cũng được tổ chức thành lớp tương ứng với lớp của đối tượng không gian
Thành lập bản đồ chuyên đề trên cơ sở các số liệu thuộc tính đã nhập tiến hành biên tập tạo các lóp bản đồ chuyên đề bằng các cộng cụ của phần mềm Mapinfo
Trang 40Biên tập bản đồ nền vùng phân bố, liên kết dữ liệu thuộc tính xây dựng bản đồ nền phân bố nghêu giống và nghêu thương phẩm
2.2.4.3 Xây dựng bản đồ phân vùng
Bản đồ phân vùng xây dựng trên cơ sở liên kết nhưng dữ liệu sau:
- Biến động về vùng phân bố nghêu hàng năm từ số liệu điều tra
- Cơ sở phân vùng tạm thời của HTX về quản lý khai thác và bảo vệ
- Đặc điểm địa hình và biến động bãi nghêu
- Thảo luận và thống nhất với ban quản lý HTX về các phương án phân vùng
Phân vùng quản lý hợp lý với diện tích khoảng 50ha, tùy theo điều kiện thực tế, các phân vùng mang tính đặc trưng cho việc phân bố nghêu (giống, trung, thường phẩm,…) Tạo điều kiện thuận lợi trong công tác bảo vệ, cấm mốc giới hạn phân vùng
Các điểm mốc phân vùng được xác định bằng cách đóng cọc cây tràm theo tọa
độ đã được xác định trên bản đồ
2.2.4.4 Xây dựng bản đồ chuyên đề khác
Dựa trên cơ sở bản đồ nền, bản đồ thuộc tính, kết hợp với định vị vệ tinh GPS xác định vị trí các đối tượng cần đưa vào bản đồ, tạo dữ liệu thuộc tính cho đối tượng bản đồ, biên tập các lớp bản đồ, có thể xây dựng các bản đồ khác như:
- Bản đồ bố trí trạm bảo vệ
- Bản đồ biến động sản lượng khai thác theo phân vùng
- Bản đồ phân bố mật độ, sản lượng nghêu theo từng thời điểm bất kỳ
- Bản đồ giới hạn vùng khai thác khi lập kế hoạch khai thác nghêu,…
2.2.5 Phương pháp xây dựng phần mềm ứng dụng
Sử dụng phần mềm Visual Basic xây dựng các trường (tool) liên kết với các phần mềm Mapinfo, Excel, Word, Google Earth xây dựng công cụ ứng dụng “GIS quản lý nghêu”