Để thành công trong lĩnh vực này, các diễn giả đều cần phải có những lập luận diễn đạt hiệu quả những ý tưởng chính trị trừu tượng về các vấn đề xã hội như kinh tế, thuế khóa, giáo dục,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PGS.TS Tô Minh Thanh Phản biện độc lập: GS.TSKH Lý Toàn Thắng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Tƣ liệu
trong Luận án là xác thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Các kết quả
nghiên cứu của Luận án chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học
nào
TP.HCM, tháng 3 năm 2015
Tác giả luận án Nguyễn Thị Nhƣ Ngọc
Trang 3DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG
HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
1 0.1 Kết quả nhận diện và giải thích ý nghĩa ẩn dụ trong kỳ thi
tốt nghiệp hệ Vừa làm vừa học ngày 26/06/2013
2
2 2.1 Thủ pháp nhận diện ẩn dụ của nhóm Pragglejaz 47
3 2.2 Các dạng thức ẩn dụ của nhóm Krishnakumaran & Zhu 49
4 2.3 Các dạng thức ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ 55
5 2.4 Thành phần cấu tạo của ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc DT I và tỷ lệ phân bố
66
6 2.5 Thành phần cấu tạo của ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc DT II và tỷ lệ phân bố
68
7 2.6 Thành phần cấu tạo của ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc DT III và tỷ lệ phân bố
69
8 2.7 Thành phần của biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ về Chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc theo DT IV và tỷ lệ phân bố
70
9 2.8 Thành phần của biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ về Chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc theo DT V và tỷ lệ phân bố
72
10 2.9 Kết quả thống kê các dạng thức ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa 72
Trang 4Stt Số hiệu Tên bảng biểu Trang
phân biệt chủng tộc
11 2.10 Kết quả thống kê các nguyên do của ẩn dụ tri nhận về Chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc
90
12 2.11 Kết quả thống kê các loại ẩn dụ về Chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc theo chức năng tri nhận
16 3.4 Miền nguồn “sức mạnh của tự nhiên” đƣợc dùng để diễn đạt
ý niệm chiến tranh
21 4.5 Đọc hiểu ý nghĩa tổng thể của văn bản diễn thuyết chính trị
“Hillary's Remarks at the Montana Democratic Party Mansfield-Metcalf Dinner in Butte, MT” (05/04 2008)
157
22 4.6 Đặc điểm nhân học của sinh viên tham gia cuộc khảo sát 166
23 4.7 Các hoạt động liên quan đến việc khảo sát trực tiếp trên lớp
học thí điểm Quy trình dịch ẩn dụ
168
24 4.8 Thông tin về thành phần Ban đánh giá bài kiểm tra khảo sát 169
Trang 5Stt Số hiệu Tên bảng biểu Trang
25 4.9 Kết quả điểm trung bình cộng của sinh viên trong ba bài
28 4.12 Kết quả xếp loại phần dịch ẩn dụ của Bài kiểm tra 1 và bài
kiểm tra 2
173
29 4.13 Các bản dịch ẩn dụ của sinh viên trong Bài kiểm tra 3 175
30 4.14 Kết quả xếp loại phần dịch ẩn dụ trong Bài kiểm tra 3 176
Trang 6DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
2 DMC different mapping conditions (các điều kiện ánh xạ khác nhau)
4 MIP metaphor identification procedure (thủ pháp nhận diện ẩn dụ)
5 MTP metaphor translation pattern (mô hình dịch ẩn dụ)
6 SMC similar mapping conditions (các điều kiện ánh xạ giống nhau)
7 TP.HCM thành phố Hồ Chí Minh
9 VBDTCT văn bản diễn thuyết chính trị
Trang 70.3.2 Nghiên cứu ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị 8
Trang 81.1 VĂN BẢN DIỄN THUYẾT CHÍNH TRỊ 17
1.1.2 Xác định phạm vi “văn bản diễn thuyết chính trị” 18
1.1.4 Phong cách ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết chính trị 20
1.2.2.2 Ánh xạ và sự phóng chiếu giữa miền nguồn và miền đích 26
2.2 ĐIỂN CỨU NHẬN DIỆN ẨN DỤ VỀ CHỦ NGHĨA PHÂN BIỆT
Trang 92.2.1 Nhận diện ẩn dụ ngôn ngữ về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng
2.2.1.1 Ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng thức I 65
2.2.1.2 Ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng thức II 67
2.2.1.3 Ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng thức III 68
2.2.1.4 Ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng thức IV 69
2.2.1.5 Ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo dạng thức V 71
2.2.1.6 Kết quả phân tích ẩn dụ ngôn ngữ về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
2.2.2 Nhận diện ẩn dụ tri nhận về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo nguyên do
2.2.2.1 Ẩn dụ tri nhận có nguyên do tương liên trong trải nghiệm 73
2.2.2.2 Ẩn dụ tri nhận có nguyên do tương đồng cấu trúc lĩnh hội 78
2.2.2.3 Ẩn dụ tri nhận có nguyên do nguồn gốc sinh học và văn hóa 85
2.2.2.4 Kết quả phân tích ẩn dụ tri nhận về Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
CHƯƠNG 3: ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT
3.1 CÁC MIỀN Ý NIỆM THÔNG DỤNG CỦA ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG
3.2 SỰ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU THÀNH ẨN DỤ TRI
3.2.2 Tận dụng hiệu quả các chức năng tri nhận của ẩn dụ 104
3.2.3 Xây dựng những hình ảnh giàu hình tượng dựa vào bản chất của ẩn dụ 107
Trang 103.2.4 Sử dụng linh hoạt ẩn dụ cấp độ khái quát và ẩn dụ cấp độ cụ thể 109
3.3 ĐIỂN CỨU ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ TỰ DO VÀ CHIẾN TRANH 111
3.3.2 Ẩn dụ tri nhận về Tự do và ẩn dụ tri nhận về Chiến tranh 114
3.3.3 Kết quả phân tích các đặc trưng của ẩn dụ tri nhận về Tự do và ẩn dụ tri
CHƯƠNG 4: DỊCH ẨN DỤ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT CHÍNH TRỊ
TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT VÀ ĐIỂN CỨU ẨN DỤ VỀ XUNG
4.1 XÁC LẬP QUY TRÌNH DỊCH ẨN DỤ TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 131
4.1.2 Điển cứu đối chiếu ẩn dụ tiếng Anh về Xung đột chính trị và Chính sách
chính trị trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ với các bản dịch tiếng Việt 136 135
4.1.2.2 Kết quả phân tích các tương đương dịch theo quan điểm tri nhận 139
4.1.3 Đề xuất quy trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt theo quan điểm
4.2 KHẢO SÁT KẾT QUẢ ỨNG DỤNG QUY TRÌNH DỊCH ẨN DỤ TỪ
Trang 11KẾT LUẬN 179
Trang 12MỞ ĐẦU
0.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ẩn dụ có một tầm quan trọng đặc biệt trong giao tiếp và trong đời sống của
con người nói chung “Nếu không có hệ thống ẩn dụ thì không thể có triết lý hóa, lý
thuyết hóa mà chỉ có đôi chút hiểu biết chung về đời sống cá nhân và xã hội thường ngày của chúng ta mà thôi.” (Lakoff 1995: 229) [92] Nhiều số liệu thống kê đã cho
thấy tính phổ biến của ẩn dụ: trong một đoạn văn thường có đến năm hay sáu ẩn dụ
(Pinker 2007: 235) [110], cứ 7,5 đơn vị từ vựng trong Kho Ngữ liệu Quốc gia Anh (the British National Corpus) thì có một đơn vị liên quan đến cấu trúc ánh xạ ẩn dụ
(metaphorical mapping structure) (Steen & các đồng tác giả 2010: 765 – 796) [125], khi nói ra khoảng 10 đến 20 từ thì có thể chúng ta phải dùng đến một ẩn dụ, hay khoảng sáu ẩn dụ trong vòng một phút (Geary 2011: 5 – 7) [69]
Tuy ẩn dụ có một vai trò quan trọng và phổ biến như vậy, nhưng nhận diện và nắm bắt được ý nghĩa của ẩn dụ không phải là vấn đề đơn giản, nhất là ẩn dụ trong một ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ, vì ẩn dụ không những chịu ảnh hưởng bởi qui luật nhận thức mà còn bị chi phối bởi đặc điểm loại hình ngôn ngữ và thể hiện đặc trưng văn hóa của cộng đồng người bản ngữ Chẳng hạn, ẩn dụ trong tiếng Anh (thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết, biến hình và văn hóa phương Tây) và tiếng Việt (thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình và văn hóa phương Đông) có những khác biệt rất đa dạng Những khác biệt đó đặt ra những thách thức lớn đối với người Việt học tiếng Anh hay người Anh học tiếng Việt
Là giảng viên dạy tiếng Anh chuyên ngữ, chúng tôi nhận thấy ẩn dụ chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các giáo trình và ngày càng đa dạng, phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống chính trị và xã hội Tuy nhiên, các phương pháp nhận diện ẩn dụ, diễn giải ý nghĩa, và chuyển dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt chưa được đề cập một cách hệ thống và đầy đủ Nhiều sinh viên còn gặp khó khăn trong viê ̣c xác định đúng ẩn dụ và hiểu được hàm ý của ẩn dụ, cũng như chưa đạt đến mức độ uyển chuyển, tự nhiên trong thao tác dịch ẩn dụ
Trang 13Chẳng hạn, trong chương trình đào tạo chuyên ngành Ngữ văn Anh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh, ẩn dụ là một phần quan trọng trong môn học English Semantics (Ngữ nghĩa
học tiếng Anh): Các đề thi giữa kỳ, cuối kỳ và nhất là tốt nghiệp, sinh viên thuộc các hệ đào tạo – Chính qui, Văn bằng 2, Hoàn thiện, Vừa làm vừa học – đều được yêu cầu tìm và phân tích ít nhất một câu có sử dụng ẩn dụ Nhiều sinh viên chưa làm tốt phần thi này Có thể thấy rõ qua kết quả khảo sát thống kê phần nhâ ̣n diê ̣n
biê ̣n pháp tu từ và giải thích ý nghĩa của ẩn dụ trong câu He attacked every weak
point in my argument (Anh ta tấn công mọi điểm yếu trong lập luận của tôi) trong
đề thi tốt nghiệp môn Linguistics (Ngôn ngữ học) của hệ đào tạo Vừa làm vừa học
trong năm 20131
Kết quả
nhận diện
Số lượng sinh viên Tỷ lệ
Mức độ không nhận diện được và không diễn giải đúng ẩn dụ khá cao: Ở góc độ
ngôn ngữ, gần hai phần năm số sinh viên (36.7%) không có khả năng nhận diện ra
ẩn dụ qua biểu thức attacked every weak point in my argument trong câu này; ở góc
độ tri nhận, gần bốn phần năm (79.5%) hoàn toàn không hiểu được hệ thống ẩn dụ:
ARGUMENT IS WAR (TRANH LUẬN LÀ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH), để từ
đó xác định đúng ánh xạ và liên tưởng đến hình ảnh phóng chiếu phù hợp trong ngữ
cảnh này để có thể hiểu đúng hàm ý của ẩn dụ là strongly criticized every weak point
in my argument (chỉ trích/ phê bình các điểm yếu trong lập luận của tôi)
1 theo thống kê của chuyên viên về đảm bảo chất lượng của Khoa Ngữ văn Anh, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Ẩn dụ còn là một vấn đề khó trong các môn học dịch Anh – Việt Chẳng hạn,
trong đề thi cuối học phần môn Basic Translation (ngày 29/12/2011) dành cho sinh viên năm thứ 3, hệ Chính quy của Khoa Ngữ văn Anh, có câu The idea that the
family is a stable and cohesive unit in which father serves as economic provider and
mother serves as emotional care giver is a myth Gần 90% sinh viên không dịch
đúng được từ myth vì không hiểu rõ được phương thức chuyển nghĩa thông qua ẩn
dụ a myth trong câu và đã sử dụng nghĩa gốc trong từ điển là “câu chuyện hoang
đường” Câu này nên dịch (theo đáp án gợi ý) là: “Ý tưởng về một gia đình bền vững và gắn bó trong đó người cha giữ vai trò trụ cột về kinh tế còn người mẹ lo
lắng đời sống tình cảm ngày nay đã không còn nữa.” Ngoài ra, còn có thể sử dụng
một ẩn dụ tương đương trong tiếng Việt và dịch thành: “Ý tưởng về một gia đình bền vững và gắn bó trong đó người cha giữ vai trò trụ cột về kinh tế còn người mẹ
lo lắng đời sống tình cảm ngày nay chỉ là chuyện đời xưa mà thôi.” (cách dịch đề
xuất của chúng tôi)
Như vậy, xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy cần phải có một nghiên cứu thấu đáo để tìm ra phương pháp hữu hiệu trong việc nâng cao kiến thức về ẩn dụ cho sinh viên
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ẩn dụ trong nhiều loại văn bản thuộc các lĩnh vực văn học, khoa học, pháp luật, và nhiều lĩnh vực khác của đời
sống văn hóa – xã hội Đặc biệt, lĩnh vực chính trị, nghệ thuật của sự cầm quyền
và quyền lực (Từ điển Longman Dictionary of Contemporary English) (Gasby
2001) [68], luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội trong bất kỳ thời đại nào Để thành công trong lĩnh vực này, các diễn giả đều cần phải có những lập luận diễn đạt hiệu quả những ý tưởng chính trị trừu tượng về các vấn đề xã hội như kinh tế, thuế khóa, giáo dục, y tế, quân sự, phúc lợi, tội phạm… Những nghiên cứu
về ngôn ngữ từ thời Aristotle xa xưa cho đến thời Lakoff hiện đại đã cho thấy ẩn dụ không chỉ là một công cụ để tăng hiệu quả hay hương vị trong lập luận mà còn là một đối tượng nghiên cứu quan trọng của khoa học nhận thức Thông qua các văn bản diễn thuyết, các diễn giả đã góp phần xây dựng các lý thuyết về tâm trí của con
Trang 15người Nghiên cứu về ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị (VBDTCT) trên
thế giới, đặc biệt là những ẩn dụ liên quan đến tư tưởng chính trị, đã trở thành mối quan tâm của nhiều người
Tiếp nối hướng nghiên cứu đó, luận án của chúng tôi tập trung vào một đề tài cụ thể hơn: “Ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ và việc dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt” Các VBDTCT của Mỹ (một nước sử dụng tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ) có tần suất sử dụng ẩn dụ rất cao Việc phân tích ẩn dụ trong loại văn bản đặc thù này và đối chiếu với những cách diễn đạt tương ứng trong tiếng Việt sẽ phục vụ đắc lực cho việc
dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng cho người Việt Nam Hướng
nghiên cứu này cũng góp phần soi sáng một số khía cạnh trong cách thức tri nhận thế giới của người Mỹ và người Việt, đào sâu thêm một số vấn đề về văn hóa ngôn ngữ
0.2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
0.2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ và việc dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt” nhằm:
(1) Nghiên cứu các ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ;
(2) Nghiên cứu các chiến lược chuyển dịch những ẩn dụ này từ tiếng Anh sang tiếng Việt để có thể xây dựng một quy trình dịch ẩn dụ một cách khoa học và hệ thống
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu, luận án lần lượt tiến hành các nhiệm vụ sau:
(1) Xác lập quy trình nhận diện ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ;
(2) Phân tích đặc trưng của ẩn dụ tri nhận và các hệ thống ẩn dụ tri nhận hình thành và chi phối các lập luận trong VBDTCT Mỹ;
(3) Xác lập các chiến lược dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu các ẩn dụ nguyên tác trong VBDTCT Mỹ và bản dịch của các dịch giả Việt Nam
0.3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
0.3.1 Nghiên cứu ẩn dụ nói chung
Lịch sử nghiên cứu ẩn dụ trên thế giới đã trải qua hai giai đoạn chính là giai
Trang 16đoạn tiền tri nhận và giai đoạn tri nhận hiện nay
0.3.1.1 Giai đoạn tiền tri nhận
Từ xa xưa, Aristotle đã đưa ra một quan niệm kinh điển về ẩn dụ, coi ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi và chia ẩn dụ ra bốn loại: chuyển từ loài sang loài, chuyển từ chủng sang loài, chuyển từ loài sang chủng và tương suy (analog) Aristotle (1996, 2008) đã hình thành truyền thống phân tích ẩn dụ theo nguyên tắc so
sánh và thay thế qua hai tác phẩm Poetics [39] và The Art of Rhetoric [40] Kể từ đó,
nghiên cứu ẩn dụ chứng kiến nhiều quan điểm khác nhau về khả năng sử dụng ẩn dụ (Trần Văn Cơ 2009: 58 – 84) [35]
Ngoài Aristotle, quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ còn có những đại diện tiêu biểu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như nhà triết học Wittgenstein (1953, 1969) [133 & 134], nhà tâm lý học Davidson (1984) [56], và các nhà ngôn ngữ học Richards, Haas, Black (dẫn theo Cruse 2000: 202 – 203) [54]…
Ở Việt Nam, quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ cũng có một lịch sử khá dài lâu
Ẩn dụ đã được định nghĩa và giải thích trong các giáo trình về từ vựng học và phong cách học tiếng Việt của nhiều tác giả như Nguyễn Văn Tu (1960) [28], Nguyễn Lân (1966) [21], Cù Đình Tú (1983) [3], Đào Thản (1988) [5], Đinh Trọng Lạc (1994) [6], Đỗ Hữu Châu (1996) [8], Nguyễn Thiện Giáp (1999) [24] Các tác giả này tuy đưa ra nhiều kiểu loại ẩn dụ với các tên gọi khác nhau theo phương thức
so sánh liên quan đến thuộc tính, hình thức, màu sắc, phẩm chất, chức năng nhưng
họ đều đề cập đến ẩn dụ như một phương thức chuyển nghĩa của từ hay biện pháp
tu từ, được dùng phổ biến nhất trong các tác phẩm văn học
Có thể thấy các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong giai đoạn này có những cách nhìn nhận khác nhau về các khía cạnh của ẩn dụ nhưng đều chia sẻ một điểm chung căn bản: Ẩn dụ là một hiện tượng ngôn ngữ (phương thức chuyển nghĩa của
từ hay biện pháp tu từ), lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa trên những tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng đó
0.3.1.2 Giai đoạn tri nhận
Từ cuối thế kỷ 20, với sự ra đời công trình nghiên cứu Metaphors We Live by
Trang 17(Chúng ta sống bằng ẩn dụ) của Lakoff & Johnson (1980) [95], ẩn dụ được xem xét
từ một góc độ mới – góc độ của tri nhận luận, theo đó ẩn dụ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ mà còn là phương thức tư duy Với phạm trù cốt lõi là ẩn dụ tri nhận/ ẩn
dụ ý niệm, công trình này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nghiên cứu ẩn dụ, làm thay đổi sâu sắc quan niệm về ẩn dụ từ trước tới thời điểm bấy giờ:
Ẩn dụ không chỉ là phương thức chuyển nghĩa cơ bản của từ hay là hiện tượng tu
từ, mang ý nghĩa thi ca, được sử dụng nhiều trong văn học mà còn phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Có thể nói quan niệm ẩn dụ theo tri nhận luận đã thực sự tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực nghiên cứu này
Đồng hành với Lakoff và Johnson, có rất nhiều nhà khoa học đại diện cho hướng tiếp cận ẩn dụ theo quan điểm tri nhận đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, ngôn ngữ học, tâm lý học như Goatly (1997, 2007) [74 & 75], Gibbs (1984, 1993) [71
& 72], Fauconnier & Turner (1995, 1998) [64 & 65], Jackendoff (1983, 1992) [85 & 86], Kövecses (1999, 2010) [88 & 89], Langacker (1991) [98], Rosch (1973, 1978) [117
& 118], Shore (1996) [122], Steen (1994) [124]
Theo Lakoff & Johnson (1980: 8) [95], hệ thống ý niệm thường nhật của con người, thông qua đó mà con người tư duy và hành động, thực chất đều mang tính ẩn
dụ Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu ẩn dụ tri nhận/ ẩn dụ ý niệm đã được tiến hành ở nhiều khía cạnh và trên cứ liệu của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, hình thành
nên Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory): Gibbs (1993) [72] bàn
về sự phân biệt giữa ẩn dụ như là một sản phẩm và ẩn dụ như là một quá trình để tìm hiểu sự khác nhau giữa ẩn dụ khi được dùng trong một văn bản và ẩn dụ khi được kích hoạt trong tư duy; Steen (1994) [124] đưa ra sự phân biệt giữa ẩn dụ ở cấp độ
hệ thống (ngôn ngữ hay tư duy) và ẩn dụ ở cấp độ sử dụng (trong ngôn ngữ cá nhân hay trong tư duy cá nhân); Shore (1996) [122] đưa ra các mô hình ẩn dụ như là những kiểu loại của mô hình văn hóa được chia sẻ bởi các thành viên của một cộng đồng văn hóa theo nhiều mức độ; Kövecses (1999) [88] bảo vệ quan điểm cho rằng nhiều ý niệm trừu tượng chỉ có thể phát sinh qua sự hiểu biết mang tính ẩn dụ; Goatly (2007) [75] nghiên cứu mối quan hệ giữa ẩn dụ ý niệm và tư tưởng;
Trang 18Kövecses (2010) [89] cung cấp một cái nhìn toàn diện về các thành tựu mới trong nghiên cứu ẩn dụ tri nhận qua hơn hai mươi năm phát triển và xem xét tính khả thi của lý thuyết ẩn dụ tri nhận trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội
Ở Việt Nam, có thể nói hướng nghiên cứu mới này được giới thiệu lần đầu
tiên qua bài báo Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian vào năm 1994 của Lý Toàn
Thắng [13] Đến đầu thế kỷ 21, xuất hiện ngày càng nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ẩn dụ trên góc độ tri nhận luận như một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển mạnh mẽ của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới: Lý Toàn Thắng (2005) [14] đề cập đến lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và việc áp dụng vào thực tiễn tiếng Việt; Nguyễn Đức Tồn (2007) [18] so sánh các quan niệm về ẩn dụ giai đoạn tiền tri nhận và giai đoạn tri nhận trên thế giới và Việt Nam, từ đó đưa ra các nhận định về bản chất của ẩn dụ; Nguyễn Văn Hiệp (2008) [27] đề cập đến cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đối với vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu
tả cú pháp; Trần Văn Cơ (2009) [35] điểm qua các thành tựu nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận trên thế giới và khái quát lại toàn bộ các khái niệm công cụ để tìm hiểu ẩn dụ tri nhận trong tiếng Việt
Từ đây, Việt ngữ học có sự phát triển mạnh theo hướng ứng dụng lý thuyết mới của ngôn ngữ học tri nhận vào từng mảng ngôn ngữ cụ thể, chẳng hạn như tục ngữ, thơ ca, và với các chủ đề tri nhận cụ thể như thời gian, không gian, tình yêu…
qua các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành: Nguyễn Đức Tồn (2009) [19]
đề cập đến ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ tiếng Việt; Nguyễn Lai (2009) [20] khảo
sát một số ẩn dụ ý niệm về thơ ca; Nguyễn Đức Dân (2009) [16] tìm hiểu cách tri
nhận thời gian của người Việt
Các quan điểm theo tri nhận luận đều cho rằng: Ẩn dụ là kết quả của sự kết hợp ngôn ngữ văn hóa trong quá trình tư duy của con người trong một cộng đồng văn hoá cụ thể; ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận là việc hiểu một miền ý niệm thông qua một miền ý niệm khác Các nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận rất đa dạng, từ cấp độ
hệ thống cho đến cấp độ sử dụng cụ thể trong giao tiếp ngôn ngữ ở nhiều lĩnh vực
Trang 190.3.2 Nghiên cứu ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị
Mio (1997: 111 – 114) [105] cho rằng kể từ thập niên 1970 các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và các nhà lý luận chính trị đã bắt đầu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giao tiếp chính trị và quan tâm đến vai trò của ẩn dụ – công cụ thuyết phục – trong giao tiếp chính trị Tuy nhiên, trong giai đoạn tiền tri nhận chỉ có một vài công trình nghiên cứu đáng kể và họ cũng chỉ đề cập sơ lược đến ẩn dụ trong giao tiếp chính trị, chẳng hạn: Edelman (1964, 1977) coi cốt lõi của giao tiếp chính trị là khả năng các nhà hoạt động chính trị sử dụng ẩn dụ và hình tượng để đánh thức những xu hướng tiềm tàng trong dân chúng; Ortony (1975) bàn luận về tầm quan trọng của ẩn dụ trong việc chuyển tải nhiều thông tin chính trị một cách chính xác
Trên thế giới, các nghiên cứu ẩn dụ trong VBDTCT theo tri nhận luận rất đa dạng Một số công trình tiêu biểu là: Lakoff (1999) [93] nghiên cứu hệ thống tư duy mang tính ẩn dụ qua các ẩn dụ về cuộc chiến Vùng vịnh và cuộc chiến Kosovo; Paris (2002) [109] phân tích các bài diễn văn tranh luận về cuộc chiến Kosovo giữa các chính trị gia Mỹ và cho thấy tư tưởng chính trị được thể hiện rõ qua các ẩn dụ
tri nhận về chiến tranh, nhấn mạnh vai trò của ẩn dụ là giúp tăng kiến thức về các
trải nghiệm chính trị của Mỹ và thế giới xung quanh, và các chính trị gia có khuynh hướng sử dụng ẩn dụ rất sáng tạo theo phong cách riêng dựa vào những tham khảo trực tiếp hay gián tiếp từ các trải nghiệm lịch sử trước đó; Charteris-Black (2005) [49] phân tích thuật hùng biện trong các bài diễn văn của các chính trị gia lớn của Anh và Mỹ, trong đó ẩn dụ được sử dụng một cách hệ thống để tạo ra những điển tích chính trị đề cập đến những quái vật, những nhân vật phản diện và những nhà lãnh đạo anh hùng trong lĩnh vực này; Urbonait & Šeškauskien (2007) [128] tìm
hiểu các biểu hiện ngôn ngữ của ẩn dụ tri nhận liên quan đến ý niệm sức khỏe khi
đề cập đến các khó khăn về kinh tế, chính trị và so sánh tần suất sử dụng ẩn dụ này trong các văn bản diễn thuyết chính trị và kinh tế tiếng Anh và tiếng Lithuania cũng như sự tác động của các đặc điểm văn hóa trong tri nhận; Landtsheer, Vries & Vestessen (2008) [97] chứng minh tần suất sử dụng ẩn dụ cao hơn nhiều trong ngôn ngữ chính trị vào thời điểm bầu cử, thời điểm mà sức biểu cảm đóng một vai trò cực
Trang 20kỳ then chốt; và Mensah (2011) [104] phân tích vai trò của ẩn dụ trong các bài diễn văn của Martin Luther King Jr (nhà lãnh tụ da đen vĩ đại của Mỹ) và Kwame Nkrumah (Tổng thống đầu tiên của Ghana), so sánh và lý giải những tương đồng, dị biệt trong cách sử dụng ẩn dụ với các miền ý niệm tôn giáo và quân sự
Có thể thấy một khuynh hướng nghiên cứu ẩn dụ trong VBDTCT đi từ các vấn đề khái quát, căn bản nhất về sự hiện diện của ẩn dụ trong giao tiếp chính trị trong giai đoạn tiền tri nhận đến các vấn đề khá chuyên biệt trong giai đoạn tri nhận, chẳng hạn: nghiên cứu về hệ thống ẩn dụ tri nhận liên quan đến ý niệm sức khỏe, tôn giáo, quân sự…; phân tích cách sử dụng ẩn dụ của một đảng/ chính trị gia cụ thể hay so sánh cách sử dụng ẩn dụ giữa hai đảng/ chính trị gia cụ thể; phân tích tư duy
ẩn dụ trong các lập luận chính trị; phân tích phong cách ngôn ngữ cá nhân trong sử dụng ẩn dụ
Còn ở Việt Nam, tuy hướng nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Anh (đôi khi một ngôn ngữ khác, không phải là tiếng Anh) và tiếng Việt trên góc độ tri nhận luận được nhiều tác giả quan tâm và ngày càng có khuynh hướng chuyên biệt hơn
nhưng ẩn dụ trong VBDTCT vẫn còn là một vấn đề mới: Nguyễn Đức Tồn (2002)
[17] đề cập vấn đề chuyển nghĩa theo hướng lý thuyết tâm lý – ngôn ngữ học tộc người thông qua so sánh với cách liên tưởng của người Việt với người Nga và người Anh, cũng như thông qua việc tìm hiểu đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong việc định danh động vật, định danh thực vật, định danh bộ phận cơ thể người của người Việt qua các lớp từ chỉ tên gọi thực vật và lớp từ chỉ bộ phận cơ thể người; Trần Thị Thanh Hải và các đồng tác giả (2009) [33] đối chiếu phép ẩn dụ trong văn bản kinh tế thương mại tiếng Anh và tiếng Việt trên góc độ tri nhận luận; Ly
Lan (2009) [12] đối chiếu cách thể hiện tình cảm qua lớp từ chỉ các bộ phận cơ thể từ
góc nhìn tri nhận của người Anh và người Việt; Phan Văn Hòa và Nguyễn Thị Tú
Trinh (2010) [30] đối chiếu ẩn dụ ý niệm về cuộc đời, cái chết và thời gian thể hiện
trong thơ ca tiếng Anh và tiếng Việt qua hơn 1000 mẫu thơ ngắn, khám phá những khác biệt về văn hóa ẩn chứa trong hai ngôn ngữ Anh và Việt; Nguyễn Thị Quyết
(2012) [23] đối chiếu ẩn dụ ý niệm về cuộc đời trong thơ tiếng Anh và tiếng Việt…
Trang 21Đặc biệt, ở Việt Nam cho đến nay đã có một số luận án Ngữ văn có phạm vi
nghiên cứu liên quan đến ẩn dụ trong tiếng Anh và tiếng Việt, tiêu biểu như: Phan Thế Hưng (2008) [29] bước đầu tìm hiểu ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ tri nhận qua các cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, trong đó tập trung vào các ẩn dụ thể hiện sự tri nhận cảm xúc buồn, vui, nóng giận… của con người; Nguyễn Ngọc Vũ (2009) [22] phân tích các ẩn dụ ý niệm trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người; Võ Kim Hà (2011) [36] tìm hiểu cách diễn đạt ẩn dụ tiếng Việt (so sánh tiếng Anh và tiếng Pháp) từ hai nguồn báo chí và tác phẩm văn học; Hà Thanh Hải (2011) [10] tìm hiểu các phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh Việt; Nguyễn Văn Hán (2012) [26] bàn
về vấn đề định vị thời gian trong thơ văn tiếng Việt trên cơ sở ý niệm và có so sánh với tiếng Anh; Trần Thị Phương Lý (2012) [32] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh); và Trần Bá Tiến (2012) [31] khảo sát thành ngữ biểu thị trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Anh và tiếng Việt thuộc 5 phạm trù tình cảm: tức giận, vui, buồn, sợ, xấu hổ
Các luận án trên tập trung vào phân tích ẩn dụ trong một phạm vi giới hạn, chẳng hạn ẩn dụ chỉ thời gian, ẩn dụ chỉ cảm xúc của con người hay có liên quan đến lớp từ chỉ bộ phận cơ thể người, thực vật… với cứ liệu khảo sát chủ yếu là văn bản báo chí và văn học Một số tác giả có đề cập nhưng chưa đi sâu vào việc xây dựng các mô hình cụ thể trong dịch ẩn dụ
Việc miêu tả, phân tích ẩn dụ trong loại VBDTCT tiếng Anh, xác lập những cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt, từ đó xây dựng quy trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt là hướng nghiên cứu chưa từng được thực hiện
0.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận án là:
(1) Các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ;
(2) Các hệ thống ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ xét trên góc độ tri nhận luận;
(3) Các chiến lược dịch ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ từ tiếng Anh sang tiếng Việt
Trang 22Luận án tập trung nghiên cứu các ẩn dụ liên quan đến giá trị nền tảng của hệ
thống chính trị Mỹ – Giấc mơ Mỹ 2 với các vấn đề hữu quan như: chế độ phân biệt chủng tộc, tự do, chiến tranh, xung đột chính trị và chính sách chính trị
0.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
0.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản và thông dụng trong ngôn ngữ học:
(1) Phương pháp mô tả (descriptive method) được dùng để mô tả các hình thức
biểu hiện của ẩn dụ trong VBDTCT tiếng Anh của Mỹ và những đặc trưng của ẩn
dụ trong loại văn bản đặc thù này; mô tả các chiến lược dịch ẩn dụ để xác định các nguyên tắc và mô hình dịch ẩn dụ; mô tả kết quả khảo sát năng lực dịch ẩn dụ của người học trước và sau khi học quy trình dịch ẩn dụ đề xuất Phương pháp mô tả được vận dụng cụ thể như sau:
Xử lý ngữ liệu ẩn dụ từ các VBDTCT tiếng Anh của Mỹ ở chương 2 và chương 3
Kế thừa các nhà ngôn ngữ học đi trước như Cameron & Low (1999) [45], Deignan (2003) [58], và Charteris-Black (2005) [49], chúng tôi tiến hành các bước theo trình tự:
Đọc các VBDTCT Mỹ trong nguồn ngữ liệu đã được chọn lọc để xác định các biểu thức ngôn ngữ có sử dụng ẩn dụ;
Nhóm các ẩn dụ tìm được theo chủ đề chính trị/ hệ thống tri nhận phù hợp để miêu tả;
Phân tích và khái quát hóa các đặc trưng của ẩn dụ trên góc độ tri nhận luận
Xử lý ngữ liệu từ các bản dịch tiếng Việt ở chương 4
Chúng tôi tiến hành:
2 Khái niệm “Giấc mơ Mỹ” sẽ được chúng tôi đề cập chi tiết trong mục 1.4, tr.43.
Trang 23 Đọc bản dịch tiếng Việt của các bài diễn thuyết có sử dụng ẩn dụ để xác định tương đương dịch của các ẩn dụ này;
Nhóm các tương đương dịch có sử dụng cùng chiến lược dịch giống nhau để miêu tả;
Phân tích và khái quát hóa các nguyên tắc và mô hình dịch thể hiện qua các chiến lược dịch
Xử lý dữ liệu kết quả khảo sát về năng lực dịch ở chương 4
Chúng tôi tiến hành các bước đánh giá năng lực dịch ẩn dụ của người học:
Tìm hiểu năng lực dịch ẩn dụ của người học qua Bài kiểm tra 1 – kiểm tra thí
điểm (pilot test);
Hướng dẫn quy trình dịch ẩn dụ đề xuất của luận án và tìm hiểu tính hiệu quả của quy trình này qua thống kê và phân tích kết quả đánh giá người học qua Bài kiểm
tra 2 – kiểm tra so sánh (benchmarked test);
Mô tả các vấn đề phát sinh qua thống kê và phân tích kết quả đánh giá năng lực
dịch ẩn dụ của người học qua Bài kiểm tra 3 – kiểm tra chuẩn đoán (diagnose test)
(2) Phương pháp đối chiếu (contrastive method) so sánh các ẩn dụ nguyên tác
tiếng Anh trong các VBDTCT Mỹ với những tương đương dịch của chúng trong các bản dịch tiếng Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ khi biểu đạt cùng một ý tưởng Đây là cách tiếp cận đối chiếu một chiều (directional contrastive study) trong đó tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ xuất phát và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích
Đối với vấn đề ẩn dụ trong VBDTCT, có thể có cách tiếp cận đối chiếu hai chiều (bi-directional contrastive study) Theo đó, không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ xuất phát hay ngôn ngữ đích Và việc đối chiếu có nhiệm vụ xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa ẩn dụ trong VBDTCT của các nhà hoạt động chính trị và xã hội Mỹ (viết bằng tiếng Anh) và ẩn dụ trong VBDTCT của các nhà hoạt động chính trị và xã hội Việt Nam (viết bằng tiếng Việt) Tuy nhiên, do những hạn chế của ngữ liệu ẩn dụ trong VBDTCT viết bằng tiếng Việt và do mục tiêu nghiên cứu đối chiếu của luận án là phục vụ cho việc dạy học tiếng Anh cho người
Việt, nên chúng tôi chọn cách tiếp cận chủ đạo là đối chiếu một chiều
Trang 24Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng một số phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội nói chung:
(3) Phương pháp điển cứu (nghiên cứu trường hợp điển hình) (case study method)
được dùng để tập trung nghiên cứu các ẩn dụ về một chủ đề chính trị đặc trưng: Hai
điển cứu trong chương 2 và chương 3 là các điển cứu minh họa (illustrative case
study) mang tính mô tả, nhằm phân tích các ví dụ ẩn dụ cụ thể về chủ đề nghiên cứu
để có thể giải thích các vấn đề về nhận diện ẩn dụ và phân tích đặc trưng của ẩn dụ
trong VBDTCT Mỹ; điển cứu 3 là điển cứu thăm dò (exploratory case study) mang
tính mô tả, nhằm mục đích đưa ra các giả thuyết làm cơ sở cho việc xây dựng các mô hình dịch ẩn dụ
(4) Phương pháp thống kê (statistical method) được dùng để xử lý số liệu với
việc ứng dụng phần mềm SPSS 13.0 nhằm đánh giá tần suất của các dạng thức ẩn
dụ, các chiến lược dịch ẩn dụ, điểm số của ba bài kiểm tra thử nghiệm và độ chênh lệch điểm số giữa các bài kiểm tra
0.5.2 Nguồn ngữ liệu
Chúng tôi đã phân tích 127 VBDTCT Mỹ để xác định các biểu thức ngôn ngữ
ẩn dụ và các hệ thống ẩn dụ tri nhận Toàn bộ các dẫn chứng có sử dụng ẩn dụ được phân tích cụ thể trong phần chính văn và các dẫn chứng bổ sung trong phần phụ lục của luận án, cũng như các thông tin liên quan được sử dụng trong quá trình phân tích đều có xuất xứ Ngữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được tổng hợp từ các nguồn sau:
(1) Các bài diễn thuyết nổi tiếng của Mỹ trong cuốn Words of a Century: The Top
100 American Speeches, 1900 – 1999 (Lucas & Medhurst 2008) [101] Đây là bộ hợp
tuyển gồm 100 bài diễn thuyết hay nhất của Mỹ trong thế kỷ 20 được đọc/ phát biểu trên vô tuyến hay trực tiếp trước khán giả bởi những diễn giả nổi tiếng như Woodrow Wilson, Clarence Darrow, Carrie Chapman Catt, Martin Luther King, Ronald Reagan, John F Kennedy, Barbara Jordan Bộ hợp tuyển này được biên tập bởi hai trong số các nhà phê bình nổi tiếng nhất của Mỹ là Stephen E Lucas và Martin J Medhurst và được tuyển chọn theo hai tiêu chí: (1) có tính nghệ thuật, và (2) có tầm ảnh hưởng rộng lớn, thông qua một cuộc khảo sát gồm 137 học giả về giao tiếp
Trang 25(2) Một số bài diễn thuyết quan trọng của các nhà hoạt động chính trị và xã hội Mỹ đầu thế kỷ 21 thể hiện tính thời sự của thời đại và được đánh giá cao về mặt sử dụng
ngôn ngữ, được đăng tải trên http://www.americanrhetoric.com, trang web có số lượng
người xem rất cao
(3) Các bản dịch tiếng Việt trong cuốn Những bài diễn thuyết nổi tiếng nước Mỹ
do Hạ Dương Châu tuyển chọn, nhóm Cảnh Dương thực hiện dịch và Nhà xuất bản Công An Nhân dân phát hành năm 2009 [9] Các bản dịch này đã được hiệu đính và xuất bản theo phương thức chính thống nên có thể coi là đáng tin cậy hơn các bản dịch trên các trang mạng Internet
(4) Một số trích dẫn từ những phát biểu của các nhà hoạt động chính trị Việt Nam
và những văn bản khác trên báo chí Việt Nam đề cập đến các vấn đề chính trị có sử
dụng ẩn dụ (xem phụ lục 10, tr.187 – 190) Nhóm ngữ liệu này dùng để góp phần
soi sáng một số tương đồng và khác biệt nổi bật về văn hóa ngôn ngữ liên quan đến cách dùng ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ và Việt Nam Tuy nhiên, như đã nêu trên, đây không phải là cách tiếp cận chủ đạo của luận án
Ngoài ra còn có các thông tin liên quan được thu thập từ những nguồn đáng tin cậy khác như sách giáo khoa, từ điển, sách chuyên đề ngôn ngữ, các văn bản trên báo
chí và những đoạn thoại được ghi chép lại từ chương trình Online speech bank
(http://www.americanrhetoric.com) Tất cả các thông tin này được sử dụng như một nguồn tư liệu bổ sung quan trọng
Khi trích dẫn ngữ liệu, tên diễn giả và năm diễn thuyết được để trong ngoặc đơn Những cuộc diễn thuyết trong cùng một năm sẽ được ký hiệu theo thứ tự abc,
ví dụ: (Barack Obama 2008a) (xem phụ lục 9, tr.161 – 186)
0.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
0.6.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần nghiên cứu một cách hệ thống ẩn dụ trong một loại văn bản đặc thù là VBDTCT, hiện là một hướng nghiên cứu chưa được quan tâm nhiều tại Việt Nam, từ
đó xây dựng tiền đề cho các nghiên cứu về ẩn dụ trong VBDTCT tiếng Việt;
Xác lập quy trình nhận diện ẩn dụ với các thao tác mang tính hệ thống và khoa học;
Trang 26 Xác định đặc trưng của ẩn dụ tri nhận trên cứ liệu VBDTCT Mỹ, từ đó góp phần làm rõ những đặc trưng văn hóa ngôn ngữ trong tiếng Anh so với tiếng Việt
0.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác lập quy trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt với các mô hình dịch và các thủ thuật dịch phù hợp trên quan điểm tri nhận; thông qua việc đối chiếu các ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ với những cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt tìm ra các phương thức chuyển dịch hiệu quả, góp phần tháo gỡ những vướng mắc xuất hiện trong quá trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt;
Cung cấp ngữ liệu ẩn dụ để biên soạn tài liệu dạy học và khảo thí, phục vụ
thiết thực cho việc dạy học ngoại ngữ nói chung, và dạy học các môn English
Semantics (Ngữ nghĩa học tiếng Anh), English – Vietnamese Translation (Dịch
thuật Anh – Việt), Vietnamese – English Translation (Dịch thuật Việt – Anh), và
Public Speaking (Nói trước công chúng) nói riêng
0.7 BỐ CỤC LUẬN ÁN
Luận án có 1 hình vẽ, 30 bảng biểu Phần chính văn của luận án dài 191 trang,
bao gồm phần Mở đầu (16 trang), phần Kết luận (4 trang), và 4 chương chính với
nội dung như sau:
Chương 1 (29 trang) trình bày một số vấn đề lý thuyết liên quan đến VBDTCT,
các cách tiếp cận về ẩn dụ, và vấn đề dịch ẩn dụ Trên cơ sở đó, luận án có được một khung lý thuyết áp dụng cho việc nghiên cứu ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ và vấn đề dịch
những ẩn dụ này từ tiếng Anh sang tiếng Việt Ngoài ra, phạm trù Giấc mơ Mỹ trong
VBDTCT Mỹ được đề cập để từ đó giới hạn lại các chủ đề thành phần sẽ được đề cập trong các điển cứu ở ba chương tiếp theo
Chương 2 (47 trang) xác lập quy trình nhận diện ẩn dụ trong VBDTCT theo
cả hai cách tiếp cận: ngôn ngữ học tiền tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận và vận
dụng kết quả nhận diện để tiến hành một điển cứu ẩn dụ về Chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc
Trang 27 Chương 3 (38 trang) phân tích một số đặc điểm của ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ
theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận và tiến hành một điển cứu ẩn dụ tri nhận
về Tự do và Chiến tranh
Chương 4 (48 trang) trình bày kết quả thống kê và phân tích các chiến lƣợc
dịch ẩn dụ trong điển cứu đối chiếu các ẩn dụ nguyên tác liên quan đến hai ý niệm
xung đột chính trị và chính sách chính trị với bản dịch tiếng Việt Từ đó xác lập quy
trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học
tri nhận
Cuối phần chính văn còn có Danh mục các bài báo của tác giả (1 trang, gồm 6
đơn vị) và Danh mục tài liệu tham khảo (8 trang, gồm 134 đơn vị) Kèm theo văn
bản chính văn của luận án là cuốn Phụ lục dài 190 trang, bao gồm 10 tiểu phụ lục
Trang 28CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.6 VĂN BẢN DIỄN THUYẾT CHÍNH TRỊ
1.6.1 Văn bản và diễn ngôn
Có nhiều quan điểm khác nhau về sự phân biệt giữa văn bản (text) và diễn
ngôn (discourse) (Diệp Quang Ban 2012: 193 – 218) [4], nhưng trong khuôn khổ luận
án này, chúng tôi không có ý định đi sâu phân tích các quan điểm có thể có về sự phân biệt này mà chỉ lựa chọn một cách hiểu phù hợp với mục tiêu của luận án, lấy
đó làm xuất phát điểm cho những phân tích tiếp theo
Văn bản thường được nhìn nhận theo hai hướng theo cấu trúc và chức năng
giao tiếp (Richards & các đồng tác giả 1992: 378) [114]: hướng thứ nhất dựa vào quan điểm cho rằng bất kỳ văn bản ở dạng lời viết hay lời nói cũng chứa các từ ngữ, hay câu, được kết nối với nhau theo cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc ý nghĩa; hướng thứ hai đánh giá văn bản theo một tiêu chuẩn thuộc về chức năng trong đó một đơn vị giao tiếp được sản sinh ra với một mục đích cụ thể
Khác với văn bản, diễn ngôn là toàn bộ quá trình tương tác trong giao tiếp
trong đó văn bản là một phần của nó (Fairclough 1989: 24) [63]
Luận án tập trung vào VBDTCT, loại văn bản được viết ra để nói trong các
sự kiện chính trị Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Enkvist (1989: 360 – 370) [62] rằng trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, văn bản được xem là một chuỗi ký hiệu có nghĩa, thể hiện một chủ đề trọn vẹn, và để có một ý nghĩa nào đấy,
văn bản phải được thực hiện trong một ngữ cảnh xác thực cụ thể Còn diễn ngôn được hiểu bao gồm văn bản + ngữ cảnh Như vậy, văn bản và ngữ cảnh là hai nhân
tố của diễn ngôn Luận án cũng áp dụng quan điểm của Van Dijk (1998: 23) [131]
coi ngữ cảnh bao gồm cả những người tham gia vào giao tiếp, và vai trò, mục tiêu
của họ cũng như những kiến thức mà họ cùng chia sẻ
Trong luận án, “văn bản diễn thuyết chính trị” được dùng để nhấn mạnh đến
các yếu tố thuộc ngôn ngữ thể hiện nội dung diễn thuyết về các vấn đề chính trị Đó
Trang 29chính là trọng tâm nghiên cứu của luận án Tuy vậy, trong quá trình phân tích các yếu
tố ngôn ngữ của VBDTCT, đôi khi phải đề cập đến các yếu tố ngoài văn bản như bối cảnh xã hội của việc sản sinh và giải thuyết văn bản, mục đích sử dụng văn bản đó,
tức đề cập đến những vấn đề liên quan đến diễn ngôn nói chung
1.6.2 Xác định phạm vi “văn bản diễn thuyết chính trị”
Luận án sử dụng tên gọi “văn bản diễn thuyết chính trị” để nói đến loại văn
bản được chuẩn bị cho mục đích diễn thuyết trong các hoạt động chính trị như các buổi tranh cử, vận động cử tri, đại hội đảng, tranh luận quốc hội về các dự luật và chính sách VBDTCT là sản phẩm trong quá trình hoạt động của diễn giả chính trị, được sản sinh và trình bày trong bối cảnh tương tác xã hội với đối tượng tiếp nhận là các thành viên của các đảng phái chính trị cũng như người dân thuộc mọi thành phần trong xã hội
Các văn bản diễn thuyết trong luận án đề cập các vấn đề liên quan đến hệ thống chính trị Mỹ Diễn giả có thể là tổng thống, phó tổng thống, bộ trưởng, thượng nghị sĩ, thống đốc bang tham gia vào chính trường với tư cách là chính trị gia chuyên nghiệp; và những nhà lãnh đạo phong trào nhân quyền/ nữ quyền, nhà lãnh đạo công đoàn, nhà báo, luật sư, thành viên của các hiệp hội… tham gia vào các hoạt động chính trị Để thuận tiện trong diễn đạt, luận án sẽ gọi chung tất cả các
đối tượng này là diễn giả chính trị
Để hiểu rõ hơn loại văn bản này, cần phải hiểu thế nào “diễn thuyết chính trị”
và “phong cách ngôn ngữ” của nó
1.6.3 Diễn thuyết chính trị
Nghệ thuật diễn thuyết (oratory) là khả năng trình bày lời nói gây ảnh hưởng mạnh mẽ đối với xúc cảm và niềm tin của người khác trong những buổi nói chuyện
hay hội họp (Từ điển Oxford Advance Learners’ Dictionary) (Hornby 2005) [83]
Khái niệm nghệ thuật diễn thuyết xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại và có mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm thuật hùng biện (rhetoric) Thuật hùng biện là kỹ
năng sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả để thuyết phục người khác đồng ý với
nhà hùng biện/ người diễn thuyết/ diễn giả (orator/ rhetorican/ speaker) hay thực
Trang 30hiện những điều mà diễn giả mong đợi (Từ điển Oxford Advance Learners’
Dictionary) (Hornby 2005) [83] Có thể thấy hùng biện có mục đích tương tự như
diễn thuyết: thuyết phục đối tượng tiếp nhận Cho nên, mặc dù “diễn thuyết” và
“hùng biện” không phải là hai từ đồng nghĩa tuyệt đối nhưng nghệ thuật diễn thuyết vẫn hay được gọi là nghệ thuật hùng biện, còn người trình bày được gọi là nhà diễn thuyết hay nhà hùng biện
Theo Aristotle (2008: 10 – 11) [40], có ba loại phương thức thuyết phục người khác bằng lời nói: loại thứ nhất phụ thuộc vào tính cách cá nhân của diễn giả; loại thứ hai phụ thuộc vào việc hướng đối tượng tiếp nhận vào một trạng thái tâm sinh lý tại một thời điểm nào đó; loại thứ ba phụ thuộc vào việc chứng minh các luận điểm bằng những ngôn từ trong bản thân bài diễn thuyết Ông biện giải như sau: sức thuyết phục có được nhờ vào tính cách cá nhân của diễn giả khi trình bày bài diễn thuyết và làm cho diễn giả trở nên đáng tin cậy trong suy nghĩ của đối tượng tiếp nhận; sức thuyết phục cũng đi vào lòng đối tượng tiếp nhận khi bài diễn thuyết làm lay động tình cảm của họ; và sức thuyết phục chịu ảnh hưởng từ chính nội dung bài
diễn thuyết với những lập luận hết sức thuyết phục, chứng minh được lẽ phải
Theo Lucas (2007: iv) [100], nghệ thuật diễn thuyết bao gồm hai khâu chính
liên quan đến nhiều kỹ năng: (1) chuẩn bị bài diễn văn, bao gồm kỹ năng chọn đề
tài và mục đích, kỹ năng phân tích đối tượng, kỹ năng tổng hợp và chọn lọc thông tin,
kỹ năng tổ chức – cấu trúc bài diễn văn; (2) trình bày bài diễn văn, bao gồm kỹ
năng sử dụng ngôn từ, kỹ năng trình bày, kỹ năng sử dụng các phương tiện hình ảnh
Từ đó, chúng ta có thể thấy sự hiện diện của thuật hùng biện trong cả hai phần này, nhất là ở kỹ năng tổ chức – cấu trúc bài diễn văn và kỹ năng sử dụng ngôn từ
Như vậy, diễn thuyết là nghệ thuật dùng ngôn ngữ một cách hiệu quả để cung cấp thông tin và thuyết phục đối tượng tiếp nhận; là nghệ thuật nói trước công chúng sao cho trôi chảy, thể hiện sức mạnh biểu cảm qua sử dụng từ ngữ phù hợp với tâm lý và văn hóa của đối tượng tiếp nhận để có thể thu hút và thuyết phục họ Đặc biệt, lập luận trong văn bản diễn thuyết cần phải được thể hiện chặt chẽ và hợp
lý qua những phương thức dùng từ ngữ có hiệu quả
Trang 31Diễn thuyết chính trị là diễn thuyết diễn ra trong hoạt động chính trị, đề cập đến những vấn đề chính trị Hình thức của diễn thuyết chính trị dưới thời Aristotle là diễn thuyết trực tiếp trước đối tượng tiếp nhận – cách duy nhất để thực hiện hùng biện chính trị Trong thời hiện đại, ngoài diễn thuyết trực tiếp, các nhà hoạt động chính trị diễn thuyết qua nhiều kênh thông tin như đài phát thanh, truyền hình, Internet Các diễn giả chính trị đã tận dụng tối đa các thành tựu khoa học kỹ thuật này để tối ưu hóa hiệu quả hùng biện
1.1.4 Phong cách ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết chính trị
Năm yếu tố căn bản hình thành nên một bài diễn thuyết là tình huống (situation), nội dung (content), cấu trúc (structure), phong cách (style) và cách trình bày (delivery): bài diễn thuyết bao giờ cũng được thực hiện vào một thời điểm và tại một nơi chốn cụ thể; có mục đích cụ thể để trình bày trước một đối tượng khán/ thính giả cụ thể; phải chứa đựng các ý tưởng và lập luận sắp xếp theo một trật tự phù hợp và có những đặc điểm ngôn ngữ đặc biệt; được truyền đạt bằng giọng nói kết hợp với cử chỉ của con người (Eidenmuller 2008: 3) [60] Năm yếu tố này được hiện thực hóa qua các kỹ năng diễn thuyết như đã nêu trên Trong đó, luận án đặc
biệt quan tâm đến yếu tố phong cách ngôn ngữ thể hiện qua cách dùng ẩn dụ
Vào những năm đầu thập niên 1900, khán/ thính giả của các diễn giả chính trị
là những nhóm người quan tâm đến các vấn đề thời sự chính trị với các kênh giao tiếp rất hạn chế Ngày nay, khán/ thính giả đã mở rộng hơn nhờ các kênh tiếp xúc thông tin đa dạng hơn Các nhà hoạt động chính trị cần phải có những bài diễn thuyết
Trang 32nổi bật với ngôn từ ấn tượng để thu hút nhiều đối tượng quan tâm
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ trong VBDTCT, chẳng hạn:
Charteris-Black (2005: 17) [49] nhận xét: Trong tất cả các hệ thống chính trị, các nhà lãnh đạo luôn phải dựa vào lời nói để thuyết phục người khác về các quyền lợi mà khả năng lãnh đạo của họ có thể mang lại; có rất nhiều chọn lựa linh hoạt về
từ ngữ và họ thường quyết định chọn ẩn dụ để trình bày lập luận hay tư tưởng sinh
động và thuyết phục hơn Trước đó, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có nhận xét tương tự: Ẩn dụ có thể truyền đạt điều khó diễn đạt bằng những từ ngữ mang nghĩa đen và làm tăng thêm tính sinh động cho lời nói (Gibbs 1994) [73]; ẩn dụ có thể dùng trong các tình huống có nguy cơ đe dọa thể diện và khi ấy lối nói gián tiếp sẽ phù hợp hơn (Chilton 1996) [51]; ẩn dụ có thể giúp cấu trúc lập luận chặt chẽ hơn (Goatly 1997) [74]; và ẩn dụ với những cách dùng sáng tạo có thể giới thiệu những góc nhìn mới về sự vật, hiện tượng (Carter 2004) [46]
Lucas (2007: 275, 283) [100] nhấn mạnh: Ngôn ngữ là công cụ hành nghề của diễn giả Diễn giả giỏi bao giờ cũng sử dụng từ ngữ chuẩn xác Từ ngữ trong văn bản diễn thuyết cần phải rõ ràng, sống động và phù hợp với đối tượng người nghe Chính điều này giúp tạo nên những hình tượng đáng nhớ trong tâm trí người nghe về các sự vật, hành động và ý tưởng mà diễn giả muốn truyền tải Ba cách để giúp cho ngôn ngữ
có tính hình tượng cao là sử dụng các từ cụ thể (concrete words), sử dụng tỷ dụ
(simile) và sử dụng ẩn dụ (metaphor) Đặc biệt, khi được sử dụng hiệu quả, ẩn dụ sẽ là
một phương pháp tuyệt vời để mang lại sắc thái đặc biệt cho bài diễn thuyết, để làm cho những ý tưởng trừu tượng trở nên cụ thể, để làm rõ những điều chưa biết, và để thể hiện xúc cảm
Eidenmuller (2008: 89) [60] đề cao phong cách ngôn ngữ trong VBDTCT: Đó
là một nguồn hấp dẫn do tự thân bài diễn thuyết tạo nên, có một tầm ảnh hưởng quan trọng đối với cách thức và mức độ tiếp thu của đối tượng tiếp nhận Eidenmuller cho rằng ẩn dụ và tỷ dụ luôn được nhận biết vì chúng mời gọi đối
Trang 33tượng tiếp nhận tham gia hình dung nên bức tranh về một ý tưởng mà chỉ nội dung của bài diễn thuyết thôi chưa đủ sức tạo ra được
Gunta & Karapetjana (2009: 111 – 122) [79] cho rằng thủ pháp ngôn ngữ (linguistic operation) là một công cụ vô cùng quan trọng giúp thực hiện mục đích thuyết phục trong diễn thuyết Ngôn ngữ trong VBDTCT sử dụng một loạt các kỹ thuật hùng biện liên quan đến âm vị, cú pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ dụng;… kết hợp ngôn ngữ với các hình ảnh Trong đó, việc sử dụng các phép chuyển nghĩa như hoán dụ, ẩn dụ… là một dạng thủ pháp ngôn ngữ giúp chuyển tải quan điểm hay lập luận theo những cách giàu hình ảnh nhất
Nhờ khai thác khéo léo sức mạnh của ngôn ngữ, nhiều chính khách Mỹ đã thành công trong lĩnh vực chính trị như Martin Luther King, John F Kennedy, Bill Clinton và gần đây nhất là Tổng thống Mỹ thứ 45 đương nhiệm, Barack Obama Chẳng hạn, theo Shel (2010: xiii, 26 – 28) [121], chính bài diễn văn trong Hội nghị toàn quốc của đảng Dân chủ năm 2004 của Thượng nghị sĩ Barack Obama đã “kích hoạt” nước Mỹ, khơi gợi trí tưởng tượng của người dân Mỹ và được cả thế giới ca ngợi… Obama đã sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để chuyển tải quan điểm của mình Công cụ chính yếu của ông là ngôn ngữ sinh động, từ ngữ giàu hình tượng và những lập luận sắc bén Ngôn từ của ông đã vẽ nên những bức tranh trong tâm trí người nghe… Tất cả những kỹ thuật diễn thuyết đầy hiệu quả này đã làm nên một bài diễn văn bậc thầy
Ở Việt Nam, tuy lĩnh vực diễn thuyết chính trị không được nghiên cứu hay khai thác nhiều như ở các nước có chế độ đa đảng trên thế giới, nhưng đã có một số sách vở bàn đến loại văn bản có thể coi là gần gũi với văn bản diễn thuyết: văn bản
chính luận trong tiếng Việt Theo Từ điển Thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán & các
đồng tác giả 1999) [11], đây là thể loại văn “viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa Đặc trưng
cơ bản là tính chất luận thuyết trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ ” Đinh Trọng Lạc & Nguyễn Thái Hòa (2009: 111) [7] miêu tả phong cách chính luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản
Trang 34trong đó thể hiện vai trò của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị – xã hội Phong cách này chủ yếu dựa trên kiểu ngôn ngữ viết – phi nghệ thuật nhưng có thể bao gồm rộng rãi những cấu trúc của các kiểu văn viết và văn nói – nghệ thuật của lời nói Yếu tố cá tính đóng vai trò rất quan trọng trong phong cách này
Tóm lại, đặc điểm tiêu biểu của phong cách ngôn ngữ VBDTCT là: (1) ngôn ngữ được chắt lọc cẩn thận để diễn đạt hữu hiệu và sắc bén các lập luận; (2) ngôn ngữ mang đậm nét cá tính của diễn giả; (3) ngôn ngữ giàu tính hình tượng nhờ vận dụng hiệu quả các từ ngữ cụ thể, các từ ngữ có tính hình tượng hay liên tưởng cao như tỷ dụ và ẩn dụ để có thể mang lại những cảm xúc mãnh liệt nơi đối tượng tiếp nhận và thúc giục họ đi đến hành động thật sự Và theo nhận xét của nhiều tác giả, phương thức dùng từ được vận dụng tối đa để tăng khả năng “thu phục” đối tượng
tiếp nhận của VBDTCT chính là ẩn dụ
1.2 CÁC CÁCH TIẾP CẬN VỀ ẨN DỤ
Luận án sẽ dựa vào những cách hiểu về ẩn dụ được thừa nhận rộng rãi nhất trong giai đoạn tiền tri nhận và giai đoạn tri nhận để làm cơ sở cho việc nghiên cứu ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ
1.2.1 Theo quan niệm tiền tri nhận
Trong giai đoạn tiền tri nhận, từ thời Aristotle trở đi, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về ẩn dụ Ở đây chỉ có thể nêu vài cách hiểu tiêu biểu Theo Từ điển
Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics (Richards & các đồng tác
giả 1992) [114], ẩn dụ mô tả một sự vật, hiện tượng bằng cách nói đến một sự vật,
hiện tượng khác có thể đem ra so sánh được với nó Ví dụ: Her words stabbed at his
heart (Lời nói của chị đã đâm một nhát vào tim anh) Lời nói không thể tiến hành
hành động đâm bằng dao nhưng tác động của lời nói có khả năng “gây ra sự đau
đớn” giống như hành động này Khác với tỷ dụ, ẩn dụ không sử dụng từ chức năng
(function word)
Từ điển Oxford Advance Learner’s Dictionary (Hornby 2005) [83] có một cách
diễn giải khác về ẩn dụ, theo đó ẩn dụ là hiện tượng một từ ngữ được dùng để mô tả
sự vật, hiện tượng theo một cách khác so với cách dùng thông thường của nó, nhằm
Trang 35cho thấy rằng hai sự vật, hiện tượng có những đặc điểm tương đồng nào đấy và làm
cho sự mô tả có tác động mạnh hơn Ví dụ: She has a heart of stone (Cô ấy có một
trái tim đá) Trái tim được mô tả như một vật làm bằng đá để thể hiện sự chai cứng của lòng người
Richards (1936, 1965) [115] cho rằng ẩn dụ có ba khía cạnh chính là phương tiện biểu đạt (vehicle) – những từ ngữ được sử dụng có tính ẩn dụ, đối tượng so sánh (tenor) – ý nghĩa ẩn dụ của phương tiện biểu đạt, và cơ sở (ground) – nền tảng
cho sự mở rộng ẩn dụ, bao gồm những tương đồng giữa đối tượng đối sánh và
phương tiện biểu đạt Ví dụ, trong biểu thức ẩn dụ in the foot of the mountain (dưới chân núi), từ foot (chân) là phương tiện biểu đạt, đối tượng so sánh là lower portion
(phần bên dưới) trên cơ sở sự tương đồng không gian giữa vị trí chuẩn của chân trong mối quan hệ với toàn bộ phần còn lại của cơ thể người với phần dưới của một quả núi trong mối quan hệ với toàn bộ phần còn lại của quả núi ấy Như vậy, đối tượng đầu tiên (đối tượng so sánh) được xem xét trên sự tương đồng với một đối tượng thứ hai (phương tiện biểu đạt); từ đó, đối tượng đầu tiên có thể được mô tả ngắn gọn nhờ vào các thuộc tính hàm ẩn và/ hoặc tường minh của đối tượng thứ hai Trong giai đoạn tiền tri nhận, tuy các tác giả khác nhau có những cách diễn giải khác nhau về ẩn dụ, nhưng giữa những cách diễn giải đó có những điểm chung căn bản Như Kovecses (2010: ix – x) đã khái quát hóa: Nói chung, trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ được quan niệm là một đặc điểm của từ ngữ, nói cách khác đó là hiện tượng ngôn ngữ; được dùng nhằm một mục tiêu nghệ thuật, tu từ nào đó; được hình thành trên cơ sở tương đồng giữa hai thực thể được so sánh với nhau; là việc
sử dụng từ ngữ có chủ ý, đòi hỏi một năng lực và nỗ lực nhất định, không phải ai cũng thực hiện được; trong giao tiếp hàng ngày không nhất thiết phải dùng đến Tuy nhiên, những niềm tin có tính truyền thống và phổ biến đó bị lung lay bởi quan niệm về ẩn dụ của ngôn ngữ học tri nhận
Điều quan trọng hơn cả là trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ chỉ được xem xét như một hiện tượng chuyển nghĩa của từ, có thể chỉ là hiện tượng lời nói (ẩn
dụ tu từ) hay hiện tượng ngôn ngữ (ẩn dụ từ vựng), chứ chưa được xem như một
Trang 36phương thức tư duy như giai đoạn tri nhận sau này
1.2.2 Theo quan niệm tri nhận
1.2.2.1 Khái niệm ẩn dụ tri nhận (ẩn dụ ý niệm)
Lakoff & Johnson (1980: 54) [95] cho rằng những biểu thức ẩn dụ như the
foot of the mountain (chân của ngọn núi/ chân núi) là biểu hiện của ẩn dụ tri nhận
(cognitive metaphor) A MOUNTAIN IS A PERSON (QUẢ NÖI LÀ MỘT CON NGƯỜI)3 Những ẩn dụ kiểu này là sự phản ánh các ý niệm có tính hệ thống, cấu trúc nên hành động và suy nghĩ của con người Và chúng ta đang sống trong những
Quan điểm “miền ý niệm A là miền ý niệm B” cho thấy con người có khuynh
hướng nói và suy nghĩ về các khái niệm/ ý tưởng trừu tượng (abstract
concepts/ideas) qua những từ ngữ liên quan mang tính cụ thể hơn Pinker (2007: 238) [110] cho rằng tâm trí con người có thể nghĩ ngay đến những trải nghiệm cụ thể: cảnh tượng và âm thanh, vật thể và tác động, các tập quán về hành vi và cảm xúc trong nền văn hóa nơi chúng ta sinh trưởng Còn những ý niệm khác là những
ám chỉ mang tính ẩn dụ (metaphorical allusions) liên quan đến những trải nghiệm
nói trên Chẳng hạn, suy nghĩ đến các quan hệ chính trị (political relations) có thể gợi lên trong tâm trí chúng ta, thường là vô thức, một dạng keo (glue) hay sợi dây
ràng buộc (cord) nào đấy Kövecses (2010: 4) [89] đưa ra những ví dụ cụ thể như:
chúng ta nói và suy nghĩ về các theory (lý thuyết) bằng cách diễn đạt qua những từ ngữ liên quan đến các tòa nhà (buildings), ý tưởng (ideas) qua những từ ngữ liên
3 Dựa vào các qui ước trong ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi sẽ viết la ̣i các ẩn dụ tri nhận/ ẩn dụ ý niệm bằng chữ in hoa và các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ bằng chữ in nghiêng và đậm trong tất cả các chương của luận án
Trang 37quan đến thực phẩm (food), tổ chức xã hội (social organizations) qua những từ ngữ liên quan đến thực vật (plants) Có thể hình dung điều này qua ví dụ sau:
THEORIES ARE BUILDINGS(LÝTHUYẾTLÀTÕANHÀ)
Is that the foundation for your theory?
(Đó có phải là nền móng cho lý thuyết của anh không?)
We need to buttress the theory with solid arguments
(Chúng ta cần chống đỡ cho lý thuyết bằng các lập luận vững chắc.)
Ở đây, lý thuyết được hiểu như là các tòa nhà có nền móng và cần chống đỡ Miền ý niệm A ở đây chính là ý niệm lý thuyết và miền ý niệm B chính là tòa nhà
Hai miền tham gia trong ẩn dụ tri nhận có những tên gọi đặc biệt (Lakoff &
Johnson 1980 [95], Kövecses 2010 [89]), đó là miền nguồn và miền đích:
Miền nguồn (source domain): Miền ý niệm mà xuất phát từ nó chúng ta rút ra
được các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ để có thể hiểu một miền ý niệm khác, ví dụ:
building, food, plant là miền nguồn
Miền đích (target domain): Miền ý niệm được hiểu theo cách nêu trên, nghĩa là
chúng ta sẽ hiểu được thông qua cách sử dụng miền nguồn
Một đặc trưng tiêu biểu của ẩn dụ tri nhận là việc sử dụng một ý niệm vật chất
hay cụ thể hơn làm nguồn để thể hiện một ý niệm trừu tượng hơn, được coi là đích
(Lakoff & Johnson 1980 [95], Kövecses 2010 [89]) Và điều này được khai thác rất hiệu quả trong VBDTCT: Nếu muốn hiểu đầy đủ một ý niệm chính trị trừu tượng thì tốt nhất là sử dụng một ý niệm vật chất, cụ thể hay hữu hình hơn nó
1.2.2.2 Ánh xạ và sự phóng chiếu giữa miền nguồn và miền đích
Nói một cách khái quát như mô tả của Lý Toàn Thắng (2005: 25) [14]: ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ họa” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích
Kövecses (2010: 8) [89] nhấn mạnh rằng luôn tồn tại một hệ thống gồm các tương ứng mang tính hệ thống giữa miền nguồn và miền đích, trong đó các thành phần ý niệm cấu tạo của miền đích tương ứng với các thành phần cấu tạo của miền
Trang 38nguồn Về mặt ngữ nghĩa, những tương ứng ý niệm này thường được quy thành các ánh xạ Một ẩn dụ tri nhận có được khi giải thích một miền trừu tượng hơn thông
qua một miền mang tính vật chất hơn hay ít trừu tượng nhờ vào trí nhớ dài hạn
(long-term memory) hay dựa vào kết quả của một tiến trình văn hóa – lịch sử, tức là không nhất thiết phải trên cùng tuyến hay ở cùng thời điểm với nhau
Trong các nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận, nhiều nhà ngôn ngữ học đã minh họa
sự kết nối này bằng ví dụ kinh điển của Lakoff & Johnson (1980) [95]: LOVE IS A JOURNEY (TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH), trong đó LOVE là miền đích và JOURNEY là miền nguồn Khi JOURNEY được phóng chiếu vào LOVE thì hai miền này sẽ có sự tương ứng với nhau theo cách mà chúng ta có thể diễn giải LOVE như là một JOURNEY Quá trình phóng chiếu này có thể phân tích qua những cách nói như sau:
We aren’t going anywhere (Chúng ta sẽ chẳng đi đến đâu cả.)
The relationship is foundering (Mối quan hệ này đang bị sa lầy.)
It’s been a bumpy road (Đấy là một con đường gập ghềnh.)
We’ve made a lot of headway (Chúng ta đã tiến nhiều về phía trước.)
We’re at a crossroads (Chúng ta đang ở giữa ngã tư đường.)
Trong đó:
the vehicle the love relationship itself
the journey events in the relationship
(cuộc hành trình) (các sự kiện trong mối quan hệ)
the distance covered the progress made
(quãng đường đã đi) (tiến triển trong quan hệ)
the obstacles encountered the difficulties experienced
(chướng ngại gặp phải) (những khó khăn đã trải nghiệm)
decisions about which way to go choices about what to do
Trang 39(quyết định đường/ cách đi) (lựa chọn điều cần làm)
the destination of the journey the goal(s) of the relationship
(đích đến của hành trình) (mục tiêu của mối quan hệ)
Đây là một hệ thống các tương ứng hay ánh xạ mô tả ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH Các thành phần cấu tạo của miền ý niệm nguồn tương ứng một cách hệ thống với các thành phần cấu tạo của miền ý niệm đích: các thành phần trong miền đích TÌNH YÊU vốn không hiện diện trước đấy mà chúng được cấu trúc từ miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH Nhờ thế mà chúng ta có được khái niệm tình yêu với hệ thống thành phần đặc biệt này Nói cách khác, ý
niệm về hành trình đã tạo nên ý niệm về tình yêu
Như vậy, hiểu được một ẩn dụ tri nhận nghĩa là hiểu được các ánh xạ hệ thống được phóng chiếu giữa miền nguồn và miền đích Điều này không phải diễn ra một cách có ý thức mà thường là vô thức, và mục đích của việc phân tích là làm rõ các ánh xạ này Và một khi hiểu được một ẩn dụ tri nhận thì chúng ta có thể dùng các biểu thức ngôn ngữ phản ánh ẩn dụ này sao cho không vi phạm các ánh xạ đã được quy ước trong cộng đồng ngôn ngữ
Nói cách khác, khi phân tích ẩn dụ tri nhận trong văn bản, cần phải ghi nhớ nguyên tắc: các ẩn dụ ngôn ngữ4 phải thích ứng với các ánh xạ hay các tương ứng
đã được thiết lập giữa miền nguồn và miền đích
1.2.2.3 Các phương thức cấu thành ẩn dụ tri nhận
Khởi nguồn từ nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận của Lakoff và Johnson cho đến nay với sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ tri nhận đã được nhìn nhận, nghiên cứu và phân loại theo nhiều phương thức cấu thành khác nhau mang tính đa
dạng và linh hoạt dựa vào: (1) tính ước lệ (conventionality), (2) chức năng (function), (3) bản chất (nature), và (4) độ khái quát (level of generality)
4Thuật ngữ ẩn dụ ngôn ngữ (linguistic metaphor) được dùng theo cách gọi của Kövecses (2010: 6)
[89] Trong luận án, chúng tôi sử dụng thuật ngữ này để chỉ ẩn dụ theo phương diện biểu đạt, phân
biệt với thuật ngữ ẩn dụ tri nhận (cogintive/ conceptual metaphor) dùng để chỉ ẩn dụ theo phương
diện tư duy
Trang 40(Kövecses 2010: 33) [89] Đây cũng là cơ sở để chúng tôi lý giải cách vận dụng các
hệ thống ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ ở chương 3 của luận án
(1) Dựa vào tính ước lệ
Tính ước lệ liên quan đến các ẩn dụ tri nhận và ẩn dụ ngôn ngữ tương ứng của chúng Các ẩn dụ được ước lệ hóa cao khi được dùng một cách tự nhiên và không phải tốn nhiều công sức cho các mục đích giao tiếp thường ngày, chẳng hạn các ẩn
dụ liên quan đến ý niệm như argument, social organizations, life trong các ví dụ
sau (Kövecses 2010: 34) [89]:
ARGUMENTISWAR: I defended my argument
(TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH: Tôi bảo vệ lập luận của mình)
IDEAS ARE FOOD: I can’t digest all these facts
(Ý TƯỞNG LÀ THỨC ĂN: Tôi không thể nào tiêu hóa hết mớ thông tin này)
LIFE IS A JOURNEY: He had a head start in life
(CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH: Anh ta có một khởi đầu thuận lợi trong đời)
Các ẩn dụ trên rất quen thuộc và thậm chí là sáo ngữ, người sử dụng không để
ý đến tính ẩn dụ của chúng nữa Tính ước lệ có thể tăng hay giảm Chẳng hạn:
LIFE IS A JOURNEY (CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH)
(a) He had a head start in life
(Anh ấy đã có một khởi đầu thuận lợi trong cuộc đời.)
(b) Two roads diverged in a wood, and I –
I took the one less traveled by,
And that has made all the difference (Robert Frost 1920)
(Hai con đường rẽ ra trong một khu rừng, và tôi –
Tôi đã chọn con đường ít người lại qua,
Và điều đó đã làm nên sự khác biệt.)
Các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (a) và (b) hiện thực hóa cùng một ẩn dụ tri nhận Tuy nhiên trong (b), Frost sử dụng ẩn dụ ước lệ LIFE IS A JOURNEY theo
một cách mới, không theo khuôn thức thông thường: two roads diverged và took the
one less traveled by là hai biểu thức trong miền nguồn hành trình không được sử