Một danh nhân thuộc dòng họ Nguyễn ở Cổ Đô, đỗ tiến sỹ khoa thi năm 1484 từ đời vua Lê Thánh Tông, làm thợng th bộ lễ ở đầu thế kỷ thứ 16 từ đời vua Lê Hiến Tông, ông chính tên là Nguyễn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN BA VÌ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỔ ĐÔ
Địa chỉ: Thôn Cæ §« xã Cổ Đô – Ba Vì – Hà Nội Điên thoại : 0433 625 354
Email:C2CoDo-bv@Hanoiedu.vn
BÀI DỰ THI
Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết
các tình huống thực tiễn cho học sinh trung học
NHÓM TÁC GIẢ
Hµ ThÞ Ph¬ng Th¶o Lớp 8B
Ngày sinh: 11/11/2001
NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o Lớp 8B
Ngày sinh: 28/10/2001
Năm học 2014-2015
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN BA VÌ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỔ ĐÔ
Địa chỉ : Thôn Kiều Mộc xã Cổ Đô – Ba Vì – Hà Nội Điện thoại : 0433 625 354
Email:C2CoDo-bv@Hanoiedu.vn
BÀI DỰ THI
Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết
các tình huống thực tiễn cho học sinh trung học
TÊN TÌNH HUỐNG
Bài giới thiệu: CỔ ĐÔ QUÊ HƯƠNG EM
NHÓM TÁC GIẢ
Hµ ThÞ Ph¬ng Th¶o - Lớp 8B
Ngày sinh: 11/11/2001
NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o - Lớp 8B
Ngày sinh: 28/10/2001
Năm học 2014-2015
Trang 3
Bài giới thiệu: CỔ ĐÔ QUÊ HƯƠNG EM
1 Tình huống: Cổ Đô quê hương em là một vùng quê rất đẹp
Hưởng ứng cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải
quyết tình huống trong thực tiễn, em viết bài giới thiệu về quê hương mình
2 Mục tiêu: Bài giới thiệu về Cổ Đô với những nội dung sau:
- Vị trí địa lí
- Nguồn gốc
- Những nét đẹp về phong cảnh, con người, truyền thống văn hoá, cách mạng
- Cổ đô ngày nay
3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống:
- Tìm hiểu các tri thức khách quan ở địa phương: + Lịch sử hình thành và phát triển
+ Đặc điểm địa lí, địa hình + Đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá
+ Những phong tục, tập quán tốt đẹp + Truyền thống cách mạng
- Tìm hiểu tư liệu:
+ Lịch sử Đảng bộ Cổ Đô + Điểm sáng Cổ Đổ- Tác giả Phan Đà
4 Giải pháp giải quyết tình huống:
- Vận dụng kiến thức liên môn:
+ Lịch sử: Nguồn gốc hình thành và phát triển + Ngữ văn: Văn bản thuyết minh, sử dung từ ngữ, phương thức biểu đạt phù hợp
+ Địa lí: Vị trí địa lí, địa hình, đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội
+ Giáo dục công dân: Lòng tự hào, tình yêu quê hương,
ý thức trách nhiệm góp phần xây dựng quê hương
+ Mĩ thuật: Các công trình kiến trúc
Trang 4+ Âm nhạc: Bài hát Cổ Đô quê tôi, nhạc và lời của Đoàn Nguyên Hiếu
5 Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống
- Viết các ý chính
- Tìm hiểu tư liệu
- Thảo luận nhóm
- Viết bài thuyết minh
- Giới thiệu
* Tư liệu sử dụng:
- Sách Lịch sử Đảng bộ Cổ Đô
- Điểm sáng Cổ Đô
- Danh nhân Nguyễn Bá Lân
* Sưu tầm tư liệu thực tế:
- Các gia đình văn hoá tiêu biểu
- Các bà mẹ Việt Nam anh hùng ở Cổ Đô
- Truyền thống cách mạng ở Cổ Đô
Trang 5Bài thuyết minh: Cổ Đụ quờ hương em.
* Giải quyết tỡnh huống:
Cách thủ đô Hà Nội chừng 60 km về phía tây, dọc theo đờng 32 mời bạn
đến thăm một vùng quê nhỏ bé nằm nép mình bên vùng hội lu của ba dòng Hồng Giang, Đà Giang, Lô Giang.Thực theo dòng lịch sử thì đây chính là một nơi tụ nhân nh tụ thủy, địa linh sinh nhân kiệt, đó là ngôi làng Cổ Đô thuộc xã Cổ Đô, huyện Ba Vì Thành phố Hà Nội
Cổ Đô tên cũ là Yên Đô, luôn có chữ Đô ở trong địa danh chính là để nói về một vùng đô hội trù mật, nơi chất chứa bao huyền thoại từ thủa hồng hoang
Xa Cổ Đô có nghề dệt lụa Tơng truyền công chúa Thiếu Hoa con gái vua Hùng từ thành Phong Châu sang đây, dạy dân nghề tơ lụa Lụa Cổ Đô là sản phẩm tiến vua, lụa đã đi vào ca dao nức tiếng cả nớc:
Lụa này thật lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống các cô a dùng
Không chỉ có vậy, Cổ Đô còn hun đúc lên cho riêng mình những sắc thái và cảnh quan mà ít nơi có đợc, đó là cái truyền thống văn hiến thi th, hâm chuộng và trọng thị việc học hành chữ nghĩa, nghệ thuật và văn chơng, khiến cho ngôi làng cổ trở thành một chốn đô hội của những niềm vui tinh thần đẹp đẽ và thanh tao, mà lời ca,tiếng hát của dân gian ngay từ hồi đầu thế kỷ 19 thì đã có thể tự hào mà ví rằng:
Đồn rằng Hà Nội vui thay Vui thì vui thật cha tày Cổ Đô
Cổ Đô trên miếu dới chùa Trong làng lắm kẻ nhà nho có tài Sinh ra hoa cống hoa khôi Trong hai hoa đó thì tài cả hai
Trang 6Những nột đẹp của Cổ Đụ cũn được người xưa truyền lại bằng bốn cõu thơ:
"Tản Viờn vi tổ tụng
Nhị Hà vi kim bỏi
Tiờn Phong vi đấu giỏc
Binh Nghĩa vi chảo nga".
Bốn cõu thơ trờn đó núi lờn Cổ Đụ là vựng đất cổ thuộc vựng nỳi Tản Viờn, cú con sụng Nhị Hà vừa thơ mộng, vừa giàu cú, đồng thời cũn là nơi cú vị trớ quan trọng về mặt quõn sự
Một danh nhân thuộc dòng họ Nguyễn ở Cổ Đô, đỗ tiến sỹ khoa thi năm 1484 từ
đời vua Lê Thánh Tông, làm thợng th bộ lễ ở đầu thế kỷ thứ 16 từ đời vua Lê Hiến Tông, ông chính tên là Nguyễn S Mạnh, nhng lại vào bia đá, bảng vàng và sổ sách với tính danh là Lê Lan Hinh và đặc biệt với danh hiệu đợc tôn thờ sùng mộ, là một
vị lỡng quốc thợng th, làm thợng th triều đình cả hai nớc Bắc - Nam
Sinh năm Bính dần 1446, Nguyễn S Mạnh cũng chính là một nhân vật đợc kết tinh từ những giá trị quý báu và linh diệu của quê hơng Cổ Đô Bấy giờ là năm thứ
t của niên hiệu thái hòa, đời trị vì của vua Lê Nhân Tông
Có một sự tích truyền kì trong dân gian vùng Cổ Đô kể rằng:
Xa có một gia đình vốn quê ở Cẩm Thủy Trấn Thanh Hóa( Thanh Hóa ngày
nay),là ngời huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh hóa ra nhận chức Tả Mạc Quan Sứ Gia
Trang 7Hng( nay là Hng Hóa), lấy vợ ngời xã Cổ Cẩm( nay là làng Cổ Đô) thấy vùng đất này đất lành chim đậu, nên đã c trú tại đây Một lần có một thầy địa lý từ phơng Bắc xa xôi tìm đến làng Cổ Đô vì thấy ở đây có miếng đất đang ở thế kết long mạch, chính là miếng đất có ngôi nhà cha mẹ Nguyễn S Mạnh, thầy địa lý trả rất nhiều tiền đòi mua miếng đất ấy để yểm triệt long mạch, nhng không mua đợc trong lần trả giá đầu tiên, thầy địa lý vờ bỏ đi để rồi quay lại mua lần thứ hai, nhng lần này thấy long mạch đã kết rồi,thầy đành ngán ngẩm bỏ đi hẳn Nguyễn S Mạnh dã đợc hoàn thai trong bụng mẹ đúng vào lúc kết long mạch ấy Vì nhà nghèo cha
mẹ mất sớm nên 39 tuổi Nguyễn S Mạnh mới lều chõng đi thi, ông đỗ Đệ tam giáp
đồng tiến sỹ xuất thân năm Giáp Thìn, niên hiệu là Hồng Đức thứ 15 và làm quan
đến Kim Tử vinh lộc đại phu
Nhà sử học Lê Văn Lan đã cho biết về Nguyễn S Mạnh-ông là một
ngời tài ba đức độ ,là niềm tự hào của dòng tộc,quê hơng, đất nớc
Sau khi đỗ ra làm quan, ở cơng vị nào cũng luôn tỏ ra là ngời trung thành cơng trực, thanh liêm đợc nhà vua hết lòng tin cậy, đã phong cho ông đến chức Thợng
Th Bộ Lễ Vì ông là ngời thông minh, hiểu rộng vào trong bối cảnh quan hệ giữa hai nớc( Đại Việt và Trung Quốc) giữa triều Lê với triều Minh có nhiều điều bất hòa, vua Lê đã cử ông sang sứ Trung Quốc, năm ấy là năm cuối thế kỷ XV Truyện
ông đi sứ Trung Quốc có nhiều giai thoại đã đợc lu truyền đến ngày nay.( Trích Lê Văn Lan nói)
Khi sang sứ ông đợc vua Minh mời đến yết kiến, không hiểu vì vô tình hay hữu ý
mà khi đến gặp vua Minh ông lại có mấy cúc áo bật tung hở cả bụng Thấy vậy vua Minh cho rằng sứ thần thất lễ tỏ lời của trách và định trục xuất ông về nớc
Tr-ớc sự bực tức của vua Minh, Nguyễn S Mạnh đã tha: Vì đờng xá xa xôi, bụng chứa
đầy văn chơng, nhiều ngày âm u sợ ẩm ớt, nay đợc có ánh mặt trời nên thần có ý phơi chữ Nghe vậy vua Minh liền nói: Nừu quan sứ nớc Đại Việt có nhiều chữ nay trẫm vừa bị mất một cuốn sách trong bộ sach luận ngữ, quan sứ chép lại đợc thì ta
đỡ công tìm kiếm, nếu không ta mời sứ thần trở về nớc Sau khi viết tên bộ sách bị mất, Nguyễn S Mạnh nhận lời và hỏi vua Minh:Đại vơng cần cuốn sách đó sau bao nhiêu ngày? Vua Minh nói:Cần trong ba mơi ngày phải có, nhng với điều kiện sứ thần phải ở lại đây không đợc ra ngoài dinh thự Sau ngày nhận lời viets lại cuốn sách đó, vua Minh cho ngời theo dõi suốt ngày đêm xem Nguyễn S Mạnh làm bằng cách nào Nhận thử thách , Nguyễn S Mạnh vẫn ung dung dạo chơi, đánh cờ không viết gì cả, đến ngày thứ 25, vua Minh sợ Nguyễn S Mạnh quên mất công việc liền cho nhắc, nguyễn S Mạnh trả lời: Ngày mai thần sẽ viết Đến ngày thứ 29, trớc hạn một ngày Nguyễn S Mạnh vung bút viets một mạch cả một thiên sách cũ không sai một chữ
Sau khi nhận đợc cuốn sách vua Minh khen: Sứ thần quả là một con ngời có trí nhớ tuyệt vời, nhng rất tiếc Trong cuốn sách có sai một chữ Nghe vua Minh nói vậy, nguyễn S Mạnh khẳng khái trả lời: Nừu thần viets sai thì bản gốc của Thợng Quốc cũng khắc sai ,thần không dám làm khác Nghe vậy vua Minh bèn giữ ông lại và cho ngời đi tìm bản chínhđể tra cứu lại, quả nhiên đúng nh bản gốc đã lu giữ không sai một chữ nào
Trang 8Việc làm của Nguyễn S Mạnh đã làm cho vua Minh phải khâm phục và trọng nẻ, tạo lợi thế cho ông vợt qua nhiều thử thách, ông luôn tỏ ra là một nhà ngoại giao tài giỏi góp phần làm cho 2 nớc luô hiểu biets lẫn nhau
Với sự thông minh và cống hiến đó, lại biết Nguyễn S Mạnh đã đợc phong sắc là quan Thợng th của triều Lê lúc bấy giờ, vua Minh bèn chọn một ngày tốt để phong cho ông chức Thợng Th của Trung Quốc, từ đó ngời ta gọi ông là “ Lỡng quóc th-ợng th” Việc Nguyễn S Mạnh đợc phong là thth-ợng th của Trung Quốc là một sự hiếm thấy, nhất là trong bối cảnh một nớc nhỏ quan hệ với một nớc lớn lúc bấy giờ Bốn chữ “ Lỡng Quóc Thợng Th”- Thợng th của 2 nớc- ánh vàng chói lọi từ đ-ờng họ Nguyễn ở Cổ Đô, nhắc đến chuyến đi sứ vẻ vang ấy của ông
Khi về nớc Nguyễn S Mạnh đã tâu hết ngọn ngành với vua, đợc vua khen là ngời có công lớn, vua đã ra cho ông một đề thơ là Thái Bình, Nguyễn S Mạnh đã đọc ngay một bài thơ dâng tặng nh sau:
Đạo trời sáng nh mặt trăng, mặt trời Hoàng thợng trị vì nớc non hùng vĩ
Đất nớc thái bình đã hiển nhiên
Xin chúc vĩnh viễn là nh thế
Do công lao và tài đức của ông nhà vua đã ban tặng cho ông quốc tính( lấy họ hoàng gia- họ Lê) mỹ tự Lan Hiên, trong sách “ bản quốc đăng khoa lục” chép là Lan Hinh- Lê Lan Hinh.Một hạnh phúc lớn đến với ông là đợc vua gả công chúa cho Sau khi thành gia thất, công chúa đã sinh cho ông đợc 2 ngời con trai là Lê Khâm và Lê Phu
Ông đã đem hết tài năng và đức độ phục vụ nhân dân, đợc nhà vua hét lòng tin cậy, đợc phong đến chức Vinh Lộc Đại Phu coi việc viện hàn lâm kiêm Đông Các
Đại Học Sỹ, nhập thị kinh Diên, lại là phò mã chỉ huy quân cấm vệ Thợng Th bộ
Lễ tớc Sùng T Hầu
Tuy là một ngời có nhiều quyền cao chức trọng nhng ông sống rất thanh liêm, khi
về chí sĩ( nghỉ hu) ông sống một cuộc sống giản dị, nhà cửa đơn sơ, tài sản không
có gì sang trọng Nghe đợc tin đó, nhà vua còn nghi ngờ, liền bí mật sai thị vệ
đóng giả làm ngời buôn tơ lụa vveef đẻ thẩm tra dò xét Thị vệ về thẩm tra tại nhà
và nghe d luận của dân làng, đã trở về tâu với vua cuộc sống của ông đúng là giản
dị nh vậy Trong nhà chỉ có một tấm lụa và một số tài sản bình thờng Sau khi biết
đợc sự thể nhà vua đã ban thởng cho ông một lọ vàng để phụng dỡng tuổi già Tuy
đợc ban thởng, nhng ông vẫn sống một cuộc sống thanh cao, gần gũi với mọi ngời,
để lại trong lòng mọi ngời nềm tin yêu và sự kính phục Nguyễn S Mạnh( Tức Lê Lan Hinh) đã có những năm tháng cuối đời tốt đẹp sống ở vùng địa linh nhân kiệt,
bê bờ dòng Đà Giang, trớc núi Tản Viên trông ra ngã Ba Hạc Ông mất ngày 16-9 năm Canh Ngọ ở tuổi 82 mộ ông đặt ở xứ Đồng Tranh làng Cổ Đô, hiện nay đợc con cháu xây dắp cẩn thận, xung quanh trồng các cây lâu niên quanh năm tỏa bóng mát Hàng năm ít nhất một lần vào ngày giỗ con cháu xa gần đều đợc quy tụ, hớng
về cội nguồn, nhớ đến tổ tông, đem cái chân tâm của mình phụng sự các vị thủy
Tổ cũng nh vị danh nhân dân tộc Nguyễn S Mạnh
Đã gần 500 năm qua, bông hoa tài đức Nguyễn S Mạnh- Lê Lan Hinh tiến sĩ lễ
Bộ thợng th triều Lê sơ vẫn là tấm gơng sáng để dòng họ Nguyễn, chốn danh hơng
Cổ Đô nói riêng và các thế hệ ngời Hà Nội và cả nớc nói chung tự hào về ngời con của mảnh đất ngàn năm Thăng Long yêu dấu
Nguyễn S Mạnh không còn nữa , nhng ân đức của ông vẫn đợc bao thế hệ truyền mãi
Năm 1991 Mộ và nhà thờ Nguyễn S Mạnh đã đợc nhà nớc cấp bằng công nhận là
di tích lịch sủ cấp quốc gia
Ước nguyện một thời của danh nhân họ Nguyễn dất Cổ Đô về một nền thái bình của non sông đất nớc đợc truyền tụng qua những câu thơ ứng đối cùng vị hoàng đế nhà Lê thì sau năm thế kỉ vẫn là niềm khát vọng của dân tộc chúng ta rằng:
Lẽ đạo trăng sao sáng Non sông có vua hiền Thái bình là dĩ nhiên
Trang 9NguyÖn m·i lµ nh thÕ
Không chỉ có danh nhân Nguyễn Sư Mạnh, Cổ Đô còn nổi tiếng với danh nhân Lục bộ Thượng Thư Nguyễn Bá Lân
Nguyễn Bá Lân sinh ngày 27 tháng Giêng năm Canh Thìn- 1700, trong một gia đình dòng dõi thi thư Ông là người học rộng, tài cao, đức trọng, tâm sáng Ông được người đương thời mệnh danh là một trong “An Nam tứ đại tài năng” cùng với ông Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Loan, Ngô Tuấn Cảnh Các bộ sách “Việt
sử thông giám cương mục”, “Lịch triều tạp kỷ”, “Hậu Lê thời sử ký lược”, “Lịch triều hiến chương loại chí đều viết tương đối kỹ về ông Những danh nhân nổi tiếng như Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn không phải ngâu nhiên mà khen ông là người tài cao, đức rộng, “nổi tiếng trong sạch, cẩn thận, luôn giữ công bằng, không
a dua” Chúa Trịnh Doanh cũng khen ông là người “ngay thẳng, dám nói” Khi làm con thì vô cùng hiếu thảo ( những chuyện về ông với cha là Nguyễn Công Hoàn)
Trang 10có nghĩa, có tình với anh em bè bạn (chuyện vụ án oan Lê Anh Tuấn) Cuộc đời
và sự nghiệp của ông là một bài ca có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, công danh sự
nghiệp của ông từng được gói gọn trong hai câu đối:
Hội nguyên đệ tam giáp tiến sĩ
Thái tể kiêm lục bộ thượng thư
Trong khoảng thời gian ngắn của hội thi hôm nay, chắc chắn chúng ta không
đủ điều kiện để nói hết về ông được, em chỉ xin kể về tình cảm hai cha con
Nguyễn Bá Lân thời ông còn trẻ
Những chuyện về Nguyễn Bá Lân thời niên thiếu thường gắn liền với hình ảnh của người cha đáng kính Cha ông là Nguyễn Công Hoàn, một người nổi tiếng hay chữ trong kinh, ngoài trấn, được xếp vào hàng “Tứ hổ Tràng An” thời bấy giờ: nhất Quỳnh, nhị Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn Nhưng thi mãi, nguyễn Công Hoàn chỉ
đỗ đến hương cống Khi Nguyễn Bá Lân đến tuổi đi học, cụ quyết chí dạy dỗ cho con làm nên sự nghiệp Cụ bỏ nghề ông đồ lang thang dạy học cho thiên hạ mà trở
về làng, ngày đêm chăm non việc đèn sách cho con Cho đến khi đỗ tiến sĩ,
Nguyễn Bá Lân chỉ có một người thầy dạy học là cha đẻ của mình
Cách dạy con của cụ Nguyễn Công Hoàn rất nghiem khắc Cụ cho bắc ván lên
xà nhà, phía dưới đất cắm chông, bắt ông Lân học hành trên đó, lúc nào cho xuống mới được xuống Biết con đang tuổi chơi tuổi nghịch, bị “bó cẳng” như vậy là rất khó chịu, cụ Hoàn bảo gia nhân mang chè lam lên cho ông Lân Ngoài gói chè cụ viết hai chữ “Trà Lam” Đọc lái lại hai chữ “Trà lam” là “làm cha”, ý nói đạo làm cha buộc phải dạy con nên người, đừng đem lòng oán trách Ông Lân hiểu ý cha, chỉ ăn một góc bánh rồi gói lại viết ra ngoài hai chữ “Còn lam” và bảo gia nhân chuyển lại cho cha Đọc lái lại “Còn làm” là “Làm con”, ý nói ông hiểu đạo làm con phải tuân phục sự dạy bảo của cha, một lòng kính thuận, không dám oán trách gì
Nhưng tình trạng “học trên xà nhà” mãi như thế cũng khổ quá, ông Lân nghĩ ra một mẹo Một buổi tối khi lên học ông ngầm mang theo một khúc cây chuối Lúc
cả nhà sắp đi ngủ, boongc nghe “rầm” một tiếng ở bãi chông dưới chỗ ông Lân học Cả nhà hốt hoảng chạy lại, cụ Hoàn kêu to: “Thế là nhà ta mất một tiến sĩ rồi” Nhưng khi chạy đến thì chỉ thấy khúc chuối, còn ông Lân vẫn ung dung ngồi học phía trên Từ đó cụ Hoàn cụ Hoàn bỏ lệ “học trên xà nhà”
Trong khi dạy con học, cụ Hoàn thường ra đề để hai cha con cùng làm, ai làm xong sau thì bị phạt Một hôm đi thuyền dạo chơi trên sông Đà, cụ Hoàn ra đề một bài phú, tục truyền đó là bài “Dịch đình dương xa phú” Ông Lân vốn giỏi thể Phú
từ khi còn niên thiếu Do đó ông Lân làm xong bài phú mà cụ Hoàn mới xong một nửa Thế là cụ Hoàn tự nhảy xuống sông khiến ông Lân hỏng sợ phải nhảy xuống vớt lên
Lần khác, cũng đi thuyền, thấy một chiếc chày cháy dở trôi trên mặt nước, cụ Hoàn liền đọc một vế đối:
Chày cháy trôi sông, lão ngư ông tưởng cá
Ông Lân đối ngay:
Hôm mai vượt biển, người tinh tú trông sao