1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN

52 633 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 404,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trên thực tế khi nhắc đếngiảm phát thì không thể không tìm hiểu hiện tượng bẫy thanh khoản, một thuậtngữ tuy còn xa lạ cho những ai chưa biết đến các lý thuyết của kinh tế vĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

BÀI TIỂU LUẬN: KINH TẾ VĨ MÔ

ĐỀ TÀI:

GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN GVHD : PGS.TS Hạ Thị Thiều Dao Lớp : CH16B2

Thực hiện: Nhóm 7

1 Nguyễn Văn Cường

2 Nguyễn Trịnh Thùy Dương

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2015

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những đóng góp của đề tài 3

6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN 3

1.1 Giảm phát: 3

1.1.1 Khái niệm: 3

1.1.2 Nguyên nhân: 4

1.1.3 Hậu quả 5

1.1.4 Giải pháp 6

1.2 Bẫy thanh khoản: 7

1.2.1 Khái niệm 7

1.2.2 Nguyên nhân 8

1.2.3 Giải pháp thoát khỏi bẫy thanh khoản 9

1.3 Mối quan hệ giữa bẫy thanh khoản và giảm phát 9

1.3.1 Bẫy thanh khoản dẫn tới giảm phát 9

1.3.2 Giảm phát dẫn tới bẫy thanh khoản 9

1.4 Phân biệt sự khác biệt giữa bẫy thanh khoản và suy kiệt tín dụng 10

Trang 3

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN

TRÊN THẾ GIỚI 11

2.1 Kinh nghiệm của Mỹ 11

2.1.1 Đại khủng hoảng Mỹ (1929- 1933) 11

2.1.2 Nguyên nhân 14

2.1.3 Các biện pháp của Mỹ 18

2.1.4 Bài học kinh nghiệm từ khủng hoảng nền kinh tế Mỹ 1929-1930 20

2.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 21

2.2.1 Nhật Bản trước thập kỷ mất mát (A Lost Decade) 21

2.2.2 Nhật Bản – trong một thập kỷ mất mát (Japan-In A Lost Decade) 22

2.2.3 Nguyên nhân 23

2.2.4 Tác động đến nền kinh tế Nhật bản 26

2.2.5 Cách ứng phó của Nhật Bản 27

2.2.6 Bài học của Nhật Bản 28

CHƯƠNG 3:THỰC TRẠNG GIẢM PHÁT TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁT CHO CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ 30

3.1 Diễn biến thực trạng giảm phát tại Việt Nam 30

3.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm phát năm 2000 32

3.3 Biện pháp chống giảm phát của chính phủ trong giai đoạn 1999-2000 34

3.4 Đánh giá tình hình kinh tế hiện nay và nhận định cho các năm sau 36

3.5 Giải pháp phòng ngừa giảm phát và bẫy thanh khoản hiện nay 40

KẾT LUẬN 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 4

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

1 Từ 25/05/2015- 29/05/2015:

- Mỗi thành viên đều tìm, đọc và tổng hợp tất cả các tài liệu mà mình

tìm được liên quan đến nội dung thuyết trình về mail chung của cả

nhóm Cả nhóm trao đổi và đưa ra khung, sườn và các nội dung chính

nhóm sẽ trình bày

2 Từ 29/05/2015- 14/06/2015: Phân công công việc cụ thể theo bảng phân

công dưới đây:

ST

T

1 Nguyễn Trịnh Thùy Dương Xây dựng sơ bộ khung bài cho cả nhóm

Viết phần mở đầu, kết luận

2 Huỳnh Thị Trúc Nguyên 1.1 Giảm phát

1.2 Bẫy thanh khoản

3 Phạm Thị Tuyết Nhung 1.3 Mối quan hệ giữa bẫy thanh khoản và giảm

phát

1.4 Phân biệt giữa giảm phát và suy kiệt tín dụng

- Thuyết trình nội dung chương I

4 Bùi Thị Miến 2.2 Kinh nghiệm của Mỹ

- Tổng hợp bài viết cuối cùng

5 Đinh Thành Long 2.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

- Thuyết trình nội dung chương II

6 Nguyễn Văn Cường 3.1 Diễn biến thực trạng giảm phát tại Việt Nam

3.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm phát năm

Trang 5

- Trình bày slide

7 Phạm Thị Thanh 3.1 Diễn biến thực trạng giảm phát tại Việt Nam

3.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm phát năm

2000

- Thuyết trình nội dung chương III

8 Huỳnh Thị Hoài Phương 3.4 Đánh giá tình hình kinh tế hiện nay và nhận

định cho các năm sau

3.5 Giải pháp phòng ngừa giảm phát và bẫy thanh

khoản hiện nay

9 Tô Ngọc Linh 3.4 Đánh giá tình hình kinh tế hiện nay và nhận

định cho các năm sau

3.5 Giải pháp phòng ngừa giảm phát và bẫy thanh

khoản hiện nay

- Tổng hợp bài viế chương I và chương II

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

H1.1: Giảm phát do cầu giảm và cung tăng

H2.1.Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934

H2.2.Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng- Nguồn: BBC H2.3.Tốc độ phát triển của Nhật từ 1971 đến 2001

H2.4.Tỷ lệ thất nghiệp trong thập niên mất mát của Nhật Bản

H2.5.Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của Nhật Bản trong

thập niên mất mát so với các thời kỳ trước

H3.1 Tỷ lệ lạm phát từ năm 1995-2014

H3.2 Tỷ lệ lạm phát 2011-2014

H3.3 Tình hình tăng trưởng tín dụng Ngân hàng Việt Nam 2001-31/08/2014 H3.4 Trích lập dự phòng các ngân hàng quý II/2014

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày nay, giảm phát đang là trở lực kéonền kinh tế của nhiều nước vào vòng xoáy suy thoái Vấn đề này đã và đang làmđau đầu nhiều nhà kinh tế học và các nhà lãnh đạo trên thế giới Trong một thếgiới không có ranh giới, trong điều kiện thương mại quốc tế, kinh tế toàn cầungày càng phát triển mạnh mẽ, Việt Nam cũng không thể tránh khỏi những tácđộng khủng hoảng có tính chu kỳ và dây chuyền của kinh tế các nước Tuy giảmphát ở nước ta mới chỉ là nhất thời, khó kéo dài với mức độ trầm trọng song nếukhông thoát khỏi “vòng xoáy” giảm phát thì triển vọng phát triển về trung và dàihạn là hết sức khó khăn

Chúng ta có thể mất ít thời gian hơn để thoát khỏi lạm phát, nhưng có thểmất cả thập niên vẫn bế tắc với giảm phát “Điều trị” giảm phát khó hơn nhiều sovới điều trị lạm phát Tác hại của giảm phát cũng lớn hơn cả lạm phát Lạm phát

có thể hao mòn giá trị tài sản một cách từ từ, nhưng giảm phát sẽ nhanh chóng

“cướp” lấy giá trị tài sản, thậm chí người sở hữu sẽ thấy tài sản của mình gần nhưkhông có giá trị vì mất khả năng thanh khoản

Khái niệm giảm phát tuy không còn xa lạ với người học kinh tế vĩ mônhưng tại một số quốc gia trên thế giới nếu chưa từng bị tác động mạnh mẽ từgiảm phát thì suy nghĩ của họ về hiện tượng này cũng còn khá mới mẻ Nhiềunhà kinh tế thế giới đã cảnh báo về nguy cơ giảm phát toàn cầu và gây ra nhữngtác hại lớn cho nền kinh tế Do đó, nghiên cứu về giảm phát là vấn đề lâu dài, cầnmột sự phân tích mạch lạc, khách quan Tuy nhiên, trên thực tế khi nhắc đếngiảm phát thì không thể không tìm hiểu hiện tượng bẫy thanh khoản, một thuậtngữ tuy còn xa lạ cho những ai chưa biết đến các lý thuyết của kinh tế vĩ mônhưng đó là cả một quá trình nghiên cứu, phòng ngừa trong việc hoạch định

chính sách kinh tế trong tương lai Chính vì vậy đề tài “Giảm phát và bẫy thanh

Trang 8

khoản” là một chủ đề cần thiết phải nghiên cứu trong bối cảnh hiện kinh tế hiện

nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu xoay quanh vấn đề sau:

Nghiên cứu tổng quan lý thuyết về “giảm phát” và “bẫy thanh khoản”,mối quan hệ giữa chúng

Nghiên cứu về thực trạng giảm phát và bẫy thanh khoản ở các nước trênthế giới và giải pháp ứng phó của các quốc gia này

Nghiên cứu về thực trạng giảm phát tại Việt Nam trong những năm qua đểthấy được nguyên nhân gây ra giảm phát và nhận định Việt Nam có rơi vào bẫythanh khoản hay không, từ đó đề xuất những giải pháp hoạch định chính sáchtrong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng giảm phát và bẫy thanh khoản

Phạm vi nghiên cứu: Một số nền kinh tế lớn trên thế giới đã trải qua hiệntượng giảm phát và bẫy thanh khoản và thực trạng nền kinh tế Việt Nam có thểrơi vào “bẫy thanh khoản” hay không?

4 Phương pháp nghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm ba chương chính:

Trang 9

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về giảm phát và bẫy thanh khoảnChương 2: Kinh nghiệm giảm phát và bẫy thanh khoản trên thế giớiChương 3: Thực trạng giảm phát và bẫy thanh khoản tại Việt Nam

và giải pháp

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIẢM PHÁT VÀ BẪY

THANH KHOẢN 1.1 Giảm phát:

1.1.1 Khái niệm:

Có thể trong giai đoạn kinh tế phát triển, cụm từ “lạm phát” mọi người sẽ quan tâm và nghe đến rất nhiều Thế nhưng, qui luật của kinh tế thị trường có lạm phát thì cũng có giảm phát Vậy để hiểu giảm phát là như thế nào, ta hiểu lạm phát rồi suy ngược lại

Theo K.Marx, “ Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu

thông tiền tệ, vượt quá các nhu cầu của kinh tế thực tế làm cho tiền tệ bị mất giá

và phân phối lại thu nhập quốc dân”

Ngược lại, Paul A.Samuelson lại cho rằng “ Lạm phát biểu thị một sự

tăng lên trong mức giá chung Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá

chung”

Và khái niệm lạm phát thận trọng được nhiều nhà kinh tế chấp nhận như sau: Lạm phát là hiện tượng xảy ra khi mức giá chung trong nền kinh tế tăng kéo dài trong một khoản thời gian nhất định Mức chung của giá hàng hóa tức là mức trung bình của giá cả hàng hóa, nó thể hiện được xu thế biến động chung của mức giá cả biểu thị sức mua của tiền tệ đối với hàng hóa khác (Lê Thị Tuyết Hoa & Nguyễn Thị Nhung, 2011)

Trái ngược với lạm phát, giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm Giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn

Phân biệt giảm phát và thiểu phát: không nên nhầm lẫn giữa hai khái niệmnày Giảm phát là giảm giá nói chung trong khi thiểu phát là giảm mức tăng giá.Việc giảm giá có nghĩa là tiền của bạn sẽ có giá trị hơn và việc nắm giữ tiền mặttrở nên phổ biến Nhưng việc tăng giá trị của tiền có thể gây ra những vấn đề với

Trang 10

môi trường kinh tế, và đôi khi vấn đề này còn trầm trọng hơn cả lạm phát.

1.1.2 Nguyên nhân:

Nguyên nhân thứ nhất là do tổng cầu: Tổng cầu xã hội giảm, thể hiện cụthể là vốn đầu tư nước ngoài giảm, đầu tư trong nước thấp Thu nhập thực tế củangười dân giảm làm cho sức mua kém, thêm vào đó cầu từ nước ngoài giảm doảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Có thể dùng sơ đồ tổng cung- tổng cầu để minh họa điều này Ban đầutổng cầu tương ứng với đường AD Điểm cân bằng của nền kinh tế là điểm E làgiao điểm của đường AD, LAS, SAS Sau đó, tổng cầu giảm, đường AD dịchchuyển song song sang trái thành đường AD2 cắt đường SAS ở điểm A A làđiểm cân bằng mới của nền kinh tế và so với điểm cân bằng cũ E sản lượng vàmức giá chung đều giảm

“Thập kỷ mất mát” hay còn gọi là “thập niên bị tước mất” (A Lost

Decade) là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế Nhật Bản kéo dài suốt thập niên 1990

Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ sự phát triển bong bóng đầu cơ trong những

năm 1980, khi các nhà đầu tư rót tiền ồ ạt vào thị trường bất động sản và thị

trường chứng khoán Giá của các tài sản này vọt lên tới những mức khác thường

Có thời điểm trong năm 1988, diện tích đất ở dưới Cung Hoàng đế(Imperrial Palace) ở trung tâm thủ đô Tokyo trị giá hơn cả toàn bang California(Hoa Kỳ) Còn chỉ số chứng khoán Nikkei vào cuối năm 1989 đã chạm ngưỡng39.000 điểm, so với con số 8.900 điểm hiện nay Đầu năm 1990, nền kinh tế bịtăng trưởng quá nóng và hậu quả dẫn đến bong bóng tài sản đổ vỡ vào nhữngnăm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản giảm mạnh Bình quânhàng năm trong suốt thập niên 1990, GDP thực tế của Nhật Bản lẫn GNP bình

Trang 11

quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so với hầu hết các nước công nghiệp tiêntiến khác Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm Biểu đồ nền kinh tếNhật đi xuống qua từng thời kỳ:Nguyên nhân thứ hai là do tổng cung: có thể đến

từ cú sốc cung tích cực do sự phát triển của khoa học công nghê, tìm kiếm đượcnguồn tài nguyên mới tăng làm năng suất lao động tăng lên, giảm chi phí sảnxuất làm tổng cung tăng, đường AS dịch chuyển sang phải thành SAS1 cắtđường AD tại điểm B Tại điểm B kinh tế bùng nổ sản lượng tăng và giá giảm

H.1.1 Giảm phát do cầu giảm và cung tăng

Ngoài ra giảm phát còn có thể do nguyên nhân khác như sai lầm trong điều hành vĩ mô, xuất phát từ việc áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá

liều, chẳng hạn như thắt chặt tiền tệ, tài khóa và hạn chế cầu quá mức Khi lạmphát ở mức cao, nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề và chính phủ phải tìm cáchkiềm chế lạm phát bằng cách sử dụng chính sách thắt chặt chi tiêu để giảm bộichi ngân sách Kết quả là tốc độ tăng mức giá giảm dần, tỷ lệ lạm phát giảm dầnđến 0 và giảm phát xuất hiện

1.1.3 Hậu quả

Khi giảm phát nhân rộng chứ không chỉ bó hẹp trong một vài hàng hóa, người tiêu dùng sẽ chi tiêu ít đi, các nhà máy buộc phải cắt giảm sản xuất, cắt giảm nhân công Điều này làm cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và làm cho các hộ

Trang 12

gia đình càng chi tiêu ít nữa cứ vòng lẫn quẫn như thế và rồi làm cho giá cả hàng hóa càng giảm sâu hơn.

Theo bà Eleanor Blayney, người phụ trách khuyến khích tiêu dùng của

Ủy Ban cấp phép cho các nhà kế hoạch tài chính tại Mỹ (Certified Financial Planner Board of Standards) cho rằng: Khi giảm phát xảy ra giá cả giảm và đồng tiền có giá hơn, mọi người muốn giữ nhiều tiền mặt và tiêu xài ít hơn Điều này tạo một cú sốc cho nền kinh tế, khi mà nền kinh tế bị thiếu vốn luân chuyển và các ngành kinh doanh phải đấu tranh vì chuyện này Điều này cũng không

khuyến khích việc vay mượn với viễn cảnh phải tốn nhiều tiền để trả lại số tiền

đã vay do đồng tiền mạnh lên Điều này giống như một cái kẹp vào hệ thồng ngân hàng và sẽ gây tác dụng lan tỏa đến cả nền kinh tế

Giảm phát còn dẫn đến giảm lương người lao động khi mà các doanh nghiệp cần phải điều tiết trở lại cho việc thua lỗ do giảm giá gây ra Tất cả vấn đềtrên kết hợp gây ra hiệu ứng xoáy xuống , khiến cho giảm phát mạnh lên Khi màgiá cả giảm, tình trạng việc làm thiếu và người tiêu dùng trích trữ tiền với dự đoán là giá cả sẽ còn giảm nữa thì điều này sẽ làm hại nền kinh tế, như kiểu truyền lực cho thói quen tiết kiệm và cứ thế tiếp diễn

1.1.4 Giải pháp

Để thoát khỏi tình trạng giảm phát, cần thực hiện chính sách tái khuếch trương tiền tệ thông qua các biện pháp như tăng lượng cung tiền, giảm thuế, hay điều chỉnh lãi suất

Kinh nghiệm các nước cho thấy, có 2 nhóm giải pháp quan trọng để hạn chế tác động của giảm phát

Nhóm kích cầu tiêu dùng: được thực hiện bằng nhiều giải pháp cụ thể

đem lại lợi ích tức thời cho người dân cũng như tạo “đầu ra” cho sản xuất, dịch

vụ Ở các nước phát triển, kích cầu tiêu dùng được thực hiện bằng các giải pháp:miễn giảm thuế cho người nghèo, cho người nghèo vay mua nhà trả góp với lãisuất ưu đãi, bồi hoàn thuế thu nhập cá nhân, giảm giá hàng tiêu dùng ở cácnước đang phát triển, các giải pháp kích cầu tiêu dùng cũng rất đa dạng và thiếtthực đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội Trợ giá dân cư mua hàng hóa giadụng, giảm giá hàng hóa, dịch vụ, du lịch, vui chơi, giải trí, mở rộng hệ thống

Trang 13

bán lẻ hàng hóa.

Nhóm kích cầu sản xuất: Tập trung mọi nguồn lực tài chính đầu tư hỗ trợ

các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, mở rộng dịch

vụ theo hướng tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu

Hỗ trợ lãi suất vốn vay trong chương trình kích cầu nên ưu tiên cho những doanhnghiệp vừa và nhỏ để có thể tạo thêm nhiều việc làm, thu hút nhiều lao độngđang thất nghiệp hoặc lao động dư thừa ở khu vực nông thôn vốn đang thiếu việclàm nghiêm trọng do tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế toàn cầu Tập trungcao độ cho những ngành và lĩnh vực yếu thế nhưng còn nhiều tiềm năng pháttriển toàn diện, tăng trưởng cao, hấp thụ vốn nhanh Để biến triển vọng thànhhiện thực, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường đầu tư vốn, khoahọc - công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản thông qua gói kíchcầu của Chính phủ

1.2 Bẫy thanh khoản:

1.2.1 Khái niệm

Theo quan điểm Keynes truyền thống, bẫy thanh khoản là một hiện tượng

mà lãi suất danh nghĩa ngắn hạn đạt ngưỡng rất thấp, thậm chí 0%

Theo mô hình IS-LM, chính sách tiền tệ (CSTT) mở rộng sẽ vận hành thông qua việc giảm lãi suất và kích thích chi tiêu đầu tư Nhưng khi lãi suất đã giảm đến mức 0% thì CSTT có thể sẽ không còn tác dụng nữa Vì khi lãi suất giảm tới 0% thì CSTT mở rộng sẽ làm tăng cung tiền để tăng thanh khoản cho nền kinh tế nhưng do lãi suất không thể giảm hơn nữa nên thanh khoản tăng thêm

sẽ không có tác dụng kích cầu Do đó tổng cầu, sản xuất và việc làm sẽ không tăng (Mankiw, 2003)

Quan điểm hiện đại về bẫy thanh khoản mở rộng hơn, theo đó tại mức lãi suất bằng 0%, CSTT nới lỏng vẫn có thể có hiệu quả miễn là CSTT vẫn có thể làm giảm kỳ vọng lãi suất thực trong tương lai thông qua tăng kỳ vọng lạm phát (Adam và Billi, 2006)

Tóm lại, bẫy thanh khoản (Liquidity trap) là hiện tượng khi NHTW thực hiện

chính sách tiền tệ nới lỏng làm giảm lãi suất nhằm kích thích kinh tế nhưng khilãi suất giảm liên tục đến rất thấp hoặc xấp xỉ bằng 0 lại khiến mọi người quyết

Trang 14

định giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt nhiều hơn và chính sách tiền tệ trởnên bất lực - theo kinh tế học Keynes.

Trong một thời gian dài, các nền kinh tế vĩ mô đã được quản lý bằng cáchthay đổi lãi suất Vì vậy, bẫy thanh khoản là một cú sốc cho các nhà hoạch địnhchính sách, vì họ được trải nghiệm một tình huống mà công cụ chính sách của họkhông còn phát huy tác dụng

1.2.2 Nguyên nhân

Mong đợi giảm phát: Nếu xảy ra giảm phát hoặc mọi người mong đợi rằngthời gian tới sẽ xảy ra giảm phát (giá cả sẽ giảm đi) Lúc đó, dù có giữ tiền mặtthì trên thực tế số tiền của người đó vẫn tăng lên về giá trị trong tương lai

Ưu tiên cho tiết kiệm: Bẫy thanh khoản xảy ra trong thời kỳ suy thoái vàtriển vọng về kinh tế ảm đạm Người tiêu dùng, doanh nghiệp và các ngân hàngđang rất bi quan về tương lai, vì vậy họ xem xét việc tăng những khoản tiết kiệm

để phòng ngừa rủi ro và rất khó khăn để buộc họ chi tiêu Sự gia tăng trong tiếtkiệm này đồng nghĩa với tiêu dùng sẽ giảm sút Ngoài ra, trong thời gian suythoái, các ngân hàng càng ngần ngại vay vì sợ rủi ro đến từ các doanh nghiệpkhách hàng phá sản, mất khả năng thanh toán Thêm nữa, cắt giảm lãi suất cơ bảnxuống 0% không thể biến thành lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại thấphơn, vì vậy các ngân hàng không muốn cho vay

Suy kiệt tín dụng: Bernanke và Lown (1991) định nghĩa “Suy kiệt tíndụng” là “sự dịch chuyển rất mạnh sang trái của đường cung tín dụng ngân hàngtrong điều kiện lãi suất thực an toàn và chất lượng người đi vay tiềm năng khôngđổi”, hàm ý tín dụng phải suy giảm "rất mạnh" và giảm ngay cả khi lãi suất chovay cũng như tiêu chuẩn của người đi vay tốt Trong khi đó, nhiều nhà kinh tế lạicho rằng "Suy kiệt tín dụng" là giai đoạn mà các ngân hàng từ chối cho vay ngay

cả khi người vay đủ điều kiện và sẵn sàng trả lãi suất cao, hay còn gọi là sàng lọctín dụng phi lãi suất (Owens và Schreft, 1993; Friedman, 1991; Green và Oh,1991; Bermuer và Koubi, 2002) Luồng quan điểm thứ ba dung hòa hai luồngquan điểm trên, theo đó "Suy kiệt tín dụng" là tổng hợp của việc thu hẹp cung tíndụng và sàng lọc tín dụng phi lãi suất (Boever, 2009; Hubbard, 2008; Ding vàđồng sự, 1998; Hội đồng các nhà cố vấn kinh tế, 1991)

Trang 15

Bằng chứng thực nghiệm cho thấy “Suy kiệt tín dụng” thường xảy ra tronggiai đoạn khủng hoảng kinh tế khiến rủi ro gia tăng, dẫn đến các NHTM tăng chiphí cho vay hoặc không sẵn lòng cho vay ra Khi đó, NHTW có nới lỏng tiền tệ

để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì hiệu quả của nó sẽ bị hạn chế do kênh tíndụng không còn vận hành bình thường, cản trở quá trình hồi phục kinh tế, thậmchí có thể làm tê liệt nền kinh tế

1.2.3 Giải pháp thoát khỏi bẫy thanh khoản

Theo Paul Krugman: tạo ra lạm phát kì vọng sẽ giúp nền kinh tế thoát khỏibẫy thanh khoản

Theo các nhà kinh tế tiền tệ, thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng: tăngcung tiền, bơm thanh khoản vào nền kinh tế hoặc thông qua nghiệp vụ thị trường

mở, tăng cường mua các tài sản tài chính như trái phiếu dài hạn

Theo quan điểm Keynes: thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nhằmkích vào tổng cầu Chính sách tài khóa lúc thường vốn không phát huy được hiệulực đầy đủ do hiện tượng lấn át (crowding out) thì lúc này lại phát huy đầy đủhiệu lực do hiện tượng lấn át không còn (vì lãi suất thấp)

1.3 Mối quan hệ giữa bẫy thanh khoản và giảm phát

1.3.1 Bẫy thanh khoản dẫn tới giảm phát

Khi nền kinh tế suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng chính sáchtiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tưnhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất là liên tục và xuống thấp quá mức thì theo lýthuyết ưa chuộng tính thanh khoản (lãi suất chính là cái giá để người ta hy sinh

sự ưa chuộng tính thanh khoản của tiền mặt), mọi người sẽ giữ tiền mặt chứkhông gửi vào ngân hàng hay đầu tư vào các tài sản tài chính Hậu quả là đầu tư

tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thìcũng không thể nào cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xínghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trongviệc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích tổng cầu Tổngcầu tiếp tục giảm dẫn đến giảm phát

1.3.2 Giảm phát dẫn tới bẫy thanh khoản

Trang 16

Giảm phát trong hầu hết các trường hợp đều xuất phát từ sự sụt giảm củatổng cầu Giảm phát làm tổng chi tiêu giảm dẫn đến nền kinh tế bị suy thoái Đểgiải quyết vần đề trên, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện nới rộng kinh tế đểkích thích đầu tư tư nhân, kích thích sản xuất cung ứng hàng hóa cho nền kinh tế.Một trong những biện pháp đầu tiên và ưu tiên là giảm lãi suất để kích cầu Tuynhiên, khi thực hiện chính sách kích cầu bằng việc giảm lãi suất quá nhanh vàliên tục đến mức quá thấp làm cho chi phí cơ hội giữa việc giữ tiền và gửi tiếtkiệm là như nhau Trong trường hợp này, người dân có xu hướng giữ tiền nhiềuhơn Như vậy chính sách tiền tệ một lần nữa không thực hiện được vai trò củamình, trong khi trông đợi của người dân là càng ngày lãi suất và giá cả càng giảmthì nhà đầu tư tư nhân lại khó có thể tiếp cận nguồi vốn dù lãi suất đã giảm Kếtquả là nền kinh tế lại rơi vào bẫy thanh khoản khi chính sách tiền tệ lại trở nênbất lực.

Cuối cùng cái vòng luẩn quẩn chống giảm phát lại phát sinh bẫy thanhkhoản, chống bẫy thanh khoản lại phát sinh giảm phát cứ bám lấy nền kinh tế nếungân hàng trung ương cũng như những nhà hoạch định chính sách không có mộtbiện pháp thích hợp và hữu hiệu Trên thế giới trong nhiều năm qua cũng đã cókhông ít quốc gia đã phải vất vả để giải quyết bài toán giảm phát và bẫy thanhkhoản

1.4 Phân biệt sự khác biệt giữa bẫy thanh khoản và suy kiệt tín dụng

Biểu hiện giống nhau giữa hai hiện tượng “Bẫy thanh khoản” và “Suy kiệttín dụng” là kênh tín dụng bị “đông cứng”, nền kinh tế gần như thiếu đi nguồnvốn cho tăng trưởng và phát triển, hiệu quả của chính sách tiền tệ bị hạn chế, nếukéo dài thì nền kinh tế sẽ suy thoái trầm trọng

Tuy nhiên, hai hiện tượng này khác nhau về bản chất:

“Bẫy thanh khoản” nói đến sự sụt giảm cầu tín dụng và thường xảy ra khinền kinh tế đã trong giai đoạn suy thoái trầm trọng kéo dài, khi đó các nhà đầu

tư, các doanh nghiệp, hộ gia đình đều mất niềm tin vào triển vọng phục hồi kinh

tế Trong hiện tượng này, lãi suất thường ở mức rất thấp gần với 0%

Trong khi đó, “Suy kiệt tín dụng” là sự sụt giảm mạnh nguồn cung tíndụng trong khi cầu tín dụng vẫn có thể có và không được đáp ứng, lãi suất

Trang 17

thường ở mức cao Hiện tượng “Suy kiệt tín dụng” nếu không được khắc phụckịp thời thì sau một thời gian có thể chuyển thành hiện tượng “Bẫy thanh khoản”.

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (Ding và đồng sự, 1998) chỉ ra haikênh tác động chính của “Suy kiệt tín dụng” tới nền kinh tế Một là tăng chi phíhuy động vốn của doanh nghiệp Khi tín dụng khan hiếm, chi phí huy động củadoanh nghiệp tăng lên có thể do lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp bị giảm (phí bùrủi ro tăng) hoặc các ngân hàng quyết định nâng lãi suất cho vay thay vì nâng lãisuất tiền gửi để xử lý khan hiếm nguồn tiền Hai là, sẽ có hiện tượng sàng lọc cácđiều kiện cho vay mà bản chất là sàng lọc các đối tác chất lượng (flight-to-quality) Các ngân hàng sẽ chọn lọc những doanh nghiệp có tình hình tài chínhtốt, hoặc dịch chuyển vào tài sản phi rủi ro Như vậy, “Suy kiệt tín dụng” có thểdẫn tới những khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp khi tiếp cận vốn sản xuất kinhdoanh Tình trạng này kéo dài nhiều năm và chính sách tiền tệ nới lỏng nhưngvẫn không có tác dụng thì có thể dẫn đến “Bẫy thanh khoản” theo định nghĩatruyền thống

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN

TRÊN THẾ GIỚI.

2.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Nước Mỹ đã có hai lần giảm phát đáng chú ý là năm 1836 và trong cuộcĐại suy thoái năm 1929-1933 Bài tiểu luận của nhóm tập trung đi vào nghiêncứu những kinh nghiệm của nước Mỹ trong cuộc Đại khủng hoảng năm 1929-1933

2.1.1 Đại khủng hoảng Mỹ (1929- 1933)

Trang 18

Vào những năm 1930, chế độ bản vị vàng đã trở thành cơ chế truyền dẫnkhủng hoảng từ nước này sang nước khác Chính phủ các nước khi đó đã tăng lãisuất để bảo vệ dự trữ vàng của mình Năm 1928 nước Mỹ tăng lãi suất, khiến cácquốc gia khác cũng phải tăng theo Chỉ trong năm 1929, đã có hơn 1 tỷ cổ phầnđược giao dịch trên sàn NYSE Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng từ 191 điểmlên đến 381.17 điểm Không một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua mức lợi nhuậnnhư vậy Các ngân hàng đã cho các nhà giao dịch chứng khoán vay với lãi suất12% Cổ phiếu thi nhau tăng giá tới mức dường như không gì có thể đảo ngượcđược tình thế Tuy nhiên, tháng 10/1929, cổ phiếu trên phố Wall sụt giảm mạnhsau thời kỳ tăng trưởng bùng nổ những năm 1920.Từ ngày 24 đến ngày 28-10, 15triệu cổ phiếu được bán ra Giá giảm liên tục Nhà đầu tư đổ dồn tới Wall Street.Niềm tin của cổ đông bị “khai tử” Chỉ số Down Jones đã sụt giảm từ mức cao kỷlục 381.17 ngày 3/9/1929 xuống còn 230.1 ngày 29/10/1929 Ngày 29-10-1929,với 16 triệu cổ phiếu được bán ra, đã đi vào lịch sử với cái tên “Ngày thứ ba đentối” Điểm đáy của chỉ số này đạt được ngày 5/06/1932 khi chỉ số Down Jonesđóng cửa ở mức 41,2- giảm gần 90% so với mức đỉnh cao nó từng đạt được banăm trước đó.

H2.1.Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934

Các cổ phiếu theo nhau rớt giá liên tục trong suốt 3 năm.Thị trường chứngkhoán xuống dốc không phanh Hệ lụy là kinh tế Mỹ sụt giảm mạnh, tỷ lệ thấtnghiệp tăng cao Hệ thống ngân hàng Mỹ chấn động mạnh Sản lượng côngnghiệp ở Mỹ giảm 50%, trong đó gang-thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%,11.500 xí nghiệp lớn, nhỏ bị phá sản Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ

Trang 19

Ngành mậu dịch quốc tế bị suy giảm nghiêm trọng, thị trường xuất khẩu bị đóngbăng, thị trường lao động và đầu ra sản phẩm cực kỳ khó khăn

Bắt đầu ở Mỹ, sau đó, cuộc đại khủng hoảng đã nhanh chóng lan rộng ratoàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy các nước phát triển Ngày 11-5-

1931, ngân hàng Creditanstalt của Áo sụp đổ, châm ngòi cho làn sóng hoảng loạn

ở châu Âu Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 giảm 50%, thép cũng sụt gần 50%,thương nghiệp sụt 60% Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930 vàkéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp giảm40%, ngoại thương giảm 60%, thu nhập quốc dân giảm 30% Tại Đức, sản xuấtcông nghiệp chịu tốc độ âm 47% Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêudùng, thương mại, thu nhập cá nhân, thị trường lao động đều chịu ảnh hưởngxấu

Trong 15 nước tư bản đã có tới 18.000 cuộc bãi công của công nhân với

sự tham gia của 8,5 triệu người Hàng triệu héc ta cây trồng bị phá Cuộc khủnghoảng kinh tế đã đẩy nền kinh tế tư bản bước vào tình trạng tiêu điều

Giữa năm 1930, tỷ lệ lãi suất đã giảm xuống mức thấp Tháng 5/1930, doanh sốbán ô tô đã giảm dưới mức năm 1928 Giá cả nói chung bắt đầu giảm, mặc dùmức lương vẫn ổn định vào năm 1930 và tình trạng giảm phát bắt đầu vào năm

1931 trong khu vực nông nghiệp, giá cả hàng hóa giảm, trong khai thác mỏ vàkhai thác gỗ nơi có tỷ lệ thất nghiệp cao và có ít việc làm khác Sự suy giảmtrong nền kinh tế Mỹ là nhân tố kéo theo sự suy giảm kinh tế của hầu hết cácnước khác Đến cuối năm 1930, tình trạng giảm phát xuất hiện khắp các nướctrên thế giới

Hàng chục triệu công nhân bị thất nghiệp Ở Mỹ, năm 1929 tỷ lệ thấtnghiệp là 3%, đến năm 1933 đã lên tới 25% Hàng triệu nông dân bị phá sản, đờisống của những người lao động hết sức cơ cực

Trang 20

H2.2.Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng

2.1.2 Nguyên nhân

Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân cho cuộc suy thoái Một số ýkiến cho rằng, đó là hậu quả của sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng hay thịtrường chứng khoán, hay sự suy giảm giao dịch quốc tế do Mỹ tăng thuế Tuynhiên, ý kiến được nhiều nhà kinh tế đồng thuận, đó là do yếu tố cung của nguồntiền cũng như sai lầm trong điều hành của FED khi phản ứng quá chậm trongviệc giải cứu các ngân hàng Ở bài nghiên cứu của mình, nhóm cũng đưa ra vàphân tích các nguyên nhân chính đến cuộc Đại suy thoái này

Trang 21

Ảnh hưởng của việc đầu cơ ồ ạt

Theo trường phái Áo, nguyên nhân bắt nguồn từ sự can thiệp của Chínhphủ vào thập kỷ 1920 Sự dễ dãi trong tăng tín dụng, các ngân hàng dễ dàng chovay và cho vay quá nhiều, dẫn tới cung tiền tăng vọt ngay trước khi khủng hoảng,thị trường chứng khoán bùng nổ quá mức, rủi ro không được quản lý Khi thịtrường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ dây chuyền của các thể chế tài chính

do các khoản nợ xấu không đòi được

Đại khủng hoảng 1929 bắt đầu từ việc đầu cơ bất động sản ở Florida từnhững năm 1920 Thập niên 1920 là thập niên tăng trưởng tại Mỹ Từ năm 1921đến 1929, sản lượng công nghiệp tăng khoảng 40%, ngành nông nghiệp bắt đầu

đi vào hiện đại hóa, người nông dân vay mượn để đầu tư sản xuất, đưa sản lượngnông nghiệp đến tình trạng sản xuất thừa Ngân hàng phát triển tín dụng, chophép người dân mua sắm hàng hóa tiêu dùng lâu bền, xe hơi, nhà ở Thị trườngchứng khoán phát triển mạnh Tuy nhiên, nhà đầu tư nhanh chóng trở thành nhàđầu cơ: các cổ đông lúc này không quan tâm đến cổ tức được chi trả bao nhiêu vàchỉ quan tâm vào giá bán cổ phiếu được bao nhiêu Bùng nổ về đầu cơ đã khiếnhàng triệu người Mỹ đầu tư rất nhiều vào thị trường chứng khoán, một số lượnglớn còn đi vay tiền để mua cổ phần.Vào tháng 8 năm 1929, các nhà môi giới liêntục cho các nhà đầu tư nhỏ vay hơn 2/3giá trị bề mặt của các cổ phiếu mà họđang mua Hơn 8,5 tỉ đôla là các khoản vay, và toàn bộ số tiền này và nhiều hơnnữa được lưu hành ở Mỹ Giá cổ phiếu tăng lên khiến nhiều người mua hơn, bởi

vì người ta kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ cao hơn nữa Đầu cơ chính là động lực làmtăng giá và tạo ra bong bóng kinh tế Chỉ số P/E trung bình của các cổ phiếu kếthợp S&P là 32,6 vào tháng 9 năm 1929, trên mức bình thường rất nhiều

Việc các nhà đầu tư mua bất động sản với giá quá cao, để đầu cơ sinh lời,

hy vọng rằng giá cả thị trường tiếp tục tăng Các ngân hàng tiếp sức cho nhữnghành động đầu cơ bằng cách cho vay dễ dàng Thị trường chứng khoán ngàycàng phồng lên như “trái bóng”,cho tới khi đứt phựt vào cuối năm 1929, đưakinh tế Mỹ vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử

“Trái bóng” này được tạo nên phần lớn do các khoản tín dụng cho vaytheo ngày (call loan), với cơ cấu vận hành: Người mua chỉ phải trả một phần giá

Trang 22

trị của cổ phiếu mà anh ta mua (đôi khi chỉ 10%), phần còn lại được công ty kinhdoanh chứng khoán “vay giùm” ở ngân hàng.“Call loan” trở thành một công cụtuyệt vời để khuyến khích sự đầu cơ, mở cửa thị trường chứng khoán cho cảnhững người khiêm tốn nhất Năm 1929, cứ 100 người Mỹ thì có 1 người thamgia thị trường chứng khoán

Khi giá một loại cổ phiếu bị giảm, công ty kinh doanh chứng khoán yêucầu khách hàng của mình trả thêm một khoản tiền để “bồi thường” phần giảmnày Nếu người mua không trả được, cổ phiếu của anh ta bị đẩy ra thị trường.Vào mùa thu năm 1929 ở Wall Street, các công ty kinh doanh chứng khoán nônnóng thanh toán các cổ phiếu như thế Thường là với giá hạ, tức bị lỗ Còn kháchhàng của họ thì phá sản Vào ngày 24 tháng 10, 1929 khi chỉ số Dow Jones vừamới vượt khỏi đỉnh vào ngày 3 tháng 9 là 381,17 điểm, thị trường đột ngột chữnglại, các lệnh bán ra ồ ạt (bán đổ bán tháo) Có 12.894.650 cổ phiếu được bán ratrong một ngày, và đây là nguyên nhân làm cho giá cả cổ phiếu trên thị trườnglao dốc Bắt đầu vòng xoáy nghiệt ngã Sự phá sản của các công ty kinh doanhchứng khoán đẩy các nhà băng - vốn là chủ nợ, lâm vào cảnh lụn bại

Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đã đẩy Mỹ vào suy thoái Tiêudùng và đầu tư bị ảnh hưởng trực tiếp Người dân bắt đầu lo lắng về thu nhập, họtiêu dùng ít hơn trước Các ngân hàng đua nhau phá sản do người vay vốn đầu cơkhông còn khả năng trả nợ, cổ phiếu đầu cơ không còn giá trị, còn những ngườigửi tiền lo lắng và rủ nhau ồ ạt rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng Chỉ vài tháng sau,khủng hoảng chứng khoán biến thành khủng hoảng ngân hàng Điều này khiếncác công ty không thể tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư, khiến cho hoạt động sảnxuất kinh doanh bị đình trệ

Các chính sách của chính quyền không hợp lý

Theo trường phái Keynes, đối với cuộc Đại suy thoái 1929-1930, cơ chế

tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được Do giảm phát mạnh, lãisuất danh nghĩa giảm - giá cả giảm 24% từ năm 1929 đến 1933 Dù lãi suất giảmnhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá bi quan Chính quyền

Mỹ lúc đó chỉ quan tâm đến cân bằng ngân sách, để nền kinh tế tự tìm đường đi

Trang 23

cho chính nó, hơn việc chấp nhận thâm hụt ngân sách để duy trì việc làm và sảnlượng.

Theo trường phái kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự xiếtchặt quá mức của cung tiền năm 1930, và cho rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sửdụng sai chính sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cungtiền

Nhiều nhà kinh tế trong đó có cả cựu Chủ tịch của FED Ben Bernanke đã

đi xa hơn cách lý giải của kinh tế học Keynes và cho rằng nguyên nhân chínhnằm ở chính sách tiền tệ khi FED đã giảm một phần ba cung tiền trong thời gian1929-1933, gây ra tình trạng giảm phát và suy thoái trong thời kỳ này Giảm phát

do thắt chặt tiền tệ thường kéo theo gánh nặng nợ nần và đổ vỡ của các ngânhàng thương mại mà các nhà kinh tế gọi là tình trạng giảm phát - nợ (debt-deflation)

Khi mức giá giảm từ 20-50% thì chỉ trong 10 tháng đầu năm 1930 đã có

744 ngân hàng ở Mỹ phá sản, tín dụng ngưng trệ làm tăng mạnh hơn áp lực giảmphát Năm 1933 những người gửi tiền ở nhà băng mất 140 tỷ đô-la Nhiều nhàkinh tế cho rằng việc giảm buôn bán quốc tế sau năm 1930 làm cho khủng hoảngkinh tế càng trầm trọng Nguyên do là để bảo vệ công nhân Mỹ, ngày 17 tháng 6năm 1930, Mỹ đã tăng thuế nhập cảng 20.000 sản phẩm, vì vậy các nước khác trảđũa Mỹ và làm cho hảng nhập cảng từ Âu châu vào Mỹ từ 1.334 triệu đô-la năm

1929 còn 390 triệu năm 1932; xuất cảng của Mỹ từ 2.344 triệu đô-la năm 1929còn 784 triệu đô-la năm 1932; buôn bán trên thế giới giảm 66% từ năm 1929 tớinăm 1934 Vì vậy nền kinh tế Mỹ càng suy giảm Trước năm 1930 chỉ số thấtnghiệp Mỹ là 7.8% Sau khi thi hành luật nhập cảng thì thất nghiệp lên 16.3%,năm 1932 lên 23.6%, năm 1933 lên 24.9% Luật này làm hại nền kinh tế Mỹ vàchỉ được bãi bỏ vào năm 1950

Duy trì tỷ giá cố định

Chính phủ Mỹ muốn duy trì bản vị vàng – một dạng của chính sách tỷ giá

cố định, FED đã không thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ cần thiết Chínhsách này đã góp phần gây ra giảm phát, mức giá chung trong giai đoạn 1929-

1933 giảm và dẫn đến tình trạng giảm phát nợ Mức giá tiêu dùng giảm đồng

Trang 24

nghĩa với giá trị thực của nợ tăng Các món nợ quá hạn và nợ xấu tăng lên khiếncác ngân hàng phải bán tài sản của họ Điều này càng làm cho tình hình tài chính

ở các ngân hàng càng trở nên tồi tệ Tình trạng giảm phát nợ một mặt đẩy cácngân hàng yếu ớt nhanh chóng sụp đổ, làm giảm lượng tín dụng, thu hẹp đầu tư

và tiêu dùng, mặt khác vì không có lợi cho người đi vay nên cũng không kíchthích vay để đầu tư

Tất cả tạo nên một ảnh hưởng dây chuyền mạnh mẽ làm tổng cầu sụt giảmnặng nề Khủng hoảng ngân hàng đưa nước Mỹ đến khủng hoảng kinh tế năm

1931 và đi vào đại suy thoái: sản lượng công nghiệp giảm 50%, tỷ lệ thất nghiệplên đến 25% trong giai đoạn 1930 – 1932

2.1.3 Các biện pháp của Mỹ

Lúc đầu, các nhà chức trách cố lấy lại niềm tin trên thị trường bằng nhữngbài phát biểu, cam kết Thậm chí Tổng thống Herbert Hoover trấn an dân chúngrằng nền kinh tế vẫn vững vàng Tuy nhiên, mọi biến chuyển chỉ bắt đầu khi ôngFranklin D Roosevelt trúng cử Tổng thống vào năm 1932 Để cứu vãn tình trạngđại khủng hoảng kinh tế, Tổng thống Hoa Kỷ Franklin Roosevelt đã ban hànhTân chính sách (New Deal) Chương trình tân chính sách có mục tiêu nhu cầu vàcung cấp việc làm và cứu trợ người nghèo thông qua tăng cường chi tiêu củachính phủ và cải tổ tài chính Chính phủ ban hành luật trao đổi an toàn năm 1934tạo ra công ty bảo hiểm tiền gửi ngân hàng FDIC Chính phủ Mỹ bắt đầu chínhsách trợ cấp thất nghiệp, ổn định thị trường bằng cách hạn chế sản xuất, khuyếnkhích hoạt động công đoàn, và xây dựng hệ thống hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp.Nhờ Tân chính sách của Tổng thống Roosevelt mà nền kinh tế của Mỹ năm 1934GDP tăng 7.7%, thất nghiệp từ 24.9% năm 1933 còn 21.7% năm 1934 Suythoái tháng 5 năm 1937, GDP -4.9% chấm dứt tháng 6-1938 làm cho chỉ số thấtnghiệp lại tăng lên 19% và cuộc khủng hoảng kinh tế của Mỹ chỉ chấm dứt khithế chiến thứ 2 bắt đầu khoảng 1939

Sau năm 1939 khi Mỹ tham gia thế chiến thứ 2 nên cần nhiều quân, 6 triệuquân và công nhân viên sản xuất vũ khí khoảng 6 triệu, thì số thất nghiệp mớigiảm xuống, phụ nữ và những người da đen buộc phải đi làm thay thế cho hàngtriệu người đã gia nhập quân đội Sản lượng kinh tế tăng lên gấp đôi Khi cuộc

Trang 25

khủng hoảng lên đến đỉnh điểm, Mỹ đã phải vay nợ hơn một nửa số tiền trangtrải chiến phí Nửa còn lại được gây dựng từ các khoản đóng thuế của người dân.

Chương trình tân chính sách được ban hành bởi Tổng Thống Franklin Roosevelt bao gồm các điều khoản chính sau đây:

1 Đoàn bảo tồn dân sự (Civilian Conservation Corps Act): Đoàn này được tạo ra năm 1933 gồm 3 triệu người tuổi 18-25 làm việc xây đường xá, chống lụt, đốn gỗ trong rừng.

2 Ủy ban quản lý công tác dân sự: Chương trình tạo ra năm 1933 Các việc xây dựng, tốn kém và vì vậy chương trình này phải bãi bỏ năm 1934

3 Cục quản lý nhà cửa là (Federal Housing Administration (FHA) thuộc chính phủ được tạo ra để chống lại cuộc khủng hoảng trong kỳ đại khủng hoảng kinh tế Cục này dùng để điều hành các món nợ địa ốc.

4 Cục an ninh liên bang (federal security agency): Cục an ninh liên bang thiết lập năm 1939 có nhiệm vụ bảo vệ các thực thể của chính phủ Cục này bãi bỏ năm 1953 Cục này quản lý an ninh xã hội, ngân khoản giáo dục liên bang, an toàn thực phẩm và thuốc.

5.Tổ hợp cho vay mua nhà được thành lập năm 1933 để trợ giúp việc trả góp nhà Vì cuộc đại khủng hoảng gây ra việc tịch thu nhà bán đấu giá Tổng Thống Roosevelt tạo ra cũa này để giúp đỡ nhưng người nợ nhà băng Trong khoảng 1933-1935, có 1 triệu người nhận được các khoản vay dài hạn cứu căn nhà của họ để khỏi bị tịch thu.

6.Luật phục hồi quốc gia: Luật này có mục tiêu giúp đỡ quyền lợi của công nhân và các công ty Hoa Kỳ Tuy nhiên luật này bị Tối cao Pháp viện tuyên bố là vi hiến vì vi phạm phân quyền.

7 Cục quản lý công tác công cộng: Cục này được tạo ra để tạo ra các việc làm trong thời gian khủng hoảng kinh tế Cục này có mục đích tạo ra các việc làm công cộng thí dụ xây dựng đường xá cấu cống và tiếp tục tới năm 1941 thì bãi bỏ vì lúc đó cần công nhân sản xuất xây dựng quốc phòng.

8 Hệ thống an sinh xã hội (Social Security System): Luật an sinh xã hội

để giúp đỡ các người già cả (67 tuổi trở lên) Luật này cho phép những

Trang 26

người khi về già được tiền an sinh xã hội Chương trình này là một chương trình rất tốt do sự đóng góp của công nhân và chủ nhân.

9.Thẩm quyền thung lũng Tennesee (the Tennessee Valley Authority (TVA): Thẩm quyền thung lũng Tennesee thiết lập năm 1933 để giúp đỡ nhân dân các vùng thung lũng Tenessee bị thiệt hại nặng nề trong cuộc khủng hoảng kinh tế Chương trình này thuộc chính phủ đó là chương trình xây dựng đập để chống nạn lụt và tạo điện năng và Canh tân các nông trại

10 Sở lao động thành lập năm 1935 cốt tạo ra việc làm cho người thất nghiệp công nhân hay viên chức.

11 Cục liên bang bảo hiểm tiền gửi ngân hàng FDIC (The Federal Deposit Insurance Corporation (FDIC) Hiện nay bảo đảm tới $100000 cho mỗi cá nhân tại mỗi ngân hàng

12 Luật an ninh 1933 đặt qui luật tiêu chuẩn cho việc buôn bán chứng khoán , với yêu cầu các công ty minh bạch báo cáo rủi ro đầu tư

13.Cục cứu trợ khẩn cấp liên bang (Federal Emergency Relief Administration (FERA) cốt giúp đỡ người thất nghiệp cung cấp việc làm cho hơn 20 triệu người và phát triển các công trình trong đất công cộng trong toàn quốc

14 Cục quản trị công trình xây dựng công cộng (The Public Works Administration) viết tắt là PWA thiết lập năm 1933 ký khế ước với các hãng

tư để tạo ra công việc xây dựng các công trình công cộng quản lý 34.000 phương án bao gồm xây các phi trường, các đập nước tạo máy thủy điện, hàng không mẫu hạm, cầu, trường học, bệnh viện, thiết lộ và 25.000 nhà ở.

Từ năm 1933- 1942, cổ phiếu US đã tăng 140% nhờ chính sách nới lỏngtiền tệ thông qua tăng cớ số tiền tệ

2.1.4 Bài học kinh nghiệm từ khủng hoảng nền kinh tế Mỹ 1929-1930

Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ linh hoạt Chính phủnên có các thông điệp rõ ràng đến thị trường về các mục tiêu ngắn hạn và tuyên

bố tiếp tục hỗ trợ thị trường cho đến khi nền kinh tế phục hồi

Lành mạnh hóa ngành ngân hàng bằng việc giải quyết triệt để các khoản

nợ xấu Hệ thống tài chính ngân hàng được cải thiện, các doanh nghiệp có khả

Ngày đăng: 11/07/2015, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2011). Giáo trình tiền tệ Ngân hàng. Nhà xuất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiền tệNgân hàng
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2011
2. Nguyễn Trọng Nghĩa (2012). “Bẫy thanh khoản nhìn từ gốc độ các doanh nghiệp niêm yết”. Tạp chí ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bẫy thanh khoản nhìn từ gốc độ cácdoanh nghiệp niêm yết”
Tác giả: Nguyễn Trọng Nghĩa
Năm: 2012
3. Nguyễn Thị Kim Nhã (2009). “ Lạm phát, giảm phát và thiểu phát”.Tạp chí công nghệ ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát, giảm phát và thiểu phát”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Nhã
Năm: 2009
6. Tapchitaichinh (2012). “Bẫy thanh khoản và suy kiệt tín dụng”.http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/bay-thanh-khoan-va-suy-kiet-tin-dung-19090.html. Truy cập ngày 31.05.2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bẫy thanh khoản và suy kiệt tín dụng
Tác giả: Tapchitaichinh
Năm: 2012
7. Thời báo ngân hàng (2012). “Bẫy thanh khoản”.http://thoibaonganhang.vn/bay-thanh-khoan-7285.html. Truy cập ngày 31/05/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bẫy thanh khoản
Tác giả: Thời báo ngân hàng
Năm: 2012
8. Vneconomy (2015). “Giá dầu giảm mạnh Việt Nam coi chừng lạm phát”. http://vneconomy.vn/thoi-su/gia-dau-giam-manh-viet-nam-coi-chung-giam-phat-20150107052558543.htm. Truy cập ngày 09/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá dầu giảm mạnh Việt Nam coi chừng lạm phát
Tác giả: Vneconomy
Năm: 2015
10. Cafef.vn (2008). “Bài học cho ngày nay từ cuộc Đại Khủng Hoảng 1929”. http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/bai-hoc-cho-ngay-nay-tu-cuoc-dai-khung-hoang-1929-2008101005487960.chn. Truy cập ngày 07.06.2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học cho ngày nay từ cuộc Đại Khủng Hoảng 1929
Tác giả: Cafef.vn
Năm: 2008
11. Thesaigontimes.vn(2008).“Cần hiểu đúng về giảm phát”.http://www.thesaigontimes.vn/12341/Can-hieu-dung-ve-giam-phat.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần hiểu đúng về giảm phát
Tác giả: Thesaigontimes.vn
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC - TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC (Trang 4)
Sơ đồ 3.4: Trích lập dự phòng các ngân hàng quý II/2014 - TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN
Sơ đồ 3.4 Trích lập dự phòng các ngân hàng quý II/2014 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w