1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khủng hoảng tài chính châu Á và những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và VN nói riêng

22 909 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng hoảng tài chính châu Á và những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 1997
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 82,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khủng hoảng tài chính châu Á và những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và VN nói riêng

Trang 1

Lời mở đầuCác quốc gia ngày nay đang phát triển trong một thế giới có sự phụ thuộclẫn nhau một cách rất chặt chẽ Xu hớng chung của thế giới ngày nay là tiến tớimột " ngôi nhà chung " sẽ đợc thiết lập cho nền kinh tế thế giới mà mỗi quốcgia thành viên trong đó dù mạnh hay yếu đều đóng một vai trò nhất định vào sựphát triển của ngôi nhà chung đó Điều này sẽ đem lại lợi ích to lớn cho từngquốc gia nhng đồng thời nó cũng đặt mỗi quốc gia trớc những thách thức to lớncần phải đơng đầu Mỗi sự thay đổi trong nền kinh tế quốc gia sẽ không chỉcòn là vấn đề riêng của quốc gia đó nữa mà nó còn có những ảnh hởng nhất

định đến các quốc gia khác Vì thế ,nếu không có những sách lợc phù hợp vàkhông thận trọng trong những bớc đi trong việc phát triển kinh tế thì cái giáphải trả cho sự bất cẩn đó sẽ vô cùng lớn Cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệchâu á năm 1997 vừa qua là bài học vô cùng đắt giá cho những quốc gia không

có sự cân nhắc rõ ràng trong các bớc đi của quá trình hội nhập

Chính vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu về cuộc khủng hoảng này là vô cùngcần thiết nhất là trong điều kiện nớc ta cũng đang trong tiến trình hội nhập vớinền kinh tế thế giới Nghiên cứu về nguyên nhân ,diễn biến cũng nh những hậuquả mà cuộc khủng hoảng gây ra cho nền kinh tế các nớc châu á cũng nh các n-

ớc khác trên thế giới sẽ cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về " mặt trái " xu ớng toàn cầu hoá đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho nớc ta Vàcũng qua đó khẳng định một tất yếu khách quan cho nền kinh tế Việt Nam : đó

h-là đẩy nhanh tiến trình hội nhập với thế giới bên ngoài với những bớc đi vữngchắc ,chủ động đối phó với những thách thức những trở ngại luôn đi kèm vớimột nền kinh tế mở

Đây là một vấn đề tuy đã qua khá lâu nhng những bài học nó đem lại thì vôcùng quý giá và rất cần thiết đối với sự phát triển vững mạnh của mỗi quốc

gia Do vậy em đã chọn đề tài "Khủng hoảng tài chính châu á và những ảnh hởng của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng"cho

đề án môn học của mình

Trang 2

Ch ơng 1 Những nét chính về cuộc khủng hoảng tài chính

động của nó đợc ghi nhận là toàn diện ,sâu sắc bao trùm lên mọi lĩnh vực đờisống xã hội ở các nớc Châu á Nếu nh đến đến cuối năm 1997 Thái Lan là nơikhởi đầu và là điểm nóng nhất của cuộc khủng hoảng thì chỉ một thời gian ngắnsau đó đã có nhiều điểm nóng khác thậm chí còn nóng hơn với đồng tiền mấtgiá tới một vaì trăm phần trăm nh ở Inđônêxia ,Hàn Quốc ( Kinh tế Châu á -Thái Bình Dơng số 1/ 18 ) Sau đây là một số diễn biến chính của cuộc khủnghoảng thể hiện qua các cuộc tấn công vào các đồng tiền ở các nớc Đông Nam

*Cuộc tấn công thứ hai vào đồng tiền Đông Nam á đợc đánh dấu bằng sựkiện ngày 14/8 , Indonexia quyết định thả nổi đồng Rupi trong vòng 24 giờ từ

2648 Rupi/USD xuống 2750 Rupi /USD ( giảm giá khoảng 5% ) Đến ngày18/8 là 2900-2960 Rupi/USD mất giá khoảng 19% so với năm 97.Cùng lúc

đồng Ringit của Malaixia xuống mức 2,825 Ringit/USD là mức giá thấp nhất

Trang 3

trong vòng 24 năm qua Đôla Singapore ,một đồng tiền mạnh của Châu á cũng

bị ảnh hởng giảm xuống mức 1,524SD ăn 1 USD ( giảm 1,5 %)

Những cố gắng của chính phủ Thái Lan chi hàng tỷ USD trớc đó để cứu

đồng Bath đã không thành Malayxia cũng đã chi 12 tỷ USD để bảo vệ đồngtiền nớc mình sau khi Indonexia phá giá đồng Rupi

Có thể nói cuộc tấn công vào các đồng tiền trên đã buộc các nớc Đông Nam

á thả nổi đồng tiền của mình và lâm vào tình thế rất khó khăn trong việc ổn

định tiền tệ Và điều đáng nói là cuộc khủng hoảng này đã không chỉ dừng lại ở

đây mà nó còn kéo dài ,lây lan sang nhiều nớc khác trong khu vực và trên toànthế giới

Trên đây là một số diễn biến chính của "cơn bão tiền tệ " đổ bộ vào khu vực

Đông Nam á Vậy phải chăng chính xu hớng toàn cầu hoá là nguyên nhân sâu

xa gây nên sự sụp đổ toàn diện đồng tiền của các nớc và theo đó gây ra những

ảnh hởng to lớn đến nền kinh tế thế giới

Trớc hết chúng ta đã thấy đợc rằng những diễn biến của cuộc khủng hoảngdiễn ra chủ yếu ở các nớc Đông Nam á nhng ảnh hởng của nó thì lan rộng ratoàn thế giới Hiệu ứng liên hoàn này thể hiện rõ nhất trên thị trờng chứngkhoán của các nớc trên thế giới với một sự chao đảo khủng khiếp của các trungtâm giao dịch Sự chao đảo này làm ta nhớ đến "Ngày thứ hai đen tối " 19 / 10 /

87 .Vào hôm đó ,tất cả các sở giao dịch chứng khoán từ Mỹ sang châu

Âu ,Châu á đều sụp đổ ,kéo theo một sự sụp đổ trên thị trờng chứng khoán thếgiới Đúng 10 năm sau ,lịch sử lặp lại Đó là ngày 27 / 10 /97 ,thị trờng chứngkhoán Wall Street ,chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế Mỹ suy giảm một mứccha từng có kể từ "Ngày thứ hai đen tối " đó Chỉ số Down Jones tại thời điểm

đóng cửa là 7176 giảm 554,26 điểm tức là 7,2% Sự sụt giảm mạnh đến mứcgiao dịch của toàn bộ Sở giao dịch đã bị ngừng trệ hai lần ,mỗi lần 30phút Nhiều công ty Mỹ trong ngày 27 / 10 đã bị điêu đứng vì bỗng dng bị mấtkhông hàng chục tỷ USD,điển hình là các tập đoàn Compaq ,Boeing, Inter,Microsoft vì các nhà doanh nghiệp này sở hữu một lợng lớn tài sản dới dạngchứng khoán

"Hiệu ứng Wall Street " nhanh chóng lan sang thị trờng thế giới Ngay từ saukhi chỉ số Dow Jones sụt giảm ,hầu hết các thị trờng chứng khoán từ Châu Âusang châu Mỹ ,Châu á đều nằm trong trạng thái rơi tự do Thị trờng chứngkhoán Mỹ la tinh chứng kiến những giờ phút tồi tệ trong lịch sử với chỉ sốGovespa (Braxin) giảm sút 15% ,chỉ số chứng khoán Achentina cũng giảm hơn

Trang 4

10% ,ở châu á,thị trờng chứng khoán Hồng Kông suốt từ 23 / 10 đến 27 / 10 đãchứng kiến một sự xuống dốc cha từng có.Chỉ số Hang Seng đã giảm xuốngmức thấp nhất ,dới 7000 điểm trong ngày 27 / 10 Sau đó tại thời điểm cuốingày 28 / 10 cha kịp hồi phục đã giảm 13,7% xuống còn 9059,89 điểm.

Một số thị trờng chứng khoán của các nớc tởng nh không liên quan gì đếncuộc khủng hoảng cũng bị giảm tơng ứng New Zealand,Australia,Singaporecũng giảm tới mức tơng ứng là 12,4% ; 7,2% ; 7,6% ở Nhật bản chỉ số Nikkeicủa thị trờng nớc này giảm 725,67 điểm tức là 4,26%

Các thị trờng chứng khoán châu Âu cũng suy sụp ,tuy nhiên các nhà quansát cho rằng sự suy sụp này sẽ không tác động quá lớn đến nền kinh tế của cácnớc Tại Frankfut ,chỉ số chứng khoán DAX giảm 13% trong khi mức giảm ởLuân đôn là 9% và ở Paris là 7% Còn ở Milan ,chỉ số Mibtel của thị trờngchứng khoán nớc này giảm 6,03%

Đó là những diễn biến khá tồi tệ trên thị trờng chứng khoán thế giới ,nơi

đợc coi là phong vũ biểu của nền kinh tế Những gì xảy ra trên thị tr ờng chứngkhoán phản ánh một cái gì đó bất bình thờng xảy ra trong nền kinh tế của các n-

ớc Vậy đó là những gì ?

Do nền kinh tế thế giới có sự phụ thuộc chặt chẽ với nhau nên cuộc khủnghoảng đã ảnh hởng trực tiếp tới hầu hết các quốc gia trên hành tinh với nhữnghiệu ứng trực tiếp và gián tiếp Tại thời điểm đó theo dự báo của tổ chức hợp táckinh tế OECD thì khủng hoảng tài chính ở châu á sẽ làm giảm 1% tốc độ tăngtrởng chung của thế giới năm 1998 Còn theo dự báo của cố vấn kinh tế củangân hàng thế giới WB thì mức tăng trởng toàn cầu sẽ giảm từ 2,1% đến3% Điều này chứng tỏ ngay khi cuộc khủng hoảng mới bắt đầu các nhà kinh tế

đã thấy đợc những hậu quả nặng nề mà nó gây ra cho nền kinh tế thế giới Đến

đây em xin đợc tiếp tục đề cập đến những ảnh hởng sâu rộng của cuộc khủnghoảng tới nền kinh tế thế giới trong phần tiếp theo của đề án

1.2.Những ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính châu á tới nền kinh tế thế giới

Có thể nói rằng đã một thời gian dài thế giới không phải chứng kiến một cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề đến vậy Để thấy đợc những sự ảnh hởngsâu rộng của cuộc khủng hoảng này em xin điểm qua sự ảnh hởng của nó đếntừng khu vực kinh tế trên thế giới

1.2.1.Đối với các nớc châu á

Trang 5

Chúng ta đều biết rằng nơi khởi nguồn của cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ này là châu á ,vì vậy châu á cũng là nơi phải hứng chịu những hậu quảnặng nề nhất

Trớc hết ta phải kể đến Thái Lan ,một nền kinh tế từng có thời kì pháttriển nhanh nhất Châu á nay đã trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tàichính do đồng tiền bị mất giá mạnh ,thị trờng chứng khoán giảm sút ,các vụ phásản ngày càng lan nhanh đặc biệt là phá sản của các ngân hàng Hầu nh tất cảcác ngân hàng và công ty tài chính Thái Lan đều bị tổn thơng Những khoảntiền cho vay khó đòi lên đến 12,5% tổng số tiền cho vay năm ngoái và sẽ còntiếp tục tăng lên đến 25% ,những vụ phá sản kinh doanh bất động sản rồi sự sụtgiảm trên thị trờng chứng khoán đã kéo 56 trên tổng số 58 ngân hàng và công

ty tài chính phải đóng cửa Những ngân hàng sống sót thì phải đơng đầu vớimột tơng lai cực kỳ không sáng sủa

Tiếp theo ,ngay sau khi đồng Rupi phá giá ,phần lớn trong tổng số 239ngân hàng và công ty tài chính của Indonexia đứng trên bờ vực của sự phásản .ở Malaixia thủ tớng M.Mohamet cay đắng thú nhận rằng chỉ sau một

đêm ,Malaixia đã mất trắng 150 tỷ USD Tỷ lệ lạm phát của Indonexia đã lên

đến hơn 10% ,giá cả tăng cao ,thất nghiệp xảy ra cha từng có ,đời sống nhândân vô cùng bấp bênh

Sang đến khu vực khác của Châu á ta thấy đối với Trung Quốc mặc dùkhông bị ảnh hởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng song có thể nó làm gián

đoạn các cuộc cải cách các ngân hàng Nhà nớc và các ngành công nghiệp Dự

đoán mức tăng trởng của Trung Quốc sẽ là 8% thay vì 9% trong năm 97

Đối với Nhật Bản , một nớc láng giềng lân cận của Đông Nam á có quan

hệ gắn bó mật thiết với khu vực này từ rất sớm và đã trở thành bạn hàng lớn thứhai ( sau Mỹ ) của Đông Nam á thì việc phải chịu ảnh hởng từ cuộc khủnghoảng này là không thể tránh khỏi ảnh hởng dễ nhận thấy nhất đó là ĐôngNam á là một trong những thị trờng xuất khẩu lớn nhất của Nhật nên việc các

đồng tiền Đông Nam á bị mất giá và sự sa sút kinh tế ở khu vực này đã hạn chếmột cách đáng kể lợng xuất khẩu của Nhật vào khu vực này Các số liệu thống

kê cho thấy lợng ô tô Nhật bán ra thị trờng Đông Nam á quý I năm 98 chỉ bằng1/4 cùng kỳ năm trớc Mặt khác việc phá giá đồng nội tệ ở các nớc Đông Nam

á lại phần nào tạo lợi thế cho các nớc này trong việc xuất khẩu hàng hoá Điềunày đồng nghĩa với việc các công ty xuất khẩu Nhật Bản sẽ vấp phải sự cạnhtranh gay gắt trên thị trờng thế giới và hậu quả tất yếu là lợi nhuận của nhữngcông ty này sẽ bị thu hẹp một cách đáng kể Hơn nữa , khủng hoảng tài chính

Trang 6

khu vực Đông Nam á đã đẩy các ngân hàng Nhật Bản vào tình cảnh khó khăncha từng có Gần 1/3 tổng số tiền cho vay ra nớc ngoài của Nhật là vào khu vực

Đông Nam á và Đông á Do vậy ,các ngân hàng Nhật cũng đang rối tung lên vìcác khoản nợ khó đòi đối với các nớc châu á và có thể gây ra một cuộc khủnghoảng các ngân hàng Rồi sau đó là sự xuống giá của thị trờng chứng khoánTôkyô,sự phá sản của các ngân hàng và các doanh nghiệp có tên tuổi đã kéotheo hàng loạt những hậu quả to lớn : giá cả ( nhất là của các tài sản có về tàichính )giảm sút ,các tác nhân mất sức chi trả ,các ngân hàng đình chỉ cho vay ,

nợ nần trở thành nguy kịch Nhân dân đua nhau bán tống bán tháo các các tàisản có làm cho thị trờng chứng khoán đã tồi tệ lại càng trợt dốc trong vòngxoáy Ngân hàng thế giới ( WB ) đã thông báo dự đoán về mức tăng trởng củaNhật Bản sẽ giảm từ 3% xuống còn 1% và năm 1998 sẽ không tốt lành đối vớinền kinh tế Nhật Bản

1.2.2.Đối với các nớc châu Mỹ

Đối với khu vực này có lẽ đầu tiên ta phải xét đến nớc Mỹ , một cờng quốc kinh

tế hàng đầu thế giới và có những lợi ích chiến lợc gắn bó chặt chẽ với khu vực

Đông Nam á và Đông á Trong hơn hai thập kỷ qua ,các nớc ở Đông Nam á và

Đông á đã đạt đợc mức tăng trởng kinh tế cao ,trở thành một khu vực phát triểnnăng động nhất thế giới ,hấp dẫn giới đầu t nớc ngoài trong đó Mỹ luôn ở vị tríhàng đầu Do vậy cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ trầm trọng diễn ra ở ĐôngNam á đã có những ảnh hởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mỹ Tác động đầutiên đối với nớc Mỹ chính là sự sụt giảm nặng nề đến thị trờng chứng khoánNew York đã trình bày ở phần trên Mặt khác , việc mất giá tiền tệ ở Châu á sovới đô la Mỹ có nghĩa là xuất khẩu của Mỹ giảm và lợi nhuận của công ty Mỹthêm sức ép Đồng USD lên giá làm cho hàng hoá của Mỹ ở nớc ngoài trở nên

đắt đỏ hơn Nhập khẩu từ châu á vào Mỹ sẽ tăng mạnh Các công ty Mỹ phảicạnh tranh khốc liệt hơn với nớc ngoài ,nhập siêu của Mỹ tăng ,năm 1998 caohơn năm 1997 tới 50% ,có thể lên tới 300 tỷ USD Theo đánh giá của Viện kinh

tế thế giới ( ở Washington ) ớc tính Mỹ sẽ mất từ

75 - 100 tỷ USD trong năm 1998 vì sụt giảm đáng kể kim ngạch xuấtkhẩu của Mỹ sang Châu á Các nhà máy của Mỹ nhiều khi không bán đợc hoặcphải giảm giá một số mặt hàng Do vậy khó mà tiếp tục đầu t để nâng cao sản l-ợng thêm nữa Và nếu cả đầu t ( chiếm 10% GDP ) lẫn xuất khẩu đều giảm ,Mỹ

sẽ phải chịu một ảnh hởng kép về suy giảm Ngay từ giữa tháng 6 / 1998 ,cổphiếu bán ra đã giảm hơn 100 điểm theo chỉ số DowJones Industrial Và khigiảm 2 %thì dự tính đã có 60 triệu cổ đông ở Mỹ bị thiệt hại Cũng vào thời

điểm này các ngành xuất khẩu tạo việc làm cho 11 triệu ngời Mỹ và các công ty

Trang 7

Mỹ cũng đã bắt đầu thấy có ít lợi nhuận hơn Sự chậm trễ các đơn đặt hàng từchâu á đã góp phần làm giãn thợ ồ ạt và tăng nhanh khoảng cách thơngmại .Thâm hụt thơng mại của Mỹ tăng lên đạt mức tồi tệ nhất kể từ năm

1992 Thâm hụt tài khoản vãng lai cũng ở mức kỷ lục 47,2 tỷ USD trong quý Inăm 1998 ,tăng 4,8% so với quý trớc Chỉ tính tháng 4 /1998 thâm hụt thơngmại với các nớc bên bờ Thái Bình Dơng ,kể cả Trung Quốc ,Nhật Bản ,HànQuốc ,Indonexia đã lên đến 46,7 tỷ USD ,cao hơn cùng kỳ năm 1997 Ngàycàng nhiều khu vực kinh tế và địa lý của Mỹ chịu ảnh hởng của cuộc khủnghoảng Châu á Riêng trong năm 1997 ,Mỹ đã phải rút khoảng 3 tỷ USD khỏicác quỹ tơng hỗ của Châu á và các hợp đồng mới về đầu t nớc ngoài vào TrungQuốc đã giảm 39% Mỹ đang giảm đợc sức ép lạm phát ,duy trì đợc đồng USDmạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác Tuy nhiên , nhịp độ phát triển kinh tế

Mỹ sẽ không mấy sáng sủa một khi đồng USD yếu đi nếu các nớc châu á tăngcờng nhập khẩu trong thời gian tới Lúc này , hàng hoá của Mỹ bán sang cá nớcchâu á trở nên đắt đỏ hơn do đồng USD tăng giá cao so với các đồng tiền các n-

ớc châu á ,làm cho hàng hoá Mỹ giảm sức cạnh tranh dẫn đến xuất khẩu của

Mỹ giảm đi Nhìn chung ,triển vọng kinh tế Mỹ sẽ đạt tốc độ tăng trởng 2,4%năm 1998 và 1,9% vào năm 1999 so với 3,8% của năm 1997 Tỷ lệ thất nghiệpchỉ là 4,7% ,giảm 0,3% so với năm 1997 Theo báo cáo của chính phủ Mỹ ,quý

I _1998 ,sản lợng của Mỹ tăng 6% so với 4,.9% quý IV năm 1997 ,số giờ lao

động tăng 4,8 % so với 3,5% ,giá lao động tăng 3,1% ,năng suất lao độngtăng ,1,1% Trong tháng 4/ 1998 ,tỷ lệ lạm phát của Mỹ là 4,3% ,thấp nhấttrong vòng 28 năm qua Tuy nhiên các ngân hàng của Mỹ không bị ảnh hởnglắm do cuộc khủng hoảng nhờ có một hệ thống ngăn ngừa hoàn hảo và nhờ vàoviệc Mỹ không cho vay các thị trờng non trẻ của châu á những số tiền lớn Các nớc Mỹ La tinh ,trớc đó nhiều năm đã từng gánh chịu một cuộc khủnghoảng tơng tự ,cũng bị ảnh hởng khá lớn Cuối năm 1997 quĩ tiền tệ quốc tếIMF ớc tính cuộc khủng hoảng ở châu á sẽ làm cho tốc độ tăng trởng kinh tếcủa toàn bộ khu vực này giảm khoảng 1% năm nay và năm 98 là 3,5% TạiBrazil ,AFP dự đoán rằng năm 98 sẽ là năm khô hạn đối với Brazil với việcGDP sẽ giảm 3-4% thay vì 2% nh dự đoán trớc đây ,lãi suất cao cũng ảnh hởngnhiều đến các hoạt động kinh tế Trong khi đó tại URugoay so phụ thuộc vàonền kinh tế Brazil nên thành công hay thất bại của khu vực công nghiệp nớc nàytrong năm 98 sẽ phụ thuộc vào chơng trình cải cách về cơ cấu của Brazil TạiAchentina ,cuộc khủng hoảng ĐNA đang gây ra những mối lo ngại rằng xuấtkhẩu nớc này sẽ mất khả năng cạnh tranh trong khu vực và đặc biệt là Brazil sẽgiảm bớt việc mua bán các sản phẩm của Achentina Tại Mêhi co ,thống đốcngân hàng trung ơng Guillermo ortiz cho biết ,tốc độ tăng trởng kinh tế dự tính

Trang 8

sẽ giảm xuống trong năm do những sức ép giảm phát và lãi suất tăng TạiPeru ,nhìn chung các quan chức ở đây không lo ngại lắm về cuộc khủng hoảng

do sức mạnh của nền kinh tế Pêru ,tuy nhiên ảnh hởng cũng sẽ có ở một sốngành công nghiệp đặc biệt là dệt vì các mặt hàng dệt xuất khẩu của châu á

đang làm cho các mặt hàng dệt trong nớc mất giá Tại Vênêzuela,các chínhsách của chính phủ gần đây đã bị ảnh hởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng Cácnhà phân tích cho biết ,cuộc khủng hoảng đã làm cho nhu cầu của châu á vềdầu lửa của Vênêzuela giảm khoảng 500 triệu thùng mỗi ngày ,khiến cho giádầu nớc này giảm

1.2.3.Đối với các nớc châu Âu

Châu Âu cũng chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu ásong mức độ có thể nhẹ hơn so với Nhật và Mỹ Hoạt động xuất khẩu và hoạt

động của các ngân hàng khu vực bị ảnh hởng lớn ,tình trạng thất nghiệp cũnggia tăng CHLB Đức là nớc phải chịu tác động mạnh nhất vì nớc này thờngxuất khẩu nhiều máy móc thiết bị có hàm lợng vốn cao ,đặc biệt là những hànghoá đợc sử dụng trong những dự án phát triển lớn của chính phủ Những dự ánlớn này đang bị trì hoãn hoặc loại bỏ do hầu hết các nớc Châu á phải tập trungvốn đối phó với khủng hoảng Các hợp đồng mua bán từ châu á giảm liên tục từ2-3% trong những tháng diễn ra khủng hoảng Hãng chế tạo máy bay khổng lồthì còn vấp phải các khó khăn trong việc thu hồi tiền bán máy bay qua Đông

á Các hãng ở châu Âu phải liên tục điều chỉnh kế hoạch đầu t do sự sút giảmtrong doanh thu và điều này có quan hệ mật thiết với vấn đề việc làm ở

đây Pháp và Đức là hai nớc có tỷ lệ thất nghiệp tăng cao ( tính đến cuối tháng 2năm 1998 đã gấp đôi tỷ lệ ở Mỹ ) Tại Anh ,một thị trờng đầu t đầu t đợc achuộng nhất ở châu Âu của các công ty Châu á -các khoản đầu t vào nớc này đãtừng là một nguồn thúc đẩy tăng trởng và tạo việc làm cho quan trọng cho khuvực này- nay giảm sút một cách đáng lo ngại ,một số dự án đầu t phải đình hoãn.Thêm vào đó ,các công ty con trực thuộc các các tập đoàn lớn của châu á đanglàm ăn và sử dụng nhân công ở các nớc EU cũng buộc phải thu hẹp quy môhoạt động ,cắt giảm việc làm và đẩy công nhân nớc sở tại lâm vào tình trạngthất nghiệp Các ngân hàng châu Âu cũng bị suy yếu lây Ngời ta đang phântích xem liệu các ngân hàng có phải lập ra những khoản dự trữ mới hay không

để đơng đầu với những khoản vay không trả đợc của khách hàng Tính đến thời

điểm nổ ra khủng hoảng ,các nớc Châu á nợ các ngân hàng quốc tế 389 tỷUSD ,trong đó 44% là nợ các ngân hàng châu Âu .Đầu t nhiều nhất vào

"những con rồng Châu á " là các ngân hàng Đức ( gần 43 tỷ USD ) ,Anh ( 32 tỷUSD ) ,Hà Lan ( 17 tỷ USD ) và các ngân hàng Pháp Đa số các khoản vay mới

Trang 9

dành cho Thái Lan và Hàn Quốc đều là các khoản vay ngắn hạn ,phải thanhtoán tối đa trong vòng một năm Ngày nay ,cũng giống nh đối với các ngânhàng Nhật Bản hay Mỹ thì chúng cũng trở thành " nợ khó đòi" khiến các ngânhang châu Âu mất đi một khoản tiền lớn Công ty Standard and Poor ( S & P )

đánh giá ,các ngân hàng châu Âu nói trên có thể chịu một khoản thua lỗ lên tới

20 tỷ USD từ các khoản cho vay sang Châu á Tổng số vốn các ngân hàng chovay sang các nớc Indonexia ,Malaixia ,Hàn Quốc ,Thái Lan là từ 110 tỷ USDtới 130 tỷ USD ,nhiều khoản cho vay này sẽ trở thành khó đòi .Trong đókhoảng 30% vốn cho Thái Lan ,50% số vốn Indonexia vay bị liệt vào loại khó

đòi trong năm 1998 Xét trên tổng thể ,tuy thơng mại và khu vực tài chính ngânhàng có bị ảnh hởng bởi hậu quả từ châu á thì 15 nớc thành viên EU vẫn đạtmức tăng trởng GDP bình quân trong 6 tháng đầu năm 1998 là 2,7% Cao nhất

là CHLB Đức với mức 3,0% so với 2,4% năm 97 ,của Pháp là 3% so với 2,3%năm 1997 ,Anh có tỷ lệ tăng trởng 2,2% so với 3,45% trong năm 97 Tỷ lệ thấtnghiệp nh trên đã đề cập là có gia tăng ở một số ngành song xét một cách toàndiện thì có giảm đôi chút ,10,5% năm 1998 so với mức 11,3% trong năm

1997 Tuy ảnh hởng tiêu cực lan truyền ở nhiều khu vực ,nhng tốc độ tăng trởngkinh tế của toàn châu lục này sẽ đạt 3% trong năm 1998 ,cao hơn 0,5% so vớinăm 1997 và cũng là mức tăng cao nhất từ năm 1990 đến nay

1.2.4.Đối với các nớc Châu úc

Australia cũng phải chịu ảnh hởng không nhỏ bởi có mối quan hệ chặt chẽ vềkinh tế với các nớc trong khu vực Đồng đôla nớc này đã tụt giá xuống mứcthấp nhất trong 12 năm qua do cuộc khủng hoảng tiền tệ từ châu á lansang Cuối tháng 6 /1997 ,tỷ giá 1AU$ / 0,73USD thì ngày 10/6/1998 chỉ còn 1AU$ / 0,59USD Điều này có nghĩa chỉ trong vòng 8 ngày đầu tháng 6 ,thị tr-ờng chứng khoán Australia đã mất khoảng 25,5 tỷ USD hoặc tính từ giữa tháng4/1998 đến nay thì giá trị chứng khoán tại Australia đã bị thiệt hại 52,5 tỷUSD Dầu mỏ, kim loại , vàng ,kẽm ,nhôm xuất khẩu bị giảm giá và lợng màcác hãng nhập khẩu lại tăng ,buôn bán mậu dịch với các nớc châu á củaAustralia ngày càng trầm trọng Chính phủ phải hạ tỷ lệ tăng trởng kinh tế đến0,75% so với mức dự tính trớc đây ,nạn lạm phát và thất nghiệp sẽ giatăng ,đồng AU$ sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà chuyên đầu t vàothị trờng tài chính quốc tế Một loạt các ngân hàng Australia đã phải tăng lãisuất đối với các khoản tiền vay mua nhà theo lãi suất cố định ,tất nhiên sẽ kéotheo sự gia tăng lãi suất các khoản vay khác Cho đến cuối tháng 6 / 1998 ,khốilợng hàng hoá xuất khẩu của nớc này vẫn đang có chiều hớng đi xuống trong

Trang 10

khi ngành chế biến cũng đang trong tình trạng suy giảm Có thể trong 2 năm tới

đây nền kinh tế nớc này còn đứng trớc nguy cơ suy thoái

Newzealand cũng đang lâm vào khủng hoảng kinh tế đầu tiên kể từ năm

1992 do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á ,lãi suất tăng đã làmgiảm sút chi tiêu tiêu dùng và nhu cầu xuất khẩu Nền kinh tế đã bị chững lạitrong quý 1 và tiếp tục trì trệ trong quý 2 năm 1998 .Hiện nay lãi suất ởNewzealand vào hàng cao nhất thế giới ,làm khó khăn cho các doanh nghiệpvay vốn sản xuất cũng nh hạn chế mức tiêu dùng xã hội Tỷ giá đồng tiền nớcnày đang ở mức thấp nhất trong vòng 12 năm qua .Tính đến hết năm tàichính ,tức ngày 31/3/1999 ,nhịp độ phát triển kinh tế có lẽ cũng chỉ tăng 2,5%

1.2.5.Đối với các nớc châu Phi

Nền kinh tế châu Phi cũng bị ảnh hởng bởi khủng hoảng lan truyền từ châu

á Điều này thể hiện ở giá nguyên liệu xuất khẩu giảm mạnh song tốc độ tăngtrởng GDP năm 1998 vẫn có thể đạt 4,5% so với 3,7% của năm 1997 ,bất chấpkhủng hoảng ở châu á Tuy vậy tích luỹ kém và nợ nớc ngoài cao vẫn là cănbệnh của khu vực này

Qua phần trên có thể thấy kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 1998 khá ảm đạm.Ai lạc quan nhất cũng chỉ dám đánh giá sự phục hồi và tăng trởng kinh tế thếgiới sẽ chỉ diễn ra vào cuối năm 1999 Hiện giờ ngời ta phải hết sức thận trọngvới vấn đề cơ cấu kinh tế Thế giới đã thành công bớc đầu trong việc tránh đổ

vỡ hàng loạt và hạn chế phần nào sự lây lan rộng ra của khủng hoảng ,nhng cúsốc châu á lại thổi bùng lên những mâu thuẫn về thơng mại Những rối loạn vềtài chính tiền tệ ,nhất là tỷ giá hối đoái sẽ làm suy yếu quá trình toàn cầu hoá vềtài chính ,buộc ngời ta tìm ra những biện pháp hữu ích hơn để can thiệp vào thịtrờng chứng khoán toàn cầu

Nói tóm lại ,cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á với những hậu quả

ảnh hởng lan toả ra toàn cầu càng chứng tỏ nhận định tiên đoán đúng đắn củaC.Mac và F Angghen ,lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới ghi trong " tuyênngôn của Đảng Cộng sản " cách đây hơn 150 năm rằng t bản với đầy khuyết tậtcủa nó theo chu kỳ sẽ tàn phá nền kinh tế thế giới ,mỗi cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ lần sau sẽ lại nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng lần trớc Chínhcác lực lợng thị trờng đợc hệ thống thị trờng tự do khuyến khích là nguồn gốcchủ yếu của cuộc khủng hoảng đã diễn ra ở châu á ( thu hút t bản quá mức ,tăngtrởng theo định hớng xuất khẩu quá mức và tự do hoá tài chính cũng quámức ) ,nó bắt Phơng Đông lệ thuộc vào phơng Tây Và rút cuộc ,theo đúng chu

Trang 11

kỳ phát triển t bản thì cuộc khủng hoảng này - dù đang làm gia tăng lạm phát ởcác nớc khu vực bị lâm vào khủng hoảng - đang báo hiệu một áp lực về hiện t -ợng thiểu phát trên toàn cầu

tài chính tiền tệ châu á năm1997

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng thì có nhiều Song ở đây chúng tahãy xem xét đến các nguyên nhân thuộc về một nền kinh tế "hớng ngoại " yếukém của các nớc Đông Nam á Từ đó rút ra những bài học về một nền kinh tếvững vàng trong xu hớng toàn cầu hoá cao độ nh hiện nay ,có thể hội nhập tốt

đẹp với thế giới Vậy ta cùng tìm hiểu một số nguyên nhân sau :

2.1.Đó là sự đánh giá quá cao đồng USD

Nguyên nhân đầu tiên đợc các nhà kinh tế nhất trí , đó là việc các nớc

Đông Nam á đã neo tỷ giá của mình quá chặt vào đồng USD.Các nhà hoạch

định chính sách của các nớc này đã quá tin tởng vào sự ổn định của đồng USD

mà quên đi một quy luật tỷ giá quan trọng ,đó là quy luật tỷ giá thực Tất cả các

đồng tiền đều có tỷ giá riêng của mình do chính những điều kiện của đất nớc đóquy định Thế nhng việc neo chặt tỷ giá của mình vào đồng USD đã làm cho tỷgiá thực tế bị kéo rất xa so với tỷ giá thực Điều này đợc thấy rõ ở TháiLan ,khi cha xảy ra khủng hoảng ,tỷ giá thực của đồng Bath là 30,27Bath/USD ,thế nhng chính phủ Thái Lan đã không lắng nghe ý kiến của các chuyêngia phát ra rằng đồng Bath bị đánh giá quá cao so với tỷ giá danh nghĩa Do đó

đã kéo đồng Bath lên giá 27,16 Bath / USD rồi tiếp tục lên 25,29 Bath / USD vàcuối cùng giữ ổn định ở mức hơn 25,5Bath/USD trong suốt 13 năm mặc cho tỷgiá thực lên đến 30,27 Bath/ USD

Có thể nói việc chính phủ duy trì một quan hệ tỷ giá cứng nhắc trong mộtthời gian dài và gắn chặt với đồng đôla Mỹ mà không tính đến những thay đổicủa mối quan hệ giá trị thực tế của đồng tiền nội địa là một trong những nguyênnhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng Thật vậy ,sự can thiệp của nhà nớc đểduy trì tỷ giá hối đoái ổn định trớc áp lực tăng giá USD của thị trờng đã tạo môitrờng đầu t ổn định giả tạo thu hút đầu t nớc ngoài Chính sách này ban đầuphát huy đợc hiệu quả khi nó tạo lòng tin cho các nhà đầu t vào sự ổn định tiền

tệ ,do đó ,nguồn vốn nớc ngoài tiếp tục gia tăng khiến cho những tổn thất củaviệc nâng giá đồng bản tệ bị che lấp và làm cho tốc độ tăng trởng kinh tế vẫncao theo sự gia tăng của luồng vốn này ,Nhng về lâu dài ,chính sách này sẽkhoét sâu lỗ thủng thâm hụt tài khoản vãng lai vì nhập khẩu sẽ tăng nhanh hơn

Ngày đăng: 11/04/2013, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w