Tính cấp thiết của đề tài Thực tiễn hoạt động của các NHTM Việt Nam trong những năm qua cho thấy tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ những khoản cấp tí
Trang 1TRƯƠNG NHẬT TÂN
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH GIA LAI
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Chí Dũng
Đà Nẵng - NĂM 2012LỜI CAM ĐOAN
Trang 2được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Trương Nhật Tân
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 8
1.1.1 Tín dụng Ngân hàng 8
1.1.2 Rủi ro tín dụng của NHTM 12
1.1.3 Đặc điểm rủi ro tín dụng của NHTM 15
1.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 16
1.2 HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RRTD CỦA NHTM 18
1.2.1 Nội dung hoạt động hạn chế RRTD của NHTM 18
1.2.2 Các tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM 19
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RRTD 22
1.3.1 Nhân tố bên ngoài ngân hàng 22
1.3.2 Nhân tố bên trong ngân hàng 23
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN – CHI NHÁNH GIA LAI 28
Trang 42.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam 28
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển BIDV - Gia Lai 28
2.1.3 Mô hình tổ chức tại BIDV - Gia Lai 29
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV - Gia Lai 30
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RRTD TẠI BIDV – GIA LAI… 34
2.2.1 Tổng quan hoạt động tín dụng tại BIDV - Gia Lai 34
2.2.2 Các biện pháp hạn chế RRTD tại BIDV - Gia Lai 35
2.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CỦA CÔNG TÁC HẠN CHẾ RRTD TẠI BIDV – GIA LAI 62
62
2.3.1 Dư nợ cho vay tai BIDV - Gia Lai 62
2.3.2 Phân tích kết quả công tác hạn chế RRTD tại BIDV – Gia Lai 63
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RRTD TẠI BIDV – GIA LAI 69
2.4.1 Những kết quả đạt được 69
2.4.2 Hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhận hạn chế 71
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH GIA LAI 74
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RRTD CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN – CHI NHÁNH GIA LAI 74
Trang 53.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN – CHI NHÁNH
GIA LAI 77
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị tín dụng 78
3.2.2 Tuân thủ chặt chẽ chính sách tín dụng do Hội sở chính ban hành 78 .81
3.2.3 Thực hiện tốt quy trình tín dụng 79
3.2.4 Định hạng tín dụng nội bộ và sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ để áp dụng các chính sách cấp tín dụng phù hợp, hạn chế rủi ro 81
3.2.5 Phân tán rủi ro tín dụng 83
3.2.6 Nâng cao chất lượng thu thập, xử lý, lưu trữ và sử dụng thông tin phục vụ cho công tác đề xuất, tái thẩm định đến phê duyệt cấp tín dụng 85
3.2.7 Tiến hành thành lập và nâng cao hiệu quả của Phòng Xử lý nợ tại Chi nhánh 87
3.2.8 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hạn chế RRTD 88
3.2.9 Tăng cường công tác đào tạo đạo đức nghề nghiệp Cán bộ quan hệ khách hàng, rút ngắn thời gian luân chuyển cán bộ nhằm phát hiện kịp thời rủi ro do tác nghiệp và rủi ro tín dụng do lợi ích cá nhân gây ra 88
Kết luận chương 3 90
3.3 KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 91
3.3.2 Kiến nghị với Chính phủ, các Bộ ngành 91
3.3.3 Kiến nghị với BIDV 92
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV - Gia Lai Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai
CB.QHKH Cán bộ Quan hệ khách hàng
CB.QLRR Cán bộ Quản lý rủi ro
CB.QTTD Cán bộ Quản trị tín dụng
Trang 9sơ đồ lục Nội dung Trang
Bảng 2.1 2.1.4 Tình hình huy động vốn từ năm 2009
Bảng 2.2 2.1.4 Hoạt động cho vay từ năm 2009 - 2011 32
Bảng 2.3 2.2.4 Kết quả hoạt động kinh từ năm 2009 -
Bảng 2.4 2.2.1 Cơ cấu tín dụng theo thời gian 34
Bảng 2.5 2.2.1 Cơ cấu tín dụng theo loại hình doanh
Bảng 2.8 2.3.2 Dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 và nợ xấu 63Bảng 2.9 2.3.2 Nợ xấu theo thời hạn cho vay 65Bảng 2.10 2.4.1 Thu nợ ngoại bảng, lãi ngoại bảng 70Bảng 3.1 3.1.1 Các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của BIDV 75Bảng 3.2 3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu giai
đoạn 2013 – 2015 của BIDV – Gia Lai 76
Sơ đồ 2.1 2.1.3 Mô hình tổ chức của BIDV – Gia Lai 30Biểu đồ 2.1 2.3.2 Đốc độ tăng mức trích lập dự phòng 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn hoạt động của các NHTM Việt Nam trong những năm qua cho thấy tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh
từ những khoản cấp tín dụng khó đòi, điển hình như: Hàng loạt Tổng Công ty, Tập Đoàn kinh tế lớn tại Việt Nam vỡ nợ, chuyển thành nợ xấu, có khả năng mất vốn trong năm 2011 và 2012 là rất cao
Việc đặt một số NHTMCP vào tình trạng giám sát đặc biệt, sau đó Chính phủ ra quyết định tiến hành sáp nhập để tránh khả năng đỗ vỡ, tác động xấu đến nền tài chính của Quốc gia Trong nhiều nhân tố tác động đến sự đỗ
vỡ Ngân hàng thì rủi ro trong hoạt động tín dụng chiếm gần 80%
Chính vì vậy, tín dụng luôn được đánh giá là một trong các loại nghiệp
vụ ngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao, và vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các NHTM quan tâm hàng đặc biệt, nhất là hiện nay khi Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình một NHTM đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và vững mạnh, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung và Chi nhánh Gia Lai nói riêng trong quá trình chuyển đổi của mình luôn quan tâm và công tác hạn chế các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là rủi ro tín dụng lên ưu tiên hàng đầu
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển – Chi nhánh Gia Lai (BIDV – Gia Lai) luôn xác định chiến lược kinh doanh trong thời gian tới là đẩy mạnh lĩnh vực bán lẻ, đa dạng loại hình cho vay với mục tiêu tăng doanh số cho vay bán lẻ chiếm 45-60% trong cơ cấu tín dụng Tốc độ tăng bình quân mỗi năm trung bình từ 17-20%; giảm dần tỷ trọng cho vay các dự án đầu tư dài hạn ở các lĩnh vực chủ lực trước đây là: Thủy điện, cao su, khoáng sản
Trang 11Tỷ lệ nợ xấu từ năm 2009 đến năm 2011 có dấu hiệu tăng, rủi ro tiềm
ẩn trong hoạt động tín dụng có dấu hiệu ngày càng tăng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai đã áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế RRTD, tuy nhiên kết quả chưa đạt theo mục tiêu đề ra Đó cũng là lý do tác giả chọn
đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng đang triển khai tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong thời gian đến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai và những vấn đề lý luận có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp duy vật lịch sử
Trang 12- Phương pháp: Tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh phối hợp với phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống.
- Phương pháp cụ thể: Phương pháp thống kê, diễn giải, quy nạp
- Sử dụng phương pháp chuyên gia
- Tham khảo thêm các thông tin từ sách, báo, tạp chí ngân hàng, những bài phân tích về rủi ro tín dụng của các nhà nghiên cứu kinh tế
5 Bố cục đề tài
Để giải quyết các vấn đề trên, luận văn được thiết kế làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
- Chương 2: Thực trạng về hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển – Chi nhánh Gia Lai
- Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai
6 Tổng quan tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã vận dụng lý thuyết về rủi ro tín dụng và tham khảo các đề tài đã được công bố có nội dung và phương pháp nghiên cứu tương tự để cũng cố thêm về cơ sở lý luận và tính thực tiễn trong quá trình phân tích, đánh giá, đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
Nguyễn Thùy Dung (2010), Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Hà Nội,
Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Trước tiên tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Tác giả đã nêu được những khái niệm về rủi ro tín dụng, khái niệm về hạn chế rủi ro tín dụng; những chỉ tiêu đánh giá hạn chế RRTD của Ngân hàng Thương mại
Trang 13Phân tích những kết quả đạt được và những nguyên nhân của hạn chế
Đề tài đã đưa ra các giải pháp cơ bản sau:
- Xây dựng hoàn thiện chính sách tín dụng; thực hiện tốt quy trình tín dụng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ; nâng cao năng lực cán bộ tín dụng
- Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước: Hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin khách hàng; Tiến hành cổ phần hóa các NHTM Nhà nước
Hạn chế của đề tài:
- Tác giả đi sâu vào quy trình tín dụng và phân tích rủi ro tín dụng chủ yếu tại khâu khởi tạo hồ sơ, kiểm tra, đề xuất và xử lý nợ Chưa đánh giá chi tiết các nguyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng như: Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng, chất lượng chuyên môn của Cán bộ tín dụng, sự mất cân đối trong cung cấp thông tin của khách hàng vay
- Chưa đưa ra những giải pháp cụ thể về hạn chế rủi ro tín dụng gắn với đặc điểm và nguyên nhân mà tác giả đã phân tích ở chương 1, phần cơ sở lý luận
- Những kiến nghị với NHNN về cổ phần hóa Ngân hàng TMCP nhà nước không liên quan đến việc hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng mà tác giả nghiên cứu
Nguyễn Toàn Trung (2010) Phân tích rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam, Luận văn
thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Tác giả đã hệ thống lại các vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng Ngân hàng Thương mại: Khái niệm về rủi ro tín dụng; quan niệm về rủi ro tín dụng của NHTM; nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Đề tài đã đưa ra hai chỉ tiêu để đánh giá rủi ro tín dụng là nợ quá hạn và tỷ lệ xóa nợ ròng
Trang 14Đề tài đã sử dụng số liệu báo cáo tổng kết của Chi nhánh Nho&PTNT tỉnh Quảng Nam (2006-2008) để phân tích rủi ro tín dụng Tác giả tập trung phân tích nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu theo thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu.
Tác giả đã đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng như sau:
- Hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro của khách hàng vay vốn như tính pháp lý khách hàng, uy tín, năng lực hoạt động, phân tích tài chính khách hàng
- Hoàn thiện công tác đánh giá phương án, dự án đầu tư của khách hàng
và nguồn trả nợ của khách hàng
- Hoàn thiện công tác đánh giá nguồn rủi ro do nhân viên
- Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tín dụng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Hạn chế của đề tài:
- Chưa tìm hiểu và phân tích được biểu hiện, đặc điểm của rủi ro tín dụng nói chung của NHTM Các chỉ tiêu phân tích chưa nêu rõ được yếu tố nào tác động đến rủi ro tín dụng Đề tài đề cập chủ yếu là các nhân tố khách quan
- Đề tài dừng lại ở góc độ phân tích chỉ tiêu nợ xấu, chưa tách tỷ trọng
nợ xấu theo nhóm và ngành, qua đó cho thấy một số ngành thường xuyên có rủi ro đặc thù ngành để xây dựng giải pháp hạn chế rủi ro phù hợp
Nguyễn Thanh Hòa (2011), Giải pháp hạn chế rủi ro cho vay đối với
khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà
Nẵng
Đề tài trình bày các lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM, trong đó tập trung làm rõ khái
Trang 15niệm, đặc điểm, vai trò và các phương thức cho vay, cũng như nguyên nhân dẫn đến RRTD đối với khách hàng doanh nghiệp.
Phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình cho vay, thực trạng rủi ro cho vay và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiêp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đà Nẵng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro này tại chi nhánh ngân hàng
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), Quản trị rủi ro tín dụng doanh
nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng – kinh nghiệm quốc tế, Tạp chí ngân
hàng, (7), tr.60-67
Tác giả cho rằng quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng là cách thức đảm bảo cho ngân hàng duy trì chất lượng hoạt động tín dụng của mình Để làm tốt công việc này, ngân hàng cần tập trung xây dựng hệ thống xếp hạng chấm điểm khách hàng và ước tính tổn thất RRTD Đồng thời, việc xây dựng danh mục theo kế hoạch cũng là phương thức giúp ngân hàng quản lý được danh mục tín dụng của mình Đối với các ngân hàng mà đối tượng phục vụ chủ yếu là doanh nghiệp thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết bởi đặc trưng kinh doanh của đối tượng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định cấp tín dụng của NH
Nguyễn Thị Mai (2011), Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh VPBank Chi nhánh Đà Nẵng,
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Đề tài trình bày các lý luận về hoạt động tín dụng của NHTM, hệ thống lại các khái niệm, các tiêu chí đánh giá và cách thức nhận dạng rủi ro tín dụng
Phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình cấp tín dụng, đến thực trạng nợ xấu và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại VPBank
Trang 16Chi nhánh Đà Nẵng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro này tại chi nhánh ngân hàng.
Tác giả thấy rằng tất cả các công trình nghiên cứu, các bài viết trên tạp chí đã công bố nói trên là những tài liệu hết sức quý giá về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên những nghiên cứu trên ở những thời điểm khác nhau, có những đề tài nghiên cứu đến nay đã khá lâu, các văn bản chế độ về công tác hạn chế rủi ro tín dụng ở mỗi Ngân hàng là khác nhau ở một số tiêu chí cơ bản
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Tín dụng ngân hàng
a Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Theo quan điểm truyền thống, tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả
cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết
Căn cứ theo Điều 4 của Luật TCTD (2010) “Cấp tín dụng” là việc thỏa
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
b Phân loại Tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế mở hiện nay, với xu hướng hội nhập kinh tế, đặc biệt Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên tín dụng ngân hàng cũng phải đa dạng hóa để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển các ngành kinh tế, đồng thời qua đó cạnh tranh với sự thâm nhập và phát triển của các TCTD quốc tế mở tại Việt Nam
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng, có thể chia TD 3 loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn đến 1 năm, nhỏ hơn 12 tháng, nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân Thời gian cấp tín dụng ngắn nên có độ rủi ro thấp, ít bị tác động về lãi suất, lạm
Trang 18phát và sự biến động của các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Do đó, lãi suất đối với cấp tín dụng cho ngắn hạn thường thấp hơn cho vay trung dài hạn.
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm, nhưng không quá 60 tháng Tín dụng trung hạn thường được sử dụng để cho vay mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất; Đầu tư các dự án theo nhu cầu của doanh nghiệp như xây dựng kho tàng, bến bãi… có thời hạn thu hồi vốn ở mức trung bình nên có mức rủi ro trung bình
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, từ 60 tháng trở lên Tín dụng trung hạn thường được sử dụng để đầu tư cho vay các công trình xây dựng cơ bản với qui mô lớn, mua sắm thiết bị dây chuyền công nghệ hiện đại; Các dự án trồng cây công nghiệp (cao su, trồng rừng nguyên liệu) Loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt
và rủi ro hệ thống
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng, chia thành 2 loại:
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ vật tư, nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố định như xây dựng cơ bản công trình mới, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, có 2 loại:
+ Tín dụng đầu tư sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng được cung cấp cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân để tiến hành sản xuất và kinh doanh tạo ra hàng hóa bán trên thị trường
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cho vay khách hàng cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống, sinh hoạt gia đình
Trang 19+ Tín dụng cho doanh nghiệp.
+ Tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ sản xuất
Ngoài ra còn có một số tiêu thức khác như căn cứ vào xuất xứ của tín dụng có tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp Việc phân loại cho vay có cơ
sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
c Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế:
+ Tín dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, hoặc một tỉnh, vùng Tín dụng là đòn bẩy kinh
tế để thực hiện việc đầu tư các dự án mới, tái sản xuất mở rộng, cải tiến công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và hiệu quả kinh tế
+ Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, và các chương trình, dự án mang tính xã hội khác
Trang 20+ Thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế; Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp chính sách quản
lý vĩ mô nền kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về tín dụng như chính sách lãi suất, chính sách hỗ trợ xuất khẩu, chính sách cho vay hộ nông nghiệp và các ngành công nghiệp phụ trợ…
+ Việc tăng TDNH của NHTM đồng thời mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng đồng thời cũng kèm theo tăng rủi ro, để đạt được mục tiêu tăng trường bền vững là một nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách Song song với việc tăng trưởng tín dụng là phải đảm bảo an toàn tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung
Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các doanh nghiệp, người đầu tư là vốn TDNH Vì vốn tự có của chủ đầu tư thường chiếm 20%-40% trong tổng nguồn vốn đầu
tư, do đó sức cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thị trường có thể bị nhiều hạn chế TDNH sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới
- Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của NHTM:
+ Hoạt động tín dụng ngân hàng là một trong các hoạt động tiền đề cho
sự ra đời của NHTM Hoạt động tín dụng chiếm khoảng 70% đến 80% trên tổng tài sản của Ngân hàng và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng
+ Quá trình mở rộng và phát triển tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM Khi các ngân hàng không thực hiện được duy trì và mở rộng tín dụng thì vốn ngân hàng huy động được sẽ bị ứ đọng, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn ứ đọng trong khi không có thu nhập từ lãi cho vay từ đó
Trang 21dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ và có khả năng rơi vào tình trạng phá sản Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện
để ngân hàng phát triển thêm các hoạt động dịch vụ gia tăng khác của Ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ATM kết quả là ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa thu phí dịch vụ, tăng lợi nhuận và thu nhập cho ngân hàng
1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại
a Khái niệm: Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức
tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ
ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Thường thì rủi ro tín dụng xảy ra trong những trường hợp khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc hoặc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính
và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của Ngân hàng Khi ngân hàng cấp tín dụng nhưng không thu được nợ, mất vốn, sẽ tác động đến khả năng thanh khoản của NHTM Buộc phải vay trên thị trường liên Ngân hàng, lãi suất vay cao, lợi nhuận giảm, có nguy cơ mất khả năng thanh toán một số trường hợp rơi vào tình trạng phá sản hoặc sáp nhập vào NHTM khác
b Phân loại rủi ro tín dụng
Trang 22Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục:
- Rủi ro giao dịch: Rủi ro phát sinh là do những hạn chế trong quá trình
giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay
và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại rủi ro và quá trình xét duyệt khoản cho vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang
tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Để phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng người ta đã nhận diện các hình thức phát sinh của loại rủi ro này theo cấp độ rủi ro như sau:
Trang 23+ Không thu được lãi đúng hạn: Khi người vay không trả được lãi
đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ hạch toán vào nhóm lãi treo và nhập ngoại bảng để theo dõi Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì khả năng trả nợ lãi được đánh giá là có thể thu được ở kỳ sau Phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng; Đôi khi cũng có trường hợp khách hàng chiếm dụng vốn hoặc có ý đồ không trả
nợ ngân hàng
+ Không thu được vốn đúng hạn: Khi không thu được vốn đúng hạn thì
rủi ro sẽ ở mức cao hơn, một phần do một lượng vốn vay không trả đúng kỳ, lưu chuyển dòng vốn vay chậm và có khả năng chuyển nợ quá hạn Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, chưa phải là khoản vay mất vốn thực sự, vì có thể do tiến độ thực hiện hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra khi vay Ngân hàng, và khách hàng tạm thời chưa có đủ vốn trả nợ Trong trường hợp này, ngân hàng có thể cơ cấu kỳ hạn trả nợ cho khách hàng theo thời gian cam kết trả nợ
+ Không thu được đủ lãi: Trong tình trạng này tình hình kinh doanh
của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho ngân hàng Khi đó, ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo hạch toán ngoại bảng để tiến hành xử lý tài sản để thu nợ hoặc phải có giải pháp miễn giảm lãi cho khách hàng
+ Không thu đủ vốn cho vay: Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân
hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này ngân hàng đã bị mất vốn Tại thời điểm này, ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ nợ quá hạn và mục nợ có khả năng mất vốn Nếu khách hàng không còn tài sản để xử lý thì ngân hàng dùng nguồn trích lập dự phòng để xử lý và xem xét xoá nợ, coi như khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả
Trang 24Trên đây chủ yếu là những hình thức giúp cho NHTM phân biệt rủi ro tín dụng và có biện pháp xử lý Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng đều phải trải qua những trường hợp trên Có trường hợp khách hàng đã trả lãi rất đầy đủ và đúng hạn nhưng cuối cùng lại không thể trả được nợ gốc cho ngân hàng Vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, người ta thường chú trọng vào các trường hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh Còn
ở các trường hợp khác có lãi treo hay nợ không có khả năng thu hồi được coi
là rủi ro thực sự nên thường được xem xét để xử lý nợ xấu
1.1.3 Đặc điểm rủi ro tín dụng của NHTM
a Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp
Tính chất đa dạng và phức tạp của RRTD biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra Khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp
Rủi ro là đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng, hay nói cách khác kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng tiềm ẩn nhiều rủi ro Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuận mong muốn
b Rủi ro tín dụng có tính tất yếu
Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng rủi ro luôn rình rập ở mức cao hơn
so với các lĩnh vực khác là do đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ - loại hàng hoá đặc biệt này rất nhạy cảm với rủi ro
Trang 25Nói chung việc kinh doanh trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đều hiẻu rằng lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề, muốn có lợi nhuận phải chấp nhận rủi ro, hoặc không chấp nhận rủi ro sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận Chính vậy các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với rủi ro (trong đó có RRTD)
1.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
a Tác động đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận Ngân hàng: Những khoản tín
dụng gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài chính khi không thu được vốn và lãi cho vay như dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độ quay vòng vốn, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động hoặc vốn vay khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi, hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, bế tắc, thu nhập giảm, kết quả là làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng: Rủi ro
tín dụng tác động đến việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn; Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải đều đặn trả lãi, vốn đã huy động của khách hàng theo đúng kỳ hạn Chính điều này đã làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng: Rủi ro tín dụng đã
làm giảm uy tín của ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút Đây là một vấn đề gây ra hậu quả nghiêm trọng, nợ xấu tăng cao, thông tin sẽ bị loan truyền ra ngoài, khách hàng mất lòng tin, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi Mặt khác, do uy tín giảm làm cho khách hàng ít tin tưởng không thực hiện dịch vụ qua ngân hàng, làm cho ngân hàng hoạt động kém hiệu quả
Trang 26- Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Ngân hàng
gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với dân chúng Họ
lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một ngân hàng khác Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền đồng loạt với số tiền lớn sẽ dẫn đến sự phá sản thực
sự của ngân hàng
Hậu quả của sự phá sản ngân hàng không chỉ bản thân ngân hàng phải gánh chịu mà nó còn liên quan và tác động đến thị trường liên ngân hàng Điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Điều này, chứng minh việc mất thanh khoản nhiều NHTM cổ phần ngoài quốc doanh của Việt Nam trong năm 2011 và đầu năm 2012, Chính phủ phải bơm tiền thông qua việc chỉ đạo các Ngân hàng TMCP cho vay cứu Ngân hàng khỏi phá sản, sau đó tiến hành sáp nhập và cơ cấu lại một
số ngân hàng trong thời gian qua
b Đối với nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác Vì vậy, một khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền hoang mang lo sợ ồ ạt kéo nhau đi rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác, làm cho quá trình thanh toán, cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất bị tạm ngừng, tác động xấu đến quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế một địa phương hoặc cả quốc gia
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưỡng đến tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp do không có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu Lúc bây giờ giá cả hàng hóa sẽ tăng, thất nghiệp tràn lan, xã hội mất ổn định, nền
Trang 27kinh tế lâm vào suy thoái, rủi ro tín dụng có thể châm ngòi cho một cơn khủng hoảng tài chính ảnh hưởng khu vực và thế giới.
Nói chung, khi một NHTM gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, tác động đến hệ thống ngân hàng, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng,
xã hội mất ổn định
1.2 HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RRTD CỦA NHTM
1.2.1 Nội dung hoạt động hạn chế RRTD của NHTM
Hạn chế rủi ro tín dụng là sự ngăn ngừa khả năng xảy ra những tổn thất
do hoạt động tín dụng đưa lại và nếu RRTD xảy ra thì giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng Có thể nói, Hạn chế rủi ro tín dụng là tổ hợp các biện pháp ngân hàng áp dụng nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng
Hạn chế rủi ro tín dụng nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả
Có hai nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng đối với một người vay cụ thể là: khả năng trả nợ của người vay và ý muốn trả nợ của người vay Khả năng trả
nợ của người vay lại phụ thuộc vào các nhân tố từ chính bản thân người vay
và các nhân tố thuộc môi trường hoạt động của khách hàng vay vốn
Bản chất cốt lõi của vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng là thực hiện các biện pháp nhằm giảm bớt hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng bằng các hoạt động sản xuất thông tin (thu thập, xử lý, truyền thông, sử dụng thông tin
có hiệu quả ) về khả năng trả nợ và ý muốn trả nợ của khách hàng vay qua đó giảm thiểu những tác động tiêu cực của RRTD đối với ngân hàng
Trang 28- Hạn chế khả năng xảy ra RRTD: Là thực hiện những biện pháp trước
khi rủi ro xảy ra, bao gồm cả những biện pháp thực hiện trước, trong và sau khi cho vay như:
+ Thực hiện việc sàng lọc khách hàng thông qua hoạt động thẩm định tín dụng
+ Thực hiện việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng
+ Thực hiện các biện pháp bảo đảm tài sản
+ Sử dụng các điều khoản hạn chế trong hợp đồng tín dụng (ràng buộc các điều kiện khách hàng không được làm, yêu cầu khách hàng phải thực hiện nhiệm vụ với ngân hàng )
+ Giám sát người vay, kiểm tra thường xuyên tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng với mục đích vay vốn hay không để có biện pháp xử lý kịp thời
+ Giám sát việc tuân thủ các điều khoản hạn chế của hợp đồng
- Hạn chế tổn thất nếu xảy ra RRTD: Để hạn chế tổn thất do hậu quả
của rủi ro tín dụng các biện pháp mà Ngân hàng tiến hành thực hiện gồm:
+ Thực hiện các biện pháp tái cấu trúc các khoản nợ (gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ ) trên cơ sở đánh giá đầy đủ khả năng cải thiện việc trả
nợ và tăng cường các biện pháp quản lý khoản nợ của NH; Chuyển một phần hoặc toàn bộ rủi ro thông qua bảo hiểm và các hợp đồng phái sinh
+ Xử lý từ dự phòng rủi ro tín dụng;
+ Thực hiện phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi xấu, nợ quá hạn; hoặc bán nợ cho công ty mua bán nợ và tài sản
1.2.2 Các tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM
a Mức tăng, giảm dư nợ và tỷ lệ nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5
Tăng, giảm dư nợ và tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá RRTD của một NHTM Đây là chỉ tiêu
Trang 29phản ánh chất lượng tín dụng cũng như mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng tổn thất rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao, việc quản lý RRTD của ngân hàng kém hiệu quả
Theo quy định của NHNN cho phép tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5
- Mức giảm nợ nhóm 2 đến nhóm 5 = Số dư nợ nhóm 2 đến nhóm 5 cuối kỳ - Số dư nợ nhóm 2 đến nhóm 5 đầu kỳ
- Tỷ lệ giảm nợ nhóm 2 đến nhóm 5 = Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5 cuối kỳ - Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5 đầu kỳ
b Mức tăng, giảm dư nợ và tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu theo QĐ 493/2005/QĐ - NHNN là nợ được phân loại vào nhóm
3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ), và nhóm 5 (có khả năng mất vốn) Đây là những khoản nợ rất khó có khả năng hoàn trả, nó thể hiện khả năng mất vốn rất lớn Tỷ lệ này càng cao càng mức độ nguy cơ tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng càng lớn
- Mức giảm nợ xấu = Số dư nợ xấu cuối kỳ - Số dư nợ xấu đầu kỳ
- Tỷ lệ giảm nợ xấu = Tỷ lệ nợ xấu cuối kỳ - Tỷ lệ nợ xấu đầu kỳ
c Mức tăng, giảm xóa nợ ròng và tỷ lệ xóa nợ ròng
Xóa nợ ròng = Dư nợ xóa trong bảng – số tiền đã thu hồi được
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ xấu đã được xoá nợ, và cho biết mức
độ tổn thất tín dụng của ngân hàng
Trang 30Tỷ lệ xóa nợ = Các khoản xóa nợ ròng
Tỷ lệ trích lập dự
Số đã trích lập dự phòng
e Mức tăng, giảm và tỷ lệ lãi treo so với tổng dư nợ
Lãi treo phát sinh và tồn đọng phản ảnh những dấu hiệu có khả năng xảy ra rủi ro tín dụng vì khách hàng không thực hiện được việc trả lãi vay theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, chứng tỏ rằng khả năng về tài chính của khách hàng bị giảm sút có nguy cơ dẫn đến RRTD
Lãi treo là số tiền mà khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán lãi, là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết rủi ro tín dụng, vì lãi phát sinh hàng tháng có giá trị nhỏ hơn gốc rất nhiều so với nợ gốc, khoảng 1-1,2%/dư nợ gốc và được trả vào cuối tháng, khi người vay không thanh toán được phần lãi của món vay cho thấy dấu hiệu người vay gặp khó khăn về tài chính
Do vậy, khi xuất hiện lãi treo cán bộ QHKH phải theo dõi, kiểm tra, phân tích kỹ tình hình tài chính doanh nghiệp, dòng tiền SXKD của doanh nghiệp để tìm ra nguyên nhân tại sao doanh nghiệp không có khả năng thanh toán lãi theo đúng hạn Dựa vào kết quả phân tích, ngân hàng sẽ đưa ra các biện pháp phù hợp nhất để hạn chế những tổn thất cho ngân hàng
Trang 311.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Nhân tố bên ngoài ngân hàng
- Môi trường kinh tế xã hội: Cũng giống như các doanh nghiệp khác,
ngân hàng hoạt động và chịu nhiều nhân tố thuộc về môi trường kinh tế xã hội, chính trị, pháp luật Một khi môi trường ổn định thì ngân hàng và các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh và kinh doanh một cách có hiệu quả, ngược lại, tình hình chính trị bất ổn, chính sách nhà nước đưa ra có sự thay đổi bất ngờ, hệ thống luật pháp không đầy đủ và chặt chẽ, tình hình thi hành pháp luật không nghiêm minh…thì ngân hàng có gắng thì cũng khó có thể hạn chế được rủi ro tín dụng
- Hệ thống pháp lý của Nhà nước: Môi trường pháp luật không chỉ
cần phải ổn định mà riêng đối với ngành ngân hàng ngành nhạy cảm trong nền kinh tế, hệ thống luật pháp phải đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ Không chỉ khách hàng của ngân hàng phải được giám sát bằng pháp luật mà bản thân ngân hàng cũng được điều chỉnh theo pháp luật nhằm phát hiện sớm các đấu hiệu không an toàn, tuy nhiên hệ thống luật pháp phải đảm bảo nguyên tắc tự chủ của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng Môi trường pháp lý không ổn định có nhiều kẻ hở sẽ tạo ra những rủi ro như lách luật trong cho vay, đối tượng cho vay, từ đó tác động đến RRTD
- Nhân tố từ phía khách hàng:
Trong trường hợp phương án kinh doanh không hiệu quả thì năng lực tài chính của người vay lại là yếu tố quyết định trong việc trả nợ ngân hàng Bên cạnh đó, khách hàng có phẩm chất đạo đức tốt, có thể đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng không cố tình lừa đảo ngân hàng hay chây ỳ trong việc trả
nợ
Trang 32Như vậy, các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng như trình độ quản
lý, năng lực tài chính, tư cách phẩm chất đạo đức có ảnh hưởng lớn tới việc hạn chế rủi ro tín dụng trong ngân hàng Ngoài những yếu tố thuộc về bản thân khách hàng thì môi trường hoạt động của họ cũng tác động tới việc hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng
1.3.2 Nhân tố bên trong ngân hàng
Ngân hàng luôn đưa ra các công cụ để hạn chế rủi ro tín dụng bao gồm: Quy chế cho vay; Quy trình tín dụng; Chính sách tín dụng; Quy định về đảm bảo tiền vay; Ủy quyền phán quyết; Chất lượng của đội ngũ cán bộ QHKH;
Hệ thống thông tin tín dụng, đa dạng hóa hoạt động tín dụng
- Quy chế cho vay: Xác định đối tượng vay vốn, nguyên tắc cho vay;
thời hạn cho vay và các yếu tố, đối tượng cần hạn chế cho vay Qua đó, giúp ngân hàng hạn chế được RRTD
- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ QHKH
phải thực hiện từ khi tiếp cận khách hàng vay đến khi lập hồ sơ cho vay, giải ngân, đến lúc thu nợ cả vốn lẫn lãi, tất toán hợp đồng tín dụng
Quy trình cấp tín dụng không chặt chẽ, thiếu tính kiểm soát là nguyên nhân gây ra RRTD, trong đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi, giám sát tín dụng Có rất nhiều ngân hàng thực hiện một quá trình đánh giá tín dụng một cách chưa chuyên sâu bởi áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng tăng Cũng chính do áp lực này mà nhiều ngân hàng có
xu hướng dựa vào một số chỉ tiêu đơn giản để cấp tín dụng
Quy trình cho vay quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều khiến cho NHTM gặp phải rủi ro tín dụng Việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp, cầm cố cũng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong quy chế tín dụng tại các NHTM Cách thức quản lý tiền cho vay của ngân hàng Các khoản cho vay
Trang 33được quản lý tốt là cách thức hiệu quả nhất để hạn chế rủi ro tín dụng Các nguyên tắc quản lý tiền cho vay phải đảm bảo các yếu tố sau:
+ Sàng lọc giám sát khách hàng: Lựa chọn đối nghịch buộc các ngân hàng phải lựa chọn khách hàng có ít rủi ro nhất Đó là quá trình sàng lọc khách hàng, được thực hiện trước khi món vay được quyết định Khi quyết định cho vay đã được thực hiện Ngân hàng phải giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của người vay nhằm đảm bảo thu hồi đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay đó
+ Quan hệ khách hàng lâu dài: Quan hệ khách hàng lâu dài giúp cho ngân hàng hiểu biết về tình hình tài chính của khách hàng, một mặt làm giảm chi phí thu thập thông tin và chi phí giám sát cho ngân hàng, mặt khác giúp cho ngân hàng ra các quyết định tín dụng đúng đắn, hạn chế rủi ro tín dụng
+ Tài sản thế chấp, cầm cố: Những bắt buộc về vật thế chấp đối với khỏan vay là một trong những công cụ quan trọng để hạn chế rủi ro tín dụng, làm giảm bớt tổn thất ngân hàng phải gánh chịu nếu trường hợp rủi ro xảy ra Giúp ngân hàng giám sát người vay và từ đó hạn chế rủi ro xảy ra bắt nguồn
từ khách hàng
+ Hạn chế tín dụng: Vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức làm phát sinh rủi ro tín dụng Để đối phó với vấn đề này, ngân hàng có thể thực hiện việc hạn chế tín dụng theo hai cách: Ngân hàng được quyền từ chối bất
kỳ yêu cầu vay vốn nào của khách hàng hoặc ngân hàng vẫn sẵn sàng cho vay nhưng hạn chế ở dưới mức mà người vay mong muốn
Tuân thủ tuyệt đối quy trình tín dụng của Hội sở chính, thông thường NHTM yêu cầu bắt buộc CB.QHKH rà soát thực hiện các bước từ khi lập hồ
sơ cho vay, giải ngân, đến lúc thu nợ thanh lý hợp đồng tín dụng như sau:
+ Đối tượng có thể vay vốn
+ Phương thức quản lý các hoạt động tín dụng
Trang 34+ Những ràng buộc về tài chính.
+ Các loại sản phẩm tín dụng khác nhau do ngân hàng cung cấp
+ Nguồn vốn dùng để tài trợ cho các hoạt động tín dụng
+ Phương thức quản lý danh mục cho vay
+ Thời hạn và điều kiện áp dụng cho các loại sản phẩm tín dụng khác nhau
+ Sàng lọc giám sát khách hàng
+ Kiểm tra tính lịch sử quan hệ khách hàng; tính pháp lý người vay; + Hồ sơ phương án vay vốn; mục đích vay; mức vay và tài sản bảo đảm tiền vay, kiểm soát sau cho vay Qua các bước trên, cán bộ tín dụng có thể
áp dụng các biện pháp để hạn chế RRTD bằng các biện pháp như: Từ chối cho vay hoặc cho vay theo điều kiện ràng buộc của ngân hàng
Nếu quy trình tín dụng không nhất quán, chặt chẽ sẽ dẫn đến một số rủi
ro như: Cho vay ké, vay dùm người khác…
- Chính sách tín dụng: là một hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo
an toàn về đầu tư tín dụng của NHTM Chính sách tín dụng, có thể coi như một cương lĩnh tài trợ của một NHTM, bao gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, qui định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư của NHTM Chính sách tín dụng tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng, tạo đường hướng, chỉ dẫn cho cán bộ QHKH Để có thể đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro nhất thiết phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý, thích ứng với môi trường, phù hợp với đặc điểm của NHTM, phát huy được các thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi
Xây dựng chính sách tín dụng phải dựa vào qui mô và tính chất của nguồn vốn, dựa vào lĩnh vực tài trợ của chi nhánh, vào kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên, dựa vào chính sách tài chính và tiền tệ của nhà nước, vào cơ sở lựa chọn
Trang 35các loại hình tín dụng của chi nhánh để xây dưng chính sách cho vay Chọn mô hình đánh giá RRTD, hệ thống xếp hạng TD nội bộ phù hợp với thực tế và khoa học sẽ góp phần phòng ngừa và hạn chế RRTD
Mục đích của chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng Chính sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng (quyết định tài trợ vốn) đều khách quan, tuân thủ quy định của ngân hàng và phù hợp thông lệ chung của quốc tế
- Chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng: Nhân viên tín dụng phải
được đảm bảo hai yếu tố chuyên môn và đạo đức Nhân viên ngân hàng không đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết về mặt đạo đức nghề nghiệp thì dù ngân hàng có các chính sách tín dụng phù hợp đến mấy thì việc hạn chế rủi ro tín dụng cũng không có hiệu quả
- Khả năng tài chính: Yếu tố tài chính quan trọng nhất của NHTM là vốn, bao gồm: Vốn pháp định và quỹ dự trữ Vốn ngân hàng là điều kiện cơ bản đảm bảo tiền gửi của khách hàng, một khi gặp rủi ro trong kinh doanh
- Trang thiết bị công nghệ ngân hàng: Việc áp dụng công nghệ hiện
đại cho phép các NHTM ứng dụng các phần mềm tin học để quản lí RRTD trong toàn hệ thống; cập nhật số liệu, thông tin hàng ngày để có biện pháp xử
lí kịp thời nhằm hạn chế RRTD
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng chịu sự tác động từ nhiều phía, không chỉ bản thân ngân hàng mà còn từ phía khách hàng và môi trường hoạt động của khách hàng đặc biệt là môi trường kinh tế và pháp luật Tuy nhiên để hạn chế rủi ro tín dụng được hiệu quả, bản thân ngân hàng phải đóng vai trò trung tâm, đưa ra các biện pháp, các chỉ tiêu cụ thể về rủi ro, tiến
Trang 36hành xây dựng hệ thống chính sách và các ứng phó thích hợp để đảm bảo hoạt động vừa hiệu quả vừa an toàn, các yếu tố thuộc về khách hàng hay môi trường chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho ngân hàng trong hạn chế rủi ro nói chung
và rủi ro tín dụng nói riêng
Ngân hàng cần có hệ thống giải pháp hay các biện pháp, hoạt động cụ thể trong quá trình thẩm định, phê duyệt, giải ngân và kiểm tra sử dụng vốn vay một đảm bảo đúng pháp lý, quy trình và chặt chẽ Trường hợp có xảy ra RRTD thì tổn thất hay khả năng mất vốn là thấp và bảo toàn vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Qua đó có những căn cứ để tiếp tục đánh giá thực trạng RRTD tại BIDV - Gia Lai
Trong chương này Tác giả tập trung nghiên cứu và hệ thống lại cơ sở lý luận về RRTD của NHTM, các khái niệm và tiêu chí đánh giá RRTD, cách thức tính toán các chỉ tiêu đánh giá RRTD Hệ thống lại các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hạn chế RRTD
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH GIA LAI2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH GIA LAI
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Tên tiếng Việt: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
-Tên tiếng Anh: Joint stock commercial bank for Investment and
Development of Viet Nam
- Tên viết tắt : VIETINDEBANK
- Tên gọi tắt : BIDV
- Trụ sở chính : Số 35, Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập từ năm 1957,
là một trong bốn Ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất ở Việt Nam, là Doanh nghiệp Nhà nước được xếp hạng đặc biệt Hoạt động truyền thống của BIDV là tài trợ trong lĩnh vực đầu tư phát triển với một hệ thống đa dạng các nghiệp vụ ngân hàng và phi ngân hàng, kinh doanh tiền tệ, tín dụng… phục
vụ các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai
BIDV - Gia Lai là Chi nhánh cấp 1 trực thuộc BIDV, có trụ sở tại 112
Lê Lợi -Tp Pleiku, tỉnh Gia Lai, là 1 trong 10 chi nhánh lớn nhất, và là 1 trong 7 chi nhánh đầu tiên của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được xếp hạng doanh nghiệp hạng 1
Trang 38Tiền thân của BIDV - Gia Lai là Chi nhánh Ngân hàng kiến thiết tỉnh Gia Lai – Kon Tum được thành lập theo Quyết định số 580/TCVB ngày 15 tháng 11 năm 1976 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Từ khi thành lập đến nay đã qua các lần đổi tên:
+ Tháng 7 năm 1981 đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng tỉnh Gia Lai – KonTum; Tháng 7 năm 1990 đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Gia Lai – KonTum; Tháng 10 năm
1991 đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển – Chi nhánh Gia Lai; Tháng 5 năm 2012 đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai
2.1.3 Mô hình tổ chức tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Gia Lai
Mô hình tổ chức, hoạt động của BIDV Gia Lai theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 54/QĐ-HĐQT ngày 12/8/2002 của Hội đồng quản trị
* Mô hình tổ chức như sau:
- Ban giám đốc gồm: 01 Giám đốc và 04 Phó Giám đốc
+ Giám đốc Chi nhánh: Phụ trách chung, là Chủ tịch HĐTD cơ sở, Chủ tịch Hội đồng thi đua khen thưởng
+ 01 Phó Giám đốc Phụ trách bộ phận Quan hệ khách hàng (phụ trách
đề xuất tín dụng)
+ 01 Phó Giám đốc Phụ trách bộ phận Quản lý rủi ro (Kiểm soát quy trình và chính sách cấp tín dụng; kiểm soát nợ xấu, xử lý nợ xấu toàn Chi nhánh)
+ 01 Phó Giám đốc Phụ trách tác nghiệp (giải ngân, kiểm soát các chứng từ và điều kiện giải ngân)
+ 01 Phó Giám đốc phụ trách khối dịch vụ và tài chính, văn phòng
Trang 39Giám đốc
P Giám đốc
QHKH
P Giám đốc QLRR
P Giám đốc Tác nghiệp
Các phòng QHKH,
PGD
P Dịch vụ khách hàng, Kho quỹ Các P Chức năng
P.Giám đốc
DV, TC
Trang 40tỷ lệ tăng 2009/2008
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh 03 năm 2009-2011)
Qua 3 năm cho thấy tình hình huy động vốn mức tăng khá cao, năm
2010 tăng gần 100%; năm 2011/2010 tăng 32,43% Huy động vốn của BIDV – Gia Lai tương đối tốt, thường thì chiếm 70%/tổng dư nợ cho vay, là một trong 10 chi nhánh thuộc hệ thống BIDV có mức huy động vốn cao nhất Đây chính là hoạt động tạo ra lợi nhuận tương đối lớn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
b Hoạt động cho vay
Với mục tiêu tăng trưởng dư nợ ổn định đảm bảo an toàn vốn, dư nợ tín dụng của BIDV - Gia Lai đều đạt kế hoạch đặt ra, năm sau cao hơn năm trước, trung bình tăng trưởng khoảng 17%/năm, tăng mạnh chủ yếu là giải ngân cho các dự án trồng Cây cao su và Thủy điện
Giảm dần dư nợ cho vay theo Kế hoạch nhà nước, chuyển dư nợ sang cho vay thương mại các thành phần kinh tế tư nhân