Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận văn góp phần làm phong phú hướng nghiên cứu cảnh quan nhân sinh trong hệ thống cơ sở lý luận về cảnh quan học nói chung và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Lan Hương
NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN NHÂN SINH CHO ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰCHẠ LONG - CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Lan Hương
NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN NHÂN SINH CHO ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC HẠ LONG - CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 60850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Nguyễn Cao Huần
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Bộ môn Sinh thái Cảnh quan và Môi trường đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Nguyễn Cao Huần, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập
và thực hiện luận văn này
Tác giả xin cảm ơn chủ nhiệm đề tài Nafosted MS 105.07 – 2013.19 đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho học viên trong quá trình thực hiện luận văn
Cảm ơn sự giúp đỡ và động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp tích cực của quý thầy
cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 2 năm 2015
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN NHÂN SINH 4
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4
1.1.1 Các nghiên cứu về cảnh quan nhân sinh trên thế giới 4
1.1.2 Các nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Việt Nam 11
1.1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan ở khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 15
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cảnh quan nhân sinh 16
1.2.1 Khái niệm, cấu trúc và phân loại cảnh quan nhân sinh 16
1.2.2 Tính chất khác biệt của cảnh quan nhân sinh 19
1.2.3 Sự biến đổi cảnh quan nhân sinh 19
1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 20
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 20
1.3.2 Phương pháp và quy trình nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 CẢNH QUAN NHÂN SINH KHU VỰC HẠ LONG - CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 26
2.1 Các yếu tố thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 26
2.1.1 Vị trí địa lý – yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 26
2.1.2 Đặc điểm và vai trò chủ đạo của các hợp phần tự nhiên trong thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 28
2.1.3 Con người và các hoạt động khai thác tài nguyên – yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long - Cẩm Phả 40 2.2 Đặc điểm và sự phân bố cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 44
Trang 52.2.1 Nguyên tắc, chỉ tiêu và hệ thống phân loại cảnh quan nhân sinh 442.2.2 Đặc điểm cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 46CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NẢY SINH VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ CẢNH QUAN KHU VỰC HẠ LONG – CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 513.1 Hiện trạng môi trường và vấn đề tai biến thiên nhiên nảy sinh trong các cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 513.1.1 Khái quát hiện trạng môi trường và tai biến thiên nhiên khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 513.1.2 Hiện trạng môi trường ở một số dạng cảnh quan nhân sinh tiêu biểu 49 3.2 Dự báo xu thế biến đổi cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 743.2.1 Phân tích quy hoạch phát triển và khai thác tài nguyên tại khu vực 743.2.2 Xu thế biến đổi cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 923.3 Định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường các cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 943.3.1 Nguyên tắc chung 943.3.2 Định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường các cảnh quan nhân sinh khu vực nghiên cứu 94KẾT LUẬN 100TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Các khái niệm chính liên quan đến mục tiêu và hướng lựa chọn chỉ tiêu cảnh quan cho phân tích biến đổi cảnh quan 10Bảng 1.2 Hệ thống phân loại CQNS ở Kon Tum 12Bảng 1.3 Hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân loại CQNS Việt Nam 14Bảng 2.1 Trữ lượng than đã được tìm kiếm thăm dò vùng Hạ Long - Cẩm Phả 36Bảng 2.2 Trữ lượng và phân bố khoáng sản, vật liệu xây dựng vùng Hạ Long - Cẩm Phả 36Bảng 2.3 Thống kê diện tích các loại hình sử dụng đất khu vực Hạ Long - Cẩm Phả (ha) 37Bảng 2.4 Hệ thống đơn vị và chỉ tiêu phân loại cảnh quan nhân sinh ở Hạ Long – Cẩm Phả 40 Bảng 3.1 Hiện trạng môi trường và tai biến thiên nhiên ở các nhóm dạng cảnh quan nhân sinh 49 Bảng 3.2 Chất lượng môi trường không khí tại khu khai thác, chế biến và kinh doanh than 60Bảng 3.3 Kết quả đo độ bụi tại công ty than Cao Sơn (2011) 61Bảng 3.4 Chất lượng môi trường không khí tại khu vực hoạt động của khu công nghiệp, nhà máy 62Bảng 3.5 Kết quả phân tích nguồn nước mặt vùng khai thác than Hạ Long - Cẩm Phả 64Bảng 3.6 Kết quả quan trắc môi trường đất tại khu vực gần bãi khai thác than 64Bảng 3.7 Kết quả quan trắc không khí tại các tuyến giao thông chính tại khu vực
Hạ Long – Cẩm Phả 66Bảng 3.8 Chất lượng môi trường không khí khu đô thị, dân cư tập trung và khu du lịch 67Bảng 3.9 Chất lượng môi trường không khí khu vực chôn lấp rác 68Bảng 3.10 Chất lượng môi trường nước cung cấp cho sinh hoạt khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 69Bảng 3.11 Kết quả quan trắc chất lượng nước giếng 70
Trang 7Bảng 3.12 Kết quả quan trắc nước thải sinh hoạt 71Bảng 3.13 Kết quả quan trắc nước thải công nghiệp và bãi rác khu vực Hạ Long - Cẩm Phả 72Bảng 3.14 Kết quả quan trắc môi trường đất tại vùng sản xuất nông nghiệp 73
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quan niệm về cảnh quan văn hóa (Carl Sauer, 1926) 4Hình 1.2 Chỉ tiêu cảnh quan (Atilia Peano & Claudia Casatela, 2011) 6Hình 1.3 Mối quan hệ giữa con người và cảnh quan (A.P.A Vink, 1983) 9Hình 1.4 Các dạng cảnh quan nhân sinh ở Kon Tum (Nguyễn Đăng Hội, 2004) 13Hình 1.5 Mô hình cấu trúc cảnh quan nhân sinh (Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn, 2002) 17Hình 1.6 Phân loại cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 19Hình 1.7 Các bước nghiên cứu cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 25
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa với những bước đi vững chắc, đạt được những thành tựu lớn cả trong lĩnh vực khoa học và phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh những thành tựu như vậy, thực tiễn cho thấy thiên nhiên đang ngày càng chịu sức ép mạnh mẽ từ phía con người: nạn khai thác tài nguyên thiên nhiên thiếu cơ sở khoa học, lạm dụng tài nguyên tái tạo, lãng phí tài nguyên không tái tạo, trình độ công nghệ vẫn chưa cao, trình độ dân trí chưa đồng đều… Điều này đã tác động tiêu cực đến cảnh quan và làm cho tiềm năng dự trữ tài nguyên của cảnh quan bị giảm sút nghiêm trọng Chính do những tác động đó
mà các đơn vị cảnh quan nhiệt đới gió mùa của Việt Nam ở nhiều nơi không còn giữ được cấu trúc, chức năng của mình, hệ quả là tạo ra những đơn vị cảnh quan nhân sinh với đặc điểm cấu trúc, chức năng mới mà trong đó nguồn tài nguyên dự trữ nghèo nàn và kém bền vững
Khu vực Hạ Long – Cẩm Phả nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, nơi giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế và du lịch.Đây là khu vực có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh,vừa có tài nguyên khoáng sản than đá phong phú lại nằm bên vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên thế giới, tạo điều kiện phát triển ngành
du lịch đa dạng nhiều loại hình Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã tác động tới cảnh quan nơi đây, đặc biệt là di sản vịnh Hạ Long Hơn thế nữa, hệ quả của mối tác động tổng hợp và đa chiều này đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ cảnh quan theo hướng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư, chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của khu vực cũng như của cả tỉnh
Từ những yêu cầu bức xúc cả về cơ sở lý luận và thực tiễn đặt ra như vậy chúng ta cần phải đi sâu nghiên cứu tổng hợp, cụ thể các hợp phần tự nhiên, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đồng thời tìm ra xu thế phát triển của chúng với mục tiêu khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Nhằm góp phần giải quyết những nhiệm vụ cấp bách và thiết thực nói trên, trong
khuôn khổ đề tài Nafosted MS 105.07 – 2013.19, luận văn với tiêu đề “Nghiên cứu
cảnh quan nhân sinh cho định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
Trang 9vệ môi trường khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” đã được lựa chọn
nghiên cứu và hoàn thành
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm của các cảnh quan nhân sinh và các vấn đề môi trường nảy sinh làm cơ sở đề xuất sử dụng hợp lývà bảo vệ môi trường các cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả của tỉnh Quảng Ninh
3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, học viên đã tiến hànhthu thập các tài liệu về cơ sở
lý luận cảnh quan nhân sinh cũng như các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến khu vực nghiên cứu, nhằm thực hiện những nội dung chính sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan nhân sinh
- Đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
- Phân tích các vấn đề môi trường chính và tai biến thiên nhiên nảy sinh trong các cảnh quan nhân sinh
- Dự báo xu thế biến đổi cảnh quan nhân sinh
- Định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường các cảnh quan nhân sinh khu vực nghiên cứu
5 Cơ sở tài liệu thực hiện luận văn
Các tài liệu về lý thuyết:Các giáo trình, sách chuyên khảo trong và ngoài
nước về cảnh quan nói chung và cảnh quan nhân sinh nói riêng (cấu trúc cảnh quan, chức năng cảnh quan), khoa học môi trường và phát triển bền vững (tài nguyên và môi trường đất, nước; sử dụng hợp lý tài nguyên)
Các tài liệu về khu vực nghiên cứu:
Trang 10- Các dữ liệu bản đồ hợp phần ở khu vực (Bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo,
bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở tỷ lệ 1/100.000)
- Các số liệu về kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và các quy hoạch kinh
tế - xã hội, quy hoạch khai thác than, quy hoạch môi trường của khu vực cũng như
- Đã làm rõ đặc điểm và sự phân bố cảnh quan nhân sinh khu vực nghiên cứu
- Đã đề xuất hướng sử dụng và bảo vệ môi trường các cảnh quan nhân sinh tại khu vực nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận văn góp phần làm phong phú hướng nghiên
cứu cảnh quan nhân sinh trong hệ thống cơ sở lý luận về cảnh quan học nói chung
và cảnh quan nhân sinh nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu tạo cơ sở dữ liệu về điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các phương án định hướng sử dụng cảnh quan, đây
là cơ sở khoa học phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực
Hạ Long – Cẩm Phả
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có các chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan nhân sinh khu vực
Hạ Long – Cẩm Phả
Chương 2 Cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Chương 3 Phân tích các vấn đề môi trường chính nảy sinh và đề xuất hướng sử dụng và bảo vệ cảnh quan khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH
QUAN NHÂN SINH 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu về cảnh quan nhân sinh trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Tây Âu và Bắc Mỹ
Cảnh quan nhân sinh được quan tâm từ lâu nhưng quan niệm, tên gọi và cách phân chia những cảnh quan bị tác động bởi các hoạt động kinh tế của con người lại
có những điều khác nhau
Năm 1926, nhà địa lý văn hóa Mỹ Carl Sauer đưa ra nghiên cứu về những cảnh quan tự nhiên chịu tác động bởi các hoạt động của con người.Ông đã xem cảnh quan tự nhiên là đối tượng, còn văn hoá là nhân tố tác động lên cảnh quan.Kết quả là sự hình thành các cảnh quan văn hoá Đồng thời, ông cũng cho rằng yếu tố văn hoá thay đổi theo thời gian nên cảnh quan văn hoá có thể được trẻ hoá hoặc hình thành với cấu trúc và chức năng mới của cảnh quan văn hoá [3]
Hình 1.1 Quan niệm về cảnh quan văn hóa (Carl Sauer, 1926)
Theo Carl Sauer, những cảnh quan được tạo thành sau khi có hoạt động của một nền văn hóa hay một nhóm yếu tố văn hóa lên tự nhiên, những cảnh quan đó được gọi là cảnh quan văn hóa
Quan niệm của tác giả Sauer đã được khẳng định lại và nhấn mạnh trong Từ điển địa lý nhân văn xuất bản năm 2001 ở Anh “CQ văn hóa được tạo thành từ CQ
tự nhiên bởi sự tác động của nhóm yếu tố văn hóa Văn hóa là chủ thể tác động, CQ
tự nhiên là đối tượng bị tác động và CQ văn hóa là kết quả”
quan văn hóa
Dân số
Đô thị Nông nghiệp Công nghiệp
Kết quả
Thời gian
Tầm văn hóa
Trang 12Tiếp đó, nhà khoa học người Anh, Lovejoy đã đi sâu nghiên cứu những cảnh quan bị tác động bởi con người Theo tác giả, những nơi có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, thường xuyên chịu tác động của con người (ví dụ như Aixơlen) thì ở đó hình thành nên cảnh quan nhân sinh Quan niệm này nói lên nguồn gốc nghiên cứu cảnh quan nhân sinh từ việc nghiên cứu các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tự nhiên Do đó theo ông không nên tách biệt cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh.[23]
Arntzen (2002), khi nghiên cứu khu rừng xung quanh thành phố, tác giả đã xem cảnh quan văn hóa là kết quả của sự đan xen hội nhập giữa con người và văn hóa với tự nhiên.[20]
Các tác giả Olwig (1996) và Muir (2005) khi viết về các công viên thành phố cũng xem chúng là những cảnh quan văn hóa được tạo ra để “duy trì giá trị tinh thần của con người, là nơi để giảm bớt sự căng thẳng của cuộc sống thường ngày”.[20] Khi nghiên cứu cảnh quan văn hóa Mỹ trong một thời gian dài, Hoff Jackson
đã hiểu cảnh quan văn hóa dưới góc độ kiến trúc cảnh quan Sau này đây là cơ sở để hình thành ngành kiến trúc cảnh quan trên thế giới, đó là “lập kế hoạch phát triển, thiết kế, quản lý và bảo tồn cảnh quan của khu vực”.[25]
Elservier (1999), trong nghiên cứu “Bền vững cảnh quan nông thôn”, tác giả
đã xem xét các hướng nghiên cứu quản lý bền vững cảnh quan khu vực nông thôn Theo đó tác giả cho rằng sự thay đổi trong sử dụng đất của xã hội và các tổ chức dẫn đến sự thay đổi của cảnh quan Do vậy theo tác giả cần thiết phải sửa đổi chính sách nông nghiệp, tăng cường giữ gìn các cảnh quan văn hóa, là đã góp phần sử dụng bền vững đất nông nghiệp.[18]
Năm 2000, tác giả Farina định nghĩa cảnh quan văn hóa được hình thành do hoạt động của con người hàng nghìn năm, tạo ra một tập hợp độc đáo các mô hình, các loài và các quá trình xảy ra trong đó Do vậy theo ông, cảnh quan văn hóa phản ánh sự tương tác lâu dài giữa người dân và môi trường tự nhiên của họ [21]
Trong công trình nghiên cứu về ứng dụng viễn thám trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan (2004), tác giả Peterseil cùng nhiều người khác đã tiến hành thành lập bản đồ cảnh quan văn hóa ở Áo, bao gồm các nhóm loại cảnh quan chia theo tính chất của đất, cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá tính bền vững cho việc sử dụng các loại cảnh quan văn hóa ở đây.[22]
Trang 13Theo Atilia Peano và Claudia Casatela (2011), chỉ tiêu cảnh quan bao gồm các nhân tố: sinh thái, lịch sử - văn hóa, nhận thức của con người, hiện trạng sử dụng đất và nhân tố kinh tế Các nhân tố này tác động tổng hợp và tương hỗ với nhau làm nên tính chất riêng của mỗi cảnh quan.[19]
Hình 1.2 Chỉ tiêu cảnh quan (Atilia Peano & Claudia Casatela, 2011)
Tác giả Mauro Agnoletti (2006),trong tác phẩm “Bảo tồn cảnh quan văn hóa”, ông đã viết “Cảnh quan văn hóa ngày nay là một nguồn tài nguyên, liên quan đến phần lớn các lĩnh vực như qui hoạch, di sản văn hóa, bảo tồn thiên nhiên, phát triển nông thôn và lâm nghiệp Vai trò của cảnh quan đã thay đổi theo thời gian, không còn chỉ trong khía cạnh xã hội mà nó đã trở thành yếu tố thiết yếu nhưng dễ bị thay đổi trong hoạt động phát triển của con người” Theo ông, công cụ để bảo tồn cảnh quan văn hóa ở cấp độ thế giới là Công ước Di sản Thế giới (WHC) của UNESCO (1972) Ngoài ra có thể kể đến chính sách nông nghiệp ở Châu Âu cho việc bảo tồn
và phát triển cảnh quan thông qua kế hoạch về phát triển nông thôn.[18]
Năm 2008, trong tác phẩm “Cảnh quan đảo Địa Trung Hải” của tác giả Vogiatzakis cùng nhiều đồng nghiệp khác ở trung tâm nông nghiệp Anh, đã nghiên cứu tổng quan về lịch sử phát triển và đặc điểm của cảnh quan đảo Địa Trung Hải Qua tác phẩm này các tác giả đã đề cập đến cảnh quan văn hóa được tạo ra từ sự ảnh hưởng của các quốc gia trong vùng, sự tương tác chặt chẽ giữa cảnh quan thiên nhiên và văn hóa con người Từ đó, tác giả đề xuất việc sử dụng bền vững cảnh
kinh tế
Lịch sử và văn hóa Kinh tế
Biểu hiện
Thông tin
Mô tả
Cấu trúc,
mô hình
Chức năng, quá trình
Sinh thái
Điểm đặc trưng
Chỉ tiêu cảnh
Khả năng nhận thức
Sử dụng đất
Nhận thức
xã hội
Trang 14quan và sinh vật của quần đảo Địa Trung Hải đồng thời bảo tồn sự đa dạng cả về văn hóa và tự nhiên của khu vực này.[24]
1.1.1.2 Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Liên bang Nga và Đông Âu
Năm 1930, Gozep sử dụng thuật ngữ cảnh quan nhân sinh (CQNS) vào việc phân định các dạng lãnh thổ ở khu địa hình karst
Ramenxki (1935, 1938) chú ý việc hình thành cảnh quan dưới tác động con người Theo ông, đối tượng nghiên cứu của cảnh quan không những là cảnh quan tự nhiên, mà cả cảnh quan bị biến đổi do con người và những cảnh quan văn hoá do con người tạo ra
Pervukhin (1938), khi tiến hành tổng kết 20 năm phát triển của cảnh quan học Liên Xô, đã nhận thấy sự quan tâm của các nhà khoa học cảnh quan tự nhiên tăng lên đối với việc tái tạo các cảnh quan do hoạt động của con người và họ còn chỉ ra
sự điều chỉnh cho phù hợp hơn vai trò của con người trong sự xây dựng các cảnh quan văn hóa và cảnh quan nhân sinh
Irlinxki (1941) đưa ra một bản tổng hợp ngắn gọn về tính chuyển đổi có quy luật của cảnh quan rừng trồng sang cảnh quan thảo nguyên và sang cảnh quan nhân sinh Theo ông, cảnh quan nhân sinh có tính đặc thù và là kết quả rất xa sau diễn thế rừng trồng Quan niệm nay vẫn chưa mô tả rõ bản chất của CQNS, do đó quan điểm này bị bó hẹp trong nghiên cứu của riêng ông
Kotenikov là người có đóng góp đầu tiên cho việc phân loại cảnh quan nhân sinh Theo ông cảnh quan được làm 5 loại, dựa trên mức độ biến đổi cảnh quan do tác động của con người: Cảnh quan không biến đổi, cảnh quan biến đổi yếu, cảnh quan biến đổi trung bình, cảnh quan biến đổi mạnh, cảnh quan được xây dựng bởi các kế hoạch của con người
Năm 1961, Deculin đưa ra hệ thống phân loại về các loại cảnh quan, theo mức
độ tăng dần các yếu tố nhân sinh và giảm dần các yếu tố tự nhiên trong bậc phân loại: Cảnh quan tự nhiên, cảnh quan tự nhiên – nhân sinh, cảnh quan phục hồi tự nhiên, cảnh quan canh tác
Prokaev đưa ra hệ thống phân loại chia thành 2 nhóm: tự nhiên và nhân sinh Ông chỉ ra được sự tồn tại song song của hai nhóm cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh, nguồn gốc của cảnh quan nhân sinh, song hệ thống này lại khá phức tạp với nhiều
Trang 15nhóm loại cảnh quan bị biến đổi sẽ gây khó khăn trong việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu ứng dụng cụ thể
Theo A.G.Ixatrenko (1965, 1971): Cảnh quan nhân sinh là sự biến dạng khác nhau của cảnh quan tự nhiên do hoạt động khác nhau của con người Khái niệm này
có sự tương đồng với một số tác giả sau này và qua đó, có thể phân loại CQNS theo mức độ biến đổi Ixatsenko nhận thấy có thể phân loại cảnh quan văn hóa hay cảnh quan nhân sinh tùy theo mức độ tác động của con người Đồng thời ông cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều hệ thống phân loại cảnh quan nhân sinh, trong đó có phân loại theo nội dung, nguồn gốc hình thành và sự cần thiết phải phân loại theo hệ thống các cấp bậc cảnh quan.[6]
F.N.Minkov (1973): Cảnh quan nhân sinh là cảnh quan được xây dựng bởi con người và cũng là các cảnh quan tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một thành phần nào
bị thay đổi tận gốc do ảnh hưởng của con người Bên cạnh đó, Minkov đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan theo các dấu hiệu như sau:
- Theo nội dung (cảnh quan nông nghiệp, cảnh quan công nghiệp, cảnh quan thủy vực, cảnh quan rừng, cảnh quan quần cư nông thôn)
- Theo mức độ tác động của con người (cảnh quan nhân sinh mới hình thành
do hoạt động của con người, CQNS đã bị biến đổi bởi con người)
- Theo nguồn gốc (cảnh quan kỹ thuật, cảnh quan đồng ruộng, cảnh quan nương rẫy )
- Theo mục đích xuất hiện (xuất hiện trực tiếp theo tác động của con người hay gián tiếp)
- Theo thời gian và khả năng tự điều chỉnh
- Theo giá trị kinh tế
Trong các cách phân loại trên, Minkov nhấn mạnh 2 hệ thống phân loại theo nội dung và theo nguồn gốc hình thành
K.A.Drozov (1988): “Cảnh quan nhân sinh là các địa tổng thể trong đó có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện hoạt động con người” Khái niệm này hàm chứa tất cả các tác động trực tiếp và gián tiếp, xem xét cảnh quan nhân sinh dưới hình thức tác động chủ quan hay khách quan của con người
Trang 16Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô (1988): Cảnh quan nhân sinh là các cảnh quan địa lý được tạo nên từ kết quả hoạt động có mục đích của con người đồng thời là những cảnh quan xuất hiện trong quá trình biến đổi cảnh quan tự nhiên ngoài
ý thức của con người
Ngay trong giai đoạn đầu, các nhà cảnh quan Nga đã phân biệt cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hóa
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp – chỉ ra thành phần cảnh quan nông nghiệp, với các tác giả như Sauxkin (1946, 1947, 1951), Kotenikov (1950), Bogdanov (1951) Các công trình nghiên cứu của Mirotxev (1951), Luxki (1957), Lidov (1960), Prokaev (1965), Nheulubin (1970)…đã khẳng định vai trò của con người trong hình thành nên tổ hợp cảnh quan Riabtrikop đã mô tả sơ đồ địa lý các cảnh quan nhân sinh trên phạm vi toàn cầu và chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ của chúng với những dạng sử dụng đất cơ bản Điểm hạn chế là chỉ tập trung vào các cảnh quan nông nghiệp
Nauser (1995) cho rằng: “Văn hóa làm thay đổi cấu trúc cảnh quan và chính
nó cũng chịu tác động từ cảnh quan” Khái niệm văn hóa được hiểu “Văn hóa là tổng hòa những lối sống được xây dựng bởi một nhóm người và được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác”.Văn hóa không chỉ bị chi phối bởi các hợp phần tự nhiên
mà sự thay đổi văn hóa có thể lưu giữ ở khắp nơi trong cảnh quan Văn hóa không chỉ giúp ta lý giải cấu trúc cảnh quan mà nó còn có vai trò chỉ ra những tác động có thể xảy ra của con người với cảnh quan.[8]
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa con người và cảnh quan (A.P.A Vink, 1983)
Khí hậu: (án h sán g,
n h iệt-ẩm , gió )
Sử dụng đất và quản lý môi trường
Trang 17Đến nay, nghiên cứu cảnh quan nhân sinh là một trong những hướng quan trọng của các nhà nông nghiệp, lâm nghiệp…
Bảng 1.1 Các khái niệm chính liên quan đến mục tiêu và hướng lựa chọn chỉ
tiêu cảnh quan cho phân tích biến đổi cảnh quan
+ Sự thay đổi + Sự phát triển + Sự bảo tồn và sự giáo dục
sống + Bản sắc văn hóa +Hiệu quả sản xuất
Trang 181.1.2 Các nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Việt Nam
Trên cơ sở các nghiên cứu về CQNS trên thế giới, các tác giả ở Việt Nam đã đưa ra các công trình nghiên cứu của mình về CQNS.Với số lượng không nhiều, các nghiên cứu đã đóng góp những cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm nghiên cứu tổng hợp
ở nhiều lĩnh vực cho các nghiên cứu sau này
Công trình “Nghiên cứu cảnh quan sinh thái nhân sinh ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh, khẳng định vai trò của hoạt động con người tới tự nhiên Tác giả cũng cho rằng nghiên cứu những CQ bị tác động bởi con người có ý nghĩa quan trọng đối với việc đề xuất giải pháp khai thác lãnh thổ và sử dụng hợp lý tài nguyên
Phạm Hoàng Hải cùng các tác giả khác cũng đề cập đến cảnh quan nhân sinh
và sự hình thành của chúng ở Việt nam Theo đó: “Các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội…đã tạo nên tập hợp các CQNS ở Việt Nam, với các đặc điểm
đã bị biến đổi…” Hơn nữa tác giả thừa nhận: “Thực tế hiện nay không có CQ nào
mà không bị tác động trực tiếp hay gián tiếp của con người Việc phân biệt các CQ
tự nhiên và CQNS mang tính ước định, do vậy ranh giới của các CQ này khác xa nhau ở các công trình nghiên cứu khác nhau”
Nguyễn Văn Vinh (1999), tuy không thể hiện trong khái niệm, nhưng tác giả
đã xem xét mức độ tác động của con người vào các đơn vị tự nhiên dẫn đến sự hình thành CQNS Hơn nữa những tác động phải dẫn đến những thay đổi về lượng trong
CQ nhưng cũng có thể chưa đủ làm cho CQ tự nhiên biến đổi Trong nghiên cứu thành lập bản đồ CQ sinh thái nhân sinh lãnh thổ Việt nam ở tỷ lệ 1/1.000.000, tác giả cùng nhiều người khác đã vận dụng theo những hệ thống phân loại của nhiều tác giả Liên Xô dựa vào mức độ tác động của con người Theo đó, chia ra các loại cảnh quan sau:[8]
Trang 19quan tự nhiên mà trong đó có bất kỳ hợp phần nào bị biến đổi hoặc được bảo tồn bởi hoạt động của con người Theo đó, tác giả nhận thấy có những cảnh quan ít bị biến đổi nhưng được bảo tồn, quản lý bởi con người và có xu thế được cải thiện nhờ
sự quản lý khôn ngoan của con người, đó cũng chính là một dạng cảnh quan nhân sinh, ví dụ như khu bảo tồn, rừng cấm…Sự khác biệt lớn giữa cảnh quan nhân sinh
và cảnh quan tự nhiên là cảnh quan nhân sinh chịu sự tác động của quy luật xã hội, con người với các hoạt động của mình là yếu tố cơ bản tạo nên chính cảnh quan nhân sinh đó.Trong công trình của mình, tác giả còn đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan nhân sinh cho toàn lãnh thổ Việt Nam Qua đó công trình này đã đóng góp về quan điểm, phương pháp luận cho nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở nước ta.[2] Trong nghiên cứu của Nguyễn Đăng Hội (2004) về CQNS ở Kon Tum, tác giả đưa ra cơ sở lý luận về CQNS, xây dựng bản đồ và phân vùng CQNS lãnh thổ Kon Tum tỷ lệ 1/250.000 Theo tác giả “CQNS là một dạng của CQ hiện đại, được hình thành trên nền chung của các địa tổng thể mà trong đó hoạt động của con người trở thành yếu tố cơ bản tham gia thành tạo và diễn thế phát triển của cảnh quan” Trên
cơ sở đó, tác giả đã xác định được đặc trưng biến đổi CQNS ở Kon Tum dưới các hoạt động phát triển của con người và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất
và rừng ở khu vực này.Theo đó, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra hệ thống phân loại ở Kon Tum như sau:
Bảng 1.2 Hệ thống phân loại CQNS ở Kon Tum
Kiểu
Hoạt động KT của con người trong một ngành
KT cụ thể theo sự khác biệt giữa vùng núi, cao nguyên, thung lũng với đặc trưng các yếu
tố sinh khí hậu của từng đai cao
CQ nông nghiệp trên bãi bồi thung lũng
Loại
Các dạng khai thác lãnh thổ thuộc kiểu CQNS trên một nhóm loại đất nhất định với tính chất của hình thái địa hình
Loại CQ nương rẫy trên đất đỏ vàng trên macma axit và biến chất
(Nguồn: Nguyễn Đăng Hội, 2004)[3]
Trang 20Cùng với đó là các dạng cảnh quan nhân sinh như sau:
Hình 1.4 Các dạng cảnh quan nhân sinh ở Kon Tum (Nguyễn Đăng Hội, 2004)
Không chỉ vậy, tác giả còn đưa ra quan điểm “Tiếp cận nhân sinh”, nghĩa là xem con người cùng các hoạt động phát triển như một hợp phần có tính độc lập tương đối và có vai trò quyết định tới việc hình thành, phát triển của cảnh quan nhân sinh.[4]
Nguyễn Đình Giang (2005) khi nghiên cứu cảnh quan rừng trong biến đổi và diễn thế tự nhiên – nhân sinh ở Yên Bái đã tổng hợp được nhiều nhóm kiểu cảnh quan chịu tác động mạnh mẽ của con người, cụ thể là nhóm cảnh quan rừng Đây là
cơ sở góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có sự tác động của con người theo hướng tích cực [5]
Như vậy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về cảnh quan nhân sinh nhưng tất
cả đều bổ sung ý nghĩa cho nhau: đều là một dạng cảnh quan hiện đại, do con người tạo ra hoặc là kết quả của tác động trực tiếp hay gián tiếp của con người vào cảnh quan tự nhiên
Để phù hợp với đặc điểm lãnh thổ Việt Nam, một số các tác giả như Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn đã đưa ra bảng hệ thống phân loại, trong đó tiêu biểu là hệ thống phân loại của Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn (2002), với hai nguyên tắc cơ bản trong phân loại như sau:
- Nguyên tắc phát sinh:
Cảnh quan nhân sinh
cư, công nghiệp
Cảnh quan rừng nhân sinh
Cảnh quan trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ nguồn
Cảnh quan bảo tồn, rừng cấm
Cảnh quan thủy vực nhân sinh
Trang 21+ Các CQNS cùng cấp phải có chung nguồn gốc phát sinh bao gồm nguồn gốc nhân sinh và nguồn gốc tự nhiên
+ Nguồn gốc nhân sinh luôn luôn được xem xét trong mọi đơn vị phân chia trên nền đồng nhất của điều kiện tự nhiên
+ Là nguyên tắc quan trọng vì các CQNS được hình thành do hoạt động kinh
tế của con người trong phạm vi cảnh quan tự nhiên
- Nguyên tắc đồng nhất tương đối:
+ Mỗi đơn vị cảnh quan được phân chia đều có tính đồng nhất, song chỉ mang tính tương đối
+ Tuân thủ nguyên tắc này, các đơn vị CQNS bậc thấp có tính đồng nhất cao hơn các đơn vị bậc cao
Bảng 1.3 Hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân loại CQNS Việt Nam
Lớp
Hướng hoạt động phát triển kinh tế của một ngành mà trong đó các hoạt động tạo ra các cảnh quan tương ứng ở phạm vi của hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa
-Cảnh quan nông nghiệp -Cảnh quan rừng nhân sinh -Cảnh quan quần cư nông thôn, đô thị và công nghiệp
Kiểu
Các loại hình hoạt động kinh
tế trong phạm vi lớp cảnh quan nhân sinh
-Trong lớp cảnh quan rừng nhân sinh có:
+ Cảnh quan rừng thứ sinh + Cảnh quan rừng trồng + Cảnh quan lâm – nông nghiệp
Phụ kiểu
Các loại hình hoạt động kinh
tế trong phạm vi lớp cảnh quan nhân sinh được phân bố
ở một miền địa lý tự nhiên
-Cảnh quan rừng thứ sinh miền Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ
-Cảnh quan lâm – nông nghiệp miền Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ
Loại
Các đặc trưng chung về khai thác, sử dụng các loại cảnh quan tự nhiên trong một miền địa lý
-Cảnh quan rừng thông nhân tác trên cát kết miền Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ
(Nguồn: Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn, 2002)[2]
Trang 22Hệ thống này được xây dựng phải đáp ứng yêu cầu sau:
- Các cảnh quan nhân sinh được sắp xếp trong bảng phân loại theo thứ tự bậc trên dưới rõ ràng và logic
- Mỗi bậc phân loại có chỉ tiêu riêng
- Hệ thống các đơn vị phải gọn nhẹ, dễ sử dụng trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn ở Việt nam
Theo đó, hệ thống CQNS lãnh thổ Việt nam có 6 lớp:
- Cảnh quan nông nghiệp
- Cảnh quan rừng nhân sinh
- Cảnh quan quần cư nông thôn, đô thị và công nghiệp
- Cảnh quan thủy vực nhân tạo
- Cảnh quan cây bụi, hoang hóa do nhân tác
Ngay từ những năm 70, khi nghiên cứu CQ địa lý miền Bắc Việt nam, Vũ Tự Lập đã có quan điểm: “ có thể xây dựng các hệ thống phân loại ứng dụng, nhằm phục vụ cho một mục đích thực tiễn nhất định” Trong khi đó, nghiên cứu CQNS hoàn toàn mang tính ứng dụng thực tiễn, do đó mà có nhiều hệ thống phân loại khác nhau[7]
1.1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan ở khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
- Với vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, khu vực Quảng Ninh nói chung và vùng Hạ Long – Cẩm Phả nói riêng đã được Chính phủ xác định xây dựng trở thành địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thương quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đối với khu vực và quốc tế Theo đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Quảng Ninh đã xác định kinh tế cửa khẩu, kinh tế cảng biển, ven biển và hải đảo là những động lực quan trọng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Nhiều công trình nghiên cứu tại khu vực cũng dựa trên những lợi thế về điều
kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực dồi dào của tỉnh: “Quy
hoạch bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững lãnh thổ cấp tỉnh và cấp huyện…” (Nguyễn Cao Huần, 2008); Quy hoạch bảo vệ môi trường tổng thể và các vùng trọng điểm tỉnh Quảng Ninh đến 2020 ( N.C Huần chủ trì, 2009); ”Quy hoạchbảo vệ môi trường vùng Hạ Long – Cẩm Phả - Yên Hưng đến năm 2020 (N.C
Trang 23Huần chủ nhiệm, 2008); “Nghiên cứu dự báo ảnh hưởng của quy hoạch phát triển
khu kinh tế Vân Đồn-tỉnh Quảng Ninh đến môi trường và đề xuất giải pháp phát triển bền vững” (Lê Thị Bích Thủy, 2011); “Xây dựng Mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân xã đảo Cái Chiên, huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh” (Báo cáo dự án Sở KHCN tỉnh Quảng
Ninh, 2004)…
- Đặc biệt, “Đề án Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng chính phủ và UBND tỉnh
Quảng Ninh phê duyệt tháng 6/2013, đã xác định mục tiêu tổ chức không gian lãnh
thổ Quảng Ninh là một tâm, hai tuyến đa chiều, hai điểm đột phá” Tâm là Hạ
Long, hai tuyến đa chiều là cánh Tây và cánh Đông và hai điểm đột phá là Vân Đồn
và Móng Cái Cánh Tây bao gồm các huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ, Quảng Yên, Uông
Bí, Đông Triều Cánh Đông gồm các huyện: Cẩm Phả, Vân Đồn, Cô Tô, Tiên Yên,
Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái Tiếp đó là ”Đề án Quy hoạch xây dựng
vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050” đã
xác định không gian phát triển vùng đô thị Hạ Long gồm thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và huyện Hoành Bồ Trong đó Hạ Long – Cẩm Phả chú trọng phát triển du lịch và đô thị - công nghiệp Gần đây là các quy hoạch về bảo vệ môi
trường như “Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030”; “Quy hoạch môi trường vịnh Hạ Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2014, Tập đoàn Nippon Koie – Nhật Bản thực
hiện); “Quy hoạch bảo vệ môi trường thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (UBND Tp Hạ Long, 2014, Nguyễn Cao Huần
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cảnh quan nhân sinh
1.2.1 Khái niệm, cấu trúc và phân loại cảnh quan nhân sinh
Trên cơ sở kế thừa và vận dụng lý luận nghiên cứu trong các công trình về cảnh quan nhân sinh của nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt nam, có thể rút
ra được khái niệm chung về CQNS, đó là dạng cảnh quan tự nhiên chịu sự tác động của con người trực tiếp hay gián tiếp và bị biến đổi tạo thành một dạng cảnh quan
Trang 24mới, cảnh quan này có thể giữ lại một số đặc điểm ban đầu hoặc bị biến đổi hoàn
toàn, tùy thuộc vào khả năng phục hồi của cảnh quan và mức độ tác động của con
người
Hình 1.5 Mô hình cấu trúc cảnh quan nhân sinh (Nguyễn Cao Huần, Trần Anh
Tuấn, 2002)
Như vậy, CQNS có cấu trúc gồm hai khối: khối tự nhiên và khối nhân sinh
Với đầu vào là nguồn năng lượng, vật chất tự nhiên và nhân tạo, các chính sách và
khao học kỹ thuật Và đầu ra là các sản phẩm kinh tế, xã hội và môi trường Do vậy,
mỗi đơn vị CQNS luôn chứa đựng hai nhóm thuộc tính là thuộc tính tự nhiên (địa
chất, địa mạo, khí hậu – thủy văn, đất đai, sinh vật) và thuộc tính nhân sinh (con
Nguồn năng lượng và vật - Nguồn năng lượng và vật
chất nhân tạo
hoặc bị biến đổi hoặc được bảo tồn
Trang 25người và các hoạt động khai thác tài nguyên) Tương ứng với cấu trúc này, CQNS cũng có hai chức năng chính:
-Chức năng tự nhiên (khả năng cung cấp nguồn năng lượng, vật chất đầu vào)
- Chức năng xã hội (khả năng đảm bảo các giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường sống)
Trong nghiên cứu CQ hiện nay, khía cạnh xã hội hay chức năng xã hội đã được chú trọng và nhấn mạnh như một phần không thể thiếu trong nghiên cứu CQNS nói riêng cũng như nghiên cứu địa lý ứng dụng nói chung
Đây là một trong những cơ sở khoa học để lựa chọn những phương án tối ưu nhất cho khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường, xã hội và phát triển kinh tế
Việc phân loại cảnh quan nhân sinh là nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu cảnh quan nói chung và cảnh quan nhân sinh nói riêng Có nhiều cách phân loại khác nhau tùy từng lĩnh vực và mục đích nghiên cứu Cụ thể trong luận văn của mình, tác giả sử dụng cách phân loại theo nội dung, bởi nó lột tả được bản chất của CQNS và dạng khai thác của con người trên cảnh quan đó Áp dụng trên địa bàn nghiên cứu, phân loại cảnh quan nhân sinh tại khu vực Hạ Long – Cẩm Phả gồm các cảnh quan sau:
Cảnh quan nhân sinh
Cảnh quan nông nghiệp
Cảnh quan quần cư
Cảnh quan khai khoáng
Cảnh quan trảng cỏ, cây bụi thứ sinh nhân tác
Cảnh quan rừng trồng
Cảnh quan rừng thứ sinh nhân tác
Cảnh quan thủy vực nhân sinh
Trang 26Hình 1.6 Phân loại cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả 1.2.2 Tính chất khác biệt của cảnh quan nhân sinh
Trong sự hình thành và phát triển cảnh quan nhân sinh, vai trò của yếu tố nhân sinh như một phần không thể thiếu, tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua các chính sách phát triển tới cảnh quan.Các tác động này có thể làm biến đổi một phần hoặc biến đổi hoàn toàn cảnh quan, biến chúng thành các dạng cảnh quan mới khác với dạng cảnh quan ban đầu
Theo thời gian, cảnh quan nhân sinh liên tục biến đổi Đặc biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế, cảnh quan nhân sinh có thể bị biến đổi theo hướng tích cực hay tiêu cực, tùy vào sự nhận thức hay tầm văn hóa của mỗi quốc gia và khi chúng ta ngừng các hoạt động khai thác của mình, cảnh quan lại có xu hướng trở về trạng thái ban đầu tùy theo mức độ con người tác động
Cảnh quan văn hóa là mục tiêu hướng tới của con người trong quá trình phát triển Ở đó, con người với sự nhận thức đúng đắn của mình bằng các công cụ pháp luật hay chính sách tác động lên cảnh quan một cách tích cực Kết quả của quá trình này tạo ra các giá trị về mặt kinh tế, xã hội hay sinh thái và môi trường, trong
đó giá trị kinh tế (năng suất, sản lượng…) tăng lên, giá trị xã hội (đạo đức, thẩm mỹ,…) tăng lên và giá trị sinh thái hay tác động tiêu cực tới môi trường giảm xuống
1.2.3 Sự biến đổi cảnh quan nhân sinh
Trong lịch sử phát triển, cảnh quan thay đổi theo từng giai đoạn từ quá khứ đến hiện tại và trong tương lai Sự biến đổi này mang tính tương đối, bởi ranh giới giữa cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh không rõ rệt Con người không thể xóa bỏ được những quy luật tự nhiên mà chỉ sử dụng những quy luật ấy theo mục đích của mình, thay đổi hướng và tốc độ phát triển của quá trình tự nhiên Trong bất
kì cảnh quan nào, những nền tảng địa chất, kiểu địa hình hay khí hậu trong quá khứ thường không bị biến đổi Những biến đổi mới sẽ tạo ra những cảnh quan khác biệt hoàn toàn mà trước kia chưa từng xuất hiện hoặc những cảnh quan vẫn giữ nét cơ bản ban đầu của chúng
Hệ quả các hoạt động kinh tế của con người trong cảnh quan có tính hai mặt
Hệ quả trực tiếp thể hiện chủ yếu ở sự biến đổi từng thành phần cấu tạo và ở sự xuất hiện những diễn thế sao đó ở các đơn vị hình thái của cảnh quan Hệ quả gián tiếp
Trang 27tới cảnh quan của con người cũng gây ra những kết quả tiêu cực Sự tác động gián tiếp này trong nhiều trường hợp dẫn tới tăng tính phân hóa trong hình thái cảnh quan Điều này được biểu hiện ở các dạng cảnh quan mới trong tương lai Đó là sự thay đổi về tính chất hay đơn giản là thay đổi diện tích, tăng lên hay giảm đi
Mức độ và tính chất tác động của con người tới cảnh quan phụ thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội và mức phát triển của sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật
Do vậy, việc nghiên cứu cảnh quan nhân sinh trong quá khứ, hiện tại và ở tương lai
là sự cần thiết trong nghiên cứu sự phát triển cảnh quan nhân sinh Khi chúng ta biết được dạng cảnh quan đó trong quá khứ như thế nào, ta sẽ điều chỉnh được hướng phát triển của chúng hoặc sẽ bảo tồn dạng cảnh quan đó hoặc sẽ phát triển theo chiều hướng tích cực thành dạng cảnh quan mới khác xa so với dạng cảnh quan ban đầu Đây chính là cơ sở của việc định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong các cảnh quan trên một vùng lãnh thổ nhất định
1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu
Các quan điểm nghiên cứu được vận dụng trong nghiên cứu cảnh quan nhân sinh như quan điểm hệ thống - tổng hợp lãnh thổ, quan điểm lịch sử và quan điểm phát triển bền vững Các quan điểm này hỗ trợ góp phần định hướng nghiên cứu trong cảnh quan nói chung và cảnh quan nhân sinh nói riêng
a Quan điểm hệ thống, tổng hợp lãnh thổ
Cảnh quan nhân sinh hình thành trên nền cảnh quan tự nhiên, mỗi đơn vị cảnh quan là địa hệ thống, được cấu tạo từ nhiều hợp phần khác nhau: địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng và sinh vật Giữa chúng và giữa các địa tổng thể có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo dòng vật chất và năng lượng Bất kỳ một hợp phần nào thay đổi kéo theo sự thay đổi của cả hệ thống đó và các hệ thống khác có liên quan Vì vậy, cần thiết sử dụng quan điểm này trong nghiên cứu cảnh quan nhân sinh
Cảnh quan nhân sinh là tổng hợp các mối quan hệ giữa các hợp phần của tự nhiên và kinh tế - xã hội, chịu sự tác động của cả quy luật tự nhiên lẫn xã hội Phân hoá theo không gian và cũng luôn thay đổi theo thời gian Con người từ khi ra đời
đã và đang tạo ra sự thay đổi đáng kể các cảnh quan xung quanh
Vì vậy, khi nghiên cứu cần xem xét đầy đủ các nhân nhân tố cũng như tất cả các nhân tố thành tạo và ảnh hưởng sự hình thành, phân hoá và phát triển của lãnh thổ
Trang 28b Quan điểm lịch sử
Các hợp phần cấu tạo nên cảnh quan nhân sinh đều tồn tại trong một giai đoạn nhất định và thay đổi theo mỗi thời kì lịch sử dưới các tác động khác nhau của con người Do vậy nghiên cứu cảnh quan nhân sinh cần áp dụng quan điểm này để thấy lịch sử phát sinh, phát triển và tồn tại của chúng trong mối tác động tương quan giữa các yếu tố với nhau Trên cơ sở đó có các biện pháp sử dụng hợp lý, cải tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Theo quan điểm này, các cảnh quan nhân sinh cần được nghiên cứu trong quá khứ, ở hiện tại và dự báo trong tương lai
c Quan điểm phát triển bền vững
Mọi nghiên cứu cảnh quan và địa lý ứng dụng đều phục vụ vấn đề cấp thiết của xã hội là sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường mà nội hàm chính là phát triển bền vững
Theo WCED (Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển): phát triển bền vững là sự thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng phát triển thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai Như vậy, phát triển bền vững lãnh thổ vừa phải ổn định lâu dài vừa phải đạt được sự công bằng trong cùng một thế hệ, giữa các thế hệ với nhau và trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Bền vững về mặt kinh tế: phát triển là sự nâng cao điều kiện sống về mặt chất
và tinh thần của con người thông qua phát triển sản xuất ,cải tiến quan hệ xã hội Phát triển bền vững về mặt kinh tế thể hiện ở sự gia tăng phát triển sản xuất nhưng phải ổn định ,làm cho giá trị tổng sản phẩm ngày càng một tăng lên
Bền vững về mặt xã hội: Đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao tính giáo dục, đạo đức và thẩm mỹ Các chính sách kinh tế phải được cộng đồng chấp nhận
Bền vững môi trường: Thực tế cho thấy kinh tế càng phát triển nhanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên càng có nguy cơ cạn kiệt Môi trường không khí, nước,…càng bị ô nhiễm, đặc biệt là xung quanh các khu đô thị lớn và các cơ sở sản xuất Vì vậy, môi trường luôn là vấn đề nan giải hiện nay Bền vững về mặt môi trường, phải đảm bảo ba chức năng: là không gian sống, là nơi chứa đựng và hoá giải chất thải và là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên Hiện nay, chất lượng môi trường được kiểm tra thông qua các thông số theo tiêu chuẩn môi trường của nhà nước Theo nghĩa rộng, để môi trường phát triển bền vững phải hiểu, vận dụng các quy luật tự nhiên trong khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 291.3.2 Phương pháp và quy trình nghiên cứu
1.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu Cảnh quan nhân sinh là hướng nghiên cứu tổng hợp, do vậy phải
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu Trong nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp truyền thống thường dùng trong địa lý, có kết hợp với phương pháp hiện đại để nghiên cứu một cách tổng hợp và xác thực nhất mức độ phù hợp của các dạng cảnh quan với mục đích sử dụng ngoài thực tế
a Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: sách, báo, mạng, thống kê và các báo cáo, quy hoạch của khu vực nghiên cứu
Sau khi thu thập, tiến hành chọn lựa và phân tích các thông tin cần cho mục đích nghiên cứu Đây là phương pháp cơ bản cho cảnh quan nói riêng và bất kỳ ngành khoa học cơ bản nào
b Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này dùng để nghiên cứu cấu trúc cảnh quan nhân sinh thông qua việc khảo sát các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Bằng việc thu thập các số liệu, tài liệu đã có về khu vực nghiên cứu, bao gồm các bản đồ hợp phần (bản đồ địa hình, bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất) và các số liệu thống kê về dân số lao động, đất đai, khí hậu…Ta tiến hành khảo sát thực địa theo các tuyến từ vùng đồi núi Mông Dương, Cẩm Hải (Tp Cẩm phả) xuống tới vùng đồng bằng và ven biển tiếp giáp với vịnh Hạ Long, Bái Tử Long trên địa bàn hai thành phố Tại các điểm khảo sát tiến hành lấy mẫu và quan trắc các thông số môi trường
Đây là phương pháp quan trọng nhất cho phép phát hiện các vấn đề môi trường bức xúc, các mâu thuẫn nảy sinh giữa môi trường và phát triển kinh tế tại khu vực
c Phương pháp bản đồ - GIS
Bản đồ là công cụ đầu tiên và cũng là kết quả sản phẩm của các nhà địa lý Trong nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhân sinh, phân tích bản đồ lấy thông tin đồng thời dựa vào bản đồ địa hình để vạch ra các tuyến khảo sát cho khu vực
Trang 30nghiên cứu Phần mềm Mapinfo, được sử dụng trong khóa luận này để thành lập và biên tập các bản đồ hợp phần như Bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, cũng như thành lập bản đồ cảnh quan nhân sinh
và bản đồ định hướng sử dụng cảnh quan khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
GIS là công cụ hiện đại, hỗ trợ rất nhiều cho các nhà Địa lý trong quá trình thu thập, phân tích, xử lý không gian cũng như lưu trữ dữ liệu Trong luận văn, công cụ GIS được sử dụng để hỗ trợ tổng hợp các thông tin hợp phần thành lập bản đồ cảnh quan nhân sinh.Qua đó góp phần định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ và phát triển bền vững
1.3.2.2 Quy trình nghiên cứu cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh
Để phù hợp với các đặc điểm của khu vực và mục tiêu nghiên cứu, đề tài được nghiên cứu theo các bước:
Bước 1: Xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề cương luận văn Bước 2: Thu thập, tổng hợp những thông tin cần thiết kết hợp khảo sát thực địa Sau đó tiến hành:
+ Tổng quan cơ sở lý luận và tài liệu có liên quan đến đề tài
+ Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan và các bản đồ hợp phần
Bước 3: Phân loại cảnh quan nhân sinh và thành lập bản đồ cảnh quan nhân sinh, trong đó tập trung nghiên cứu đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan
Bước 4: Phân tích các vấn đề môi trường chính trong cảnh quan nhân sinh và
dự báo xu thế biến đổi
Bước 5: Định hướng và đề xuất không gian sử dụng hợp lý và bảo vệ các cảnh quan khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Sau đây là sơ đồ các bước nghiên cứu:
Trang 32Khảo sát thực địa
Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan và các bản đồ hợp
phần
Tổng quan cơ sở lý luận và tài
liệu có liên quan đến đề tài
Thu thập, tổng hợp những
thông tin cần thiết
Phân loại cảnh quan nhân sinh
Thành lập bản đồ cảnh quan nhân sinh, nghiên cứu đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan
Phân tích các vấn đề môi trường chính trong cảnh quan nhân sinh và dự báo xu thế biến đổi
Định hướng và đề xuất không gian sử dụng hợp lý và bảo vệ các cảnh quan khu vực Hạ Long – Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 33CHƯƠNG 2 CẢNH QUAN NHÂN SINH KHU VỰC HẠ LONG –CẨM PHẢ,
TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Các yếu tố thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
2.1.1 Vị trí địa lý – yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
Khu vực Hạ Long - Cẩm Phả nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh có vị trí địa lý từ 20055’ - 21012’ vĩ độ Bắc và 106050’ - 107010’50’’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ và Quảng Yên
Khu vực nghiên cứu có vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và ngoài ra còn có vịnh Bái Tử Long và rất nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác, có thể thấy đây là vùng có tiềm năng du lịch lớn Điều kiện vị trí địa lý không những tạo ra tiềm năng du lịch cho vùng ra mà còn đem lại những lợi thế lớn cho phát triển kinh tế: khu vực nằm trên hành lang quốc lộ 18A - hành lang kinh tế nối
Hà Nội với Hạ Long và các tỉnh biên giới Trung Quốc, trong vùng lại có hệ thống đường thủy, đặc biệt là các hải cảng có tầm quan trọng không những trong tỉnh mà còn mang ý nghĩa vùng, liên vùng, quốc gia và quốc tế Chính vì thế vùng Hạ Long
- Cẩm Phả có ý nghĩa kinh tế nội vùng Đông Bắc, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
và ý nghĩa liên thông quốc tế về đường thủy, đường bộ và cả đường không trong tương lai
Những năm gần đây vùng Hạ Long - Cẩm Phả có sự phát triển kinh tế - xã hội rất sôi động, tốc độ phát triển kinh tế luôn đạt trên 2 con số, đặc biệt là phát triển công nghiệp, thủy sản và du lịch – dịch vụ Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh
mẽ với sự xuất hiện các đô thị, khu dân cư mới ven bờ vịnh Hạ Long và Bái Tử Long Bộ mặt đô thị và dân cư trong tỉnh đã có nhiều thay đổi trở nên khang trang hơn, đẹp đẽ hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, ở từng vùng vẫn còn những vấn
đề bức xúc và đang trở nên ngày càng cấp thiết Việc phát triển công nghiệp than ngày càng mạnh, liên tục năm sau tăng hơn năm trước ở vùng than Hòn Gai và Cẩm Phả đã làm ô nhiễm môi trường vùng than toàn diện và nghiêm trọng Môi trường không khí tại các đô thị (Hòn Gai, Cẩm Phả) bị ô nhiễm do hoạt động vận chuyển
Trang 35than, hoạt động giao thông tấp nập trên đường 18A và các tuyến đường nội thị…Bên cạnh môi trường không khí thì vấn đề thu gom và xử lý rác thải, nước thải tại các đô thị lớn như Hạ Long, Cẩm Phả cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến môi trường đô thị
Hoạt động nuôi trồng thủy sản tại các bãi triều, các vùng của sông ven biển làm suy giảm diện tích rừng ngập mặn và ảnh hưởng đến môi trường nước qua việc
xả thải trực tiếp từ đầm nuôi mang theo các chất hữu cơ dư thừa và các mầm bệnh
ra ngoài Môi trường khu vực bị ô nhiễm do nước và rác thải sinh hoạt Môi trường nước ven biển bị xuống cấp và ô nhiễm nặng do sự tập trung của các nhà máy sàng tuyển, các cảng xuất than, do các vật chất đưa ra từ bãi thải, san lấp mặt bằng xây dựng đô thị bên bờ vịnh Hạ Long, Bái Tử Long…Nghiêm trọng hơn, vịnh Hạ Long, niềm tự hào của người Quảng Ninh và Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất đi giá trị tự nhiên và vẻ đẹp vốn có do chính sự hiểu biết và liều lĩnh của con người Tất cả các vấn đề trên tạo nên một chuỗi các khủng hoảng môi trường - xã hội, là hệ quả tất yếu của một thời kỳ phát triển quá nóng, thiếu sự quản lý hệ thống và tổng hợp
2.1.2 Đặc điểm và vai trò chủ đạo của các hợp phần tự nhiên trong thành tạo cảnh quan nhân sinh khu vực Hạ Long – Cẩm Phả
2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
a Địa chất, địa mạo
Cấu tạo nền địa chất khu vực Hạ Long - Cẩm Phả bao gồm các thành tạo có tuổi từ Ordovic đến Đệ tứ, trong đó chủ yếu là các đá trầm tích và trầm tích phun trào Nét nổi bật nhất là các trầm tích hạt thô như cát kết, cuội kết chiếm tỷ trọng lớn trong các hệ tầng và các thành tạo phun trào ở đây chủ yếu có thành phần axit Đặc điểm đó tạo nên tính sắc sảo của địa hình các dãy núi và khả năng tạo vỏ phong hoá sét bị hạn chế Có các hệ tầng: Hệ tầng Tấn Mài (O3 - S tm), Hệ tầng Hà Cối (J1-
Trang 38- Địa hình núi thấp karst: tập trung ở phía đông bắc vùng nghiên cứu thuộc địa phận thành phố Cẩm Phả và thành phố Hạ Long Địa hình cấu tạo chủ yếu là trầm tích biển cacbonat (đá vôi) Độ cao trung bình khoảng 150 - 300m Quá trình rửa lũa và gặm mòn khá mạnh mẽ tạo nên các đỉnh nhọn răng cưa và phát triển nhiều hang động, phễu kast và thung lũng ngầm
Địa hình đá vôi dạng tuyến phương Tây bắc – Đông nam, phân bố chủ yếu ở khu vực vịnh Hạ Long, Bái Tử Long Bao gồm nhiều khối núi có chiều dài khoảng
1 – 3 km hoặc các khối núi riêng biệt nối tiếp nhau theo phương Tây bắc - Đông nam, xen kẽ giữa các dải núi này là các lạch sâu cùng phương Hoạt động karst cũng đang mạnh mẽ dưới tác dụng của nước biển, phần lớn quá trình rửa lũa đã tạo nên các địa hình dạng hàm ếch hoặc các ngấn nước rõ nét trên các vách của những khối núi này
Địa hình đá vôi dạng tuyến phương Đông bắc - Tây nam tập trung chủ yếu ở phía đông bắc vùng nghiên cứu, chúng kế tiếp dải núi phía Nam đường 18, được bắt đầu từ thành phố Hạ Long đến thành phố Cẩm Phả Quá trình karst cũng đang hoạt động mạnh mẽ ở dải núi đá vôi này mà bằng chứng là hàng loạt các hang động nằm trên các độ cao khác nhau Xen kẽ các dải địa hình này là các thung lũng karst ngầm kéo dài dạng chữ "U" được lắng đọng các trầm tích đệ tứ bở rời, hai bên sườn thung lũng là các vách đá vôi dốc đứng kéo dài nhiều km theo phương Đông bắc- Tây nam
- Địa hình đồi:phân bố ở vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng ven
biển Đặc trưng chung của các dải đồi này có độ cao trung bình từ 50m đến 150m
và có xu hướng thấp dần về phía thung lũng hoặc bờ vịnh Độ dốc sườn thoải 20 Quá trình bóc mòn - xâm thực chiếm vai trò chủ đạo tạo nên các đỉnh đồi khá bằng phẳng Hệ thống sông, suối phát triển mạnh và chia cắt các dải đồi này thành
8-từng dải đồi riêng biệt nối kế tiếp nhau
- Địa hình đồi - núi thấp với đỉnh rộng, sườn bóc mòn dốc 15-250 trên các đá trầm tích lục nguyên và carbonat: Xếp vào nhóm địa hình đồi núi thấp gồm các dải đồi núi có độ cao tuyệt đối dao động trong khoảng 100-300m, mức độ phân cắt sâu
từ 50-120m/km2 Trên diện tích chủ yếu là địa hình đồi, độ phân cắt sâu địa hình
<100m/km2, đôi nơi vẫn nổi lên các khối núi dạng bóc mòn sót Nhóm kiểu địa hình này thường nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa các dải núi và thung lũng hoặc ở phần rìa các dãy núi
Trang 39- Địa hình đồng bằng:Địa hình đồng bằng chiếm một diện tích không lớn, tập trung ở phía Nam, Tây Nam của vùng nghiên cứu Bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng và nghiêng dần về phía biển, độ cao dao động trong khoảng 2 - 10m Cấu tạo nên đồng bằng chủ yếu là sét, cát, bùn có nguồn gốc hỗn hợp sông, biển và vũng vịnh
Nhìn chung, từ những nét khái quát đã mô tả ở trên cho thấy địa hình khu vực nghiên cứu có đầy đủ cả ba dạng địa hình chính: đồi núi, trung du và đồng bằng Chính các kiểu địa hình này là tiền đề phát sinh các loại cảnh quan nhân sinh
và tai biến thiên nhiên Mỗi loại địa hình khác nhau là những nhân tố tác động đến từng loại tai biến tương ứng với chúng: đối với địa hình đồi núi do mật độ chia cắt sâu, độ dốc địa hình lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trượt lở mạnh so với vùng khác Đối với vùng đồng bằng mật độ chia cắt ngang lớn, cấu tạo địa chất
là trầm tích bở rời nên quá trình xói lở, bồi tụ xảy ra mạnh hơn
b Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Vùng Hạ Long - Cẩm Phả thuộc tiểu vùng khí hậu của tỉnh Quảng Ninh:
Tiểu vùng Hồng Gai - Cẩm Phả: mang tính chất chuyển tiếp giữa tiểu vùng khí hậu
vùng duyên hải đông bắc (Móng Cái - Tiên Yên) sang tiểu vùng tây, tây nam (Yên Hưng - Đông Triều) Phần lớn diện tích của vùng đều có tổng nhiệt trên 85000C và nhiệt độ trung bình năm trên 220C
Khu vực Hạ Long - Cẩm Phả thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng
10 Nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng bức xạ trung bình hàng năm 115,4 kcal/cm² Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 23,2ºC; cao nhất là tháng 6 (28,6ºC); thấp nhất là tháng 1 (16,7ºC) Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 82,7% Lượng mưa bình quân hàng năm là 1578mm, phân bố không đều theo 2 mùa Mùa hè mưa nhiều, chiếm từ 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm Mùa đông là mùa khô, ít mưa, chỉ đạt khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm
Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở khu vực có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió đông bắc về mùa đông và gió tây nam về mùa hè Khu vực Hạ Long - Cẩm Phả là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn
Trang 40bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10 Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11
* Thủy, hải văn
+ Hải văn: Khu vực ven biển thuộc chế độ nhật triều thuần nhất, hàng tháng
có trên dưới 25 ngày nước lên và xuống với biên độ trung bình là 2,19 mét, cao nhất
là 4,1 mét vào các tháng 6,11,12 và thấp nhất là 0,7 mét Sóng ở vịnh Hạ Long có cấp độ cao thấp, sóng cao nhất chỉ xuất hiện ở hướng nam và tây nam với tần suất rất bé Nhiệt độ nước biển tầng mặt cao nhất tại vịnh Hạ Long Khu vực nghiên cứu
có chế độ nhật triều thuần nhất, thời gian nước lên và nước xuống gần đều nhau + Thủy văn: Khu vực có nhiều sông, suối, hồ và moong chứa nước tạo ra các lưu vực sông có diện tích hàng trăm km2 Sông, suối nhỏ khác với mật độ 0,5km/km2, dốc 13‰ đến 126‰ và ngắn Nguồn nước ngầm được khai thác ngay
từ những năm 1970 với khoảng 20 giếng khoan với tổng công suất lớn, điển hình là
mỏ nước khoáng Quang Hanh
Các con sông điển hình trong khu vực gồm có:
Sông Diễn Vọng bắt nguồn từ vùng cao xã Dương Huy chảy theo hướng Tây
đổ ra biển nhưng đã bị cạn kiệt, nước rất đục do việc khai thác than lộ thiên Lưu lượng nước bình quân cả năm (tại trạm Dương Huy) chỉ đạt 2,91 m3/s, lưu lượng cực đại là 532 m3/s (năm 1964) và cực tiểu là 0,04 m3/s (năm 1969) Tổng lượng dòng chảy trung bình năm là 0,151 km3, mùa lũ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và thời gian lũ lên không dài, trung bình là 2 ngày, dài nhất là 6 ngày
Sông Man chảy vào vịnh Cửa Lục theo hướng bắc – nam, có lưu lượng nhỏ
và mang theo ít vật chất gây bồi lắng vịnh Cửa Lục Sông Man có 2 nhánh: