1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan

130 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của các dòng chè Shan chọn lọc .... Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp gi

Trang 1

ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO

“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GIÂM CÀNH CỦA MỘT SỐ DÒNG CHÈ SHAN CHỌN LỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIÂM CÀNH CHÈ SHAN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2007

Trang 2

ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO

“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GIÂM CÀNH CỦA MỘT SỐ DÒNG CHÈ SHAN CHỌN LỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIÂM CÀNH CHÈ SHAN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Tất Khương

THÁI NGUYÊN, NĂM 2007

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lê Tất Khương

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào

Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2007

Tác giả

Lê Thị Phương Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình

của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy giáo hướng dẫn khoa học, nhận được sự

quan tâm giúp đỡ của cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Thầy giáo PGS TS Lê Tất Khương và thầy giáo Th.s Hoàng Văn

Chung đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Các thầy cô giáo khoa Trồng Trọt và khoa Sau đại học - Trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung

tâm Khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên, trung tâm Thực hành - Thực

nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Xin chân thành cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.3 Mục tiêu của đề tài 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

Phần thứ hai: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.1.1 Nguồn gốc của cây chè 5

2.1.2 Phân loại cây chè 6

2.1.3 Sự phân bố của cây chè 9

2.1.4 Khả năng nhân giống vô tính của cây chè 10

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và trong nước 11

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 11

2.2.1.1 Tình hình sản xuất 11

2.2.1.2 Tình hình tiêu thụ 13

2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 15

2.2.2.1 Tình hình sản xuất 15

2.2.2.2 Tình hình tiêu thụ 18

2.3 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 19

2.3.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng phát triển 19

2.3.2 Kết quả nghiên cứu về giống chè 21

2.3.3 Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính chè trên thế giới 25

2.4 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam 28

2.4.1 Tình hình nghiên cứu về giống chè 28

2.4.2 Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính 30

2.4.3 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè 34

2.4.4 Một số kết quả điều tra, nghiên cứu về chè Shan ở Việt Nam 35

Trang 6

Phần thứ ba: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 Vật liệu nghiên cứu 39

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 42

3.3 Nội dung nghiên cứu 42

3.4 Phương pháp nghiên cứu 42

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 42

3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 43

3.4.2.1 Nghiên cứu đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của các dòng chè Shan chọn lọc 43

3.4.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan 43

3.4.3 Phương pháp theo dõi, đo đếm các chỉ tiêu nghiên cứu thí nghiệm 44

3.4.4 Phương pháp sử lý số liệu 46

Phần thứ tư: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

4.1 Diễn biến khí hậu thuỷ văn vùng nghiên cứu 47

4.2 Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của các dòng chè Shan chọn lọc 49

4.2.1 Tỷ lệ ra mô sẹo của các dòng chè Shan chọn lọc giâm cành 50

4.2.2 Tỷ lệ ra rễ của các dòng chè Shan chọn lọc giâm cành 52

4.2.3 Tỷ lệ nảy mầm của các dòng chè Shan chọn lọc giâm cành 54

4.2.4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây con qua các thời kỳ của các dòng chè Shan chọn lọc giâm cành 56

4.2.5 Diễn biến ra lá của các dòng chè Shan chọn lọc giâm cành 59

4.2.6 Tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn của các dòng chè Shan giâm cành 61

4.2.7 Chất lượng cây con xuất vườn của các dòng chè Shan giâm cành 63

4.2.8 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng chè Shan giâm cành 67

4.3 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan 69

4.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể bầu đất có tỷ lệ trấu khác nhau đến chất lượng cây con và hiệu quả giảm nhẹ bầu chè Shan giâm cành khi xuất vườn 69

Trang 7

4.3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể bầu đất có trộn tỷ lệ trấu khác nhau

đến tỷ lệ ra mô sẹo, tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ nảy mầm của chè Shan

khi giâm cành 69

4.3.1.2 Ảnh hưởng của giá thể bầu đất có trộn tỷ lệ trấu khác nhau đến một số chỉ tiêu chất lượng cây xuất vườn của chè Shan giâm cành 72

4.3.1.3 Ảnh hưởng của giá thể bầu đất có trộn tỷ lệ trấu khác nhau đến khối lượng cây, tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của chè Shan giâm cành 73

4.3.1.4 Sơ bộ hạch toán chi phí và hiệu quả giảm nhẹ bầu chè của việc sử dụng giá thể bầu đất có tỷ lệ trấu khác nhau để giâm cành chè Shan 75

4.3.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn của chè Shan giâm cành 77

4.3.2.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ sống của chè Shan giâm cành 77

4.3.2.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng thân lá của chè Shan giâm cành 79

4.3.2.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của bộ rễ chè Shan giâm cành 80

4.3.2.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn và chất lượng cây chè con xuất vườn của chè Shan giâm cành 82

4.3.2.5 Sơ bộ hạch toán chi phí của một số loại phân bón lá tham gia thí nghiệm giâm cành chè Shan 83

Phần thứ năm: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85

5.1 Kết luận 85

5.2 Đề nghị 85

Trang 8

Phần thứ nhất

MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây trồng có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng và giá trị văn hoá cao Hiện nay, thế giới có trên 60 quốc gia trồng chè, tập trung chủ yếu ở các nước thuộc Châu Á và Châu Phi Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới với nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống

Việt Nam được xem là một trong những quê hương của chè, cây chè và sản phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm nước ta Chè Việt Nam đang đứng thứ 5 trên thế giới về diện tích, đứng thứ 8 về sản lượng xuất khẩu và trở thành cây kinh tế mũi nhọn Cả nước có khoảng 400.000 hộ sản xuất chè, hơn

600 doanh nghiệp chế biến ở quy mô công nghiệp, hàng năm thu hút khoảng

2 triệu lao động tham gia vào các lĩnh vực sản xuất, chế biến, thương mại và dịch vụ, mỗi năm xuất khẩu đạt xấp xỉ 100 triệu USD Trồng chè đã trở thành nghề truyền thống của nhiều địa phương Hiện nay, chè Việt Nam đã được Nhà nước cấp "Nhãn hiệu Chè Việt Nam”, thương hiệu chè Việt Nam đã được đăng ký tại 77 quốc gia và vùng lãnh thổ Đây là một cơ hội tốt cho ngành Chè Việt Nam đầu tư sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu, đưa hương vị Chè của Việt Nam tới phục vụ quí khách trên toàn thế giới [10]

Ở Việt Nam chè được trồng tập trung ở vùng Trung Du miền núi phía Bắc và Lâm Đồng; ngoài diện tích chè trồng tập trung theo hướng sản xuất công nghiệp có đốn hái, còn có nhiều nơi ở vùng núi phía Bắc như các tỉnh

Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Kạn cây chè được trồng theo

Trang 9

phương thức trồng rừng; giống chè ở đây chủ yếu là giống chè Shan Chè Shan có đặc điểm là thân gỗ to, tán rộng, lá thuôn dài, phiến lá to xanh ngoài khả năng cho thu hoạch búp thường xuyên còn có tác dụng che phủ lớn trên 70% Sản phẩm chè Shan núi cao được đánh giá cao bởi chất lượng tốt vốn có của giống và là sản phẩm “siêu sạch” Người dân vùng cao ví cây chè Shan là

"Cây vàng trên núi" Cây chè Shan đa tác dụng, ngoài giá trị phòng hộ khi trồng ở khu vực rừng đầu nguồn, búp chè Shan còn chế biến được 3 loại chè: Chè xanh, chè đen và chè vàng Chè vàng là nguyên liệu để sản xuất chè Phổ Nhĩ đang được các thương nhân Trung Quốc thu mua với giá 35.000- 45.000đ/kg Từ bao đời nay cây chè Shan đã mang lại nguồn thu rất lớn cho người trồng chè Ai cũng hiểu trồng chè Shan hiệu quả Thế nhưng, đối với đồng bào vùng cao, kinh tế còn nhiều khó khăn để phát triển thành vùng chè hàng hoá và có chất lượng cao còn nhiều câu hỏi để ngỏ… Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay Việt Nam có trên 35.000 ha chè Shan, chiếm 30% diện tích chè cả nước, tập trung ở vùng núi cao phía Bắc và Tây Nguyên Tỉnh có diện tích chè Shan lớn: Yên Bái 3.000 ha, trong đó có 730 ha chè cổ thụ, Hà Giang 14.640 ha, Sơn La 3.000 ha, Lai Châu 1.200 ha, Lào Cai 1.500 ha, Phú Thọ 1.250 ha, Bắc Kạn 1.000 ha …

Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc, chè Shan ở Bắc Kạn phân bố chủ yếu ở vùng núi cao và tập trung ở các huyện như Chợ Đồn, Na Rì, Ba Bể (Pắc Nậm) và huyện Chợ Mới ở độ cao trên 500m so với mực nước biển chè Shan sinh trưởng tốt, chất lượng chè xanh tốt và được coi là cây trồng đặc sản của tỉnh Tuy nhiên cũng như các vùng chè Shan khác trong cả nước, chè Shan ở Bắc Kạn được trồng bằng hạt, hoặc cây con mọc từ hạt có độ phân li lớn Theo PGS.TS Lê Tất Khương, Th.S Hoàng Văn Chung thì ở Bằng Phúc huyện Chợ Đồn; Bình Văn; Yên Hân, Yên Cư huyện Chợ Mới chè Shan sinh trưởng tốt, chất lượng chè xanh cao, nhưng do được trồng chủ yếu bằng hạt

Trang 10

hoặc cây con mọc từ hạt ở trên rừng cho nên chỉ có 30-33% cây chè Shan, phần còn lại là chè Trung Quốc lá to và dạng trung gian giữa chè Shan và các loại hình khác

Từ những vấn đề thực tế trên, năm 2001 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành tuyển chọn cây chè Shan sinh trưởng tốt, chất lượng chế biến chè xanh tốt làm cây đầu dòng phục vụ nhân giống vô tính chè Shan Đến nay dự án đã xác định được những cây chè Shan đầu dòng phục vụ cho công tác nhân giống vô tính Để phục vụ cho công tác nhân giống vô tính chè Shan đạt hiệu quả cao thì nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè Shan chọn lọc và một số biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan là rất cần thiết và cấp bách Mặt khác, do địa hình trồng chè Shan

là núi cao và bị chia cắt, vùng này chủ yếu gắn với nơi cư trú và tập quán canh tác của đồng bào Dao, Tày và đồng bào H’Mông Để mở rộng diện tích giống chè Shan giâm cành mang lại hiệu quả kinh tế cao thì việc vận chuyển khối lượng lớn bầu chè lên trồng trên núi cao là rất khó khăn Vì vậy nghiên cứu làm giảm nhẹ khối lượng bầu chè để thuận tiện cho việc vận chuyển là rất cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè Shan chọn lọc và

biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan”

1.2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài là một trong những quá trình nghiên cứu nhằm góp phần bảo tồn, phát triển chè Shan đặc sản quý hiếm của vùng núi cao thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

- Đề tài xác định được dòng chè Shan có khả năng nhân giống vô tính cao, làm cơ sở cho công tác nhân giống và cung cấp giống chất lượng cao cho sản xuất chè Shan trong khu vực

Trang 11

- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá công nghiệp nông thôn vùng núi phía Bắc nước ta

- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa học

kỹ thuật, cho người sản xuất nhân giống chè, cho sinh viên trong trường học tập, nghiên cứu về sản xuất vườn ươm giống chè Shan

1.3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được khả năng giâm cành của một số dòng chè Shan chọn lọc làm cơ sở cho việc chọn được giống chè Shan có năng suất, chất lượng tốt

- Nghiên cứu biện pháp làm giảm khối lượng bầu chè Shan giâm cành giúp đồng bào vùng núi cao đưa nhanh cây chè Shan trồng trên núi cao

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ sống,

tỷ lệ xuất vườn nhằm nâng cao chất lượng cây xuất vườn đối với chè Shan giâm cành

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 18 dòng chè Shan đã được trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành tuyển chọn và giống chè TRI777 làm đối chứng Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành đối với một trong

18 dòng chè Shan đã được tuyển chọn

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã đạt được của các tác giả trong và ngoài nước, đề tài nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè Shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan nhằm phục

vụ cho công tác nhân giống, cung cấp cây giống tốt cho sản xuất, phục vụ cho chương trình phát triển chè Shan vùng núi cao, đặc biệt là vùng núi các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên

Trang 12

Phần thứ hai

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Nguồn gốc của cây chè

Nguồn gốc của cây chè là vấn đề phức tạp bởi cây chè vốn đã được biết đến cách đây 4000 - 5000 năm gắn bó với biết bao thế hệ của nhiều dân tộc Là đề tài của nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, chè chẳng những đem lại lợi ích to lớn trong lĩnh vực Kinh tế, Nông Lâm nghiệp mà còn

có ý nghĩa về lịch sử văn minh văn hoá của toàn dân tộc

Cũng vì đem lại nhiều ý nghĩa to lớn nên chè từ lâu vẫn được coi là một trong những căn cứ khoa học, để xác định trung tâm nguồn gốc của cây trồng,

để phản ánh văn minh của loài người [12]

Nguồn gốc cây chè được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là:

Theo Carl Von Linnaeus - 1753, nhà thực vật học Thuỵ Điển, lần đầu tiên trên thế giới đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản của cây chè thế giới và định tên khoa học là Thea sinnensis, phân thành 2 thứ chè là: Thea bohea (chè đen) và thea viridis (chè xanh) [27]

Theo Nguyễn Ngọc Kính [14] năm 1823 R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam - Ấn Độ trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm thực vật học ông đã đi đến kết luận: Nguyên sản của cây chè là vùng Atxam -Ấn Độ

Theo Cohen Start - 1918, nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đưa ra thuyết hai nguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): cây chè lá to có nguồn

Trang 13

gốc ở phía Tây cao nguyên Tây Tạng Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và Đông Nam Trung Quốc

Theo Đào Thừa Trân -1951, nhà khoa học Trung Quốc đã tổng kết ý kiến của các nhà khoa học trên thế giới, và đi đến kết luận là nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Chúng di thực về phía Đông qua tỉnh

Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành loại chè lá nhỏ và di thực

về phía Nam và Tây Nam là Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành dạng chè

lá to

Cây chè có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), theo Dalaselia-1989 [7] đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ là: tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các con sông đổ về các con sông lớn ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện Đầu tiên cây chè mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè được di chuyển đến các nước nói trên

Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của Djemukhatde (1961-1971) về phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa chè được trồng và chè hoang dại, ông đã nêu luận điểm về sự tiến hoá sinh hoá của cây chè Dựa trên

cơ sở đó, ông đi đến kết luận “Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”, theo Djemukhatde-1976 [6]

Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các quan điểm trên đều thống nhất rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm

2.1.2 Phân loại cây chè

Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên Tên gọi đầu tiên được nhà khoa học Thuỵ Điển Linne đặt tên là Thea sinensis vào năm 1753 Đến nay tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là: Camellia sinensis (L) Okuntze, xếp trong hệ thống phân loại thực vật sau:

Trang 14

- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Var Bohea): có đăc điểm thân bụi thấp, phân cành nhiều, búp nhỏ mù xoè nhanh năng suất không cao, phẩm chất bình thường, nhiều hoa quả, khả năng chống chịu tốt, có thể chịu rét từ -

120c đến - 15 0c

- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis Var Macrophylla): có đặc điểm thân gỗ nhỡ cao tới 5m, trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên Lá to trung bình màu xanh nhạt dài 12 - 15cm, rộng 5 - 7cm, có 8 - 9 đôi gân chính, búp to hoa quả nhiều, khả năng chịu rét kém

- Chè Ấn Độ (Camellia Sinensis Var Atxamica): Có đặc điểm là cây thân gỗ cao to trong điều kiện tự nhiên có thể cao 16 - 17 m phân cành thưa, búp to cho năng xuất cao thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen Không chịu được rét, hạn, ít hoa quả

- Chè Shan (Tuyết): Là giống địa phương, thuộc thứ chè Shan, rất phổ biến ở vùng núi cao (Hà Giang, Mộc Châu ) và các đồn điền chè ở Tây Nguyên thời Pháp thuộc Giống hỗn hợp lai tạp, rất nhiều biến dị, được nông dân chia thành chè trắng (búp tuyết), chè xanh và chè vàng (tuỳ theo màu lá)

Trang 15

Hình thái: thân gỗ to, cao 10-15m, lá thuôn dài, phân cành thưa, phiến

lá to xanh, mềm dài 15-20cm, có 12-15 đôi gân rõ, sâu, mặt phiến lá lồi lõm, chóp lá nhỏ, búp to 0,83g/búp

Năng suất cao, chè 10-20 tuổi, thâm canh tốt cho năng suất 8-10 tấn búp/ha Chất lượng tốt, làm chè đen, chè xanh chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Tanin 27,1%, chất hoà tan 49,9 % Cánh to, chè tuyết có tiếng trong xuất khẩu ở Tây Âu (chè vùng cao nguyên dân tộc có từ những năm 1935-1940)

Khả năng chống chịu: chịu rét khá, ưa đất tốt Bị rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ gây hại Bị bệnh phồng lá nhẹ ở vùng cao nguyên

Nhân giống bằng cách gieo hạt, sẵn có ở vùng núi Đến nay đã có giống chọn lọc TRI 777, nhân giống bằng phương pháp giâm cành [24]

“Cây chè ở nước Việt Nam DCCH, NXB Khoa học Maxcơva, 1977” theo các học giả, trong 4 thứ chè Việt Nam, thì chè Shan (hay chè tuyết hay Shan tuyết) mọc như rừng, mọc thành rừng có ở Cao Bồ (Hà Giang), Suối Giàng, Sùng Đô (Nghĩa Lộ, Mộc Châu, Tô Múa, Chồ Lồng (Sơn La), Bắc Hà,

Lu (Lào Cai), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) Tuy nhiên, trong một chuyên khảo xuất bản năm 1907 học giả Ph.Eberharrdt, đã mô tả một số cây chè, trong những rừng tre nứa, ở độ cao 900 m thuộc Tam Đảo, Vĩnh Yên Những cây chè mọc tự nhiên này cao 8 - 10 m

Thứ chè có lá màu thẫm, nhỏ cuống lá 8 mm, phiến lá có kích thước 3,5

x 8 cm, hình bầu dục, chóp lá rõ, mũi mác, gốc lá nhọn, răng cưa nhỏ, phân

bố đều, lá cứng, hoa và quả nhỏ hơn giống chè được trồng

Thứ chè lá to hơn (cuống: 10 mm, phiến lá: 10 x 12 cm), lá xanh nhạt, bóng, mềm hơn, răng cưa sâu, lá mọc cách hình ô van, mũi mác Sát gốc cây

lá nhẵn, không có răng cưa nhất là khi mọc dưới bóng cây rừng

Vùng chè cổ thụ Suối Giàng (Nghĩa Lộ) là một bảo tàng chè độc đáo ở Việt Nam, ở độ cao gần 1000 m trên mực biển Vùng này gắn với nơi cư trú

Trang 16

của đồng bào H’Mông, có trên 4 vạn cây chè cổ thụ Và theo Viện sĩ Djemukhaze, thì ở Việt Nam còn có những cây chè cổ thụ, thân thẳng, giống như cây Bạch dương Những cây chè này đã sinh ra bao đời con cháu, nhưng sức vẫn đang tuổi thanh xuân

Hiện nay, cả 4 thứ chè trên đều đã được trồng ở Việt Nam nhưng phổ biến hơn cả là 2 thứ chè Trung Quốc lá to (chè Trung Du xanh) và chè Shan

2.1.3 Sự phân bố của cây chè

Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí hậu Cây chè phân bố chủ yếu ở Châu Á, cụ thể là Ấn Độ, Srilanca, Inđônêxia và Việt Nam Nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm Tuy nhiên cho đến nay trong quá trình trồng trọt, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật như chọn giống, quá trình canh tác cây chè đã được trồng ở khắp các châu lục từ 42 vĩ

độ Bắc (Pochi - Liên Xô cũ) đến 27 vĩ độ Nam (Coriente - Achentina) [25]

Cây chè phân bố chủ yếu theo độ cao thấp so với mực nước biển đã tạo nên các vùng chè, giống chè và chất lượng chè khác nhau Các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đều khẳng định rằng: Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi cao so với mực nước biển lớn, đều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè được trồng ở vùng thấp [16] Những vùng chè nổi tiếng thế giới như Hồng Sơn (An Huy - Trung Quốc), Sư

Tử Phong (Triết Giang - Trung Quốc), Daejilinh (Ấn Độ) đều nằm ở độ cao lớn so với mực nước biển [26]

Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những độ cao khác nhau có sự khác nhau rất rõ: những vùng núi cao trên 500m so với mực nước biển, có điều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của giống chè Shan, một giống chè có chất lượng tốt, đặc biệt là khi chế biến chè xanh Ở những vùng núi cao, do có biên độ ngày đêm lớn, ánh sáng yếu, thời gian chiếu sáng trong ngày thường ngắn, khí hậu ẩm và có nhiều mây mù nên đã tạo ra trong chè

Trang 17

hàm lượng các hợp chất thơm cao hơn ở vùng thấp, do vậy chúng đã ảnh hưởng tích cực đến chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Một số vùng chè nổi tiếng của nước ta như: Hoàng Su Phì (Hà Giang), Tà Xùa (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái), Mộc Châu (Sơn La), Bằng Phúc (Bắc Kạn), Bảo Lộc (Lâm Đồng), đều nằm ở độ cao trên 500 m so với mực nước biển Các tỉnh Trung Du: Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ, có độ cao so với mực nước biển dưới 500m, là nơi tập trung của các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá

to (chè Trung du xanh), chè Atxam (Ấn Độ) và các giống chè lai khác

2.1.4 Khả năng nhân giống vô tính của cây chè

Cây chè có thể nhân giống vô tính bằng các hình thức như giâm cành, chiết cành, nuôi cấy mô tế bào Nhưng trong thực tế sản xuất hiện nay, giâm cành được áp dụng phổ biến nhất

Nghiên cứu về khả năng nhân giống của chè ở Phú Hộ cho thấy: 1 ha chè 4 tuổi thu được 3 triệu hom, đem giâm có thể trồng được từ 50-70 ha chè Trong đó 1 ha chè thu quả chỉ trồng được 4-5 ha [9]

Những nghiên cứu về khả năng nhân giống của các giống chè PH1, LDP1, TRI777, TH3 ở Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho thấy: Trung bình mỗi cây chè của các giống này có thể cho thu hoạch từ 68,4 hom đến 129,6 hom với tỷ lệ xuất vườn khi giâm cành đạt 50,7-72,0% Như vậy 1 ha chè để giống đem giâm cành có thể trồng được 30-70 ha chè [17]

Theo kết quả điều tra của bộ môn Cây công nghiệp của trường đại học Nông nghiệp 1 - Hà Nội (1972) cho thấy: Năng suất của cây chè trồng bằng hình thức nhân giống vô tính sai khác rất rõ Trong đó hình thức giâm cành có năng suất cao hơn trồng bằng hạt từ 33-45% Cây chè trồng bằng hình thức giâm cành vẫn giữ nguyên được những đặc tính tốt như năng suất cao, phẩm chất tốt của cây mẹ

Đến nay, phương pháp giâm cành chè đã được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các tỉnh trong cả nước Đây là tiến bộ kỹ thuật quan trọng góp phần nhân

Trang 18

nhanh các giống chè tốt và nâng cao chất lượng chè ở nước ta Trên cơ sở của các kết quả nghiến cứu và cơ sở thực tiễn cho thấy các giống chè khác giâm cành được, vậy cây chè Shan cũng giâm cành được

Trong những thập kỷ gần đây, vùng sản xuất chè không ngừng mở rộng, diện tích cây chè tăng nhanh chóng, khoa học kỹ thuật chè phát triển kéo theo sản lượng chè của các nước trên thế giới ngày càng cao Phân loại các quốc gia sản xuất chè theo sản lượng cho thấy: Sản lượng đạt trên 20 vạn tấn/năm gồm 3 nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Srilanca (chiếm trên 60% tổng sản lượng chè trên thế giới) Sản lượng đạt trên 10 vạn tấn có 5 nước: Inđônêxia, Kênia, Nhật Bản, Liên Xô cũ và Thổ Nhĩ Kỳ Sản lượng đạt trên 5 vạn tấn có 12 nước, trong đó có Việt Nam Bốn quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn là Ấn Độ, Trung Quốc, Kênia và Srilanca [15]

Trang 19

Biểu 01: Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới và một số nước

trồng chè chính đến năm 2005

(1000 ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lượng khô (1000 tấn)

(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2005) [31]

Theo FAO, trong 20 năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu

hướng tăng, sản lượng chè tăng 65% (từ 1,79 triệu tấn năm 1978 lên tới gần 3

triệu tấn năm 1998), phần lớn các nước sản xuất chè đều tăng sản lượng Tính

đến năm 2005 diện tích chè thế giới đạt 2,460 triệu ha trong đó diện tích chè

Châu Á chiếm 87,7%, Châu Phi là 8,06% Trong đó Trung Quốc là nước có

diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 943,1 nghìn ha; Năng suất trung

bình trên thế giới đạt 12,99 tạ khô/ha Kênia là nước có năng suất trung bình

cao năng suất bình quân thế giới đạt 20,71 tạ khô/ha; Sản lượng chè thế giới

đạt 3,196 triệu tấn Đứng đầu thế giới là Ấn Độ có sản lượng đạt 845.000 tấn

(chiếm 26% tổng sản lượng thế giới)

Trang 20

2.2.1.2 Tình hình tiêu thụ

Chè là thứ nước uống phổ biến nhất trên thế giới, ngoài giá trị giải khát, nước chè còn có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu, do vậy nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới ngày càng tăng Năm 2000, tiêu thụ chè của thế giới là 2,214 nghìn tấn dự báo đến năm 2010 sẽ tăng lên 2,413 nghìn tấn, tốc độ tiêu thụ giai đoạn 1999 - 2000 là 2,2% dự báo giai đoạn 2000 - 2010 sẽ là 0,8%

Về mức tiêu thụ bình quân đầu người thì các nước có mức tiêu thụ bình quân đầu người cao nhất là Quatar và Ailen bình quân tiêu thụ trên 3 kg/người/năm, các nước có mức tiêu thụ từ 2 - 3 kg/người/năm là: Anh, Irắc,

Cô Oét, Thổ Nhĩ Kỳ; Các nước có mức tiêu thụ từ 1- < 2 kg/người/năm là Braxin, Hồng Kông, Jocdani, Arapxêut, Srilanca, Xiri, Ai Cập, Tuynidi, Australia và Niudilan[24]

Theo dự báo của tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), nhập khẩu chè đen thế giới năm 2005 ước đạt 1,27 triệu tấn, tăng trung bình hàng năm là 2,3 % Trong đó, nhu cầu nhập khẩu của các nước đang phát triển tăng khá cao, tăng tới 3,1 % đạt 626.000 tấn Nhập khẩu của các nước phát triển chỉ tăng 1,6 %, đạt 642.000 tấn Trong đó, những thị trường nhập khẩu lớn là các nước thuộc Liên Xô cũ, Pakistan, Anh, Ai Cập và Mỹ chiếm tới 51% nhu cầu nhập khẩu chè của thế giới

Xuất khẩu chè năm 2005 của toàn thế giới ước đạt 1,292 triệu tấn là 2,5% Trong đó, lượng xuất khẩu của Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xia, Srilanca và Kênia chiếm tới 75% tổng sản lượng xuất khẩu của toàn cầu

Trang 21

Biểu 02: Sản lượng tiêu thụ của một số quốc gia trên thế giới

Đơn vị: 1000 tấn

Năm

Achentila 259,37 282,25 257,78 247,57 254,07 264,89Băng la đét 36,32 39,07 41,96 44,93 48,09 50,82 Bra xin 511,84 481,73 575,91 476,89 414,51 359,02

Trung quốc 482,18 483,22 465,39 531,37 614,57 553,44

Ấn độ 658,39 667,68 675,44 681,66 685,8 688,48In-đô-nê-xia 61,96 58,12 61,1 65,9 68,78 70,28

Pakixtan 109.98 105.89 102.26 106.6 111.93 119.21Liên bang Nga 166.31 168.16 167.94 168.5 171.23 175.32Thổ nhĩ kỳ 156.63 155.09 161.88 180.59 177.52 119.59Anh 134.44 133.64 131.29 126.79 124.62 124.01Hoa kỳ 102.27 104.58 106.25 108.31 111.01 114.05

Pa ra goay 64.78 72.11 78.05 80.6 83.31 82.92

(Nguồn: Số liệu FAO,2006)

Qua biểu 02 cho thấy: Hai nước có diện tích, sản lượng chè lớn nhất là

Ấn Độ và Trung Quốc cũng là hai nước có nhu cầu tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Các nước như Anh, Mỹ sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè [35]

Trang 22

Biểu 03: Kim ngạch xuất khẩu chè của một số nước xuất khẩu

(Nguồn: Số liệu FAO,2006)

2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình sản xuất

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, Việt Nam có điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại đây

Cây chè Việt nam được chính thức khảo sát nghiên cứu vào năm 1885 do người Pháp tiến hành Sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở tỉnh Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931) [31]

Trang 23

Thời kỳ đầu (1890) Việt Nam có khoảng 300 ha, đến năm 1939 chúng

ta có khoảng 13.408 ha với sản lượng 10.900 tấn búp khô đứng thứ 6 trên thế giới theo Nguyễn Văn Kính (1979) [15]

Trong thời gian chiến tranh 1945-1954 do ảnh hưởng của chiến tranh nên sản xuất chè bị đình trệ, diện tích năng suất, sản lượng chè giảm nghiêm trọng Sau khi hoà bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường được thành lập, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường được

mở rộng Năm 1977, cả nước có 44.330 ha sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô "theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè" (1985) [36]

Giai đoạn sau chiến tranh (1954-1990), sản xuất chè được phục hồi trở lại, năm 1990 diện tích chè cả nước đã có 60 nghìn ha, sản lượng đạt 32,2 nghìn tấn khô (tăng 53% so với năm 1980) Công nghiệp chế biến phát triển mạnh, nhiều cơ sở sản xuất, nhiều nhà máy chế biến chè xanh, chè đen được thành lập với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, sản phẩm chế biến chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) Trong thời kỳ này một số tổ chức sản xuất, kinh doanh chè của cả nước được thành lập như: Tổng công ty chè Việt Nam (VINATEA) năm 1987; Hiệp hội chè Việt Nam (VITAS) năm 1988; Viện Nghiên cứu chè Phú Hộ năm 1988;

Sau năm 1990, do biến động tại thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu, sản xuất chè ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thị trường truyền thống (Liên Xô và Đông Âu) giảm sút, thị trường mới chưa được mở ra hoặc công nghệ chưa kịp đổi mới nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường mới (Tây Âu)

Từ năm 1995 trở lại đây, cùng với sự đổi mới về quản lý ngành chè, nhiều hình thức liên doanh liên kết được hình thành (với các nhà sản xuất Nhật Bản, Đài Loan, ) cơ chế quản lý được đổi mới, nhiều công nghệ tiên tiến được đầu tư, đã khắc phục và phát triển ngành chè trở lại, diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị xuất khẩu chè ngày càng tăng Với trên 150 đầu

Trang 24

mối xuất khẩu chè Việt Nam hiện đã thâm nhập vào thị trường trên 40 nước, trong đó các thị trường xuất khẩu chè chủ lực như Pakistan, Đài Loan, Inđonêsia, Trung Quốc, Mỹ, Malaysia đến nay, cây chè đã thực sự là cây trồng mũi nhọn và là cây trồng chiến lược của vùng Trung Du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

Biểu 04: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam 10 năm trở lại đây

S lượng (tấn khô)

N suất (tấn khô/ha)

S lượng

x khẩu (tấn)

Kim ngạch (1000USD)

Bình quân (USD/tấn)

(Nguồn: Số liệu thống kê của Hiệp hội Chè Việt Nam) [11]

Qua bảng số liệu ở biểu 04 cho ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng xuất khẩu chè trong giai đoạn 1996 - 2005 liên tục tăng trưởng Từ năm

1996 đến năm 2005 diện tích chè tăng từ 74.800 ha lên 123.742 ha (tăng 60%), trong đó diện tích chè kinh doanh tăng từ 62.400 ha lên 105.000 ha (tăng 68%) Sản lượng chè búp khô các loại tăng từ 46.800 tấn lên 133.350 tấn (tăng 284,9%) Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 31.200.000 USD lên 96.887.000 USD (tăng 290,6%)

Trang 25

2.2.2.2 Tình hình tiêu thụ

Uống trà là một nét văn hoá ẩm thực Việt Nam Phần lớn chè tiêu thụ nội địa là chè xanh, với 90% sản lượng chè xanh được tiêu thụ ngay trên thị trường trong nước (Accenture 2000) ở một số vùng nông thôn, tập quán uống chè tươi phổ biến hơn, tuy nhiên hầu hết chè được bán ra đều là chè chế biến thô sơ

Chè đen chỉ được tiêu thụ ở các thành phố lớn, nhưng cũng chỉ chiếm 1% tổng mức tiêu thụ Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu đối với các loại chè đen ướp hương liệu đang tăng nhanh ở khu vực thành thị, nhãn hiệu đầu tiên được giới thiệu bởi Dilmah, một công ty của Srilanca Ước tính Lipton và Dilmah chiếm khoảng 70% thị phần ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp Các sản phẩm chế biến từ chè khác như nước giải khát, kẹo và bánh quy hiện chưa

có mặt tại Việt Nam

Chè trồng ở các vùng phía Bắc như Thái Nguyên, Sơn La, Hà Giang và Yên Bái được tiêu thụ khá phổ biến ở Hà nội và các thành phố khác ở miền Bắc, trong khi chè Lâm Đồng chủ yếu được tiêu thụ ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam Chè xanh ướp hoa nhài, hoa sen và các loại hoa

có hương thơm khác cũng khá phổ biến, chiếm khoảng 20% tiêu thụ nội địa

Mặc dù có truyền thống uống trà từ lâu đời, nhưng theo báo cáo của FAO, tiêu thụ chè bình quân đầu người ở Việt Nam năm 1997 chỉ đạt 260g, thấp hơn nhiều so với các nước Châu Á có tập quán uống trà khác (Hồng Công 1400g; Đài Loan 1300g; Nhật Bản 1050g; Trung Quốc 340g) Tuy nhiên, từ năm 2000 đến năm 2005, tiêu thụ chè bình quân đầu người của Việt Nam tăng 5% lên 380g

Trong khi xuất khẩu chè có chiều hướng tăng lên thì nhu cầu tiêu thụ nội địa cũng biến động mạnh Chè xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô hoặc sơ

Trang 26

chế còn chè bán trên thị trường nội địa là những sản phẩm đã qua chế biến có chất lượng cao hơn và do đó có giá cao hơn giá xuất khẩu Việt Nam có một

số vùng trồng chè nổi tiếng như Thái Nguyên, Mộc Châu và Kim Anh Người tiêu dùng Việt Nam thường rất nhạy cảm trong vấn đề chất lượng chè, khác biệt giữa chè loại tốt nhất và xấu nhất lên tới 10 lần (Accenture 2000)

Biểu 05: Sản lượng tiêu thụ nội địa theo chuỗi thời gian hàng năm

Khối lượng (Tấn khô)

(Nguồn: Số liệu FAO, 2006) [3]

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHÈ TRÊN THẾ GIỚI

2.3.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè

Nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể của cây chè, các tác giả Trung Quốc đã chia tổng chu kỳ phát dục cá thể của cây chè làm 5 giai đoạn: Phân tích đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè trong từng giai đoạn và nêu

ra các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp cần thiết nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt trong từng giai đoạn đó là:

- Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống)

- Giai đoạn cây con: Từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây ra hoa lần đầu

(1-2 năm sau trồng)

Trang 27

- Giai đoạn cây con: Từ khi cây ra hoa lần đầu tiên đến khi cây có bộ khung tán định hình (từ năm thứ 2 - 3 đến hết năm thứ 4 sau trồng)

- Giai đoạn chè lớn: Là giai đoạn chè kinh doanh sản xuất Thời kỳ này kéo dài hơn 20 - 30 năm phụ thuộc vào điều kiện đất đai kỹ thuật canh tác

- Giai đoạn chè già: Giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kỳ kinh doanh sản xuất, có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng [27]

Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A.A Alidatde (1964) cho rằng: Khi trên búp chè có 5 lá thì nách các lá thứ nhất, thứ 2 đã có những mầm nách; Khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ 3, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ 4

Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè K.M Djedemukhatde-1976 [6] cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Ở những nước có mùa đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông

và nó được phục hồi vào kỳ ấm lên

Nghiên cứu sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và không đốn Djedemukhatde-1976 [6] đã chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống hoặc không đốn thì các mầm chè được phân hoá trong vụ thu, vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ xuân, trong khi đó ở nương chè có đốn thì sự phân hoá mầm chè chủ yếu được tiến hành trong vụ xuân

Nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất Djedemukhatde-1976 [6] cho thấy: Tương quan giữa hệ số búp trên một đơn vị diện tích và năng suất là mối tương quan chặt R = 0,956 - 0,004

Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất chè: K.E bakhơtatde (1948) [6] đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như sau: Mầu sắc lá, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu của lá

Nghiên cứu về hình dạng lá chè dựa trên góc nghiêng của lá: IG Kerkatde cho rằng: Góc lá tối ưu cho cường độ quang hợp là 450

Trang 28

2.3.2 Kết quả nghiên cứu về giống chè

Trong sản xuất nông nghiệp, công tác nghiên cứu về giống có vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế Giống là ưu thế cạnh tranh tuyệt đối, là sản phẩm của nghiên cứu công phu và đầu tư vô giá

Chè là cây giao phấn, cây con biến dị lớn, những nương chè trồng bằng hạt thường không đều khác nhau về hình thái cũng như nội chất Chọn ra giống tốt, nhất là các dòng vô tính có vai trò lớn trong việc nâng cao phẩm chất nguyên liệu và chất lượng sản phẩm Mặt khác, chè là cây công nghiệp lâu năm, có nhiệm kỳ kinh tế dài trồng một lần có thể cho thu hoạch 40 - 50 năm, đầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây ngắn ngày khác, không thể phá đi trồng lại hàng năm được nên giống tốt hay xấu có ý nghĩa quyết định đến năng suất và chất lượng chè trong suốt nhiệm kỳ kinh tế Kinh nghiệm các nước trồng chè đạt hiệu quả cao cho thấy: giống tốt không những tăng sản lượng, chất lượng và tăng thu nhập mà còn mở rộng được địa bàn phát triển chè đến những vùng sinh thái khác Do vậy việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Năm 1905, trạm Nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913, Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng di truyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt Theo ông, để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước:

1 Nghiên cứu vật liệu cơ bản

2 Chọn hạt

3 Lựa chọn trong vườn ươm

4 Nhân giống hữu tính và vô tính

Trang 29

* Nghiên cứu giống chè ở Trung Quốc:

Trung Quốc là nước có lịch sử trồng chè lâu đời (khoảng 4000 năm) Ngay từ đời nhà Tống đã có 7 giống chè được chọn lọc ở Vũ Di Sơn (Phúc Kiến) Các giống chè Thuỷ Tiên (1821-1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm có từ 200 năm nay đều là những giống chè chiết cành do nhân dân tạo ra (Nguyễn Văn Toàn-1994) [32] Năm 1966 điều tra giống toàn quốc ở Trung Quốc có trên 1000 giống chè trong đó xác định được 50 giống chè tốt đưa ra sản xuất Một số giống chè tốt của Trung Quốc như Đại Bạch trà; Hùng Đỉnh Bạch; Phúc Vân Tiên; Hoa Nhật Kim,

Hiện nay ở tỉnh Triết Giang Trung Quốc đang xây dựng nhiều vùng chè sinh thái (đạt tiêu chuẩn chè hữu cơ) từ các giống chè Long Tỉnh 43, Long Tỉnh lá dài, Phúc Đỉnh, Đại Bạch Trà Năm 2001, 50% sản phẩm sản xuất theo kế hoạch xuất khẩu sang thị trường khó tính như EU, Mỹ [32]

* Nghiên cứu giống chè ở Ấn Độ:

Ấn Độ là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về diện tích nhưng lại đứng đầu thế giới về sản lượng Đạt được thành tích trên là do Ấn Độ rất quan tâm đầu tư nghiên cứu triển khai các giống tốt vào sản xuất

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ [24], thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn

Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính Đến năm 2003 Ấn Độ đã có trên

Trang 30

80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt Trong đó có trên 20% giống được trồng bằng cây con được nhân giống bằng phương pháp giâm cành

Giai đoạn 1: Quan sát chọn ra những cây chè tốt

Giai đoạn 2: Đánh giá khả năng ra rễ khi giâm cành của các dòng (yêu cầu đạt rên 80%)

Giai đoạn 3: Đánh giá sản lượng, chất lượng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm chế biến

Ngoài phương pháp chọn dòng, phương pháp chọn hạt (do hai dòng tạo nên) được các nhà nghiên cứu đặt ra từ năm 1965 cho đến năm 1987 đã có 6 hạt đưa ra sản xuất có hiệu quả [8]

* Nghiên cứu giống chè ở Srilanca:

Srilanca là nước nhỏ nhưng là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè hàng đầu của thế giới Chè của Srilanca có hương thơm, chất lượng cao, được sử dụng rộng rãi trên thế giới

Năm 1842 Srilanca lần đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc trồng ở vườn Bách thảo Hoàng Gia Peradenlya (Kandy)

Trang 31

Giống chè ở Srilanca hiện nay chủ yếu có nguồn gốc Ấn Độ Srilanca đặc biệt chú ý đến công tác chọn giống, chú ý kết hợp chọn dòng có sản lượng cao kết hợp với tính chống chịu và khả năng chống bệnh Kết quả là đã chọn được các dòng chè TRI777, TRI2043, giống chè TRI777 đã được nhập nội vào Việt Nam và hiện đang là giống chè có chất lượng khá, phát triển rộng rãi trong sản xuất Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước

* Nghiên cứu giống chè ở Nhật Bản:

Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc, vào thế kỷ thứ 9 Chè ở Nhật Bản được trồng tập trung ở giữa 35 - 38 vĩ độ Bắc, chủ yếu trồng trên đất bằng, độ cao không quá 60 -1000 m so với mực nước biển [16]

Theo Satoshi Yamagushi, Jitanaka (1995) [18] Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản [18]

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ (2000) [24].Bắt đầu từ những năm 1953 Nhật Bản đã xây dựng chế độ đăng ký các giống chè tốt, qua đó các Sở Nông Lâm của các các tỉnh đã đăng ký 33 giống tốt, trong đó giống chủ lực cũng là giống Yabukita

* Nghiên cứu giống chè ở Liên Xô cũ: Cây chè đầu tiên được trồng ở Liên Xô vào năm 1883 tại vườn thực vật Nhikit (thuộc Crưm) và sau đo trồng tại vườn thực vật Sukhumi thuộc cộng hoà tự trị Apkhadia vào năm 1884 [24] Hiện nay sản xuất chè ở nước Nga chủ yếu tập trung ở Grudia Theo Daraselia (1989) [7], sơ đồ kế hoạch chọn giống chè ở đây vạch ra như sau:

- Nghiên cứu đặc tính sinh học, hình thái học cây chè (hình dạng bên ngoài, tính sinh trưởng, sản lượng và chất lượng, )

Trang 32

- Trồng những vật liệu đã chọn lựa đối với những mẫu vật tốt đã chọn lọc để chăm sóc

- Chăm sóc, lựa chọn và nhân giống những cây tốt nhất

- Thí nghiệm tính ổn định về sự di truyền của hạt, về những dấu hiệu mong muốn và các chỉ tiêu kỹ thuật của cây

- Trồng những nương chè giống tốt đã lựa chọn qua quá trình thí nghiệm và khu vực hoá

Cũng theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ thì Liên Xô cũ là quốc gia đầu tiên sử dụng phương pháp phóng xạ và đột biến hoá học, qua đó chọn được 6 giống chè có hàm lượng Polyphenol, hàm lượng chất hoà tan cao và 4 giống có dạng hình mới có hương thơm rất cao

* Nghiên cứu giống chè ở Kênia:

Chè lần đầu tiên được đưa tới Kênia vào năm 1903 nhưng sản xuất chè

ở Kênia chỉ bắt đầu từ những năm 1925 - 1927 Cho đến nay công tác nghiên cứu giống chè ở Kênia được quan tâm rất nhiều Các giống chè được chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn, ngoài nhân giống bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép Công tác nghiên cứu giống chè đã góp phần đưa năng suất chè của Kênia lên rất cao Kênia là một trong những quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500 kg chè khô /ha

2.3.3 Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính chè trên thế giới

Ngoài nghiên cứu trồng chè bằng hạt, các nhà khoa học trên thế giới còn đặc biệt quan tâm nghiên cứu nhân giống vô tính chè Nhân giống vô tính chè có ưu điểm là cây chè con giữ nguyên được những đặc tính tốt của cây

mẹ, nương chè có độ đồng đều cao và mau cho thu hoạch

Có nhiều hình thức nhân giống vô tính cho chè là: Chiết cành, ghép, giâm cành, nuôi cấy mô tế bào

Trang 33

- Theo Дараселия.М К (1989) [38], các nhà khoa học Nhật Bản là Nacemura và Oici (1985) đã tạo ra cây chè con bằng phương pháp nuôi cấy

mô tế bào

+ Nhân giống chè bằng hình thức nuôi cấy mô tế bào: Đây là phương pháp nhân giống yêu cầu kỹ thuật cao, giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm ra vườn, dẫn tới giá thành cây cao nên khó áp dụng vào đại trà

+ Nhân giống bằng hình thức chiết cành: Theo Đỗ Ngọc Qũy (1980) [27], thì phương pháp chiết cành đã được nông dân Trung Quốc áp dụng từ lâu, để nhân các giống chè tốt như Phúc Đỉnh, Bạch Hảo, Thuỷ Tiên Tuy nhiên, hình thức nhân giống này ngày nay ít được sử dụng vì có hệ số nhân giống thấp

+ Nhân giống bằng hình thức ghép: Ghép chè đã được các nhà khoa học thế giới nghiên cứu từ lâu: Theo Trịnh Khởi Khôi [13], ghép chè đã có lịch sử trên 40 năm, trong đó hình thức truyền thống là ghép cành, tuy nhiên sau khi kỹ thuật giâm cành chè được nghiên cứu và triển khai thực hiện thì ghép chè không được chú ý nữa

- Theo Кварацхелия T.K (1959) [39], thì ghép chè bằng phương pháp ghép mắt cho tỷ lệ sống từ 53 - 76%, tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi dùng làm gốc ghép sẽ cho tỷ lệ ghép sống cao, thời vụ ghép tốt nhất là mùa thu, tỷ lệ sống có thể đạt trên 80%

+ Nhân giống chè bằng hình thức giâm cành: Giâm cành chè là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất ở các nước trồng chè, nhờ có những ưu thế của phương pháp nhân giống vô tính nói chung và có hệ số nhân giống tương đối cao, không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, giá thành hạ

- Theo Võ Ngọc Hoài (1998) [9], thì Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu giâm cành chè từ năm 1900, sau đó là Ấn Độ (1911), Grudia (1928), Nhật Bản (1936) và Srilanca (1938)

Trang 34

- Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm (1979) [29], ở Srilanca không giâm cành vào lúc hanh khô, hạn hán, ở Ấn Độ thời gian giâm cành thích hợp nhất là tháng 8, tháng 9, ở Grudia, Trung Quốc thích hợp nhất cho giâm cành

là tháng 7, tháng 8 hàng năm

- Nghiên cứu về tuổi cây chè mẹ lấy hom, các tác giả Srilaca cho rằng: tuổi cây lấy hom không ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của chè giâm cành, nhưng trong sản xuất thường chỉ lấy hom ở ngoài nương chè trên 4 tuổi đã bắt đầu

ổn định về sinh trưởng và năng suất búp Ở Trung Quốc thường thu hoạch trên nương chè chuyên sản xuất giống, tuy nhiên trong điều kiện thiếu hom có thể lấy hom chè trên cả cây chè con giâm cành đã đủ tiêu chuẩn xuất vườn

- Nghiên cứu về kích thước hom, lá trên hom, các tác giả Srilanca, Liên

Xô, Trung Quốc đều cho rằng hom chè gồm 1 lá nguyên tốt hơn cắt đi 1/2 hay 1/3 lá hoặc hom 2 - 3 lá Các tác giả đều thống nhất rằng hom dài quá, ngắn quá đều ảnh hưởng đến quá trình ra rễ, nảy mầm của hom Kích thước thích hợp của hom chè là dài 3 - 5cm

- Về vị trí hom trên cành chè các tác giả Trung Quốc, Srilanca đều cho rằng: Những hom ở giữa cành là hom có tỷ lệ sống, nảy mầm và ra rễ cao

- Nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại hoóc môn, chất kích thích sinh trưởng đối với sự ra rễ của hom chè, các nhà khoa học Srilanca cho rằng: Các loại hoóc môn, kích thích sinh trưởng chỉ có hiệu quả cao trong phạm vi hẹp, đối với những giống chè quý hiếm khó giâm cành Ở Zaia đã ngâm hom chè vào dung dịch nước vôi trong, thuốc tím, 2,4D và α NAA, β IAA ở Liên Xô

đã sử dụng các chất kích thích như 2,4D, α NAA, β IAA 50mg/l lít nước, ngâm trong 24 giờ Ở Trung Quốc, Viện sinh lý thực vật, Viện nghiên cứu chè Trung ương đã tiến hành nghiên cứu các chất kích thích sinh trưởng đối với giâm cành nhưng cũng chưa đưa ra áp dụng trong thực tiễn sản xuất

Trang 35

- Nghiên cứu về kỹ thuật cắm hom, các nhà khoa học Srilanca cho rằng: Nên cắm đứng hom (không cắm xiên) tạo điều kiện cho hom mọc thẳng ngay từ đầu

- Nghiên cứu về môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô, Ấn

Độ, Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: Cắm hom vào túi polietylen không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè mà còn tạo điều kiện tốt cho quá trình vận chuyển ra nương chè, tăng tỷ lệ sống của cây con khi trồng ra nương

- Nghiên cứu về bón phân cho chè giâm cành các nhà khoa học Liên

Xô đề nghị bón hỗn hợp N-P-K theo tỷ lệ 15:10:10 bón 1,5 gam hỗn hợp trên cho 1 bầu chè Ở Srilanca sau khi hom chè ra rễ bón 15 gam hỗn hợp T55 (35 phần đạm sunphát + 10 phần kali sun phat + 10 phần muối Ma nhê) cho 100 bầu chè; Khi chè mọc mầm bón 28 g T55 cho 100 bầu, trước khi ra ngôi 1-2 tháng bón 56 g T55 cho 100 bầu Riêng Lân trộn vào đất trước khi giâm cành Trường hợp không trộn vào đất khi giâm cành thì tưới hỗn hợp T56 gồm 15 phần đạm sun phát + 20 phần phốt phát đạm (20% N + 35% P2O5) + 20 phần Kali sun phát + 15 phần muối ma nhê Hoà 25g T65 trong 4-5 lít nước tưới cho 100 bầu, cứ 15 ngày tưới 1 lần [29]

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHÈ Ở VIỆT NAM

2.4.1 Tình hình nghiên cứu về giống chè

Sau khi chiếm đóng Đông Dương, thực dân Pháp đã đánh giá được ngay vị trí, điều kiện tự nhiên và lao động ở đây thuận lợi cho việc trồng chè

để buôn bán với Châu Âu và Trung Quốc Một số tác giả Pháp (Lafèvre Pontalis, Du Pasquier, Deuss và Eberhardt) đã điều tra ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Lào, Campuchia tại vùng đồi thấp ven châu thổ các dòng sông, nhất

là vùng núi Bắc kỳ và các cây chè dại ở Tam Đảo và Trường Sơn Họ đã phát hiện cây chè Tuyết (Shan) có chất lượng rất tốt để làm chè đen có hương vị đặc biệt và nhiều búp có tuyết (búp vàng, búp bạc) mà thị trường Tây Âu rất

ưa chuộng

Trang 36

- Năm 1918, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên ở Việt Nam được thành lập,

từ đó công tác nghiên cứu chè được tiến hành rộng rãi và sâu sắc hơn Theo Dupasquer - 1923 , đến năm 1923, Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với giống chè là Trung Du, Shan và Atxam (Ấn Độ), đã thu thập được tập đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to (Đỗ Ngọc Quỹ-1991) [28]

Bên cạnh việc điều tra, thu thập các giống, Trạm chè Phú Hộ cũng tiến hành nhập các giống từ nhiều nước Từ năm 1918 - 1927 đã thu thập 13 giống

từ Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc và tiến hành bố trí thí nghiệm, so sánh Từ kết quả nghiên cứu năm 1923 Dupas quier cho rằng: Chè Manipua và Atxam được trồng từ Ấn Độ tới nay đã tỏ ra thích hợp với sản xuất và cho kết quả tốt

ở Việt Nam Đối với giống Trung Du, ông nhận xét: Trung Du là giống ít đòi hỏi nhất, nó mọc ngay trên đất xấu

Năm 1931, trạm nghiên cứu chè Bảo Lộc được thành lập và tiến hành tiếp nhận các giống từ Phú Hộ đưa vào như: Thanh Thuỷ, Bắc Hà, Tham Vè,

Ma komen Trạm đã chọn lọc 2 dòng TB11 và TB14, năng suất thí nghiệm đạt 20 tấn búp/ha Đến nay chưa phát huy được hiệu quả sản xuất

Năm 1969 - 1978, nhiều cuộc điều tra và nhập nội giống được tiến hành Trong thời gian này các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Trần Thanh, Nguyễn Văn Niệm đã đề ra phương pháp chọn dòng, chọn ra được giống chè PH1 và 1A là 2 giống cho năng suất cao và phẩm chất tốt

Từ năm 1976 - 1990, bằng phương pháp chọn dòng các tác giả Nguyễn Văn Niệm, Trần Thị Lư đã chọn ra các giống TRI777, TH3 là 2 giống có triển vọng, được Bộ Nông nghiệp cho phép khảo nghiệm ra sản xuất

Từ năm 1980, Viện nghiên cứu chè đã chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính Kết quả từ cặp lai: mẹ Đại Bạch Trà, giống có chất lượng thơm ngon nổi tiếng của Trung Quốc với bố là PH1 có năng suất cao đã thu

Trang 37

được hai dòng chè lai LDP1 và LDP2 có nhiều triển vọng, được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cho phép khu vực hoá năm 1993

Tại Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm chè Lâm Đồng cũng đã thành công về việc ghép giống chè LD97

Từ năm 1994 trở lại đây đã có 33 giống chè được nhập nội vào Việt Nam trong đó có 9 giống chè Đài Loan; 15 giống Trung Quốc; 11 giống Nhật Bản; 2 giống Ấn Độ Thực tế trong sản xuất mới có giống Kim Tuyên, Ngọc Thuý được trồng với diện tích lớn (475,5 ha); thứ đến là D4 (10,5 ha); Bát Tiên (8,1 ha) các giống còn lại đang được bảo quản trong vườn tập đoàn Tỉnh Lâm Đồng trồng nhiều diện tích chè nhập nội nhất (450 ha) tại các công

ty liên doanh như Fusheng, Tân Nam Bắc, Cam Lâm, Kim Lộ [19]

Đến nay, nhu cầu sử dụng giống tốt trong sản xuất ngày càng tăng, nên công tác giống ngày càng được quan tâm hơn Hiện nay nước ta có trên 120 giống chè, trong đó có hơn 20 giống đã được đưa ra trồng sản xuất đại trà Tại Viện nghiên cứu chè Việt Nam (nay là trung tâm Nghiên cứu chè - Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc) đã xây dựng được một vườn bảo tồn quỹ gen chè, lưu giữ nhiều giống được thu thập từ nhiều nơi trên thế giới và trong nước Tuy nhiên công tác giống ở nước ta vẫn chủ yếu tìm năng suất cao, khả năng chống chịu nên khả năng tận dụng và phát huy lợi thế của nguồn gen quý chưa được nhiều, dù đã có một vốn gen khá song chúng ta chưa có được một giống chè gắn liền với thương hiệu giống cụ thể như Trung Quốc với sản phẩm chè Long Tỉnh 43 được sản xuất từ giống chè LT43, chè chất lượng cao Thiết Quân Âm từ nguyên liệu giống chè Thiết Quan Âm,

2.4.2 Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính

Ngoài nghiên cứu trồng chè bằng hình thức cổ truyền là trồng bằng hạt Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nhân vô tính ở Việt Nam từ rất sớm

Trang 38

- Nhân giống chè bằng phương pháp chiết cành Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1979) [25], thì nghiên cứu về chiết cành chè lần đầu tiên được Dupasquier nghiên cứu ở Việt Nam vào năm 1921 - 1923 và Guiraid vào năm 1952 Các tác giả trên đều cho rằng chiết cành chè là phương pháp nhân giống đơn giản nhất so với giâm cành và ghép Tuy nhiên, chiết cành có

hệ số nhân giống rất thấp, một cây chỉ chiết được từ 6 - 10 cành và thời gian chiết cành dài (2 năm) Do những nhược điểm trên nên chiết cành chè ít được phổ biến trong sản xuất và ít được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu tiếp

Nghiên cứu về ghép chè các tác giả Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Toàn (2002) [4], cho rằng có thể áp dụng phương pháp ghép nêm cho chè và ghép trên gốc ghép 3 - 3,5 tháng tuổi sau khi gieo hạt

Năm 1999, trung tâm Nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng đã nghiên cứu thành công kỹ thuật tạo cây ghép từ giống TB14, LD97

Nghiên cứu về kỹ thuật ghép chè tác giả Nguyễn Xuân An (2006) [1], kết luận rằng: Cả 2 phương pháp ghép áp và ghép nêm đều có thể áp dụng tốt cho chè, tuy nhiên ghép áp đoạn cành cho kết quả tốt hơn, khả năng phát triển của cành ghép mạnh hơn, tỷ lệ nảy mầm đạt 90,19%, tỉ lệ ghép sống đạt 87,04% Thời gian nảy mầm ngắn 25,39 ngày

Nghiên cứu về trồng cây chè ghép, tác giả Nguyễn Xuân An (2006) [1], cho rằng: Cây chè ghép có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khô hạn, không có nước tưới, cây chè có khả năng vượt qua mùa khô trong 2 năm đầu, đạt tỉ lệ sống từ 81,11% - 84,44% Tuy nhiên, do ghép chè yêu cầu kỹ thuật phức tạp, giá thành cây ghép cao nên ít được sử dụng trong thực tiễn sản xuất chè, do vậy công tác nghiên cứu về ghép chè không được nghiên cứu rộng, chủ yếu nghiên cứu ở vùng khô hạn kéo dài như Gia Lai - Đắc Lắc

Trang 39

Nghiên cứu về kỹ thuật giâm cành chè Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997) [28], Nghiên cứu về giâm cành chè cũng được bắt đầu ở Việt Nam từ rất sớm bởi Dupasquier (1921 - 1923) và Guinard (1952) Năm

1952 Guinard đã biên soạn quy trình giâm cành chè ở Bảo Lộc, ông cho rằng: Giâm cành chè có hệ số nhân giống cao, tỷ lệ sống đạt 75% nhưng cây chè con có hệ rễ chùm, yếu, khó có thể trồng rễ trần được

Năm 1962 - 1963 quy trình kỹ thuật giâm cành chè tạm thời được Bộ Nông trường Quốc doanh, sau đó là Bộ Nông trường (1965) thông qua, ban hành áp dụng vào sản xuất đại trà sau đó quy trình kỹ thuật giâm cành chè được chính thức ban hành vào năm 1976 [29], tuy nhiên phải đến năm 1986, khi giống chè PH1 được chọn lọc theo phương pháp cây đầu dòng được công nhận và cho phép phổ biến thì kỹ thuật giâm cành chè mới được áp dụng rộng rãi trong sản xuất

- Từ những nghiên cứu của mình các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm cho rằng: Muốn có hom chè tốt cần bón cho mỗi cây chè sản xuất hom giống 20g đạm sun phát, 20g supe lân và 10g kali sun phát (Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [30], Nguyễn Văn Niệm (1979) [29], …

Các tác giả trên còn cho rằng: Có hai thời vụ giâm cành chính là vụ Đông- Xuân 15/10 đến 15/2 và vụ Hè Thu 1/6 đến 15/7 và tốt nhất là giâm cành vào vụ Đông - Xuân

Nghiên cứu về kích thước hom, hai ông còn cho rằng hom chè có kích thước thân hom dài 4 - 5cm và 1 lá nguyên, phần thân hom từ lá mẹ trở lên 0,5 cm là tốt nhất [30]

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước lá chè đến khả năng giâm cành tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994) [34], nhận xét rằng: Diện tích lá chè có ảnh hưởng đến khả năng giâm cành, lá chè quá lớn có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống, khả năng hình thành mô sẹo, ra rễ và nảy mầm của hom Tuy nhiên

Trang 40

trong điều kiện giâm cành mà khống chế được ẩm độ đất và ẩm độ không khí thì kết quả lại khác

- Để giảm bớt sự thoát hơi nước, các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm đã đề nghị cắt bỏ 1/3 lá chè đối với những hom có diện tích lá lớn

- Nghiên cứu về ảnh hưởng của vị trí hom chè trên cành chè đến tỷ lệ sống, ra mô sẹo, nảy mầm của hom chè, tác giả Nguyễn Văn Niệm (1994) [20] cho thấy những hom ở vị trí giữa của cành chè (không phải hom gốc và hom ngọn) là hom có tỷ lệ sống, ra mô sẹo và nảy mầm cao nhất (Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [30], Nguyễn Văn Niệm (1979) [29]

- Nguyễn Văn Toàn (1994) [34], cho rằng mức độ hoá nâu nhanh trên cành chè sẽ ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành mô sẹo và ra rễ, nảy mầm của hom và ngược lại những giống chè có mức độ hoá nâu chậm sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hình thành mô sẹo và ra rễ, nảy mầm của hom chè

- Nghiên cứu về ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng:

α NAA, NOA, 2,4D, thuốc tím, nước vôi đến chè giâm cành các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm (1979) [29] cho rằng: Tỷ lệ ra rễ không có sự chênh lệch rõ trong sản xuất, thời gian ra rễ có sớm hơn Tuy nhiên việc sử dụng chất kích thích cho sản xuất đại trà là khó

Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số giống chè ở Thái Nguyên: Tác giả Lê Tất Khương (1997) [17 ] cho rằng: Các giống PH1, TRI777, TH3

là những giống dễ giâm cành, tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0% Giống 1A

là giống khó giâm cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%

Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm cành tác giả Lê Tất Khương (1997) [17], và số lần bón phân cho chè giâm cành đã làm tăng tỉ lệ xuất vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong đó, công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với quy trình (78g Ns, 36g Ps, và 60g Ks cho 1m2 - 100 bầu) và bón 7 lần vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 sau cắm hom

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.10. Biểu đồ diễn biến khí hậu thời tiết tại Thái Nguyên từ - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Hình 4.10. Biểu đồ diễn biến khí hậu thời tiết tại Thái Nguyên từ (Trang 54)
Bảng 4.01: Tỷ lệ ra mô sẹo của các dòng chè Shan chọn lọc - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.01 Tỷ lệ ra mô sẹo của các dòng chè Shan chọn lọc (Trang 58)
Bảng 4.02: Tỷ lệ ra rễ của 18 dòng chè Shan chọn lọc khi giâm cành - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.02 Tỷ lệ ra rễ của 18 dòng chè Shan chọn lọc khi giâm cành (Trang 60)
Bảng 4.04: Chiều cao cây con của các dòng chè Shan giâm cành - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.04 Chiều cao cây con của các dòng chè Shan giâm cành (Trang 64)
Bảng 4.05: Số lá trên cây của các dòng chè Shan khi giâm cành - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.05 Số lá trên cây của các dòng chè Shan khi giâm cành (Trang 66)
Bảng 4.06: Tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn của 18 dòng chè Shan giâm cành - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.06 Tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn của 18 dòng chè Shan giâm cành (Trang 69)
Bảng 4.07: Chất lượng cây xuất vườn của các dòng chè Shan giâm cành - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.07 Chất lượng cây xuất vườn của các dòng chè Shan giâm cành (Trang 71)
Hình 4.02: Biểu đồ khối lượng thân lá, khối lượng rễ và tỷ lệ rễ/cây con - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Hình 4.02 Biểu đồ khối lượng thân lá, khối lượng rễ và tỷ lệ rễ/cây con (Trang 73)
Hình 4.03: Biểu đồ kết quả điều tra một số sâu hại chính - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Hình 4.03 Biểu đồ kết quả điều tra một số sâu hại chính (Trang 75)
Bảng 4.08: Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến tỷ lệ ra mô sẹo, - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.08 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến tỷ lệ ra mô sẹo, (Trang 77)
Hình 4.04: Biểu đồ ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến tỷ lệ nảy - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Hình 4.04 Biểu đồ ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến tỷ lệ nảy (Trang 78)
Bảng 4.09: Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến một số chỉ tiêu - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.09 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến một số chỉ tiêu (Trang 79)
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các bộ phận trên - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các bộ phận trên (Trang 86)
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các bộ phận dưới - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các bộ phận dưới (Trang 88)
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ xuất vườn và - Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè shan chọn lọc và biện pháp kỹ thuật giâm cành chè shan
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ xuất vườn và (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm