1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam

125 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

23 2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ .... Vì vậy, việc nghiên cứu quan điểm về không sử dụng năng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGA

PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA

VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGA

PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA

VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN LAN NGUYÊN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Nga

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 5

1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 5

1.1.1 Định nghĩa 5

1.1.2 Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử trên Thế giới 5

1.1.3 Lợi ích và bất cập của việc sử dụng năng lượng nguyên tử……… 8

1.2 PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 14

1.2.1 Tổng quan về pháp luật năng lượng nguyên tử 14

1.2.2 Các tổ chức ủng hộ việc không sử dụng năng lượng nguyên tử 19

Chương 2 PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 23

2.1 NHẬN XÉT CHUNG 23

2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 27

2.2.1 Pháp luật Cộng hòa liên bang Đức 29

2.2.1.1 Chính sách năng lượng nguyên tử của Đức 33

2.2.1.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Đức 43

2.2.2 Pháp luật Cộng hòa Áo 54

2.2.2.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Áo và sự phát triển của phong trào chống năng lượng nguyên tử 55

Trang 5

2.2.2.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Cộng hòa Áo 61

2.2.3 Pháp luật Ý 63

2.2.3.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Ý 63

2.2.3.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Ý 64

2.2.4 Pháp luật Vương quốc Bỉ 68

2.2.4.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Bỉ 68

2.2.4.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Bỉ 69

2.2.5 Pháp luật Thụy Sỹ 73

2.2.5.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Thụy Sỹ 73

2.2.5.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Thụy Sỹ 76

2.2.6 Pháp luật Nhật Bản 77

2.2.6.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Nhật Bản 77

2.2.6.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Nhật Bản 78

2.2.7 Pháp luật Úc 92

2.2.7.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Úc 92

2.2.7.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Úc 93

Chương 3 KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM 97

3.1 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 97

3.2 KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 102

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử…… 104

3.2.2 Giải pháp về không sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam 107

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 7

30

Bảng 4 Lò phản ứng điện nguyên tử và lò phản ứng thử nghiệm

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong ba phần tư thế kỷ qua, kể từ khi các chất đồng vị phóng xạ được tìm ra vào năm 1934, các chất này đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống và mang lại hiệu quả rất lớn cho cuộc sống con người: Năng lượng nguyên tử

đã được ứng dụng trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, khoáng sản, khí tượng, thuỷ văn, giao thông, xây dựng, dầu khí, Đặc biệt, một trong những ứng dụng của năng lượng nguyên tử là điện nguyên tử điện nguyên tử đã có lịch sử phát triển hơn 50 năm kể từ ngày nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới được đưa vào vận hành ở Liên xô cũ năm 1954 Kể từ ngày đó đến nay, ngành điện nguyên tử

đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng cũng gặp phải những rủi ro nặng nề,

đã có những thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng cũng có những bước thăng trầm

Nhu cầu ứng dụng năng lượng nguyên tử vào phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam là nhu cầu chính đáng Việc nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, nghiên cứu khoa học… là rất cần thiết và nên được phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng

và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, việc phát triển điện nguyên tử là một vấn đề cần phải nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng, bởi bên cạnh những lợi ích mà điện nguyên tử mang lại, nguồn năng lượng này cũng tiềm ẩn những nguy cơ và bộc

lộ một số hạn chế Hơn nữa, cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc thực hiện dự án nhà máy điện nguyên tử bao gồm một phạm vi rộng lớn các vấn đề từ cơ sở và thiết bị liên quan đến khuôn khổ luật pháp, nguồn nhân lực, nguồn tài chính… của Việt Nam còn ở trình độ phát triển chưa cao Hệ thống các văn bản pháp luật trong nước quy định về việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình hiện nay vẫn còn chưa hoàn thiện: Một số văn bản chưa ban hành kịp, chưa làm rõ hệ thống khung cũng như chi tiết các văn bản quy phạm pháp luật cần xây dựng Ngoài ra, một số quốc gia trên Thế giới hiện nay đã bày tỏ quan điểm không sử dụng năng lượng nguyên tử:

Trang 9

Một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ở châu Âu đã từ bỏ việc sử dụng năng lượng nguyên tử: Áo là nước đầu tiên bắt đầu từ bỏ việc sử dụng năng lượng nguyên tử (năm 1978) và đã được theo sau bởi Thụy Điển (1980), Ý (1987), Bỉ (1999), và Đức (2002) Sau thảm họa hạt nhân Fukushima vào tháng 3/2011 , Đức

đã vĩnh viễn đóng cửa tám lò phản ứng và cam kết đóng phần còn lại vào năm 2035 Người Ý đã bỏ phiếu áp đảo để giữ cho đất nước họ phi hạt nhân Thụy Sĩ và Tây Ban Nha đã cấm việc xây dựng các lò phản ứng mới Thủ tướng Nhật Bản đã kêu gọi giảm đáng kể sự phụ thuộc của Nhật Bản vào năng lượng nguyên tử Tổng thống Đài Loan cũng đã làm tương tự Bỉ đang xem xét loại bỏ các nhà máy năng lượng nguyên tử của họ, có thể vào năm 2015 [27]

Tính đến tháng 11 năm 2011, các quốc gia như Úc, Áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Ireland, Ý, Latvia, Liechtenstein, Luxembourg, Malta, Bồ Đào Nha, Israel, Malaysia , New Zealand, và Na Uy đã phản đối năng lượng nguyên tử [27] Mặc

dù, trước đây, hầu hết các nước này vẫn hoàn toàn ủng hộ và hỗ trợ tài chính cho năng lượng nguyên tử và nghiên cứu

Vì vậy, việc nghiên cứu quan điểm về không sử dụng năng lượng nguyên tử cũng như những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này ở một số nước là rất cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang xúc tiến việc phát triển năng lượng nguyên

tử Trên cơ sở lý giải cơ sở khoa học, cơ sở lý luận của việc loại bỏ năng lượng nguyên tử ở các nước trên và kinh nghiệm về việc khai thác, sử dụng những nguồn năng lượng khác thay thế cho năng lượng nguyên tử sẽ mang lại bài học tốt choViệt Nam

Từ những phân tích trên đây, học viên đã lựa chọn đề tài: " Pháp luật một số

quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam " cho luận văn Thạc sỹ luật học của mình

Trang 10

2 MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

2.1 Mục đích nghiên cứu

Vấn đề năng lượng nguyên tử ở Việt Nam là một vấn đề mới mẻ so với các nước trên thế giới, nên vấn đề về việc loại bỏ dần năng lượng nguyên tử lại càng là vấn đề mới mẻ hơn nữa Hiện nay ở nước ta đã có công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực năng lượng nguyên tử, như Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Gia Chương với đề tài:

"Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình", ngoài ra, chúng ta cũng chỉ có một số bài báo, bài viết đơn lẻ Tuy nhiên, những nghiên cứu đối với vấn đề nghiên cứu pháp luật, chính sách của một số quốc gia trên Thế giới về việc không sử dụng năng lượng nguyên tử thì gần như không

có Vì vậy, đề tài này nhằm mục tiêu nghiên cứu đề xuất hướng phát triển năng lượng nguyên tử trong tương quan tính đến một tương lai xa, tương lai sau khi năng lượng nguyên tử đã phát triển và mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia Khi đó, cần đa dạng hóa các dạng năng lượng và thay thế dần năng lượng nguyên tử bằng những dạng năng lượng sạch khác, sau khi đã có cơ chế khai thác, sử dụng, đạt được lợi ích tối đa từ năng lượng nguyên tử mang lại

- Vì sao một số nước lại có quan điểm không sử dụng năng lượng nguyên tử

- Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

- Hướng phát triển các dạng năng lượng khác thay thế cho năng lượng nguyên tử tại Việt Nam

Trang 11

2.3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Luận văn dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu từ cái chung đến cái riêng, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích và so sánh đặc biệt là phương pháp so sánh luật học: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh quy định của pháp luật một số quốc gia và Việt Nam về việc sử dụng năng lượng nguyên tử

Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra, như dựa vào những số liệu

đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng năng lượng nguyên tử

2.4 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của luận văn

Khi nghiên cứu đề tài này, người viết không đặt ra quá nhiều tham vọng mà trước hết là trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân; đồng thời, góp một phần nhỏ bé của mình vào tiếng nói chung của giới luật học nhằm hoàn thiện pháp luật về năng lượng nguyên tử của Việt Nam

2.5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan pháp luật về việc không sử dụng năng lượng nguyên tử

Chương 2: Quy định pháp luật của một số quốc gia điển hình về không sử dụng

năng lượng nguyên tử

Chương 3: Kinh nghiệm đối với Việt Nam và giải pháp sử dụng những dạng năng

lượng khác thay thế năng lượng nguyên tử

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG

SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

1.1.1 Định nghĩa

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Luật Năng lượng nguyên tử

Việt Nam năm 2008, thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” được định nghĩa là:

“Năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hoá vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc”

1.1.2 Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử trên Thế giới

Lịch sử của năng lượng nguyên tử khởi đầu với việc xây dựng mô hình nguyên tử Năm 1912, nhà vật lý Ernest Rutherford (1871 - 1937) người Anh, sau khi phát hiện ra hạt nhân nguyên tử đã cùng với nhà vật lý Niels Bohr (1885 - 1962) người Đan Mạch đề xuất một mô hình nguyên tử: Nguyên tử gồm một hạt nhân tích điện dương được bao quanh bởi các electron [20]

Năm 1913, Rutherford phát hiện ra proton Năm 1932, nhà vật lý James Chadwick (1891 - 1974) người Anh phát hiện ra nơtron Năm 1939, nhà vật lý Frederic Joliot-Curie (1900 - 1958) người Pháp cùng với các trợ lý là Lew Kowaski

và Hans Von Halban đã chứng minh rằng hiện tượng phân rã hạt nhân (phân hạch) uran kéo theo sự toả nhiệt rất lớn [20] Việc phát hiện ra phản ứng dây chuyền sau này cho phép khai thác năng lượng nguyên tử

Trong Đại chiến thế giới lần thứ II (1939-1945), các nghiên cứu về hiện tượng phân hạch được tiếp tục tiến hành ở Mỹ, với sự tham gia của các nhà khoa

Trang 13

học từ châu Âu di cư sang đó Kế hoạch Mahattan được phát động với mục đích chế tạo vũ khí hạt nhân mà hệ quả là các vụ nổ hạt nhân (bom nguyên tử) ở hai thành phố Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) vào tháng 8/1945 [20]

Ngay sau chiến tranh, những nghiên cứu về năng lượng phân hạch được tiếp tục tiến hành để sử dụng vào mục đích dân sự Ở Pháp, ủy hội năng lượng nguyên

tử Pháp (Commissariat à l'énergie Atomique CEA) được thành lập vào năm 1945 [20] Nhiệm vụ của Cơ quan nghiên cứu này là giúp nước Pháp làm chủ được nguyên tử trong các lĩnh vực nghiên cứu, y tế, năng lượng, công nghiệp, an ninh và quốc phòng

Sau chiên tranh, chính quyền Mĩ khuyến khích phát triển năng lượng nguyên

tử cho các mục đích dân sự hòa bình Quốc hội Mĩ đã thành lập Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (AEC) vào năm 1946 AEC đã ủy quyền xây dựng Lò Tái sinh Thực nghiệm I tại một địa điểm ở Idaho Lò phản ứng ấy phát điện lần đầu tiên từ năng lượng nguyên tử vào ngày 20/12/1951 [16]

Một mục tiêu chính trong nghiên cứu hạt nhân vào giữa thập niên 1950 là chứng tỏ rằng năng lượng nguyên tử có thể phát điện dùng cho mục đích thương mại Nhà máy phát điện thương mại đầu tiên chạy bằng năng lượng nguyên tử đặt tại Shippingport, Pennsylvania Nó đạt tới công suất thiết kê trọn vẹn vào năm 1957 [16] Các lò phản ứng nước nhẹ kiểu như Shippingport sử dụng nước bình thường

để làm nguội lõi lò phản ứng trong phản ứng dây chuyền Chúng là mẫu thiết kế tốt nhất khi ấy cho nhà máy điện nguyên tử

Ngành công nghiệp bí mật ngày càng liên quan nhiều hơn đến việc phát triển các lò phản ứng nước nhẹ sau khi Shippingport đi vào hoạt động Các chương trình năng lượng nguyên tử đã chuyển sự tập trung sang việc phát triển các công nghệ lò phản ứng khác

Ngành công nghiệp điện nguyên tử ở Mĩ phát triển nhanh chóng trong thập niên 1960 Các công ty thực dụng đã nhìn thấy dạng sản xuất điện này thật kinh tế,

Trang 14

trưởng bị chậm lại Nhu cầu điện giảm đi và các lo ngại về điện nguyên tử ngày càng tăng, ví dụ như sự an toàn lò phản ứng, vấn đề chất thải, và những xem xét môi trường khác [16]

Tuy nhiên, nước Mĩ vẫn có số lượng nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động nhiều gấp đôi so với bất kì nước nào trên Thế Giới vào năm 1991, chiếm hơn một phần tư số lượng nhà máy đang hoạt động trên Thế Giới Năng lượng nguyên tử cung cấp gần 22% điện năng sản xuất ở nước Mĩ [16]

Cuối năm 1991, 31 quốc gia khác cũng có nhà máy điện nguyên tử đang khai thác thương mại hoặc đang xây dựng [16] Đó là một sự chuyển giao công nghệ điện nguyên tử rộng khắp và ấn tượng

Trong thập niên 1990, nước Mĩ phải đối mặt trước một vài vấn đề năng lượng chính, và đã phát triển một vài mục tiêu chính cho năng lượng nguyên tử, đó là: Duy trì sự an toàn cao và các chuẩn thiết kế; Giảm rủi ro kinh tế; Giảm rủi ro điều tiết; Thiết lập một chương trình chất thải hạt nhân mức cao thật hiệu quả Một vài trong số những mục tiêu năng lượng nguyên tử này đã đưa vào Chính sách Năng lượng năm 1992, được kí thành luật (nước Mĩ) vào tháng 10 cùng năm [16]

Nước Mĩ đang hành động để đạt tới những mục tiêu này theo nhiều phương thức khác nhau Chẳng hạn, Bộ Năng lượng Mĩ gánh vác một số nỗ lực chung với ngành công nghiệp hạt nhân để phát triển thế hệ tiếp theo của các nhà máy điện nguyên tử Những nhà máy đã và đang được thiết kế ngày một an toàn hơn và hiệu quả hơn Đây cũng là một nỗ lực nhằm làm cho nhà máy điện nguyên tử dễ xây dựng hơn bằng cách chuẩn hóa thiết kế và đơn giản hóa các đòi hỏi bản quyền, mà không giảm bớt các tiêu chuẩn an toàn

Trong lĩnh vực quản lí chất thải, các kĩ sư đang phát triển những phương pháp mới và những địa điểm mới dùng cất trữ chất thải phóng xạ tạo ra bởi các nhà máy điện nguyên tử và những quá trình hạt nhân khác Mục tiêu của họ là giữ chất thải hạt nhân cách xa môi trường sống và con người trong những khoảng thời gian rất lâu

Trang 15

Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu năng lượng nhiệt hạch hạt nhân Sự nhiệt hạch xảy ra khi các nguyên tử liên kết lại – hay hợp nhất – thay vì phân tách

ra Nhiệt hạch là năng lượng đã cấp nguồn cho mặt trời Trên Trái dât, nhiên liệu nhiệt hạch hứa hẹn nhất là deuterium, một dạng hydrogen Nó có trong nước và dồi dào Nó cũng tạo ra chất thải kém độ phóng xạ hơn so với sự phân hạch Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa thể sản xuất năng lượng có ích từ sự nhiệt hạch và vẫn đang trong tiến trình nghiên cứu

Nghiên cứu trong những lĩnh vực hạt nhân khác vẫn tiếp tục trong thập niên

1990 Công nghệ hạt nhân giữ vai trò quan trọng trong y khoa, công nghiệp, khoa học, và thực phẩm và nông nghiệp, cũng như phát điện Ví dụ, các bác sĩ sử dụng các đồng vị phóng xạ để nhận dạng và nghiên cứu các nguyên nhân gây bệnh Họ còn dùng chúng để tăng liệu pháp điều trị y khoa truyền thống Trong công nghiệp, các đồng vị phóng xạ được dùng để đo những chiều dày vi mô, dò tìm những dị thường trong vỏ bọc kim loại, và kiểm tra các mối hàn Các nhà khảo cổ sử dụng kĩ thuật hạt nhân để xác dịnh niên đại các vật thời tiền sử một cách chính xác và định

vị các khiếm khuyết ở các tượng đài và nhà cửa Bức xạ hạt nhân được dùng để bảo quản thực phẩm Nó giữ được nhiều vitamin hơn so với đóng hộp, đông lạnh hoặc sấy khô [16]

Nghiên cứu hạt nhân còn mang lợi ích cho nhân loại theo nhiều kiểu Nhưng ngày nay, ngành công nghiệp hạt nhân phải đối mặt trước những vấn đề lớn, rất phức tạp Làm thế nào chúng ta có thể giảm tối thiểu các rủi ro? Tương lai sẽ tùy thuộc vào kĩ nghệ tiên tiến, nghiên cứu khoa học, và sự tham gia của mọi công dân

1.1.3 Lợi ích và bất cập của việc sử dụng năng lượng nguyên tử

1.1.3.1 Lợi ích

Theo nghiên cứu "Công nghệ hạt nhân vì tương lai bền vững" của IAEA vào

tháng 6/2012, công nghệ hạt nhân có 6 lợi ích to lớn trong nỗ lực xây dựng tương lai bền vững, bao gồm:

Trang 16

Thứ nhất, tăng trưởng dân số, thúc đẩy phát triển kinh tế, và thay đổi lối sống đòi hỏi nguồn tài nguyên hơn bao giờ hết Khai thác quá mức nguồn tài nguyên đã bắt đầu làm tổn hại đến tự nhiên như đa dạng sinh học, không khí sạch, nước sạch

và đất canh tác, một xu hướng đe dọa tính bền vững của phát triển Để giúp chính phủ các nước thành viên đạt được khả năng áp dụng lớn hơn, IAEA đã phát triển một phương pháp mới để mô hình hóa các tương tác phức tạp này gọi là CLEWS (Chiến lược khí hậu, sử dụng đất, năng lượng và nước) cho phép phân tích đồng thời và gắn kết tất cả các lĩnh vực này

Thứ hai, cơ hội sử dụng nước đủ, an toàn ngày càng tăng có thể được thực hiện thông qua các kỹ thuật hạt nhân Kỹ thuật này giúp chỉ ra các nguồn nước ngầm với chi phí thấp và nhanh hơn bất kỳ phương pháp nào khác Kỹ thuật hạt nhân cũng nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy lợi, sử dụng 70% tất cả các nguồn nước ngọt

Thứ ba, cơ hội sử dụng năng lượng giá rẻ trực tiếp cải thiện phúc lợi của con người Dự báo hiện nay cho thấy nhu cầu điện tăng tới 60 đến 100% vào năm 2030

Là một nguồn năng lượng carbon thấp, điện nguyên tử có thể giảm tối đa phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu IAEA giúp các nước đang sử dụng hoặc đưa vào điện nguyên tử thực hiện một cách

an toàn, an ninh, kinh tế và bền vững Các tiêu chuẩn an toàn, sự hỗ trợ và các đánh giá của IAEA đang làm tăng tính an toàn cho lĩnh vực này IAEA cũng xác minh năng lượng nguyên tử chỉ được sử dụng cho mục đích hòa bình, trực tiếp góp phần vào hòa bình và an ninh

Thứ tư, cơ hội sử dụng nguồn lương thực bền vững sẽ vẫn là một thách thức lớn trong những thập kỷ tới Dựa trên thực tế và tiêu thụ hiện nay, sản xuất nông nghiệp sẽ phải tăng khoảng 70% vào năm 2050 để đáp ứng nhu cầu [18] Kỹ thuật hạt nhân được sử dụng ở các nước đang phát triển để tăng sản xuất một cách bền vững bằng cách nhân giống cây trồng được cải tiến, tăng cường chăn nuôi và sinh sản gia súc, cũng như kiểm soát sâu bệnh và dịch bệnh ở động vật và thực vật Tổn

Trang 17

thất sau thu hoạch có thể được giảm và gia tăng an toàn với công nghệ hạt nhân Đất

có thể được đánh giá với các kỹ thuật hạt nhân để giữ và cải thiện năng suất đất và quản lý nước

Thứ năm, giúp hiểu rõ hơn và bảo vệ đại dương, kỹ thuật hạt nhân được sử dụng để theo dõi cân bằng hóa học thay đổi của đại dương gây ra bởi quá trình axit hóa đại dương, có thể làm chậm sự phát triển và gây nguy hiểm cho san hô và tăng trưởng của vi sinh vật Kỹ thuật hạt nhân cũng là công cụ mạnh được sử dụng để có được một bức tranh chính xác của quá khứ trước đây của đại dương

Thứ sáu, sức khỏe cho hàng triệu bệnh nhân dựa vào chẩn đoán và điều trị bệnh an toàn và hiệu quả Kỹ thuật hạt nhân cung cấp thông tin chẩn đoán chính xác, rất quan trọng trong việc phát hiện và chữa cả bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm như ung thư Dược chất phóng xạ được sử dụng để điều trị bệnh và cho phép chụp ảnh chẩn đoán Xạ trị cũng sử dụng chùm tia bức xạ hội tụ, rất cần thiết trong chữa bệnh Trong thế giới đang phát triển, các bệnh truyền nhiễm và không lây, cũng như suy dinh dưỡng, tạo ra một gánh nặng kinh tế - xã hội, đe dọa tính bền vững Sử dụng phối hợp tốt, an toàn kỹ thuật hạt nhân để phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh và chống suy dinh dưỡng góp phần cải thiện sức khỏe và sự

ổn định xã hội trên toàn thế giới

Trên thực tế, nhiều nước trên Thế giới đã sử dụng năng lượng nguyên tử để sản xuất điện năng vì phương pháp này có những ưu điểm như: tiêu thụ ít nhiên liệu hơn so với nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, ít gây ô nhiễm môi trường, diện tích xây dựng nhà máy điện nguyên tử giảm bớt do không cần bãi chứa than hay kho dầu, vị trí xây dựng không nhất thiết phải gần đường giao thông hay các mỏ than

Ưu điểm lớn nhất của điện nguyên tử là tăng cường an ninh năng lượng quốc gia Tài nguyên năng lượng không đồng đều trên toàn cầu, khoảng 70% trữ lượng dầu thô ở Trung Đông, 70% trữ lượng khí đốt ở Trung Đông và Liên Xô cũ Việc cung cấp năng lượng cho các nước phụ thuộc năng lượng trên toàn Thế giới cho

Trang 18

thấy: dự trữ than sẽ chỉ còn đủ dùng trong khoảng 200 năm, dầu thô trong 40 năm

và khí đốt trong 60 năm tới Công nghệ mới được sử dụng trong thăm dò, khai thác chế biến nhưng giá thành cao Trữ lượng nhiên liệu Uranium tự nhiên trên Thế giới hiện được đánh giá đủ dùng trong 70 năm Nhưng với công nghệ hiện nay, nếu sử dụng chu trình có tái chế nhiên liệu Uranium có thể đủ dùng trong 700 - 800 năm [9] Đây là tiềm năng lớn về an ninh nhiên liệu trung và dài hạn điện nguyên tử góp phần đa dạng hóa loại hình sản xuất điện, giảm phụ thuộc vào các loại nhiên liệu hóa thạch, tránh được những cơn khủng hoảng nhiên liệu 2-3 thập kỷ tới

Điện nguyên tử còn được đánh giá là giải pháp năng lượng sạch tối ưu khi không thải ra các chất độc hại như tro bay, khí SO2, NO2, CO và khí hiệu ứng nhà kính CO2 vào khí quyển như các nhà máy nhiệt điện sử dụng năng lượng hóa thạch điện nguyên tử sản xuất lại có giá thành thấp hơn, công suất lớn hơn…

Tuy nhiên, trong quá trình chế biến, xử lý nhiên liệu và vận hành nhà máy điện nguyên tử có thể gây nên những tác động có hại đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, do luôn tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ, thải vật liệu phóng xạ ra môi trường, các

sự cố nghiêm trọng khi vận hành lò phản ứng

1.1.3.2 Bất cập

Có lẽ, việc lựa chọn hay không nguồn năng lượng phân hạch nguồn hạt nhân cho tương lai là một vấn đề khá đau đầu Năng lượng phân hạch hạt nhân, một mặt dường như khá ưu việt vì có thể tạo nên một nguồn năng lượng lớn, ít ô nhiễm, không phát thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính; nhưng mặt khác, nó tồn tại những vấn

đề môi trường, xã hội mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể giải quyết triệt để được Đó là chưa kể đến việc người ta đã lợi dụng nó để chế tạo vũ khí hạt nhân, mà tác động của chúng có thể hủy diệt cuộc sống tươi đẹp của hành tinh này.[58]

Thứ nhất, chất thải phóng xạ vẫn còn là một vấn đề chưa được giải quyết Chất thải từ năng lượng nguyên tử cực kỳ nguy hiểm và phải được bảo quản cẩn thận trong hàng ngàn năm (10.000 năm theo tiêu chuẩn của các Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ) [21]

Trang 19

Thứ hai, việc sử dụng năng lượng nguyên tử kéo theo rủi ro cao: Mặc dù có một tiêu chuẩn an toàn cao nói chung, nhưng các tai nạn vẫn có thể xảy ra Việc xây dựng một nhà máy với độ an toàn 100% là không thể Luôn luôn có một xác suất nhỏ sẽ xảy ra sự cố Hậu quả của một tai nạn là có sức tàn phá tuyệt đối tới cả con người lẫn tự nhiên Các nhà máy điện nguyên tử (và các hầm lưu trữ chất thải hạt nhân) càng được xây dựng nhiều, thì xác suất xảy ra các sự cố thảm khốc đâu đó trên thế giới càng cao

Trên toàn thế giới, nhiều vụ tai nạn hạt nhân đã xảy ra từ thảm họa Chernobyl năm 1986 Hai phần ba các rủi ro xảy ra ở Mỹ Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) đã kết luận rằng sự đổi mới kỹ thuật không thể loại trừ nguy

cơ lỗi của con người trong hoạt động nhà máy hạt nhân Một đội liên ngành của MIT đã ước tính rằng với sự tăng trưởng dự kiến của điện nguyên tử từ 2005-2055,

ít nhất bốn vụ tai nạn điện nguyên tử nghiêm trọng sẽ được dự kiến trong khoảng thời gian đó Trên toàn cầu, đã có ít nhất 99 vụ tai nạn nhà máy điện nguyên tử được ghi lại (bao gồm dân sự và quân sự ) từ năm 1952 đến năm 2009 (tai nạn nói trên được định nghĩa là sự cố dẫn đến sự thiệt hại đến cuộc sống con người hoặc nhiều hơn 50.000 USD thiệt hại tài sản), với tổng giá trị 20,5 tỷ USD bồi thường thiệt hại tài sản Chi phí thiệt hại tài sản bao gồm tài sản bị hư hại, ứng phó khẩn cấp, xử lý môi trường, sơ tán, sản phẩm bị mất, phạt tiền, và yêu cầu tòa án [28]

Tai nạn hạt nhân tồi tệ nhất thế giới là thảm họa Chernobyl ở Ukraine vào ngày 26/4/1986 Do không có tường chắn nên các đám mây bụi phóng xạ bay lên bầu trời và lan rộng ra nhiều khu vực phía tây Liên bang Xô Viết, một số nước Đông Âu và Tây Âu, Anh và phía đông Hoa Kỳ Thảm hoạ này phát ra lượng phóng

xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima [28] Sau thảm họa, hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường cũng như về sức khỏe đe dọa người dân

Ít nhất 57 vụ tai nạn đã xảy ra từ sau thảm họa Chernobyl, và hơn 56 vụ tai nạn hạt nhân đã xảy ra tại Hoa Kỳ Tương đối ít tai nạn có liên quan đến tử vong

Trang 20

Gần đây nhất, ngày 11 tháng 3, 2011, sau trận thảm họa động đất và sóng thần Sendai 2011, nhà máy điện nguyên tử Fukushima gặp hàng loạt các vấn đề đối với các lò phản ứng và rò rỉ phóng xạ gây ra sự cố nhà máy điện Fukushima I Tình trạng ô nhiễm phóng xạ ngày càng cao Tuy không có người tử vong tại chỗ, nhưng

nó gây nhiều lo ngại về sức khỏe của con người trong khu vực bị ảnh hưởng sau này Dự kiến phải mất vài năm để sửa chữa nhà máy và vài tháng để khử sạch phóng xạ [28]

Thứ ba, nguồn nguyên liệu cho năng lượng nguyên tử là Uranium Uranium

là một nguồn tài nguyên khan hiếm, dự trữ Uranium ước tính chỉ đủ cho từ 30 đến

60 năm tới tùy thuộc vào nhu cầu thực tế [28]

Thứ tư, khung thời gian cần thiết cho các thủ tục, lên kế hoạch và xây dựng một nhà máy điện nguyên tử thế hệ mới là trong khoảng từ 20 – 30 năm tại các nền dân chủ phương Tây [28] Nói cách khác, vệc xây dựng một nhà máy điện nguyên

tử mới trong một thời gian ngắn là một ảo tưởng

Thứ năm, các nhà máy điện nguyên tử cũng như chất thải hạt nhân có thể là mục tiêu hàng đầu của các cuộc tấn công khủng bố Không có nhà máy điện nguyên

tử nào trên thế giới có thể trụ lại được với một cuộc tấn công tương tự như hôm 9/11 ở New York Một hành động khủng bố như vậy có thể đem lại những tác động thảm khốc cho toàn thế giới

Thứ sáu, trong quá trình vận hành các nhà máy điện nguyên tử, chúng thải ra một lượng chất thải phóng xạ, rồi lần lượt có thể được sử dụng cho sản xuất vũ khí hạt nhân Ngoài ra, bí quyết tương tự thường được dùng để thiết kế các nhà máy điện nguyên tử có thể dùng để chế tạo vũ khí hạt nhân ở một mức độ nhất định nào

đó (phổ biến vũ khí hạt nhân)

Trang 21

1.2 PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

1.2.1 Tổng quan về pháp luật năng lượng nguyên tử

Pháp luật về năng lượng nguyên tử là pháp luật liên quan đến các mục đích hoà bình của khoa học và công nghệ nguyên tử [27]

Năng lượng nguyên tử gây ra nguy cơ đặc biệt đối với sức khỏe và an toàn của người và môi trường, những rủi ro mà cần được quản lý một cách cẩn thận

Hoạt động của con người chỉ liên quan đến nguy hiểm mà không có lợi ích đòi hỏi có một cơ chế pháp lý cấm, không điều chỉnh Vì vậy, một đặc điểm cơ bản của pháp luật về năng lượng nguyên tử là sự tổng hợp của rủi ro và lợi ích

Mục đích và chức năng của pháp luật hạt nhân là của tất cả các pháp luật, cụ thể là để thúc đẩy và bảo vệ; để thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ hạt nhân và bảo vệ nhân loại chống lại bất kỳ mối nguy hiểm nào có thể liên quan [27]

Ở mặt thúc đẩy phát triển năng lượng nguyên tử, nhiều loại biện pháp công cộng được tìm thấy, chẳng hạn như trợ cấp hoàn toàn cho nghiên cứu và phát triển năng lượng nguyên tử, ưu đãi về thuế cho việc lắp đặt năng lượng nguyên tử và bảo hiểm năng lượng nguyên tử, bồi thường và các chương trình bảo hiểm trách nhiệm công cộng năng lượng nguyên tử, chuyển trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân và các quy định khác

Ở mặt bảo vệ, pháp luật năng lượng nguyên tử có hai khía cạnh khác nhau - bảo vệ chống lại các mối nguy hiểm bức xạ kết nối với các ứng dụng hòa bình năng lượng nguyên tử và chất phóng xạ, và công tác phòng chống sử dụng phi hòa bình năng lượng nguyên tử bằng các phương tiện của hệ thống bảo vệ phát triển vì mục đích đó

Định nghĩa

Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA (Trong Sổ tay về Luật năng

Trang 22

"Khung của quy phạm pháp luật đặc biệt được tạo ra để điều chỉnh hành vi của pháp nhân hay thể nhân tham gia vào các hoạt động liên quan đến vật liệu phân rã hạt nhân, bức xạ ion hóa và tiếp xúc với nguồn tự nhiên của bức xạ” [27]

Vị trí của Luật nguyên tử trong hệ thống pháp luật

Luật năng lượng nguyên tử được quy đinh trong luật quốc gia và quốc tế Luật năng lượng nguyên tử thuộc ngành luật công pháp khi quy định trong hiến pháp, luật hành chính, hình sự và các khía cạnh y tế công cộng; cũng là luật tư pháp vì nó quy định trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân

Luật năng lượng nguyên tử là công pháp quốc tế vì nó tạo ra các tổ chức liên chính phủ quốc tế, và trao cho họ quyền lập pháp hay trao cho cơ quan quyền bảo

vệ các mục đích hoà bình của nguyên liệu hạt nhân và việc lắp đặt Luật năng lượng nguyên tử là luật tư pháp quốc tế như quy định trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân trong công ước quốc tế khác nhau Danh sách này chắc chắn có thể được

mở rộng ra hơn nữa

Lịch sử của Luật nguyên tử

Một sự kiện quan trọng, trong đó ít liên quan đến việc xây dựng pháp luật hạt nhân nhưng liên quan nhiều hơn đến sự phát triển hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin hạt nhân, là Hội nghị quốc tế đầu tiên về sử dụng hòa bình năng lượng nguyên

tử, được tổ chức tại Geneva vào tháng 9/1955 Hơn 1400 đại biểu tham dự từ 73 quốc gia và hơn 1000 bài báo khoa học và kỹ thuật đã được trình bày Ảnh hưởng của hội nghị này có thể vẫn được nói bằng cách nhìn vào ngày mà nhiều tổ chức quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được thành lập [27]

Điều lệ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đã được thông qua bởi một Hội nghị quốc tế tại New York vào ngày 23/10/1956 Vào tháng Bảy cùng năm, Hội đồng của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC), bây giờ là OECD, đã thành lập Ban Chỉ đạo năng lượng nguyên tử và giao nhiệm vụ với việc thiết lập Cơ quan Năng lượng nguyên tử châu Âu (Enea) Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử

Trang 23

châu Âu (Euratom), được thành lập bởi Hiệp ước Rome vào 25/3/1957, và bắt đầu hoạt động vào ngày 1/5/1958 [27]

Euratom (thành viên: Bỉ, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Ý, Luxembourg,

Hà Lan) là một tổ chức siêu quốc gia Như vậy nó có một số quyền lập pháp đặc biệt trong lĩnh vực y tế và an toàn Hiệp định cũng cung cấp cho một cơ quan cung ứng trung ương, từ đó tạo ra sự độc quyền của tất cả các nguyên liệu phân rã hạt nhân sản xuất hoặc nhập khẩu vào Cộng đồng [27]

Euratom là chủ sở hữu của tất cả các nguyên liệu này Chức năng quản lý của

nó có liên quan đến quyền sở hữu này Hiệp định cung cấp thêm cho việc thành lập cái gọi là "doanh nghiệp thông thường", trong đó có các nghĩa vụ nhất định đối với cộng đồng mà còn được hưởng một số đặc quyền, trong đó có ưu đãi về thuế mà họ không thể được hưởng theo luật pháp quốc gia Một hoạt động đặc biệt của cộng đồng là việc trao đổi thông tin, bao gồm cả thậm chí bằng sáng chế bí mật Một dụng cụ pháp lý cho hợp tác kỹ thuật trong cộng đồng là "Hợp đồng Hiệp hội" [27]

Cơ quan Năng lượng nguyên tử của châu Âu gồm 18 thành viên Tây Âu và 3 nước liên kết (Canada, Nhật Bản, Hoa Kỳ) Nó đóng một vai trò đáng kể trong việc tạo ra "chủ trương chung" Đầu tiên là Công ty của châu Âu với việc chế biến hóa học nhiên liệu được chiếu xạ (EUROCHEMIC) tại Mol, Bỉ EUROCHEMIC là một công ty cổ phần quốc tế độc lập với tư cách pháp nhân riêng Nó được tạo ra bởi một công ước quốc tế Sau đó, dự án quốc tế khác như lò phản ứng nước sôi thử nghiệm Halden ở Na Uy, dự án lò phản ứng Dragon tại Winfrith, Vương quốc Anh,

Dự án Chiếu xạ thực phẩm Seibersdorf ở Áo, Trung tâm dữ liệu nguyên tử Compilation tại Saclay, Pháp, và Chương trình thư viện máy tính Enea tại Ispra, Ý,

đã được thành lập [27]

Enea cũng có hệ thống bảo vệ riêng của mình và Tòa án năng lượng nguyên

tử của châu Âu có thể quyết định các tranh chấp phát sinh từ việc áp dụng Enea đã khiến các nước thành viên áp dụng pháp luật mà theo đó phí bảo hiểm đối với bảo hiểm nguyên tử nhận được ưu đãi thuế nhất định để cho phép các công ty bảo hiểm

Trang 24

xây dựng dự trữ nhanh hơn Điều này chứng tỏ cách pháp luật có thể đóng góp vào việc thúc đẩy nền kinh tế hạt nhân

Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), được thành lập vào năm

1957, đã được dự kiến như một phương tiện để đảm bảo cung cấp đầy đủ và bình đẳng nguyên liệu hạt nhân cho các quốc gia thành viên và như một công cụ để bảo

vệ các mục đích hoà bình của năng lượng nguyên tử Mục đích đầu tiên bị mất tầm quan trọng khi nguồn uranium hóa ra lại là phong phú Tuy nhiên, bằng cách thúc đẩy các dự án hỗ trợ và phát triển với các tiêu chuẩn về chỉ tiêu sức khỏe và an toàn,

Cơ quan đóng góp vào sự phát triển của năng lượng nguyên tử ở các nước thành viên của mình và sự phát triển của pháp luật nguyên tử

Mục tiêu của pháp luật nguyên tử

Mục tiêu chính của pháp luật nguyên tử là:

Để cung cấp một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động liên quan đến năng lượng nguyên tử và bức xạ ion hóa một cách đầy đủ để bảo vệ cá nhân, tài sản và môi trường[27]

Quá trình lập pháp pháp luật nguyên tử

Pháp luật năng lượng nguyên tử, giống như bất kỳ pháp luật khác, phải tuân thủ các yêu cầu của hiến pháp và thể chế của hệ thống chính trị và pháp lý của mỗi nước Tuy nhiên, chủ đề của năng lượng nguyên tử là rất phức tạp và mang tính kỹ thuật, có một số hoạt động và các vật liệu gây rủi ro bất thường đối với sức khỏe con người, an toàn và môi trường, và cũng có rủi ro đối với an ninh quốc gia và quốc tế

Các biện pháp kỹ thuật về an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nguyên tử nên theo các hình thức: Một là, nguyên tắc cơ bản áp dụng pháp luật như áp dụng thông thường và ràng buộc đối với tất cả mọi người và các tổ chức; Hai là, hình thức yêu cầu kỹ thuật (bao gồm cả các quy định, hướng dẫn và khuyến nghị) mà không phải áp dụng thông thường và được thực hiện bắt buộc đối với

Trang 25

người hoặc tổ chức cụ thể bởi cơ quan quản lý hoặc thông qua điều kiện cấp phép

cụ thể, ràng buộc chỉ với người giữ giấy phép

Quá trình lập pháp của pháp luật hạt nhân có phải tính đến những vấn đề như: Đánh giá các chương trình, kế hoạch hạt nhân; Đánh giá pháp luật và khuôn khổ pháp lý; Nhập dữ liệu từ các bên liên quan; Lập pháp ban đầu; Soạn thảo; Đánh giá đầu tiên của dự thảo ban đầu; Tiếp tục xem xét lập pháp; Giám sát xây dựng pháp luật; Mối quan hệ pháp luật phi hạt nhân

Văn hóa an ninh và văn hóa an toàn trong pháp luật nguyên tử

Văn hóa an ninh và an toàn hạt nhân, được định nghĩa như sau: Là tổng hợp các đặc điểm và thái độ của các tổ chức, cá nhân trong đó quy định rằng, như là một

ưu tiên hàng đầu, các vấn đề an toàn nhà máy hạt nhân nhận được sự quan tâm đảm bảo bởi tầm quan trọng của nó [27]

Mặc dù pháp luật nguyên tử không thể tự tạo ra nền văn hóa an toàn hạt nhân, thỏa thuận pháp lý kém có thể cản trở sự phát triển và sự tăng cường nền văn hóa an toàn hạt nhân Ngược lại, một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ có thể nâng cao nền văn hóa an toàn hạt nhân, ví dụ như giúp đảm bảo rằng nguồn các quy định cần thiết là sẵn có, bằng cách tạo điều kiện thông tin liên lạc minh bạch, bằng cách giúp

đỡ để tránh xung đột thể chế và bằng cách đảm bảo rằng bản án kỹ thuật độc lập không bị chặn vì những lý do không liên quan Trong sự phát triển của pháp luật nguyên tử quốc gia, những người tham gia trong quá trình lập pháp sẽ làm tốt để xem xét cẩn thận các vấn đề liên quan đến văn hóa an toàn hạt nhân Tóm lại, điều quan trọng là nhận ra rằng các biện pháp pháp lý để nâng cao văn hóa an toàn hạt nhân và an ninh trong một nhà nước đặc biệt cũng phải đưa vào trương mục các truyền thống pháp luật quốc gia của Nhà nước

Sổ tay của IAEA về Luật nguyên tử

IAEA đã công bố một Sổ tay về Luật nguyên tử cung cấp cho các nước thành viên IAEA giải pháp phù hợp mới để đánh giá tính đầy đủ của khuôn khổ pháp lý

Trang 26

thực tế cho các chính phủ trong nỗ lực để tăng cường pháp luật và các quy định của

họ, trong hài hòa chúng với các tiêu chuẩn công nhận quốc tế, và trong việc đáp ứng các nghĩa vụ theo văn kiện quốc tế liên quan

Sổ tay đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng từ nhiều chính phủ quốc gia để

hỗ trợ sự phát triển của pháp luật nguyên tử và sự cần thiết phải hài hòa thỏa thuận pháp lý và thể chế của mình với các tiêu chuẩn quốc tế Nhiên nó cũng có tài liệu hướng dẫn ngắn gọn và chính thống cho giảng dạy chuyên môn (luật sư, các nhà khoa học, kỹ sư, y tế và nhân viên bảo vệ bức xạ, quản trị viên chính phủ) vào các yếu tố cơ bản của một khuôn khổ vững chắc cho việc quản lý và điều tiết năng lượng nguyên tử

Sổ tay được sắp xếp thành năm phần chung:

Phần I cung cấp một cái nhìn tổng quan về các khái niệm quan trọng trong lĩnh vực này: luật năng lượng nguyên tử và quá trình lập pháp; cơ quan quản lý; và các hoạt động quản lý cơ bản của việc cấp phép, kiểm tra và thực thi

Phần II đối phó với an toàn bức xạ

Phần III bao gồm các đối tượng phát sinh từ an toàn hạt nhân và bức xạ: các nguồn bức xạ, lắp đặt năng lượng nguyên tử, chuẩn bị và ứng phó khẩn cấp, khai thác và nghiền, vận chuyển, chất thải và nhiên liệu đã qua sử dụng

Phần IV đề cập đến chủ đề trách nhiệm pháp lý nguyên tử và bảo hiểm Phần V chuyển động để không phổ biến và chuyên ngành liên quan đến an ninh: điều khiển biện pháp bảo vệ, xuất nhập khẩu, và bảo vệ vật lý Sổ tay cũng phản ánh và đề cập đến hàng loạt các tiêu chuẩn an toàn của IAEA bao gồm tất cả các lĩnh vực liên quan đến công nghệ hạt nhân hòa bình

1.2.2 Các tổ chức ủng hộ việc không sử dụng năng lượng nguyên tử

Các tổ chức chống hạt nhân có thể phản đối khai thác uranium, điện nguyên

tử, và /hoặc vũ khí hạt nhân Các nhóm chống hạt nhân đã tiến hành các cuộc biểu tình công cộng và hành vi bất tuân dân sự chiếm các nhà máy hạt nhân Một số

Trang 27

nhóm có ảnh hưởng nhất trong phong trào chống hạt nhân có thành viên là các nhà khoa học ưu tú, trong đó có nhiều người đoạt giải Nobel và nhiều nhà vật lý hạt nhân [22]

Các loại tổ chức

Nhiều loại tổ chức gắn bó mình với phong trào chống hạt nhân: Các nhóm hành động trực tiếp, chẳng hạn như Liên minh Clamshell và Liên minh Shad; Các nhóm môi trường, chẳng hạn như những người bạn của Trái đất và Hòa Bình Xanh; Các nhóm bảo vệ người tiêu dùng, chẳng hạn như Critical Mass của Ralph Nader;

Tổ chức nghề nghiệp, như Liên hiệp các nhà khoa học Quan tâm và Bác sĩ quốc tế

về Phòng chống chiến tranh hạt nhân; và đảng phái chính trị như Liên minh châu

Âu tự do [22]

Một số nhóm có ảnh hưởng nhất trong phong trào chống hạt nhân đã có thành viên là các nhà khoa học ưu tú, trong đó có nhiều người đoạt giải Nobel và nhiều nhà vật lý hạt nhân Tại Hoa Kỳ, các nhà khoa học thuộc về chủ yếu vào ba nhóm: Liên hiệp các nhà khoa học Quan tâm, Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ, và

Ủy ban Trách nhiệm hạt nhân [22]

Hoạt động

Các nhóm chống hạt nhân đã tiến hành các cuộc biểu tình công khai và hành

vi bất tuân dân sự mà đã bao gồm chiếm các nhà máy hạt nhân Những chiến lược nổi bật khác bao gồm vận động hành lang, kiến nghị cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến chính sách công thông qua các chiến dịch trưng cầu dân ý và sự tham gia trong cuộc bầu cử Các nhóm chống hạt nhân cũng đã cố gắng gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thông qua tố tụng và tham gia tố tụng cấp giấy phép

Các tổ chức quốc tế

Hiện có hàng trăm tổ chức hoạt động chống năng lượng nguyên tử trên khắp Thế Giới, dưới đây là những tổ chức quốc tế tiêu biểu mang tính chất toàn cầu [22]:

 Giải trừ quân bị hạt nhân châu Âu (European Nuclear Disarmament), tổ

chức hội nghị hàng năm trong những năm 1980 gồm hàng ngàn nhà hoạt động vũ khí chống hạt nhân phần lớn từ Tây Âu và cũng từ Đông Âu, Hoa Kỳ, và Úc

Trang 28

 Những người bạn của Trái đất Quốc tế (Friends of the Earth International),

một mạng lưới các tổ chức môi trường trong 77 quốc gia

 Zero toàn cầu (Global Zero), một nhóm phi đảng phái quốc tế của 300 nhà

lãnh đạo thế giới chuyên để đạt được việc loại bỏ vũ khí hạt nhân

 Sáng kiến toàn cầu chống khủng bố hạt nhân (Global Initiative to Combat Nuclear Terrorism), đối tác quốc tế của 83 quốc gia

 Hòa Bình Xanh quốc tế (Greenpeace International), một tổ chức môi trường

phi chính phủ có văn phòng tại hơn 41 quốc gia và trụ sở chính tại Amsterdam, Hà Lan

 Chiến dịch quốc tế để bãi bỏ vũ khí hạt nhân(International Campaign to Abolish Nuclear Weapons)

 Mạng lưới quốc tế các kỹ sư và nhà khoa học về trách nhiệm toàn cầu (International Network of Engineers and Scientists for Global Responsibility)

 Bác sĩ quốc tế về Phòng chống chiến tranh hạt nhân (International Physicians for the Prevention of Nuclear War), trong đó có chi nhánh ở 41 quốc gia

vào năm 1985, đại diện cho 135.000 bác sĩ; IPPNW được trao giải Giáo dục Hòa

bình của UNESCO năm 1984 và giải Nobel Hòa bình vào năm 1985

 Chính sách Thế giới miễn hạt nhân (Nuclear Free World Policy)

 Thông tin hạt nhân và Dịch vụ tài nguyên (Nuclear Information and Resource Service)

Trang 29

 Hội nghị Pugwash về Khoa học và Công việc Thế giới (Pugwash Conferences on Science and World Affair)

 Xã hội chủ nghĩa quốc tế (Socialist International), cơ quan thế giới của các

đảng dân chủ xã hội

 Soka Gakkai (Sōka Gakkai), một tổ chức Phật giáo định hướng hòa bình, tổ

chức triển lãm chống hạt nhân ở các thành phố của Nhật Bản trong thời gian cuối những năm 1970, và thu thập 10 triệu chữ ký vào các kiến nghị kêu gọi việc bãi bỏ

vũ khí hạt nhân

 Văn phòng Liên hợp quốc về các công việc giải trừ quân bị (United Nations Office for Disarmament Affairs)

 Chiến dịch Giải trừ quân bị (World Disarmament Campaign)

 Dịch vụ thông tin thế giới về năng lượng (World Information Service on Energy), trú tại Amsterdam, Hà Lan

 Liên minh thế giới Bảo vệ Sự Sống (World Union for Protection of Life)

Ngoài ra, còn rất nhiều tổ chức khác ở các khu vực và trong phạm vi các nước cũng như hoạt động ở những khía cạnh khác nhau trong việc phản đối sử dụng năng lượng nguyên tử

Trang 30

Chương 2

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ

DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 2.1 NHẬN XÉT CHUNG

Trong lịch sử 50 năm phát triển điện nguyên tử, nhịp độ xây dựng các nhà máy điện phản ánh nhu cầu năng lượng của thế giới Những năm 70 của thế kỷ 20, các nhà máy điện nguyên tử được xây dựng và mở rộng ở nhiều nước trên thế giới Nhưng sang thập niên 80, suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát gia tăng, năng lượng trên thị trường đồng loạt tăng giá Các nhà nước công nghiệp thực thi chính sách tiết kiệm để giảm chi phí cho nền kinh tế Đặc biệt là sau tai nạn ở nhà máy điện nguyên

tử "Three mile Island" (Mỹ, PWR) – 1979 và Checnobyl (Liên Xô, RBMK) – 1986, thế giới phải tập trung vào kiểm tra và nghiên cứu biện pháp tăng cường an toàn Các nguyên nhân đó làm giá thành điện nguyên tử tăng cao và giảm sức cạnh tranh trên thị trường năng lượng Bên cạnh đó là các biến động chính trị, xã hội của thế giới, các mối lo ngại về an ninh trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử, các vấn

đề về an toàn phóng xạ, chất thải hạt nhân… Tất cả các lý do đó, đã khiến cho các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các nước có đủ nguồn dự trữ năng lượng hóa thạch, ngừng việc xây mới và phát triển công nghệ điện nguyên tử

Tuy nhiên, điện nguyên tử đã hồi sinh trở lại trong thế kỷ 21 Theo thống kê của Cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới IAEA, tính đến hết năm 2013, trên thế giới có 436 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động (bao gồm cả 6 lò phản ứng của Đài Loan - Trung Quốc), công suất phát điện nguyên tử toàn cầu đã lên đến 372326 Triệu W (e) Ba lò phản ứng mới được kết nối với lưới điện, đó là lò Ningde-1 (công suất 1000 MW(e)) ở Trung Quốc; Shin-Wolsong-1 (công suất 960 MW(e)) và Shin-Kori-2 (công suất 960 MW(e)) ở Hàn Quốc Có hai lò phản ứng từng tắt máy lâu dài đã được khởi động lại, đó là lò Bruce 1 và 2 (công suất 772 MW (e) mỗi lò)

ở Canada Trên Thế giới có tổng số 147 lò tắt máy vĩnh viễn và 1 lò phản ứng tắt máy dài hạn ở Nhật Bản với tổng công suất 246 Triệu W Chỉ có 3 lò phản ứng đã

Trang 31

vĩnh viễn tắt máy vào năm 2012 so với con số 13 trong năm 2011 Có 72 lò phản ứng mới đang được xây dựng - một con số vẫn còn khá cao [58]

Theo IAEA, tai nạn Fukushima Daiichi dự kiến sẽ làm chậm lại hoặc trì hoãn

sự phát triển của điện nguyên tử, nhưng không để đảo ngược nó Sự tăng trưởng đáng kể trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử trên toàn thế giới được dự đoán đạt tới từ 23% đến 100 % vào năm 2030 - trong khi con số này chỉ từ 1% đến dưới

9 % so với dự báo được thực hiện trong năm 2011 [11] Hầu hết sự tăng trưởng dự kiến diễn ra tại các nước đã có vận hành nhà máy điện nguyên tử, đặc biệt là ở vùng Viễn Đông, nơi tăng trưởng dự kiến là mạnh nhất Mặc dù một số quốc gia trì hoãn quyết định bắt đầu chương trình điện nguyên tử, thì những nước khác lại tiếp tục với kế hoạch của họ để phát triển năng lượng nguyên tử

Bảng 1: Thống kê số lượng lò phản ứng điện nguyên tử đang hoạt động,

đang được xây dựng và vĩnh viễn chấm dứt hoạt động trên thế giới (tính đến hết năm 2013)

Quốc gia

Lò phản ứng đang hoạt động đang được xây dựng Lò phản ứng tắt máy vĩnh viễn Lò phản ứng

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

Trang 32

Quốc gia

Lò phản ứng đang hoạt động đang đƣợc xây dựng Lò phản ứng tắt máy vĩnh viễn Lò phản ứng

Số lƣợng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lƣợng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lƣợng

Tổng công suất [Triệu W]

Trang 33

Quốc gia

Lò phản ứng đang hoạt động đang được xây dựng Lò phản ứng tắt máy vĩnh viễn Lò phản ứng

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

Số lượng

Tổng công suất [Triệu W]

* Bao gồm cả 6 lò tại Đài Loan, Trung Quốc với tổng công suất 5028 Triệu W

** Bao gồm cả 2 lò tại Đài Loan, Trung Quốc với tổng công suất 2600 Triệu W

Nguồn: IAEA/PRIS, Operational & Long-Term Shutdown Reactors,

http://www.iaea.org/PRIS/WorldStatistics/OperationalReactorsByCountry.aspx

Hiện có 16 quốc gia phụ thuộc vào năng lượng nguyên tử với việc điện nguyên tử chiếm ít nhất một phần tư lượng điện của họ Pháp thu được khoảng ba phần tư điện năng từ năng lượng nguyên tử, trong khi Bỉ, Cộng hòa Séc, Hungary, Slovakia, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Slovenia và Ukraine có được một phần ba hoặc nhiều hơn Hàn Quốc, Bulgaria và Phần Lan thường sử dụng nhiều hơn 30% năng lượng từ năng lượng nguyên tử, trong khi ở Mỹ, Anh, Tây Ban Nha và Nga gần một phần năm là từ hạt nhân Nhật Bản đã từng sử dụng hơn một phần tư điện là từ điện nguyên tử và dự kiến sẽ quay trở lại mức đó Trong số các nước mà không có nhà máy điện nguyên tử như Ý và Đan Mạch thì có khoảng 10% năng lượng từ hạt nhân [57]

Ngoài các nhà máy điện nguyên tử thương mại, trên Thế giới có khoảng 240

lò phản ứng nghiên cứu hoạt động, trong 56 quốc gia [57] Các lò này có nhiều công dụng bao gồm nghiên cứu và sản xuất các chất đồng vị y tế và công nghiệp, cũng như đào tạo

Trang 34

2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

Chính sách năng lượng nguyên tử quốc gia là một chính sách quốc gia liên quan đến một số hoặc tất cả các khía cạnh của năng lượng nguyên tử, chẳng hạn như khai thác nhiên liệu hạt nhân, khai thác và chế biến nhiên liệu hạt nhân từ quặng, sản xuất điện bằng điện nguyên tử, làm giàu và lưu trữ dành nhiên liệu hạt nhân và tái chế nhiên liệu hạt nhân Chính sách năng lượng nguyên tử thường bao gồm các quy định về sử dụng năng lượng và các tiêu chuẩn liên quan đến chu trình nhiên liệu hạt nhân

Sau thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản vào tháng 3/2011, Đức đã vĩnh viễn đóng cửa tám lò phản ứng và cam kết sẽ đóng số còn lại vào năm 2022 Người Ý đã bỏ phiếu áp đảo để giữ cho đất nước của họ phi hạt nhân Thụy Sĩ và Tây Ban Nha đã cấm việc xây dựng các lò phản ứng mới Thủ tướng Nhật Bản đã kêu gọi giảm đáng kể sự phụ thuộc của Nhật Bản vào điện nguyên tử Tổng thống Đài Loan cũng làm tương tự Mexico đã đứng ngoài việc xây dựng 10 lò phản ứng

có lợi cho phát triển nhà máy đốt khí tự nhiên Bỉ đang xem xét loại bỏ dần các nhà máy hạt nhân của mình, có thể vào năm 2015 [26] Tại Hoa Kỳ, tất cả 104 lò phản ứng hạt nhân, đều đã được xây dựng trước năm 1980, hiện nay đang hoạt động 23 trong số các lò phản ứng là rất tương tự như Fukushima và đã dấy lên lo ngại nghiêm trọng, đặc biệt là trong trường hợp cơ sở hạt nhân nằm gần Đại Dương và những cơ sở nằm trong khu địa chấn Ủy ban điều tiết hạt nhân Hoa Kỳ (United States Nuclear Regulatory Commission) đã ban hành một loạt các quy tắc an toàn mới Tuy có kế hoạch xây dựng hai lò phản ứng mới vào năm 2017, nhưng sau sự kiện Fukushima, tỷ lệ phần trăm những người dân ủng hộ cho năng lượng nguyên tử

đã giảm từ 49% xuống 41%, và quan trọng nhất là trong tất cả là các nhà đầu tư không có xu hướng đầu tư vào năng lượng nguyên tử [13]

Tính đến năm 2012, các nước như Úc, Áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Ireland, Ý, Latvia, Liechtenstein, Luxembourg, Malta, Bồ Đào Nha, Israel, Malaysia, New

Trang 35

Zealand, Na Uy không có lò phản ứng điện nguyên tử và vẫn phản đối điện nguyên

tử

Dưới đây là bảng danh sách các quốc gia tiêu biểu có kế hoạch loại bỏ các lò phản ứng hiện tại hoặc có chính sách hạn chế năng lượng nguyên tử:

Bảng 2: Danh sách các quốc gia tiêu biểu có kế hoạch loại bỏ các lò phản ứng

hiện tại hoặc có chính sách hạn chế năng lượng nguyên tử

Quốc gia Có kế hoạch loại bỏ các lò phản

Úc Không có các nhà máy điện

sản xuất điện

Trang 36

Quốc gia Có kế hoạch loại bỏ các lò phản

(http://en.wikipedia.org/wiki/Nuclear_energy_policy_by_country)

Trong luận văn này, tác giả chỉ xin phân tích pháp luật về không sử dụng năng lượng nguyên tử của một số quốc gia điển hình Trong các nước châu Á, Nhật Bản hiện có kế hoạch loại bỏ dần việc sử dụng năng lượng nguyên tử; ở châu Úc, có

Úc hiện nay không sản xuất điện nguyên tử và có những quy định hạn chế việc sử dụng nguồn năng lượng này Ở châu Âu, các nước hiện có chính sách phi năng lượng nguyên tử hoặc đang có các lò sản xuất năng lượng nguyên tử nhưng có kế hoạch loại bỏ dần việc sử dụng hay chính sách hạn chế việc sử dụng năng lượng nguyên tử chiếm số lượng nhiều hơn, bao gồm các nước như liệt kê ở bảng trên Trong số các nước ở châu Âu nói trên, tác giả chọn ra 5 nước điển hình để phân tích, bao gồm: Đức, Áo, Ý, Thụy Sỹ, Bỉ

2.2.1 Pháp luật Cộng hòa liên bang Đức

Đức cho đến tháng 3/2011 thu được một phần tư lượng điện từ năng lượng nguyên tử, con số hiện nay là khoảng 18% Một chính phủ liên minh được thành lập sau cuộc bầu cử liên bang năm 1998 đã tiến hành dỡ bỏ năng lượng nguyên tử như

là một chính sách của mình Với một chính phủ mới trong năm 2009, tiến độ thực hiện đã bị hủy bỏ, nhưng sau đó được đưa trở lại vào năm 2011, với 8 lò phản ứng ngừng hoạt động ngay lập tức [34]

Chi phí cố gắng để thay thế điện nguyên tử bằng năng lượng tái tạo của chính phủ ước tính lên tới khoảng 1 tỷ EUR mà không có bảo đảm một kết quả đáng tin cậy, và với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào than đá Dư luận ở Đức vẫn

Trang 37

còn mâu thuẫn và hiện tại không hỗ trợ xây dựng nhà máy điện nguyên tử mới Hơn một nửa sản lượng điện của Đức được tạo ra từ than đá trong nửa đầu năm 2013, so với 43% trong năm 2010 Đức là một trong số nước có giá bán buôn điện thấp nhất

ở châu Âu và là một trong số nước có giá bán lẻ cao nhất, do các chính sách năng lượng của họ [34]

Năm 2013, tỷ lệ điện từ than đá tăng, và theo số liệu chưa đầy đủ của Viện Fraunhofer là 255,4 TWh, đầu vào khí đốt giảm 39,4 TWh Than bao gồm 145,1 TWh từ than non và 110,3 TWh từ than đá cứng Gió cung cấp 47,2 TWh, và năng lượng mặt trời 29,7 TWh điện nguyên tử cung cấp 92,3 TWh, chiếm 19% Khí giảm 21% từ năm 2012 [34]

Theo số liệu của IEA, sản lượng điện của Đức vào năm 2012 là 618 tỷ kWh (TWh) tổng , giảm từ 629 TWh vào năm 2010 Trong năm 2012 than cung cấp 286 TWh (46%, hơn một nửa là than non), hạt nhân 100 TWh (16%), khí 70 TWh, nhiên liệu sinh học và chất thải 48 TWh (7,77%) , gió 46 TWh (7,44%), thủy điện

28 TWh (4,5%), năng lượng mặt trời 28 TWh (4,5%) Xuất khẩu điện vượt quá nhập khẩu khoảng 20 TWh, so với 4 TWh vào năm 2011, nhưng Đức là một trong những nhà nhập khẩu lớn nhất của khí đốt, than đá và dầu trên toàn thế giới và có ít nguồn lực trong nước ngoài than non và năng lượng tái tạo Tiêu thụ điện hàng năm khoảng 6400 kWh bình quân đầu người [34]

Công suất phát vào cuối năm 2011 là 163 GW điện, bao gồm 12 GWe hạt nhân, 11,5 GW điện thủy điện, 29 GW điện gió, năng lượng mặt trời 25 GW điện,

73 GW điện nhiên liệu dễ cháy - gần một nửa là than Vào cuối năm 2012, công suất gió và năng lực pin mặt trời khoảng 30-32 GW điện, và tương ứng 17 % và 11%, so với 94% cho hạt nhân Năm 2011 Nga cung cấp cho Đức gần 40% lượng khí, tiếp theo là Na Uy, Hà Lan và Anh, trong khi 14% được sản xuất trong nước [34]

17 lò phản ứng điện nguyên tử của nước này, bao gồm 15% công suất lắp đặt, trước đây cung cấp nhiều hơn một phần tư điện (133 tỷ kWh ròng trong năm 2010) Nhiều trong số các lò là lớn (với tổng số 20.339 MW), và lò cuối cùng đi

Trang 38

vào hoạt động thương mại vào năm 1989 Sáu lò là lò phản ứng nước sôi (BWR),

11 lò là lò phản ứng áp suất nước (PWR) Tất cả được xây dựng bởi Siemens - KWU Còn 1 lò PWR nữa đã không hoạt động kể từ năm 1988 vì một vụ tranh chấp bản quyền Bối cảnh này đã thay đổi trong năm 2011, cùng với số lượng các lò hoạt động đã giảm đến chín lò phản ứng với công suất 12.003 MW [34]

Trách nhiệm cấp giấy phép xây dựng và hoạt động của tất cả các cơ sở hạt nhân được chia sẻ giữa các chính phủ liên bang và chính phủ Länder

Khi Đức tái thống nhất vào năm 1990, tất cả các lò phản ứng do Liên Xô thiết kế ở phía đông đã bị đóng cửa vì lý do an toàn và đang được cho ngừng hoạt động Trong đó bao gồm bốn lò phản ứng nước 440s đang hoạt động, lò thứ năm đang được xây dựng và một lò phản ứng nước nhỏ cũ hơn [34]

Dưới đây là bảng liệt kê các nhà máy điện nguyên tử của Đức, trong đó có 8 nhà máy hiện nay đã đóng cửa và 9 nhà máy đang hoạt động Tuy nhiên, tất cả 9 nhà máy đang hoạt động này đều đã được lên kế hoạch để đóng cửa trong tương lai Ban đầu, theo kế hoạch đóng cửa tạm thời được ban hành năm 2001, các lò phản ứng hạt nhân sẽ bắt đầu đóng cửa tạm thời từ năm 2008 đối với lò đầu tiên và lò cuối cùng sẽ được đóng cửa vào năm 2022 Tuy nhiên, theo kế hoạch đề ra năm

2010, các nhà máy sẽ bắt đầu bị đóng cửa từ năm 2016 Và đến tháng 5/2011, một

kế hoạch mới đã được thông qua, theo đó, đã có 8 nhà máy đóng cửa trong năm

2011 và 9 nhà máy còn lại cũng được chuyển thời gian dự kiến đóng cửa lên sớm hơn, bắt đầu từ cuối năm 2015

Bảng 3: Các nhà máy điện nguyên tử ở Đức

MW điện (ròng)

Hoạt động thương mại

Khai thác

Có kế hoạch đóng cửa tạm thời năm 2001

Thống nhất đóng cửa năm

2010

Ngừng hoạt động tháng 3/2011 và đóng cửa tháng 5/2011

Trang 39

Nhà máy Loại

MW điện (ròng)

Hoạt động thương mại

Khai thác

Có kế hoạch đóng cửa tạm thời năm 2001

Thống nhất đóng cửa năm

2010

Ngừng hoạt động tháng 3/2011 và đóng cửa tháng 5/2011

Trang 40

http://world-nuclear.org/info/Country-2.2.1.1 Chính sách năng lượng nguyên tử của Đức

Hỗ trợ của Đức cho năng lượng nguyên tử là rất lớn trong những năm 1970 sau cú sốc giá dầu năm 1974, điều này cũng giống như ở Pháp, đã có một nhận thức

về lỗ hổng liên quan đến nguồn cung cấp năng lượng Tuy nhiên, chính sách này được thực hiện một cách ngập ngừng sau khi tai nạn Chernobyl năm 1986, và các nhà máy điện nguyên tử mới nhất cuối cùng được đưa vào hoạt động năm 1989 Trong khi đó, Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) đã từng phê chuẩn năng lượng nguyên

tử vào năm 1979, thì trong tháng 8/1986, họ đã thông qua một nghị quyết từ bỏ điện nguyên tử trong vòng mười năm [34]

Ảnh hưởng trực tiếp nhất của sự thay đổi chính sách này là để chấm dứt nghiên cứu và phát triển trên cả hai lò phản ứng làm mát bằng khí nhiệt độ cao và các lò phản ứng tái sinh nơtron nhanh sau khoảng 30 năm làm việc đầy hứa hẹn, vì phần lớn công việc đã được thực hiện ở Bắc Rhine-Westphalia, được chi phối bởi Đảng Dân chủ Xã hội Một đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU) của chính phủ liên bang sau đó duy trì hỗ trợ cho thế hệ điện nguyên tử hiện có trên toàn quốc cho đến khi bị đánh bại vào năm 1998 [34]

Trong tháng 10/1998, chính phủ liên minh được thành lập giữa Đảng Dân chủ xã hội (SPD) và Đảng Xanh, cuộc thăm dò ý kiến sau đó chỉ có 6,7% số phiếu bầu Kết quả là, hai bên đã đồng ý thay đổi pháp luật để loại bỏ năng lượng nguyên

tử Một "cuộc đàm phán đồng thuận" diễn ra một thời gian rất dài với các công ty điện lực được định ra để thiết lập một thời gian biểu cho quá trình từ bỏ năng lượng nguyên tử, với việc đảng Xanh đe dọa sẽ đơn phương cắt giấy phép mà không có bồi thường nếu thỏa thuận không đạt được Tất cả các nhà máy hạt nhân hoạt động sau đó đã có giấy phép không giới hạn với các bảo đảm pháp lý chặt chẽ [34]

Tháng 6/2000, một sự thỏa hiệp đã được công bố, thỏa hiệp mà đã giữ thể diện cho chính phủ và bảo đảm hoạt động liên tục của các nhà máy hạt nhân trong nhiều năm tới Thỏa thuận, trong khi hạn chế thời gian tồn tại nhà máy ở mức độ nào đó, ngăn ngừa nguy cơ của bất kỳ sự đóng cửa nhà máy được thực thi trong thời hạn của chính phủ đó [34]

Ngày đăng: 10/07/2015, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đinh Ngọc Quang, Sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử, Tập san Thông tin pháp quy hạt nhân số 3/2014| VARANS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử
7. PGS, TS Bùi Huy Phùng, Phương pháp tính toán tối ưu phát triển bền vững hệ thống năng lượng, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tính toán tối ưu phát triển bền vững hệ thống năng lượng
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
9. TS. Lý Ngọc Minh, Cơ sở năng lượng và môi trường, Nxb Khoa học và kỹ thuậtTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở năng lượng và môi trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật Tiếng Anh
11. IAEA, Nuclear Technology Review 2013, Report by the Director General, (22/7/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuclear Technology Review 2013
12. IAEA, Technical CooperationReport for 2012, Report by the Director General (7/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical CooperationReport for 2012
13. Nicola Armaroli, Vincenzo Balzani, Nick Serpone, Powering Planet Earth: Energy Solutions for the Future (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Powering Planet Earth: "Energy Solutions for the Future
14. OECD - NEA, Nuclear Legislation in OECD and NEA Countries, Regulatory and Institutional Framework for Nuclear Activities – Denmark (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuclear Legislation in OECD and NEA Countries, Regulatory and Institutional Framework for Nuclear Activities – Denmark
15. OECD - NEA, Nuclear Legislation in OECD and NEA Countries, Regulatory and Institutional Framework for Nuclear Activities (Italy, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuclear Legislation in OECD and NEA Countries, Regulatory and Institutional Framework for Nuclear Activities
18. IAEA, Nuclear technology for a sustainable future (6/2012) Trang website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuclear technology for a sustainable future
1. Bộ quy tắc ứng xử về an toàn và an ninh các nguồn phóng xạ của IAEA và Hướng dẫn xuất nhập khẩu các nguồn phóng xạ của IAEA. (2006) Khác
4. Hiệp định Hợp tác và tài trợ kỹ thuật của IAEA đối với Việt Nam 5. Luật mẫu của IAEA về xây dựng luật năng lƣợng nguyên tử 6. Luật Năng lƣợng nguyên tử Việt Nam năm 2008 Khác
10. Helmuth Boeck - Vienna University of Technology Atominstitut, Vienna, Austria, Austria„s Anti-Nuclear Crusade Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Thống  kê  số  lƣợng  lò  phản  ứng  điện  nguyên  tử  đang  hoạt  động, - Pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam
ng 1: Thống kê số lƣợng lò phản ứng điện nguyên tử đang hoạt động, (Trang 31)
Bảng 2: Danh sách các quốc gia tiêu biểu có kế hoạch loại bỏ các lò phản ứng - Pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng 2 Danh sách các quốc gia tiêu biểu có kế hoạch loại bỏ các lò phản ứng (Trang 35)
Bảng 4: Lò phản ứng điện nguyên tử và lò phản ứng thử nghiệm ngừng hoạt động - Pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng 4 Lò phản ứng điện nguyên tử và lò phản ứng thử nghiệm ngừng hoạt động (Trang 45)
Bảng 5: Kế hoạch và đề xuất các lò phản ứng điện nguyên tử đến năm 2030 - Pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng 5 Kế hoạch và đề xuất các lò phản ứng điện nguyên tử đến năm 2030 (Trang 105)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm