1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

100 660 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK, hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan hải quan đối với thuế XNK,

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 9

1.1 Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu 9

1.1.1 Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu 9

1.1.2 Lịch sử phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu 12

1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu 13

1.2 Tổng quan về thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 14

1.2.1 Sự cần thiết phải đánh thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu 14

1.2.2 Các loại thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 17

1.3 Tổng quan pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 22

1.3.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 22

1.3.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và pháp luật về thủ tục hải quan 23

1.3.3 Mục đích, yêu cầu của pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 26

Tóm tắt chương 1: 27

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU 29

2.1 Pháp luật điều chỉnh về hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam 29

2.2 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 34

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế 34

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Cơ quan hải quan 35

2.2.3 Trách nhiệm của công chức hải quan trong việc thu thuế 38

2.2.4 Trách nhiệm của các Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế 38

2.3 Nội dung cơ bản về thủ tục quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 39

2.3.1 Về thủ tục đăng ký thuế 39

2.3.2 Quản lý kê khai thuế 42

2.3.3 Quy định về quản lý nộp thuế 46

2.3.4 Bảo đảm quyền của người nộp thuế 52

2.3.5 Các quy định về quản lý thuế trên khía cạnh kiểm tra và cưỡng chế 58

Tóm tắt chương 2: 65

CHƯƠNG 3:THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 67

3.1 Đánh giá tác động thực tiễn của việc thi hành các quy định pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 67

3.1.1 Hệ thống pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý chung cho hoạt động quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu 67

Trang 2

3.1.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện tốt các quy định pháp luật về quản lý thuế

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đã được áp dụng đồng bộ 69

3.1.3 Những kết quả thu được từ thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 71

3.1.4 Các vướng mắc, tồn tại 73

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và một số kiến nghị 76

3.2.1 Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 76

3.2.2 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu chính sách của Đảng, Nhà nước pháp luật có liên quan 77

3.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 78

3.3.1 Bổ sung một số quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế để đảm bảo quyền lợi cho người nộp thuế 78

3.3.2 Đề xuất sửa đổi một số quy định về thời hạn nộp thuế 80

3.3.3 Đề xuất bỏ cụm từ “tiền thuế truy thu” trong quy định về thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt 83

3.3.4 Đề xuất sửa đổi về một số trường hợp liên quan đến xử lý số tiền thuế nộp thừa 83

3.3.5 Hướng giải quyết các bất cập trong quy định về việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế 84

3.3.6 Rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp hoàn trước, kiểm tra sau 86

3.3.7 Quy định thêm về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuế 86

3.3.8 Bổ sung trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 87

3.3.9 Một số kiến nghị liên quan đến quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 88

3.3.10 Bổ sung trường hợp miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế 92

3.4 Tạo ra cơ chế thực hiện tốt qui định về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 93

Tóm tắt chương 3: 96

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1: Số thu thuế giai đoạn 2007-2010 68 Bảng 3.2: Theo dõi nợ thuế trước và sau khi thực hiện Luật QLT 75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa đang trở thành một làn sóng mạnh mẽ, kéo theo sự gia nhập của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Với tốc độ hội nhập quốc tế nhanh chóng và sâu rộng, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) trở nên năng động hơn bao giờ hết và có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam Các luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, kim ngạch XNK tăng mạnh, hàng hóa và dịch vụ trong XNK ngày càng trở nên đa dạng hơn, số thu thuế đối với hàng hóa XNK ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước

Bên cạnh đó, cùng với yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế, là yêu cầu cần phải nhanh chóng triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý để nâng cao hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, phù hợp với nhịp độ phát triển của các nước đối tác trong khu vực và trên thế giới Ngành Hải quan – cơ quan được trao nhiệm vụ “tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” (Điều 11 Luật Hải quan) cũng đang trong quá trình triển khai hiện đại hóa các thủ tục hải quan Theo đó, công tác quản lý thu thuế của ngành cũng có những bước cải tiến nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước nhưng vẫn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp XNK

Mặc dù vậy, hệ thống pháp luật nói chung và các quy định pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, các văn bản pháp quy về thuế XNK thay đổi thường xuyên, nhiều trường hợp chồng chéo, gây khó hiểu đối với các nhà XNK Thực tế áp dụng cho thấy tình trạng trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế vẫn còn nhiều trong khi nhà nước chưa có biện

Trang 6

pháp nào tỏ ra thực sự hiểu quả để giải quyết các vấn đề này… Mặt khác, đứng trước những công nghệ quản lý hiện đại, hệ thống pháp luật vẫn chưa xây dựng được hành lang pháp lý cần thiết cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật , nhiều ứng dụng công nghệ thông tin đã được triển khai có hiệu quả nhưng vẫn thiếu vắng các quy định pháp luật cần thiết

Xuất phát từ những lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK của Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK đang là một đòi hỏi khách quan Hy vọng

rằng, đề tài “Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu – Thực

trạng và phương hướng hoàn thiện” sẽ góp phần vào việc giải quyết những

vấn đề thực tiễn nói trên

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của pháp luật về quản

lý thuế trong lĩnh vực XNK, hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan hải quan đối với thuế XNK, đánh giá tình hình áp dụng pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực thuế XNK ở Việt Nam trong thời gian qua, dự đoán những xu hướng vận động liên quan ở Việt Nam trong thời gian tới để từ đó đề ra những giải pháp mang tính đồng bộ, lâu dài cho pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa XNK ở Việt Nam trong thời gian tới đáp ứng được xu thế phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những quy định của pháp luật về quản lý thuế của cơ quan nhà nước đối với hoạt động XNK hàng hóa ở Việt Nam

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu: Quy định và thực tiễn áp dụng của pháp luật hiện hành về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK trên phạm vi cả nước (trọng tâm là vai trò của cơ quan hải quan)

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp của phép biện chứng duy vật và duy vật lịch

sử Đồng thời sử dụng các phương pháp: diễn giải, tổng hợp, thống kê, phân tích, đánh giá, nghiên cứu tình huống

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài được chia làm 3 phần cơ bản:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xuất nhập khẩu và pháp luật

về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Tuy nhiên, do thời gian có hạn; trình độ nghiên cứu, khả năng đánh giá, nhìn nhận vấn đề còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý thân thiện, chân thành từ phía Hội đồng chấm luận văn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Chân thành cảm ơn!

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT

NHẬP KHẨU

1.1 Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu

XNK là cách gọi phổ biến của các thuật ngữ như: xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK); thương mại quốc tế; ngoại thương… Đó là những thuật ngữ dùng

để chỉ hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền

tệ làm môi giới XNK không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài Có thể hiểu hoạt động NK là mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau Còn hoạt động XK là bán lại cho các cá nhân, pháp nhân quốc tế những hàng hoá được sản xuất, gia công, chế biến trong nước hoặc hàng hoá mua về từ các nước khác

Theo đó, lĩnh vực XNK có một số đặc trưng cơ bản như sau:

- Có mức độ phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kỹ thuật cao và quy mô lớn

- Là quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau, do vậy chịu sự điều chỉnh của các hệ thống pháp luật khác nhau, và thường xuyên sử dụng các luật, điều ước, công ước, quy tắc, thông lệ… mang tính chất quốc tế cũng như sử dụng đa dạng các loại tiền tệ để thanh toán

Trang 9

- Hàng hóa, dịch vụ được di chuyển qua biên giới các quốc gia nên phụ thuộc nhiều vào chính sách XNK của các nước, đặc biệt là việc quản lý thương mại quốc tế thông qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và các công cụ phi thuế quan khác của các nước Do phải vận chuyển qua biên giới quốc gia với khoảng cách tương đối xa nên quá trình giao nhận vận chuyển cũng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi thêm nhiều hoạt động kèm theo như làm các thủ tục thông quan, vận chuyển thường quan qua các hãng vận tải, mua bảo hiểm cho hàng hoá…

- Hàng hóa, dịch vụ phải phù hợp với những quy định về chính sách mặt hàng của từng nước và phải là loại hàng hoá, dịch vụ mà thế giới chấp nhận

Do vậy, hàng hoá, dịch vụ thường được tiêu chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế

Đối tượng của XNK là hàng hoá và dịch vụ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý thuế, tôi chỉ xin đề cập đến mảng hàng hoá XNK hay còn gọi là hàng hoá XK và hàng hoá NK Theo cách hiểu được quy định trong “Hệ thống thương mại chung” đã được pháp điển hoá trong Quyết định 111/2008/QĐ-TTg ngày 15/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành thì:

- Hàng XK là toàn bộ hàng hoá có xuất xứ trong nước và hàng tái xuất, được đưa ra nước ngoài, làm giảm nguồn của cải vật chất của Việt Nam, cụ thể:

+ Hàng hoá có xuất xứ trong nước: là hàng hoá được khai thác, sản xuất, chế biến trong nước theo quy tắc xuất xứ của Việt Nam;

+ Hàng hoá tái xuất: là những hàng hoá Việt Nam đã NK, sau đó lại XK nguyên trạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, không chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan và phải tái xuất theo quy định của pháp luật

Trang 10

- Hàng NK là hàng hoá có xuất xứ nước ngoài và hàng tái nhập, được đưa vào từ nước ngoài, làm tăng nguồn của cải vật chất của Việt Nam, trong đó:

+ Hàng hoá có xuất xứ nước ngoài: là hàng hoá được khai thác, sản xuất, chế biến ở nước ngoài theo quy tắc xuất xứ của Việt Nam;

+ Hàng hoá tái nhập: là những hàng hoá Việt Nam đã XK, sau đó lại NK nguyên trạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, không làm thay đổi tính chất cơ bản của hàng hoá, trừ hàng hoá tái nhập sau khi hết thời hạn tạm XK theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hoá XK, NK thì hàng hoá

XK, NK thương mại bao gồm:

1 Hàng hoá XK, NK theo hợp đồng mua bán hàng hoá;

2 Hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất;

3 Hàng hoá kinh doanh chuyển cửa khẩu;

4 Hàng hoá XK, NK theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng XK;

5 Hàng hoá XK, NK để thực hiện hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài;

6 Hàng hoá XK, NK để thực hiện các dự án đầu tư;

7 Hàng hoá kinh doanh XK, NK qua biên giới đường bộ;

8 Hàng hoá XK, NK nhằm mục đích thương mại của tổ chức (không

có mã số thuế, mã số kinh doanh XNK), của cá nhân;

9 Hàng hoá XK, NK của doanh nghiệp chế xuất;

10 Hàng hoá đưa vào, đưa ra kho bảo thuế;

11 Hàng hoá tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập dự hội chợ, triển

Trang 11

lãm;

12 Hàng tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập kà máy móc thiết bị, phương tiện vận tải phục vụ thi công công trình, phục vụ các dự án đầu tư, là tài sản đi thuê, cho thuê

1.1.2 Lịch sử phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu

Mặc dù lĩnh vực XNK đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người nhưng tầm quan trọng về kinh tế, xã hội và chính trị của nó chỉ mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây Hoạt động XNK phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường các hoạt động XNK thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá" Trước đây, hoạt động XNK thường được điều chỉnh bằng các hiệp định thương mại song phương giữa hai nước Trước thế kỷ 19, khi chủ nghĩa trọng thương còn chiếm ưu thế, đa số các nước áp đặt những mức thuế cao cùng nhiều hạn chế thương mại khác đối với hàng NK Kể từ thế kỷ 19, tư tưởng về thương mại tự do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Anh Trong những năm kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các hiệp định thương mại đa phương như Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) và điều ước thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có sự thống nhất điều chỉnh trên phạm vi toàn cầu

Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại không chỉ đàm phán việc giảm thuế mà còn đàm phán cả các biện pháp phi thuế quan như hạn chế số lượng NK, cấp phép NK, vệ sinh kiểm dịch, đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ và tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đơn giản hóa các thủ tục hải quan

Trang 12

Nếu trước đây, thương mại tự do thường tập trung vào các mặt hàng nông sản và bảo hộ các mặt hàng chế tạo; thì hiện nay, đặc biệt là ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản, lĩnh vực nông nghiệp lại được quan tâm nhiều hơn và thể hiện rõ tính chất bảo hộ cao hơn so với các lĩnh vực khác khi thoả thuận về các hiệp định thương mại quốc tế Lĩnh vực XNK thường được điều chỉnh bởi các quy tắc có tính toàn cầu thông qua các hiệp định của WTO, mặc dù cũng có một số thoả thuận thương mại khu vực như việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA); Khối Thương mại Nam Mỹ (MERCOSUR) giữa một số nước ở Nam Mỹ; Thỏa ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico; Liên minh Châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu Có thể kể thêm một

số thỏa thuận thương mại quốc tế thất bại như Khu vực Mậu dịch Tự do Châu

Mỹ (FTAA) hay Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI)

1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu

Không thể phủ nhận vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế của các nước hiện nay Có thể nói rằng hoạt động XNK có ý nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước; đồng thời cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu vật chất của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn Hoạt động XNK đóng những vai trò cụ thể như sau:

- XNK tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước XNK là lĩnh vực trao đổi, phân phối lưu thông hàng hóa với nước ngoài, nối sản xuất

và tiêu dùng của một nước với sản xuất và tiêu dùng của nước ngoài Chính hoạt động XNK đã mở rộng thị trường hàng hoá; đồng thời giúp tăng cường nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất trong nước

Trang 13

- Thông qua hoạt động XNK các nước có thể nhận thấy được, giới thiệu được và khai thác được những thế mạnh, những tiềm năng của đất nước mình,

từ đó có thể tiến hành phân công lại lao động cho phù hợp nhất

- XNK cũng tạo điều kiện cho các nước tranh thủ, khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các nước khác trên thế giới để thúc đẩy quá trình sản xuất

xã hội phát triển trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ về khoa học công nghệ và

sử dụng những hàng hóa, dịch vụ tốt, rẻ mà mình chưa sản xuất được hoặc sản xuất không hiệu quả

- Bên cạnh đó hoạt động XNK cũng góp phần thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các nước ngày càng chặt chẽ và mở rộng hơn, điều đó sẽ góp phần ổn định tình hình kinh tế và chính trị của các quốc gia và của toàn thế giới

- XNK còn tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu dùng, tăng mức sống của dân cư nhờ khả năng cho phép người tiêu dùng có thể tiêu dùng được nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn, chủng loại phong phú hơn, giá rẻ hơn Đó chính

là cơ sở để nâng cao dần mức sống của dân cư các nước và của thế giới nói chung

- Ngoài ra, XNK cũng góp phần làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế

1.2 Tổng quan về thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

1.2.1 Sự cần thiết phải đánh thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của cá nhân và tổ chức cho Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không

Hoạt động XNK có những tính chất đặc thù là quan hệ có tính chất quốc

tế Hiện nay trong giai đoạn mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu toàn

Trang 14

cầu, quản lý nhà nước về XNK đóng vai trò vô cùng quan trọng Thuế trở thành một công cụ hữu hiệu của các nhà quản lý

a) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước

Thuế nói chung vốn được Nhà nước ban hành xuất phát từ nhu cầu tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), đảm bảo cho các khoản chi cho hoạt động của bộ máy nhà nước, trả lương cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước, các khoản chi cho an sinh xã hội, chi cho đầu tư phát triển, chi cho đối ngoại… Nếu nguồn NSNN không đủ để đáp ứng, các hoạt động của nhà nước sẽ bị ngưng trệ

Hoạt động XNK là hoạt động xuất hiện về sau so với các hoạt động khác trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, với tính chất là hoạt động kinh tế

có yếu tố nước ngoài, liên quan đến việc làm tăng hoặc giảm nguồn vật chất trong nước, hoạt động XNK có thể thu về hoặc làm hụt đi một lượng ngoại tệ lớn Các giao dịch XNK thường có giá trị rất lớn, do đó, việc đánh thuế đối với hoạt động XNK có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng nguồn thu cho NSNN Mà trên thực tế, nguồn thu từ thuế đối với hoạt động XNK của Việt Nam hiện nay đang chiếm khoảng 20% trên tổng thu NSNN

b) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để điều chỉnh quan hệ kinh tế quốc

và gia nhập nhiều hiệp định quốc tế đa phương và song phương như: GATT, AFTA, Khối hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và các

Trang 15

Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện với 5 đối tác lớn là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và Newzealand… mở ra nhiều mối quan

hệ quốc tế bền vững Theo đó, Việt Nam phải tuân thủ theo những quy tắc quốc tế mà mình đã cam kết thực hiện Do vậy, việc đánh thuế đối với hoạt động XNK còn có ý nghĩa trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế quốc

tế Đặc biệt là chính sách thuế quan, lộ trình cắt giảm thuế, quy định về thuế suất ưu đãi đối với các nước thành viên cùng tham gia các thỏa thuận quốc tế được đặt ra như là một công cụ để đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế

c) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để bảo vệ lợi ích quốc gia

Trong hoạt động XNK, vì có liên quan đến mối quan hệ với quốc gia khác nên đôi khi không tránh khỏi những xung khắc về lợi ích của mỗi quốc gia Lúc đó, thuế trở thành một công cụ đắc lực để bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa ngoại nhập Khi Chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía các hàng hóa được sản xuất từ các doanh nghiệp trong nước,

có thể tăng thuế đối với hàng NK (nếu là hàng hóa không khuyến khích NK thì có thể tăng thuế TTĐB, nếu là hàng hóa Việt Nam có khả năng sản xuất được thì có thể tăng thuế NK) Ngược lại, với một số mặt hàng XK lợi thế của Việt Nam (như hàng nông sản, thủy sản, dệt may…) để tăng khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường quốc tế so với hàng hóa cùng loại của những nước khác thì có thể điều chỉnh giảm thuế suất đối với những mặt hàng này khi XK Hoặc nếu là mặt hàng không khuyến khích XK, Nhà nước có thể điều chỉnh tăng thuế suất để bảo hộ cho thị trường tiêu thụ trong nước

d) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp

Thuế nói chung có tác động góp phần đảm bảo sự bình đẳng trong chính sách động viên đóng góp cho nhà nước giữa các thành phần kinh tế, thực hiện

Trang 16

công bằng xã hội Thuế đánh vào hoạt động XNK cũng không nằm ngoài việc thực hiện yêu cầu nói trên Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp với những quy mô hoạt động khác nhau nhưng có điều kiện hoạt động giống nhau, hàng hóa như nhau thì phải nộp thuế như nhau theo cùng quy định của pháp luật Bình đẳng, công bằng trong chính sách thuế không có nghĩa là cào bằng mà khuyến khích các

tổ chức, cá nhân làm ăn có hiệu quả để tích luỹ tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và không chỉ là lý thuyết mà được biểu hiện trên

cơ sở luật pháp Tổ chức, cá nhân nào nộp đúng, nộp đủ thì được khen ngợi, tạo điều kiện để thực hiện thông quan hàng hóa nhanh chóng, thuận lợi hơn; chây ỳ, nộp chậm, trốn tránh thì phải chịu phạt, truy cứu trách nhiệm

1.2.2 Các loại thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Trên thế giới và ở Việt Nam hiện có rất nhiều loại thuế, như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (thuế XK, thuế NK); thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế thu nhập cá nhân; thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT); thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế TTĐB); thuế môn bài… Ở Việt Nam, liên quan đến hoạt động XNK có thuế XK, thuế NK; thuế GTGT và thuế TTĐB

a) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế XK, thuế NK có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ trong việc tạo nguồn thu cho NSNN hàng năm mà quan trọng hơn, nó còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để kiểm soát hoạt động XNK hàng hoá với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thời kỳ, đối với từng quốc gia hoặc từng nhóm quốc gia cụ thể Trong lĩnh vực XNK, hoạt động quản lý thuế gắn liền với quản lý thuế XK, thuế NK Còn các loại thuế khác cũng xuất hiện trong quá trình quản lý thuế đối với hàng hóa XNK như thuế TTĐB, thuế GTGT là các loại thuế phát sinh cả trong hoạt động

Trang 17

kinh doanh, tiêu dùng nội địa, và chỉ được tính đến chủ yếu đối với hàng hóa

NK từ nước khác

Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế

XK, thuế NK đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động XNK hàng hoá với bên ngoài và bảo hộ nền sản xuất trong nước Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến số phận của thuế XK, thuế NK theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế XK, thuế NK vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ

mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường như Việt Nam

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế XK, thuế NK, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận

Xét về phương diện kinh tế, thuế XK, thuế NK được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi XNK hàng hóa, dịch vụ qua biên giới một nước Với cách tiếp cận này, thuế XK, thuế NK được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Mặt khác, thuế XK, thuế NK còn có thể được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia

và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực

và toàn cầu

Xét về phương diện pháp lý, thuế XK, thuế NK có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp

Trang 18

lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế XK, thuế NK Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế XK, thuế NK do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn

là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các

tổ chức, cá nhân là người nộp thuế Việc tiếp cận khái niệm thuế XK, thuế

NK từ góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về bản chất của thuế nói chung và thuế XK, thuế NK nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia đối với người đóng thuế, hay là một “thỏa thuận” song phương giữa người thu thuế với người nộp thuế? Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp cho Nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế XK, thuế NK phù hợp hơn với quyền lợi của quốc gia và của người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới với nước ngoài được điều tiết và kiểm soát bởi hai công cụ chủ yếu là “hàng rào thuế quan” và “hàng rào phi thuế quan” Hàng rào thuế quan ở những nước này được hiểu thực chất là thuế NK đánh vào hàng hóa NK, chứ không bao gồm cả thuế XK đánh vào hàng hóa XK như Việt Nam hay Trung Quốc Do

có quan niệm khác nhau như trên giữa các nước về nội hàm của khái niệm

“thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sự khác nhau Sở

dĩ có sự khác nhau này trong chính sách thuế quan của các nước là bởi vì, mỗi quốc gia đều có phong tục, tập quán riêng cần được duy trì, tôn trọng, bảo vệ, quan trọng hơn, mỗi quốc gia đều có quyền đánh thuế đối với các công dân hay tổ chức mang quốc tịch nước ngoài có hoạt động XNK hàng hóa diễn ra trên lãnh thổ nước mình Quyền đánh thuế của quốc gia chính là cơ sở, là đạo

lý cơ bản để Nhà nước – với tư cách là người đại diện hợp pháp cho quốc gia,

Trang 19

ban hành và áp dụng các đạo luật về thuế quan trên tinh thần của nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc quốc tịch

So với các loại thuế nội địa thì thuế XK, thuế NK có nhiều điểm khác biệt Những khác biệt này có nguồn gốc sâu xa từ bản chất và chức năng của thuế XK, thuế NK Có thể hình dung những đặc trưng này bao gồm:

- Thuế XK, thuế NK có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới

- Thuế XK, thuế NK không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu, phụ thuộc vào việc hàng hóa NK vào để tiêu dùng hay để XK tiếp

- Thuế XK, thuế NK có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động XNK

Giống như bất kỳ loại thuế nào, thuế XK, thuế NK cũng thể hiện ba vai trò cơ bản: (1) Tạo nguồn thu cho NSNN; (2) Điều tiết hoạt động kinh tế; (3) Hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng cơ bản của thuế XK, thuế NK là đánh vào các hàng hóa XNK và sau đó được cấu thành trong giá cả của hàng hóa XNK nên loại thuế này còn có một vai trò khá đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa ngoại nhập Xét trên bình diện lý thuyết, vai trò này của thuế XK, thuế NK được thể hiện trên hai khía cạnh chủ yếu:

- Thuế NK là một biện pháp để bảo hộ nền sản xuất trong nước, khi Chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía các hàng hóa được sản xuất từ các doanh nghiệp trong nước

- Thuế XK tăng để bảo hộ cho thị trường tiêu thụ trong nước, giảm để tăng khả năng cạnh tranh tốt hơn cho loại hàng hóa này trên thị trường quốc

tế, so với hàng hóa cùng loại của những nước khác đang lưu thông trên thị trường

Trang 20

b) Thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT (còn gọi là VAT) là từ viết tắt của Value Added Tax Tại

một số quốc gia, như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này được gọi là "Goods and Services Tax" (viết tắt GST) nghĩa là thuế hàng hóa

và dịch vụ; còn tại Nhật Bản thì nó được biết đến dưới tên gọi "thuế tiêu thụ" Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào NSNN theo mức

độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Theo đó, người tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ chính là đối tượng chịu thuế, còn người sản xuất, lưu thông sẽ được hoàn trả lại tiền thuế GTGT đã đóng Xuất phát từ đặc trưng là một loại thuế đánh vào tiêu dùng, cho nên hàng XK (theo định nghĩa này thì người tiêu dùng ở nước ngoài) thường không phải chịu thuế GTGT hoặc thuế GTGT đối với người XK được hoàn lại Vậy nên, trong lĩnh vực XNK, vấn đề quản lý thuế chỉ đặt ra với hoạt động thu nộp thuế đối với hàng hóa NK và công tác hoàn thuế đối với doanh nghiệp XK

c) Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho NSNN

Về bản chất, thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp, chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng Tuỳ theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh mục hàng hoá và dịch vụ phải chịu loại thuế này có thể rất khác nhau, xuất phát từ chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như trong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và bởi phong tục tập quán của mỗi

Trang 21

nước Nhìn chung các quốc gia thường đánh thuế TTĐB vào một số mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu, bia, xăng dầu

Thuế suất thuế TTĐB có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỷ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, điều tiết thu nhập của những đối tượng có sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ đặc biệt, từ đó tăng nguồn thu cho NSNN Mặt khác, các quốc gia thường chỉ đánh thuế TTĐB một lần vào khâu sản xuất và NK, chứ không đánh thuế TTĐB vào cơ sở kinh doanh những mặt hàng nói trên Trong lĩnh vực XNK, vấn đề quản lý thuế TTĐB chỉ đặt ra đối với hàng hóa NK, còn các cơ sở kinh doanh thương mại mua hàng hóa thuộc danh mục chịu thuế TTĐB của doanh nghiệp NK không phải chịu thuế TTĐB mà sẽ phải chịu một loại thuế gián thu khác

1.3 Tổng quan pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 1.3.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Theo nghĩa rộng, quản lý là việc “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”[16] Quản lý được thực hiện bằng 3 loại biện pháp chủ yếu: “a) biện pháp kinh tế; b) biện pháp hành chính; c) biện pháp giáo dục Quản lý được thực hiện bằng nhiều hình thức tác động như lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, thanh tra, giám sát, đúc kết kinh nghiệm, phổ biến và nhân rộng mô hình, cách làm tiên tiến, có hiệu quả, kịp thời bãi bỏ những cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời…[9]”

Quản lý thuế là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thuế hướng

về phía đối tượng nộp thuế nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, đúng pháp luật và nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN; Nộp thuế trở thành hành vi thể hiện quyền

Trang 22

công dân của người nộp thuế Quản lý thuế phải góp phần hỗ trợ và bảo đảm cho công dân thưc hiện quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật Do đó,

cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế Công tác quản lý thu nộp thuế hiện nay bao gồm quản lý thu nộp thuế tại

cơ quan hải quan và tại cơ quan thuế nội địa Là cơ quan chịu trách nhiệm

“gác hàng, gác tiền, gác cửa khẩu” của mỗi quốc gia, cơ quan hải quan đóng vai trò là cơ quan thu thuế trong lĩnh vực XNK

Pháp luật về quản lý thuế là danh từ pháp lý dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện những biện pháp nghiệp vụ của cơ quan có chức năng thu ngân sách mà trong lĩnh vực XNK thì cơ quan thu ngân sách chính là cơ quan hải quan

Xét từ phương diện hình thức, pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK gao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội; và các văn bản dưới luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành… Còn xét về phương diện nội dung, pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK lại bao hàm các vấn đề chủ yếu như: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan; các nội dung cụ thể về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật

về thuế, giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế…

1.3.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và pháp luật về thủ tục hải quan

Quản lý thuế trong lĩnh vực XNK được gắn liền với thủ tục hải quan, hoạt động quản lý thu nộp thuế nằm trong hoạt động thông quan hàng hóa, hồ

sơ khai thuế nằm trong hồ sơ khai hải quan… Do vậy, pháp luật về quản lý

Trang 23

thuế trong lĩnh vực XNK và pháp luật về thủ tục hải quan có mối quan hệ khăng khít

So với việc quản lý các loại thuế nội địa thì việc quản lý thuế trong lĩnh vực XNK có những đặc điểm khác biệt về trình tự, thủ tục hành thu Sự khác biệt này không chỉ được thể hiện ở khía cạnh chủ thể có thẩm quyền thu thuế (đối với quản lý thuế trong lĩnh vực XNK là cơ quan hải quan, còn đối với quản lý thuế nội địa là cơ quan thuế) mà còn được thể hiện ở những khía cạnh khác như thời hạn tính thuế, thủ tục kiểm tra hàng hóa và giám định hàng hóa XNK, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế XK, thuế NK bằng cam kết bảo lãnh của các ngân hàng… Điều đó xuất phát từ những đặc điểm riêng

có của hoạt động quản lý XNK hàng hóa Nếu cơ quan thuế chỉ có nhiệm vụ

về quản lý thu nộp về thuế, phí và lệ phí; thì cơ quan hải quan được giao nhiệm vụ quản lý chung về hàng hóa XNK Do đó, ngoài nhiệm vụ về quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK, cơ quan hải quan còn phải thực hiện nhiệm vụ về kiểm tra, giám sát hàng hóa XNK; điều tra, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thống kê hàng hóa XNK… Vì vậy, hoạt động quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK được gắn liền với các khâu nghiệp vụ của cơ quan hải quan khi tiến hành thông quan hàng hóa XNK

Hiện nay, pháp luật về thủ tục hải quan đang dần có những thay đổi cơ bản dưới tác động của các nhân tố khách quan như:

- Quá trình toàn cầu hóa và nhu cầu áp dụng công nghệ thông tin trong thương mại quốc tế;

- Sự tiến bộ của công nghệ thông tin tạo điều kiện cho việc áp dụng phổ biến chứng từ điện tử trên toàn thế giới;

- Việc sử dụng các chuẩn mực quốc tế trong chứng từ điện tử ngày càng phát triển;

Trang 24

- Nhu cầu giảm chi phí giao dịch/ thuận lợi hóa thương mại và cải cách

hành chính nói chung

Ngoài ra, những nhân tố chủ quan của ngành hải quan cũng tác động

không nhỏ đến pháp luật về thủ tục hải quan như:

- Yêu cầu về hội nhập với thế giới của ngành hải quan;

- Yêu cầu phát triển ngành hải quan hiện đại, minh bạch, giảm phiền hà

sách nhiễu

Ngày nay, cơ quan hải quan với vai trò là một trong những cơ quan đóng

vai trò quan trọng trong quản lý thương mại và đi tiên phong trong việc áp

dụng những mô hình, phương pháp quản lý mới nhằm tạo thuận lợi cho hoạt

động thương mại Vai trò của hải quan ngày nay đã được mở rộng hơn Hải

quan đã trở thành cơ quan có trách nhiệm chính trong việc tạo thuận lợi cho

thương mại, đảm bảo an ninh kinh tế và tăng nhanh lưu lượng lưu thông hàng

hóa Vì vậy xu hướng phát triển của thủ tục hải quan hiện đại là xây dựng và

triển khai thủ tục hải quan điện tử tức là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục

quản lý thuế) được thực hiện bằng phương tiện điện tử Theo đó, hải quan

hiện đại sẽ được tổ chức thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và

thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan để quản lý hàng hóa

XK, NK nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, đảm bảo

đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc

tế

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn như vậy, pháp luật về thủ tục hải quan cần

phải có những quy định gắn liền với xu hướng phát triển hiện đại hóa của

ngành hải quan Và vì pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK có quan

hệ mật thiết với pháp luật về thủ tục hải quan, nên cũng cần sự cải cách để bắt

kịp với nhịp độ phát triển của thủ tục hải quan, góp phần tạo thuận lợi thương

mại

Trang 25

1.3.3 Mục đích, yêu cầu của pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK phải hướng đến thực hiện các mục tiêu sau:

- Trở thành công cụ đắc lực để đảm bảo kế hoạch thu NSNN đầy đủ và kịp thời Ở Việt Nam, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Trong đó, số thu thuế của ngành Hải quan chiếm hơn 20% tổng thu NSNN, nếu không thu đúng, thu đủ và kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn tài chính để nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình Do đó, đảm bảo kế hoạch thu NSNN là mục tiêu hàng đầu khi xây dựng pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK

- Đảm bảo thực hiện chính sách thuế về XNK hàng hóa của quốc gia Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK là công cụ, phương tiện chủ yếu để thực hiện chính sách thuế XNK của một nước trong một giai đoạn nhất định, thông qua việc thể chế hóa chính sách này thành những điều khoản cụ thể của pháp luật thực định Tôn trọng pháp luật thuế trong lĩnh vực XNK từ

cả hai phía – cơ quan hải quan và đối tượng nộp thuế - là đề cao quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và công dân, là quá trình thực thi dân chủ và phát huy sức mạnh của tổ chức và công dân trong quá trình hình thành luật thuế, đồng thời cũng là bước quan trọng để các tổ chức và công dân thực hiện quyền làm chủ của mình

Theo đó, pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK cần quán triệt một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế đòi hỏi pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK phải xây dựng được các biện pháp quản lý thuế của

Nhà nước tương thích với các quy định chung về thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Trang 26

- Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ trong quản lý thuế Nguyên

tắc này đòi hỏi pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK phải xây dựng được quy trình quản lý thuế áp dụng thống nhất trong cả nước đối với các đối tượng nộp thuế Không cho phép cơ quan hải quan tự đặt ra các quy định cá biệt nào nhằm phân biệt đối xử giữa những người nộp thuế trong quá trình nộp thuế

- Nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế đặt ra yêu cầu với pháp luật

về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK là phải xây dựng hệ thống quy định đảm

bảo thực hiện nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế như nhau

- Nguyên tắc minh bạch trong quản lý thuế nghĩa là pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK cần xây dựng các quy định về quản lý thuế đối với

các đối tượng nộp thuế công khai hóa, rõ ràng, rành mạch ở từng khâu trong quá trình tính thuế và nộp thuế Cần tránh hiện tượng các đối tượng nộp thuế

thiếu thông tin về các quy định có liên quan đến thuế

- Nguyên tắc thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thuế Quản

lý thuế là những hoạt động có tính nghiệp vụ Nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK cần có các quy định đảm bảo cho cơ quan hải quan khi thực thi nghiệp vụ quản lý thuế phải xây dựng và thực hiện đúng các quy trình quản lý thuế theo luật định một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện, đặc điểm và tình hình sản xuất kinh doanh phát sinh của đối tượng nộp thuế Nguyên tắc này được thực hiện sẽ tạo thuận lợi và tiết kiệm chi phí vật chất và thời gian cho cả cơ quan hải quan lẫn đối tượng nộp thuế

Trang 27

quốc tế hiện nay và đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh thuế đối với hàng hóa XNK Từ việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật

về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK và pháp luật về thủ tục hải quan, tác giả

đã nêu lên được những yêu cầu cần thiết cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH

hàng hoá trở thành một nguồn thu quan trọng cho NSNN Chính vì vậy, cơ quan hải quan được giao làm nhiệm vụ tổ chức thu thuế đối với hàng hoá XNK (gồm có thuế XK, thuế NK; thuế GTGT; thuế TTĐB)

Hoạt động quản lý thu thuế trong lĩnh vực XNK được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như sau:

- Luật thuế XK, thuế NK năm 1991; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế XK, thuế NK năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Trang 29

Luật thuế XK, thuế NK năm 1998; và hiện nay văn bản đang có hiệu lực là Luật thuế XK, thuế NK năm 2005 Cùng với hệ thống các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật thuế XK, thuế NK như: Nghị định 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế XK, thuế NK; Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế XK, thuế NK…

- Luật thuế GTGT năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT năm 2005; Luật thuế GTGT năm

2008 Cùng với hệ thống các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT như:

+ Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT

+ Thông tư 129/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT

+ Thông tư 13/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện giảm thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp kinh doanh gặp khó khăn

+ Thông tư 04/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện hoàn thuế GTGT theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ

+ Thông tư 94/2010/TT-BTC ngày 30/06/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa XK;

+ Thông tư 92/2010/TT-BTC ngày 17/06/2010 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thủ tục gia hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với thiết bị, máy móc,

Trang 30

phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần NK để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp

- Luật thuế TTĐB năm 1990; Luật thuế TTĐB năm 1998; Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB năm 2003; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT năm 2005; Luật thuế TTĐB năm 2008 Luật thuế TTĐB hiện được hướng dẫn bởi các văn bản như: Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/03/2009 Quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, có hiệu lực từ ngày 01/04/2009; Thông tư số 64/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009, hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/03/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, có hiệu lực từ ngày 01/04/2009…

- Luật Quản lý thuế (Luật QLT) được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007 Đến nay, Luật QLT đã thực hiện được 3 năm Để triển khai thực hiện Luật QLT, Chính phủ, Bộ Tài chính

đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện:

+ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật QLT (Nghị định này đang được sửa đổi, bổ sung);

+ Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật QLT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP;

+ Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

Trang 31

+ Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế;

+ Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 18/2009/NĐ-CP ngày 18/02/2009 của Chính phủ;

+ Thông tư số 59/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế XK, thuế NK, quản lý thuế đối với hàng hóa XK, NK;

+ Thông tư số 157/2007/TT-BTC ngày 24/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

+ Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật QLT về việc đăng ký thuế;

+ Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18/02/2009 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 97/2007/NĐ-CP;

+ Nghị định số 13/2009/NĐ-CP ngày 13/02/2009 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2007/NĐ-CP;

+ Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế XK, thuế NK

và quản lý thuế đối với hàng hoá XK, NK;

+ Thông tư số 193/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 thay thế Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ quy định về xử

lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

- Trước khi có Luật QLT, việc quản lý thuế trong lĩnh vực XNK chủ yếu dựa trên các quy định trong từng luật thuế cụ thể (luật thuế XK, NK; luật thuế

Trang 32

GTGT; luật thuế TTĐB) và các quy định chuyên ngành: Luật Hải quan; các văn bản dưới luật hướng dẫn chung về thủ tục đối với hoạt động quản lý thuế của ngành hải quan như Nghị định 154/2005/NĐ-CP; Nghị định 66/2002/NĐ-

CP ngày 01/07/2002 của Chính phủ quy định về mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng NK được miễn thuế… Luật QLT ra đời đã tích hợp được các quy định về quản lý thuế vào trong một văn bản, có ý nghĩa hướng dẫn chung cho toàn bộ hoạt động quản lý thuế của cả cơ quan thu thuế nội địa và cơ quan hải quan

Luật QLT, mặc dù đã quy định thống nhất thủ tục thuế với thủ tục hải quan, nhưng các thủ tục này lại được hướng dẫn tại các văn bản riêng của Bộ Tài chính Bên cạnh đó, do các văn bản nêu trên chưa hướng dẫn cụ thể hoặc hướng dẫn còn chưa phù hợp, có sự chồng chéo giữa các văn bản nên trong quá trình thực hiện đã phát sinh một số bất cập, vướng mắc Nhiều trường hợp Tổng cục Hải quan hoặc bộ Tài chính phải ban hành các văn bản hành chính như công văn hướng dẫn thực hiện Các văn bản hướng dẫn này có giá trị pháp lý chưa cao, không tạo ra quy chuẩn cho các doanh nghiệp cùng tra cứu,

áp dụng

Nhằm mục đích tích hợp các quy định về thủ tục hải quan và quản lý thuế nằm rải rác trong các văn bản khác nhau: Luật Hải quan, Luật QLT, nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 112/2008/TT-BTC, Thông tư 114/2005/TT-BTC, Thông tư 59/2007/TT-BTC, và Thông tư 05/2009/TT-BTC, ngành hải quan đã dự thảo và trình Bộ trưởng bộ Tài chính ký ban hành Thông tư 79/2009/TT-BTC ngày 07/04/2009.Thông tư 79/2009/TT-BTC ra đời góp phần hướng dẫn thống nhất về thủ tục hải quan và quản lý thuế Thông tư 79/2009/TT-BTC đã ra đời và hệ thống lại một cách đầy đủ các quy định liên quan đến thủ tục quản lý thuế, giúp doanh nghiệp và cán bộ hải quan dễ tra cứu, áp dụng

Trang 33

2.2 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế

Người nộp thuế là đối tượng điều chỉnh cơ bản của hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK nói riêng Người nộp thuế chính là những tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế; là tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay Mỗi sắc thuế có những quy định riêng về đối tượng là người nộp thuế Cụ thể trong lĩnh vực XNK thì người nộp thuế được xác định như sau:

- Điều 4 Luật thuế XK, thuế NK quy định “Tổ chức, cá nhân có hàng hóa XK, NK thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này là đối tượng nộp thuế XK, thuế NK” Trong đó, Điều 2 quy định về đối tượng chịu thuế XK, thuế NK bao gồm: (1) Hàng hóa XK, NK qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; (2) Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước Tuy nhiên, một

số hàng hóa được quy định là không phải chịu thuế XK, thuế NK như:

+ Hàng hoá vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hoá chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;

+ Hàng hoá viện trợ nhân đạo, hàng hoá viện trợ không hoàn lại;

+ Hàng hóa từ khu phi thuế quan XK ra nước ngoài, hàng hóa NK từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác;

+ Hàng hoá là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi XK

- Điều 4 Luật thuế GTGT quy định “Người nộp thuế GTGT là tổ chức,

cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức,

Trang 34

cá nhân NK hàng hóa chịu thuế GTGT” Như vậy, khi tổ chức, cá nhân NK hàng hóa chịu thuế GTGT thì sẽ trở thành người nộp thuế GTGT cho hàng

NK và là đối tượng của hoạt động quản lý thuế về XNK

- Điều 4 Luật thuế TTĐB quy định “Người nộp thuế TTĐB là tổ chức,

cá nhân sản xuất, NK hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB

Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh XK mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để XK nhưng không XK mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh XK là người nộp thuế TTĐB” Như vậy, tổ chức, cá nhân chỉ trở thành người nộp thuế TTĐB và là đối tượng của hoạt động quản lý thuế về XNK khi có hoạt động

NK hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Cơ quan hải quan

Bộ Tài chính là cơ quan có chức năng quản lý thuế, theo quy định của pháp luật hiện hành, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về: (1)Thực hiện quản lý nhà nước về thuế theo quy định của pháp luật; (2) Chỉ đạo thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật QLT; (3) Chỉ đạo lập và thực hiện dự toán thu NSNN; 4) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thuế; (5) Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền (Điều 10 LUậT QLT)

Pháp luật Việt Nam quy định các cơ quan trong hệ thống cơ quan tài chính nhà nước có trách nhiệm thực hiện hoạt động quản lý và thu thuế trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm quản lý thuế tại cơ quan hải quan và tại cơ quan thuế nội địa Các cơ quan này có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và quan hệ công tác trong từng thời kỳ

Cơ quan thuế có nhiệm vụ thu các khoản thuế phát sinh trên cơ sở các hoạt động sản xuất kinh doanh ở trong nước Còn cơ quan hải quan có nhiệm

Trang 35

vụ quản lý các loại thuế đánh vào hàng hóa XK, NK qua biên giới lãnh thổ và hàng hóa được vận chuyển ra vào các khu vực kinh tế cửa khẩu, các khu chế xuất, các doanh nghiệp sản xuất hàng XK Hiện tại, cơ quan hải quan chủ yếu thực hiện thu các loại thuế là: thuế XK, thuế NK; thuế GTGT đối với hàng hóa NK; và thuế TTĐB đối với hàng hóa NK thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB Cơ cấu tổ chức của cơ quan hải quan được thực hiện theo ngành dọc: Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Cục hải quan tỉnh hoặc liên tỉnh; Chi cục hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan hoặc các đơn vị tương đương

Nhiệm vụ thu thuế của ngành Hải quan có sự phân cấp theo cơ cấu tổ chức như sau:

- Ở cấp trung ương: nhiệm vụ thu và quản lý thu nộp thuế thuộc về Vụ Kiểm tra thu thuế XNK (nay là Cục Thuế XNK) Theo Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15/01/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính thì Cục Thuế XNK là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, có chức năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thực hiện quản lý nhà nước về thuế và thu khác đối với hàng hóa XK, NK; trực tiếp tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thuế và thu khác đối với hàng hóa XK,

NK trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn được giao và theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế XNK gồm có 5 phòng: (1) Phòng Chính sách; (2) Phòng Trị giá; (3) Phòng Phân loại hàng hóa; (4) Phòng Dự toán – Tổng hợp; (5) Phòng Quản lý nợ và Kế toán thuế

- Ở cấp tỉnh, thành phố, liên tỉnh: Phòng Nghiệp vụ là bộ phận thực hiện việc quản lý, hướng dẫn nhiệm vụ thu thuế Các công việc chủ yếu ở đây là hướng dẫn các cửa khẩu thực hiện các quy định của luật thuế theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan và quản lý số thu trong phạm vi địa bàn của mình

Trang 36

Một số tỉnh, thành phố, do đặc thù công việc có quy mô lớn nên nhiệm vụ quản lý trị giá hải quan được tách khỏi phòng nghiệp vụ và tổ chức thành phòng trị giá tính thuế Ví dụ như Cục Hải quan Hà Nội, Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, Cục Hải quan Hải Phòng…

- Tại cửa khẩu, hoạt động thu thuế được tiến hành trực tiếp đối với hàng hoá XNK dựa trên các tờ khai hải quan của hàng hoá Bộ phận giá - thuế thuộc các đội thủ tục hải quan là những người trực tiếp tiến hành thu tiền từ người kinh doanh XNK hàng hoá

Nếu Bộ Công Thương đóng vai trò trong việc ban hành chính sách và điều hành hoạt động XNK thì Hải quan là cơ quan thay mặt nhà nước quản lý mọi hoạt động kinh tế - thương mại diễn ra tại các cửa khẩu biên giới hoặc nội địa của một nước, kiểm soát các hoạt động XNK hàng hoá, dịch vụ cũng như các hoạt động xuất nhập cảnh nhằm một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chống lại các hoạt động bất hợp pháp, thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại phát triển, mặt khác còn góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia Trong các lĩnh vực quản lý của ngành Hải quan thì quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thuế do cơ quan hải quan thu là các sắc thuế đánh vào hàng hóa XNK qua biên giới lãnh thổ và hàng hóa được chuyển ra vào các khu vực kinh tế cửa khẩu, các khu chế xuất, các doanh nghiệp sản xuất hàng XK Do vậy, cơ quan hải quan cũng là đối tượng điều chỉnh quan trọng của pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK Tuy nhiên, xét trong mối quan hệ hành chính thì cơ quan hải quan mặc

dù là đối tượng của hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK, nhưng lại là

cơ quan quản lý nhà nước, được trao quyền để đảm bảo thực hiện quyền lực nhà nước Đặt ra vấn đề quản lý đối với cơ quan hải quan là để hạn chế việc lạm dụng quyền lực để đưa ra những chính sách quản lý thuế xa rời với lợi ích quốc gia, gây khó khăn cho đối tượng là người nộp thuế trong lĩnh vực XNK

Trang 37

2.2.3 Trách nhiệm của công chức hải quan trong việc thu thuế

Nếu cơ quan hải quan là đối tượng của hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK thì công chức hải quan cũng là đối tượng của hoạt động này Ngành hải quan với khối cơ quan Tổng cục, 33 Cục hải quan các tỉnh, thành phố và gần 150 Chi cục hải quan cửa khẩu thì đối tượng của hoạt động quản lý thuế

về XNK chỉ là các công chức chịu trách nhiệm thu thuế Đối tượng này là bộ phận nhân sự trực tiếp làm việc với người nộp thuế, họ được trao quyền để trực tiếp áp dụng pháp Luật QLT đối với từng trường hợp cụ thể Quy định công chức hải quan chịu trách nhiệm thu thuế là một đối tượng của hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK là để hạn chế việc những cá nhân này lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm dụng, tham ô tiền thuế hay thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái, bao che cho người vi phạm pháp luật về quản lý thuế về XNK

2.2.4 Trách nhiệm của các Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế

Ngoài những đối tượng chính đã nêu ở trên, một số cơ quan Nhà nước,

tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế cũng là đối tượng của hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK Tùy từng trường hợp cụ thể phát sinh trong hoạt động quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK mà xác định các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Từ Điều 11 đến Điều 16 Luật QLT (LuậtQLT) xác định đối tượng này bao gồm: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Ngân hàng thương mại; cơ quan thông tin, báo chí Những cơ quan,

tổ chức, cá nhân này đóng vai trò hỗ trợ cơ quan thu thuế nói chung và cơ quan hải quan nói riêng về việc quản lý thu thuế trong phạm vi quyền hạn của

Trang 38

mình Sở dĩ quy định nhóm cơ quan, tổ chức, cá nhân này là đối tượng của hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực XNK bởi vì dù họ không trực tiếp tham gia vào hoạt động thu và nộp thuế đối với hàng hóa XNK nhưng lại có thể trở thành người hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý thuế Việc quy định trách nhiệm và quyền hạn của nhóm đối tượng này nhằm mục đích đảm bảo sự tham gia tích cực, đúng thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khi có yêu cầu của cơ quan quản lý thuế

2.3 Nội dung cơ bản về thủ tục quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

2.3.1 Về thủ tục đăng ký thuế

Luật QLT qui định về thủ tục đăng ký thuế từ Điều 23-29 Theo đó, có thể hiểu đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo các qui định của pháp luật

Tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế đều phải đăng ký thuế tại

cơ quan thu thuế nội địa (nơi tổ chức đóng trụ sở, nơi cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú) trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc từ ngày phát sinh nghĩa vụ nộp thuế

Mã số thuế được người nộp thuế sử dụng khi ghi hóa đơn, chứng từ, tài liệu khi thực hiện các giao dịch kinh doanh; kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế

và các giao dịch về thuế; mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác Cơ quan quản lý thuế, Kho bạc Nhà nước sử dụng mã số thuế trong quản lý thuế và thu thuế vào NSNN Ngân hàng thương mại, tổ

Trang 39

chức tín dụng khác phải ghi mã số thuế trong hồ sơ mở tài khoản của người nộp thuế và các chứng từ giao dịch qua tài khoản

Mã số thuế chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp: (1) Tổ chức, cá nhân kinh doanh chấm dứt hoạt động; (2) Cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Khi phát sinh trường hợp chấm dứt hiệu lực mã số thuế, tổ chức, cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và công khai việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế Cơ quan thuế thông báo công khai việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế Mã số thuế không được sử dụng trong các giao dịch kinh tế, kể từ ngày cơ quan thuế thông báo công khai về việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế

Hoạt động đăng ký thuế của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích thiết lập

mã số thuế (giấy chứng nhận đăng ký thuế) để quản lý hoạt động thu nộp thuế của tổ chức, cá nhân đó Nghiêm cấm việc cho mượn, tẩy xoá, hủy hoại hoặc làm giả giấy chứng nhận đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế của người nộp thuế khác Khi có thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế đã nộp thì người nộp thuế phải thông báo với cơ quan thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày có sự thay đổi thông tin

Hiện nay, việc đăng ký thuế nói chung và đăng ký thuế trong lĩnh vực XNK nói riêng vẫn đang được giao toàn bộ cho cơ quan thu thuế nội địa quản

lý Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra việc ghi mã số thuế của đối tượng làm thủ tục Hải quan và sử dụng mã số thuế thống nhất trong các khâu nghiệp vụ hải quan

Tổng cục Hải quan có trách nhiệm tiếp nhận thông tin về người nộp thuế được cấp mã số thuế từ Tổng cục Thuế để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho

Trang 40

công tác quản lý hải quan Mã số thuế do cơ quan thu thuế nội địa cấp được

sử dụng thống nhất cho cả việc thu thuế trong lĩnh vực XNK

Từ trước đến nay hầu như các đơn vị thu thuế nội địa vẫn đang tiến hành thủ tục đăng ký thuế trực tiếp Vừa qua, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã mở ra một hướng cải cách mới trong quản lý đăng ký thuế (đối với các đối tượng là doanh nghiệp)

là thay vì phải trực tiếp đến cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhiều thủ tục đăng ký rườm rà, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp chỉ cần đăng ký thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh

và đăng ký thuế do doanh nghiệp đăng ký Khi đó, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp Trong thời gian không xa, hao phí thời gian để thực hiện đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế sẽ giảm, không thua kém các nước tiên tiến trong khu vực, tiến tới có thể tính bằng giờ

Thêm vào đó, Bộ Tài chính cũng đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn đăng ký thuế điện tử để áp dụng cho các đối tượng đăng ký thuế không thuộc trường hợp quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP Như vậy, việc đăng ký thuế đang chuyển dần từ việc đăng ký trực tiếp tại phòng “một cửa” của cơ quan thu thuế nội địa sang việc đăng ký qua hệ thống đăng ký điện tử với các cấu phần như: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Hệ thống xử lý dữ liệu thuế điện tử… Theo đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thuế có thể mở rộng trên phạm vi toàn quốc, giúp cơ quan quản lý có thể truy cập để lưu thông tin đăng ký và từ đó, có thể truy cập và tra cứu

Ngày đăng: 10/07/2015, 12:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Theo dõi nợ thuế trước và sau khi thực hiện Luật QLT - Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Bảng 3.2 Theo dõi nợ thuế trước và sau khi thực hiện Luật QLT (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w