Đề tài vè : Thơ ca Huyền Quang con đường của thiền và cái đẹp
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Thiền tông Việt Nam, Huyền Quang (1254-1334) là một thiền sư lỗi lạc, là vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, tông phái Thiền khoáng đạt và hiền minh, động lực tinh thần quan trọng của cả dân tộc Việt thời Trần Hơn tám mươi năm trải mình trong cõi thế, ông đã đi qua cả ba cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc, đã góp phần to lớn đưa Thiền phái Trúc Lâm đạt tới đỉnh cao Thế nhưng, bên cạnh đó, lịch sử văn chương Việt Nam còn ghi nhận một Huyền Quang - nhà thơ - tài hoa, “bay bướm, phóng khoáng” (Lê Quý Đôn), tác giả của tập thơ Ngọc tiên 玉鞭 (cái roi ngọc) Có thể nói, đến với thơ ca Huyền Quang, ta cùng lúc bắt gặp một con người ở nhiều
vị thế khác nhau, đa diện, đa chiều: một Thiền giả, một triết gia và hơn hết là một nghệ sĩ, nghệ sĩ của chính cuộc đời mình
Nổi bật lên trong số các nhà thơ Thiền Lý Trần nhờ sự ngộ cảm sâu xa và bản chất nghệ sĩ phóng khoáng, Huyền Quang đã trở thành mối quan tâm của nhiều thế hệ thi nhân – độc giả Từ những trước tác dân gian cho đến các nhà văn thuộc Ngô Gia văn phái, các Nho gia – thi sĩ như Lê Quý Đôn, Ninh Tốn, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Khuyến, … và cả các nhà nghiên cứu hiện đại như Nguyễn Phương Chi, Hoàng Công Khanh, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Lê Văn, Nguyễn Lang, Thích Phước An, Thích Minh Tuệ, … đều cố gắng phác họa một chân dung đích thực của Huyền Quang Tuy nhiên, thực sự chưa có một công trình nào đưa ra một cái nhìn khả dĩ có thể bao quát được các
Trang 3chiều kích trong nhân cách Huyền Quang, con người có một đạo nghiệp lừng lẫy, một thi nghiệp tài hoa và một cuộc đời đầy huyền thoại
Thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng đặt thơ ca Huyền Quang trong dòng văn học Thiền Lý Trần nói riêng, trong dòng văn học Thiền tông phương Đông nói chung với mong muốn có thể tiếp cận và lý giải các chiều kích ở con người và thi ca Huyền Quang trong mối tương quan với nhau Đặc biệt, qua đó có thể làm rõ những đóng góp đặc sắc riêng của Huyền Quang trong dòng thơ Thiền Lý Trần
Từ những thi phẩm thâm trầm của Huyền Quang, ta bắt gặp một tâm hồn luôn thành tâm kiếm tìm cái đẹp của hiện hữu trong cái nhìn minh triết của một triết gia và phong thái an nhiên tự tại của một thiền sư đạt đạo Với Huyền Quang, Thiền – cuộc sống – nghệ thuật chưa bao giờ có sự phân biệt Đó là con đường của Huyền Quang, con đường của Thiền và cái Đẹp
2 Lịch sử vấn đề
Gắn liền với hai triều đại Lý – Trần đỉnh cao của phong kiến Việt Nam, Thiền tông Việt Nam và đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm ngày càng được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Trong đó, Thiền sư Huyền Quang là Tổ sư thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm tất nhiên không thể không được đề cập Song, có lẽ do lượng tác phẩm của ông còn lưu giữ được đến ngày nay có hạn, không được dồi dào như lượng trước tác của Tổ thứ nhất Trần Nhân Tông, cho nên các nhà nghiên cứu thường gặp nhiều khó khăn trong việc khắc họa một chân dung đầy đủ của Huyền Quang – Thiền sư và Huyền Quang – con người 2.1 Tình hình nghiên cứu Huyền Quang trong nước
Trang 4Về tình hình nghiên cứu Huyền Quang của các học giả trong nước, phần lớn ở dạng một bộ phận nằm trong các chuyên khảo mà phạm vi nghiên cứu tương đối rộng Huyền Quang được đề cập đến trong hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến Phật giáo Việt Nam, Thiền học Việt Nam, văn học cổ điển Việt Nam, văn học chữ Nôm Việt Nam, Từ điển văn học… Về các công trình này Trần Thị Băng Thanh trong Huyền Quang - cuộc đời, thơ và đạo đã thống kê một cách khá đầy đủ 68 tác phẩm trong nước có đề cập đến Huyền Quang [43, tr.230-426] Nhìn chung, tác giả các công trình nghiên cứu này đều khẳng định vị trí quan trọng và Thiền học uyên thâm của Huyền Quang, khẳng định ông là một Thiền sư – thi sĩ nhưng hầu hết chưa đi vào nghiên cứu sâu một cách có hệ thống về Thiền học và thơ ca của ông
Ngô Thì Nhậm, học giả nổi tiếng của Ngô Gia văn phái trong Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh [18, tr.199], phần Hành trạng ba vị Tổ sư chỉ giới thiệu ngắn gọn về thân thế và cuộc đời Huyền Quang, còn lại dành phần lớn giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa 24 bàn thơ chữ Hán còn sót lại của ông, khẳng định thơ ông có tác dụng “di dưỡng tinh thần, âm điệu ý tứ đều rất trang nhã” [18, tr.200], không thấy đề cập đến thơ phú chữ Nôm
Dạng sách hoặc chuyên khảo về Huyền Quang nói chung không nhiều Gần đây, trong giới nghiên cứu, đặc biệt là có sự tham gia của các học giả xuất gia, xuất hiện một số công trình nghiên cứu mới về Huyền Quang Thích Phước
An trong bài viết Huyền Quang và con đường trầm lặng mùa thu [36, tr.48-52] đi sâu vào nghiên cứu khẳng định tiếng nói cảm thông, hóa giải nỗi thống khổ của kiếp người trong thơ ca Huyền Quang Thích Thanh Từ trong Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, chương viết về Huyền Quang [39, tr.523-631], đã tổng hợp về cuộc
Trang 5đời và thơ ca của ông, đồng thời đi vào giảng giải ý nghĩa của từng bài thơ khá chi tiết, nhưng đáng tiếc chưa chỉ ra đặc điểm và biểu hiện tư tưởng Thiền học của Huyền Quang, điều mà các công trình khác còn bỏ ngỏ hoặc chỉ nhắc đến một cách khái quát Cũng có thể vì mục đích giảng giải của tập sách nên tác giả chưa chú trọng đến khái quát thành các luận điểm cụ thể
Trong số các công trình nghiên cứu về Huyền Quang cho đến nay, đầy đủ nhất phải kể đến Huyền Quang, cuộc đời, thơ và Đạo [43] của tác giả Trần Thị Băng Thanh đã đề cập đến ở trên Như tựa đề của sách, tác giả tập trung khẳng định tư cách Thiền gia – Thi nhân của Huyền Quang và đi vào tổng hợp một cách đầy đủ và có hệ thống về con người, thời đại và thơ ca Huyền Quang, cũng như tập hợp các tác phẩm có liên quan đến ông Tác phẩm khẳng định: “Sau các
vị sáng lập, Huyền Quang vẫn là nhà Phật học lỗi lạc, có thể nói là nhà Phật học lỗi lạc nhất trong các học giả của núi Yên Tử lúc bấy giờ, là vị Tổ có công tích đối với dòng Thiền Trúc Lâm Và thêm nữa, đối với văn học Việt Nam ông cũng là một thi nhân đặc sắc, một gương mặt tiêu biểu đặc sắc của giai đoạn Lý Trần.”[43, tr.51] Tuy nhiên, tác giả dành phần lớn tập sách cho phần dịch, chú thích các bài thơ và sưu tầm các tác phẩm lấy cảm hứng từ Huyền Quang, niên biểu, thư mục, v.vv cho nên phần dành viết về thơ ca Huyền Quang chỉ vỏn vẹn 25/246 trang sách, tất nhiên chưa thể phác họa rõ nét diện mạo thơ ca ông
2.2 Tình hình nghiên cứu Huyền Quang ở nước ngoài
Về các nghiên cứu Huyền Quang của giới nghiên cứu nước ngoài, chủ yếu là trong giới nghiên cứu Hán học và Phật học Trung Quốc và Đài Loan, Huyền Quang cũng được không ít công trình đề cập đến, với tư cách là tổ thứ ba
Trang 6của Thiền phái Trúc Lâm và với tư cách là một nhà thơ cổ điển Có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó vào hai dạng như sau
Nghiên cứu Huyền Quang như một Tổ sư của Thiền phái Trúc Lâm:
- Phương Hoài Nhẫn (1994), Việt Nam Trúc Lâm phái Thiền tông sáng thủy nhân Trần Nhân tông đích Thiền học tư tưởng, Tạp chí Nghiên cứu Phật giáo, Sở nghiên cứu Phật học Đại học sư phạm Thiểm Tây, Trung Quốc, Tr 180~186
- Thích Thiện Nghị (biên dịch)(1988), Việt Nam Phật Giáo Sử Lược Thế giới
Phật học, quyển 57, NXB Hoa Vũ, Đài Bắc
- Thích Thanh Quyết (2001), Việt Nam Thiền Tơng Sử Luận, Viện nghiên cứu
khoa học xã hội Trung Quốc, Luận văn tiến sĩ, Bắc Kinh
- Thích Hành Tâm (2005), Lịch sử truyền thừa của Lâm Tế Thiền hệ tại Việt Nam,
Đại Học Sư Phạm Quốc Lập Đài Loan, Khoa Quốc văn, Luận văn thạc sĩ, Đài Bắc
- Lí Đạo Đức Hùng (biên tập) (2005), Đơng Nam Á Phật giáo khái thuyết, NXB
Đồ Thư, Đài Bắc
- Trương Đình Sĩ (2005), Lịch sử và hiện trạng Phật giáo Việt Nam, NXB Tân Á
Hương Cảng
- Đàm Chí Từ (2006) Chuyết Cơng hịa thượng người Mân Việt Nam và sự giao
lưu Phật Giáo Trung Việt thế kỉ VII, VIII, Đại học Tế Nam, hệ Trung văn, Luận
văn tiến sĩ, Tế Nam
- Thích Viên Nhã (2006), Nghiên cứu Trần Nhân Tơng và Thiền phái Trúc Lâm,
Đại Học Quốc Lập Đài Loan, Khoa lịch sử học, Luận văn thạc sĩ, Đài Bắc
Trang 7- Thích Quảng Lâm (2007), Nghiên cứu Trúc Lâm Thiền phái Triều Trần Việt
Nam, Đại học Tơng Giáo Phật Quang, Luận văn thạc sĩ, Đài Loan
- Giả Duy Khang (2007), Nghiên cứu Thiền phái Trúc Lâm triều Trần, Học viện
Ngoại ngữ nhân dân Quân giải phĩng Trung Quốc, Luận văn thạc sĩ
- Nguyễn Phúc Đức (2007), Nghiên cứu so sánh tư tưởng Thiền học và phương pháp tu hành của Huệ Năng Trung Quốc và Trúc Lâm Thiền phái Việt Nam,
Đại học sư phạm Đài Loan, Khoa giáo dục học, Luận văn Thạc sĩ, Đài Bắc Nói chung, các công trình nghiên cứu này tập trung tiếp cận Huyền Quang dưới góc độ một Thiền sư và bước đầu chú trọng phân tích đặc điểm tư tưởng Thiền của ông
Nghiên cứu thơ ca của Huyền Quang dưới góc độ thi sĩ:
- Mạnh Chiêu Nghị (1998), Thiền và Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam Hán thi,
Tạp chí khoa học Đại học Thiên Tân, Số 4/1998
- Chung Phùng Nghĩa (2002), Luận Việt Nam Lý triều Thiền thi, Tạp chí Nghiên cứu Phật giáo, Sở nghiên cứu Phật học Đại học sư phạm Thiểm Tây, Trung Quốc, tr 31~51
- Hà Thiên Niên (2003), Hình thành truyền thống Thơ ca cổ điển Việt Nam -
Nghiên cứu thi ca tiền Mạc, Đại học Trung văn Dương Châu, Luận văn tiến sĩ,
Dương Châu
- Tơn Sĩ Giác (2003), Nghiên cứu thơ Thiền cổ Việt Hán, Đại học Sư phạm Quảng
Tây, Hệ Trung văn, Luận văn thạc sĩ, Quảng Tây
- Tơn Sĩ Giác (2006), Thơ cổ Việt Hán sử thuật và văn bản tập khảo, Đại học Sư
phạm Hoa Trung, Hệ Trung văn, Luận văn tiến sĩ, Hoa Trung
Trang 8- Vu Tại Chiếu (2007), Nghiên cứu so sánh Thơ chữ Hán Việt Nam và thơ ca cổ
điển Trung Quốc, Học viện ngoại ngữ giải phĩng quân, Luận văn tiến sĩ
Nhìn chung, các tác giả chủ yếu đề cập đến Huyền Quang dưới góc độ một thi sĩ trong dòng thơ Thiền nói riêng và trong dòng thơ chữ Hán cổ điển Việt Nam nói chung Vì thế, trong mỗi công trình, số trang dành riêng bàn về thơ ca Huyền Quang đều không nhiều
Tóm lại, kế thừa thành tựu nghiên cứu của các bậc tiền bối, chúng tôi mong muốn có thể mở rộng hơn nữa phạm vi nghiên cứu về Huyền Quang trên cả ba phương diện Thiền sư, triết gia và thi sĩ để phác họa một chân dung toàn vẹn hơn về Huyền Quang, con người sinh ra trong dòng chảy lịch sử nhưng đã vượt qua dòng chảy lịch sử để sáng tạo nên một nhân cách lỗi lạc, từ bi, an nhiên tự tại, sống mãi trong ký ức người đời sau
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Theo sử sách ghi lại, trước tác của Huyền Quang khá nhiều, bao gồm thơ
ca và cả các sách giáo khoa kinh như Chư phẩm kinh, Công văn tập, Phổ Tuệ ngữ lục,… Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ còn lại tập thơ chữ Hán Ngọc tiên gồm 25 bài thơ và một bài phú chữ Nôm Vịnh Vân Yên tự Đề tài chủ yếu khảo sát thơ
ca Huyền Quang dựa trên các tư liệu này
Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến các huyền thoại xung quanh cuộc đời Huyền Quang và ghi chép trong các thư tịch Thiền, nhất là thơ văn và phẩm bình của các văn gia thi sĩ để có cái nhìn toàn diện và thấu đáo hơn
Thêm vào đó, như đã nói ở phần trên, chúng tôi tìm hiểu và cảm nghiệm thơ ca Huyền Quang trên góc độ khảo sát so sánh với tác phẩm của các nhà thơ
Trang 9Thiền Lý Trần đương thời, với nhà thơ Thiền Trung Hoa thời Đường - Thi Phật Vương Duy Thiền tông Việt Nam chịu ảnh hưởng không ít của Thiền tông Trung Hoa đời Đường Tống Đời Đường cũng là thời đại hoàng kim của thơ ca cổ điển Trung Hoa Thi Phật Vương Duy đã kết hợp một cách tuyệt vời cả hai nhân tố đó trong cuộc đời và thơ ca của mình, trở thành đại diện tiêu biểu nhất của hình tượng Thi nhân – Thiền gia Trung Hoa Chúng tôi đặt Huyền Quang bên cạnh Vương Duy, để hai con người, hai Thiền gia – Thi sĩ này cùng ánh chiếu lẫn nhau trong sự tương đồng và cả khác biệt, với mong muốn khắc họa rõ nét hơn cốt cách thơ và con người Huyền Quang
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
1 Phương pháp phân tích tổng hợp
2 Phương pháp so sánh
3 Phương pháp loại hình
4 Phương pháp hệ thống
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần chính: dẫn nhập, nội dung và kết luận
Phần Dẫn nhập gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc luận văn Phần Nội dung gồm có 3 chương:
Trang 10- Chương 1: Huyền Quang – con người, thời đại, thi ca Chương này chủ yếu khắc họa thân thế – sự nghiệp của Huyền Quang, thời đại mà ông sống và các tác phẩm thơ ca hiện còn lại của ông
- Chương 2: Thơ ca Huyền Quang, một Thiền giả – Triết gia – Nghệ sỹ Nội dung chính của chương này là đi vào phân tích chi tiết về con người Huyền Quang từ ba góc độ, một Thiền giả, một triết gia và một nghệ sỹ
- Chương 3: Huyền Quang, Thiền sư – Thi nhân và Vương Duy, Thi sĩ – Thiền
sư Chương này chủ yếu tập trung vào so sánh màu sắc Thiền và phong cách thi nhân thể hiện trong thơ Huyền Quang và thơ Vương Duy, nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa hai nhà thơ này
Phần Kết luận
Phần Phụ lục
- Thiền - Bản dịch từ Lời tựa sách Thiền học Trung Quốc Du Mai Ẩn 1984 Đài Bắc : Kim Lâm xuất bản, tr 1~ tr 19
Trang 111.1 Con người
1.1.1 Xuất thân huyền thoại – Hoạn lộ thung dung (1254 – 1350)
Huyền Quang (1254 – 1334), theo sách Tam tổ Thực lục [37], ông tên là Lý Tải Đạo, còn Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh thì cho rằng ông tên Lý Kiên Cương, tự là Thường Huệ, hiệu là Đạo Tải [43, tr.11] Tuy các ghi chép có chút sai khác, nhưng ông thường được biết đến với tên tục là Lý Đạo Tái, như ghi chép của Tam tổ Thực lục Ông là người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Bắc Giang, nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh Tổ tiên ông là Lý Ôn Hòa, quan hành khiển dưới triều Lý Thần Tông Cha ông là Lý Bích Tuệ, ham học, học vấn tinh thông, làm đến chức tri huyện Trường Tân, sau đó nghỉ hưu về nhà
Xuất thân từ một vùng đất văn vật của nước Việt, xứ Bắc quê ông vốn truyền bá đạo Phật từ rất sớm, trung tâm Phật giáo Luy Lâu1 (Thuận Thành, Bắc Ninh) sớm nhất trên đất Việt, trung tâm của Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi cũng nằm trên chính vùng đất xứ Bắc này, một vùng giao thông thủy bộ đều thuận lợi, hoạt động giao lưu văn hóa hết sức sống động với vô số những huyền thoại Đến thời Lý Trần, xứ Kinh Bắc trở thành vùng đất mà thế lực nhà chùa Phật giáo phát tích mạnh mẽ và trở thành thánh địa của Phật giáo Hầu hết các
vị sư danh tiếng đều xuất thân hoặc học đạo tại nay Như thế, với thân thế một
1 Luy Lâu là trung tâm Phật giáo sớm nhất tại Việt Nam, hình thành vào khoảng những năm đầu Công nguyên, với hệ thống Tứ Pháp – Man Nương: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Trung tâm Luy Lâu còn được cho là nơi trung chuyển Phật giáo Ấn Độ vào Trung Hoa thời bấy giờ
CON NGƯỜI – THỜI ĐẠI – THI CA
Trang 12nhân vật kiệt xuất của quê hương, Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, xuất thân của Huyền Quang cũng mang đâäm màu sắc huyền thoại, dân gian truyền rằng ông là thác sinh của Tôn giả A Nan
Tương truyền cha mẹ ông đường con cái muộn mằn nên lên chùa Ngọc Hoàng ở gần nhà cầu tự Sách Tam Tổ thực lục ghi lại: “Một hôm, Lê thị (mẹ Huyền Quang – tg) đến núi Chu Sơn hái thuốc, vừa tới chùa Ma Cô Tiên thì gặp lúc trời hè nắng gắt, bà liền đến nghỉ dưới bóng chùa Chợp mắt mơ màng, bà bỗng thấy một con khỉ lớn mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà Lê thị kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động, trở về thuật lại với một vị Tôn đức Vị này suy đoán: ném mặt trời vào bụng là điềm báo sẽ có thai Năm ấy, Tổ sinh ra, khi sinh có tia sáng mờ ảo, mùi hương thơm phức Người ta gọi đó là đứa hài đồng có mùi thơm thanh tịnh.” [37, tr.78]
Sự đản sinh đầy hào quang huyền thoại này là một ám dụ tiên báo cuộc đời Huyền Quang sẽ gắn với con đường hoằng dương Phật pháp Ngay cả tên hiệu của ông cũng mang màu sắc tôn giáo: Kiên Cương, Thường Huệ, Tải Đạo Mặc dù không thể không xét đến yếu tố thánh hóa các nhân vật lịch sử vốn thường thấy trong dân gian, song huyền thoại này cũng góp phần giải thích sự xuất hiện của một bậc vĩ nhân kiệt xuất trong lịch sử dân tộc
Ngay từ khi còn trong bụng mẹ đã được nuôi dưỡng bằng dòng sữa huyền thoại, khi lớn lên, cuộc đời và hành trạng của ông dường như cũng vẫn nhuốm đầy màu sắc huyền ảo ấy Nếu như thân thế hành trạng các vị tổ Trúc Lâm khác đều được ghi lại tương đối rõ ràng thì tiểu sử cuộc đời Huyền Quang khá mơ hồ Sách Tam tổ thực lục cho rằng ông làm quan khoảng 20 năm Phải đến năm 50 tuổi, ông mới chính thức xuất gia đầu Phật, và bắt đầu cuộc đời
Trang 13hành đạo kéo dài 30 năm Còn Tam tổ hành trạng thì cho rằng ông thi đỗ Trạng nguyên, song không chịu ra làm quan mà xin vua Trần cho xuất gia vào núi tu hành Về điểm này, văn bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng tại đền Trạng nguyên tại thôn Phúc Lộc, Vạn Tư, Gia Bình (xã Thái Bảo, Bắc Ninh) do ông phó bảng Nguyễn Phẩm viết vào năm Tự Đức 18 (1865) ghi chép: “Năm ông đỗ Trạng mới 21 tuổi, được Trần Thánh Tông kén làm phò mã, nhưng ông từ chối, chỉ nhận chức Thị nội văn hàn, từng đi sứ Trung Quốc Sau từ quan, đi tu
ở chùa Đức La.” [43, tr.25] Thích Thanh Quyết trong Việt Nam Thiền tông sử luận, phần viết về Huyền Quang lại không đề cập đến việc đỗ Trạng mà cho rằng: “Ông được tuyển vào cung làm quan, từng tiếp kiến sứ giả nhà Nguyên Trung Quốc Ông thông thạo thư tịch, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối mau lẹ như nước chảy, từng được vua Trần Nhân Tông (1258-1308) và sứ nhà Nguyên khen ngợi Sau khi làm quan hơn 20 năm, năm 51 tuổi (1305) ông xuất gia tu hành với sự dẫn dắt của Quốc sư Bão Phác.”[72, tr.107] Tác giả khẳng định ông làm quan trong suốt hơn 20 năm, và đặc biệt có tài ngoại giao, tiếp đãi các sứ thần Trung Hoa Vua cũng định gả công chúa Liễu Nữ, cháu của An Sinh Vương cho ông nhưng ông từ chối
Ngoài ra, dân gian còn ghi lại câu chuyện Huyền Quang khi ở làng gia cảnh khó khăn nên không ai giúp đỡ Đến khi ông đỗ Trạng nguyên, ra làm quan thì nhiều người đến nhận họ hàng, lại còn hứa gả con gái cho Cho nên trong dân gian còn truyền câu ca:
Khó khăn chẳng có ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên
Trang 14Câu chuyện mang đậm màu sắc dân gian, ở một góc độ nào đó cho thấy sự yêu quý của nhân dân đương thời với Huyền Quang Vì thực ra, nếu các ghi chép về gia thế của Huyền Quang là đúng, thì cha ông từng làm quan, học vấn rộng như vậy thì không có lẽ nào tuổi thơ ông lại lâm vào cảnh bần hàn không người nhòm ngó như thế Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận cũng có ghi chép về thời niên thiếu và việc đỗ trạng của Huyền Quang như sau: “Ông thể mạo kỳ dị, mà có chí khí của bậc vĩ nhân Cha mẹ ông rất yêu quý, dạy cho học văn chương Ông nghe một biết mười, có tài của Nhan Hồi Á Thánh, do đó ông được đặt tên là Tải Đạo Năm 20 tuổi ông thi Hương, năm sau đậu luôn thủ khoa kỳ thi Hội.”[21, tr.400]
Cho đến nay, quãng đời thế tục của ông vẫn là đề tài còn nhiều tranh luận Ông có từng đỗ trạng, làm quan, đi sứ hay đã sớm lui về sống ẩn dật? Ngay cả hành trạng của ông khi đã chính thức bước chân vào cửa Thiền cũng chỉ được ghi lại một cách giản lược Song, phần lớn các tài liệu khẳng định việc ông đỗ trạng nguyên và ra làm quan, đến năm 50 tuổi mới xuất gia đầu Phật, còn việc cho rằng ông không ra làm quan mà đi ẩn tu và cả câu chuyện dân gian về thời thơ ấu bần hàn có lẽ là do người đời sau muốn nhấn mạnh phẩm khí của ông mà truyền tụng như thế chăng
Huyền Quang, với sự ra đời đầy hào quang huyền thoại Phật giáo, với quãng đời gần 30 năm làm quan trong triều, được tiếp xúc và học tập với những tinh hoa trí thức, đồng thời là tinh hoa Phật pháp của thời bấy giờ như hoàng đế Trần Nhân Tông, quốc sư Bão Phác, dường như đã được chuẩn bị hết sức toàn vẹn để bước vào con đường Thiền, để trở thành vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm
Trang 151.1.2 Tu hành đắc đạo – Nhập thế hành Thiền (1305 - 1334)
Cuộc đời tu Thiền của Huyền Quang đã tạo nên một đạo nghiệp lừng lẫy Trong Phật giới Thiền học, ông được ghi nhận là có đức độ của bậc thần tăng trác việt, chứng nhập sâu xa đạo pháp, trí tuệ uyên bác, văn chương xuất chúng Theo Tam tổ Thực lục thì Huyền Quang xuất gia vào năm 1305, là học trò của Quốc sư Bão Phác tại chùa Vũ Ninh, khi đó Trần Nhân Tông (1258-1308) đã xuất gia và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm được hơn 8 năm (từ 1297) Đến năm
1306, ông gặp lại đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông調御覺皇陳仁
宗,Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Điều Ngự rất vui khi gặp lại ông trong màu áo Thiền, người còn mừng hơn nữa khi nhận thấy ông là người có con mắt đạo nên yêu cầu ông theo phụ tá Thiền sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương 法螺同
堅剛 (1284-1330) Sau đó, Điều Ngự cũng nhiều lần giao cho Huyền Quang soạn các tác phẩm giáo khoa Thiền như :
- Chư phẩm kinh: tuyển tập những phẩm kinh thiết yếu và thực dụng
- Công văn tập: tuyển tập những bài văn sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo
- Thích giáo khoa: tập sách giáo khoa về đạo Phật
để phục vụ việc truyền bá Thiền pháp Điều Ngự rất hài lòng với các trước tác của Huyền Quang, khi đọc xong bản thảo Chư phẩm kinh và Công văn tập, Tổ ngự bút phê như sau: “ Các kinh sách nhà Phật từng qua tay Huyền Quang thì một chữ không thể thêm, một chữ không thể bớt.”[21, tr.406] Có thể thấy, Điều Ngự rất tín nhiệm vốn Thiền học của Huyền Quang Nhưng tiếc thay, những trước tác này đều không còn sau bao biến thiên của lịch sử, khiến chúng ta
Trang 16không được thưởng thức vốn học rộng biết nhiều và nhất là Thiền học uyên thâm của ông
Ngoài ra, ông cũng nhiều lần được Điều Ngự khai thị và ưu ái đưa ông theo bước vân du truyền đạo của Tổ, nhiều lần cho ông ngồi lên tòa sen Trầm Hương của Ngài để giảng kinh cho đệ tử Sau đó ông được lập làm trụ trì chùa Vân Yên núi Yên Tử Mến phục sức học quảng bác của ông, tăng ni theo về học đạo có đến khoảng 1000 người Có lẽ chính trong thời gian này ông đã sáng tác bài phú chữ Nôm Vịnh Hoa Yên tự
Năm 1308, Điều Ngự viên tịch, Pháp Loa kế tục trở thành vị Tổ sư thứ hai, lãnh đạo Thiền phái Trúc Lâm trong suốt 22 năm (1308 – 1330) Trong suốt thời gian này, Huyền Quang trở thành phụ tá cho Pháp Loa trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp lẫy lừng của vị Tổ thứ hai này2
Năm 1313, ngày rằm tháng giêng âm lịch, ông về làng Vạn Tải quê ông để thăm cha mẹ Lúc đó ông đã hơn 60 tuổi, cha mẹ đã già yếu Muốn gần gũi cha mẹ trong một thời gian, ông liền lập một ngôi chùa ngay trong làng, sát mé tây nhà cha mẹ ông, đặt tên là chùa Đại Bi Nghe tin ông lập chùa, nhiều người
ở kinh đô theo về bái Phật Ngày khánh thành chùa, ông mở pháp hội lớn, mời chư tăng bốn phương về tham dự Hàng ngàn người tham gia pháp hội tổ chức trong bảy ngày bảy đêm Những vật phẩm và tiền bạc do Phật tử cúng dường, ông đem ra phát tặng cho người nghèo Sau đó, ông lại trở về chùa Vân Yên núi Yên Tử Cho đến tận ngày nay, nhân dân xứ Kinh Bắc hàng năm vào ngày 23 tháng giêng (ngày mất của sư) vẫn tụ về ngôi chùa xưa để tưởng nhớ đến vị Tổ
2 Theo sử sách ghi chép, Thiền phái Trúc Lâm dưới sự lãnh đạo của Tổ Pháp Loa đạt đến đỉnh cao hưng thịnh, hàng trăm ngôi chùa được xây dựng, mỗi năm đều tổ chức nhiều lần pháp hội, truyền bá giáo lý Thiền đến đông đảo tăng ni Phật tử
Trang 17sư Trong lòng nhân dân, Huyền Quang thật sự là một vị Tổ sư đại đức, được dân gian đời đời mến mộ và tôn vinh
Năm 1317, Tổ Pháp Loa lâm trọng bệnh, bèn đem y bát và tâm kệ ra truyền cho Huyền Quang làm Tổ thứ ba Thiền Trúc Lâm, nhưng sau đó Pháp Loa dần bình phục, Huyền Quang bèn từ chối sự phú phúc đó Lần thứ 2, năm
1330 tháng 2, Pháp Loa lại trở bệnh nặng, đem y bát và tâm kệ truyền lại cho ông gìn giữ, sau đó Pháp Loa viên tịch Ông kế tục Pháp Loa lãnh đạo Thiền phái Trúc Lâm trong 4 năm Ông nhập tịch ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) tại chùa Côn Sơn, thọ 80 tuổi Vua Trần Minh Tông ban tên thụy cho ông là “Trúc Lâm Thiền sư đệ tam tổ”, phong là “Tự pháp Huyền Quang tôn giả”
Như vậy, quãng đời hành đạo của Huyền Quang tròn 30 năm, trong đó có đến hơn 22 năm ông phò tá Pháp Loa, 4 năm chính thức lãnh đạo Thiền phái Ông mất, ngọn đèn Tổ cũng tắt theo, không có người truyền nối Tuy nhiên, Thiền tông vẫn tồn tại nhưng phát triển trong lặng lẽ để đến thế kỷ XVIII lại được phục hưng và có những thành tựu mới
Có thể nói, cuộc đời 80 năm trải mình trong cõi thế của Huyền Quang là một cuộc đời lừng lẫy Cho dù tư liệu lịch sử chính xác còn lưu lại đến ngày nay không nhiều, song có thể nói Huyền Quang bằng những trải nghiệm trong cuộc thế suốt 50 năm, đã thấu hiểu bản chất buồn vui sướng khổ của cuộc đời, cho nên khi bước vào cửa Thiền, ông đã trở thành nhà Thiền học lỗi lạc hiếm có thời bấy giờ, là vị Tổ có công tích đối với dòng Thiền Trúc Lâm
Trang 181.2 Thời đại
1.2.1 Lý Trần – thời đại phục hưng văn hóa dân tộc
Thời đại Lý Trần (1009 – 1440) là là thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam Thời Lý (1009 – 1225) bắt đầu từ năm 1009 khi Lý Công Uẩn lên ngôi tháng 10 năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ trong tay nhà Tiền Lê và kết thúc năm 1225 khi vua Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm Quốc hiệu Đại Việt của Việt Nam có từ năm 1054 khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi Thời Trần (1225 – 1440) bắt đầu khi vua Thái Tông Trần Cảnh lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới 5 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly, tổng cộng là 175 năm
Hơn bốn thế kỷ lịch sử sôi động của một quốc gia non trẻ ở phương Nam vừa mới thoát khỏi sự thống trị của phong kiến phương Bắc và mang trên mình sứ mệnh phát triển toàn diện văn hóa – tư tưởng – chính trị – ngoại giao – quân sự đã đặt nền tảng cho sự phát triển nhiều thế kỷ về sau của cả dân tộc Nhà nước non trẻ đã có công lớn khi ra một quyết định chiến lược là dời đô từ Hoa Lư hẻo lánh hiểm trở ra Đại La, điểm trung tâm của đất nước, rồi mượn hình tượng rồng bay khẳng định lại một lần nữa nguồn gốc con Rồng cháu Tiên, đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long Sau đó đổi tên nước Đại Cồ Việt thành Đại Việt, trang trọng và kiêu hãnh, cũng là một cách khẳng định đất nước trong thế độc lập với đế quốc Trung Hoa phương Bắc Luật pháp, ngoại giao, quân sự, giáo dục - thi cử, kiến trúc, nghệ thuật, kinh tế thời Lý Trần đều có những thành tựu lớn lao Triều Lý đã lãnh đạo nhân dân chống quân Tống xâm lược thắng lợi
Trang 19năm 1075, thậm chí vị anh hùng Lý Thường Kiệt còn chỉ huy quân đội đánh sang Ung Châu, nơi tập trung binh mã chuẩn bị xâm lược nước ta của nhà Tống Năm
1258, 1275 và 1277-1278 triều Trần lại lãnh đạo nhân dân ba lần đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc hùng mạnh Nguyên Mông, đe dọa sự tồn vong của dân tộc
Thời đại đầy biến động đòi hỏi nhiều lần phải dùng đến vũ lực để đánh ngoại xâm, dẹp nội loạn, nhưng giá trị được dân tộc ta đề cao hơn hết lại là tinh thần nhân văn nhân đạo từ bi mang đậm màu sắc Phật giáo Ngay từ triều Lý, Phật giáo đã cực kỳ hưng thịnh, Đại Việt sử ký toàn thư chép:
“Năm 1010, mùa thu, tháng 7, vua [Lý Thái Tổ] từ thành Hoa Lư, dời đơ ra kinh phủ ở thành Đại La Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở đều dựng bia ghi cơng Lại ở trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên Ngồi thành về phía nam dựng chùa Thắng Nghiêm Tháng 12, phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc chuơng lớn, treo ở chùa Đại Giáo Năm 1011, bên hữu dựng chùa Vạn Tuế Ngồi thành dựng chùa Tứ Đại Thiên Vương và các chùa Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ Năm 1014, mùa thu, tháng 9, xuống chiếu phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuơng treo ở chùa Hưng Thiên, tháng 10, xuống chiếu phát trăm lạng bạc trong kho để đúc hai quả chuơng treo ở chùa Thắng Nghiêm Năm
1016, độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tơ bốn pho tượng Thiên Đế Năm 1018, mùa hạ, tháng 6, sai Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng Năm 1019, xuống chiếu độ dân trong nước làm tăng Năm 1021, làm nhà Bát giác chứa kinh Năm 1024, mùa thu, tháng 9,
Trang 20làm chùa Chân Giáo ở trong thành để vua tiện ngự xem tụng kinh.” [72,
tr.125]
Các đời vua về sau tiếp tục tích cực ủng hộ việc chép kinh, đúc chuông, tạc tượng, xây chùa Phật giáo trở thành quốc đạo và phát triển tới mức “nhân dân quá nửa là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền” (Lê Văn Hưu) Đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam – cũng là đỉnh cao tinh thần dân tộc thời Lý Trần là sự hình thành và hưng thịnh của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà Huyền Quang là Tổ sư thứ ba
Thời đại Lý Trần là thời đại phóng khoáng và hào sảng Tinh thần tam giáo đồng nguyên cùng với tinh thần hòa quang đồng trần đã mở ra một thời kì văn hóa rực rỡ trong lịch sử dân tộc Văn hóa Phật giáo tôn trọng tự do của con người Trong không khí văn hóa ấy, con người mở ra bốn hướng với tâm hồn bao dung rộng lớn, đầy sức sáng tạo Vì thế, con người của nền văn hóa Thiền là con người đa diện đa chiều, hiền minh, phóng khoáng Ba thế kỉ thời Lý Trần đã sản sinh cho dân tộc biết bao tên tuổi lừng lẫy ở nhiều phương diện: giữ nước, dựng nước, văn chương học thuật và cả trong phương diện tâm linh Huyền Quang là một trong những kết tinh tiêu biểu của truyền thống văn hóa ấy
1.2.2 Thiền phái Trúc Lâm
Mạch phát triển chủ đạo của Phật giáo Việt Nam là Thiền tông Thêm vào đó là sự ủng hộ nhiệt tình của các vương triều Lý - Trần, Thiền tông Việt Nam phát triển lên đến thời kỳ hoàng kim mà đỉnh cao là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Vị Hoàng đế xuất gia Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm năm Đinh Dậu 1297, và dốc sức dốc lòng hoằng dương Phật pháp Đây là một bước
Trang 21ngoặt lớn trong dòng phát triển của Thiền tông Việt Nam, thống nhất tư tưởng các hệ phái Thiền Trung Quốc truyền vào nước ta từ trước, tạo nên hệ Thiền mang đặc điểm riêng của Việt Nam Thiền Trung Quốc truyền vào nước ta chủ yếu thuộc dòng Thiền Nam tông do Tổ Huệ Năng khởi xướng, chủ trương “đốn ngộ”, đối lập với hệ Thiền Bắc tông của Thần Tú, chủ trương “tiệm ngộ” Phổ hệ truyền thừa cụ thể từ Thiền tông Trung Hoa sang Thiền Trúc Lâm Yên Tử có thể khái quát như sơ đồ hình 1 và 2
Trang 22Hình 1: Phổ hệ truyền thừa Thiền tông Trung Hoa [72:46]
Trang 23Hình 2: Sơ đồ truyền thừa từ Thiền Nam tông đến Thiền Trúc Lâm [72, tr.71]
Về tư tưởng, Thiền Trúc Lâm chủ yếu kế thừa tư tưởng của hệ Thiền Vô Ngôn Thông, lấy tư tưởng của Lâm Tế tông, một trong 5 tông Thiền chủ yếu đời Đường Trung Quốc làm trung tâm, cho rằng Phật pháp cũng chính là “Đạo” của Lão Trang, cũng chính là “Trung dung” của Khổng Tử, vì thế chủ trương tinh thần “nhập thế”, Phật pháp không xa rời thế gian Thiền Trúc Lâm chủ trương tọa Thiền và tham khảo phương pháp hỏi đáp “tham thoại đầu” của Lâm Tế
Trang 24tông để truyền đạo, cho rằng “tâm tức thị Phật”, Phật chính ở trong tâm của chúng sinh [60, tr.76-81] Sơ tổ Trần Nhân Tông đã kết hợp tư tưởng Thiền Nam tông, đặc biệt là Lâm Tế tông và kế thừa tư tưởng Thiền học của Trần Thái Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, chủ trương nhập thế hành Thiền, kết hợp “tam giáo đồng nguyên”3, tạo nên đặc sắc Thiền Việt Nam
Tư tưởng Thiền Trúc Lâm có thể khái quát thành 4 điểm chính sau:
- Dung hợp tư tưởng của “Bát Nhã kinh”, “Kim Cương kinh”, “Viên giác kinh”
- Chủ trương “tức tâm tức Phật”:
- Quan niệm về “vô niệm”, “vô trụ”, “vô tướng”:
- Tinh thần nhập thế - hòa quang đồng trần
Nghiên cứu tư tưởng Thiền Trúc Lâm và Thiền Nam tông Trung Hoa, có thể đúc rút những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ phái Thiền này như sau:
3 Tam giáo: Nho, Phật, Lão
Trang 25Thiền
phái Thiền Nam tông Thiền Trúc Lâm
Tương đồng / Khác biệt
1 Lấy tư tưởng của “kinh
Bát Nhã” và “kinh Kim
Cương” làm tư tưởng căn
bản của Thiền, thay thế tư
tưởng “kinh Lăng già” của
Tổ Đạt Ma thời kỳ đầu từ
Ấn Độ truyền vào
1 Lấy tư tưởng “Bát Nhã kinh”, “Kim Cương kinh” và “Viên Giác kinh” làm tư tưởng căn bản Đồng thời, khôi phục tư tưởng “kinh Lăng già”4 của Tổ Đạt
Ma
2 Đề cao tư tưởng “vô
niệm”, “vô tướng”, “vô
trụ”, chú trọng “kiến tính
thành Phật” Chủ trương
quan niệm “bất nhị pháp
môn” và “không tính” của
Thiền
2 Đề cao tư tưởng “tức Phật tức tâm” Chú trọng pháp “duyên khởi” và “vô niệm” của tư tưởng “sắc không”, “sinh diệt”
3 Coi trọng tư tưởng “Phật
pháp không xa rời thế
gian” và “tinh thần nhập
thế”
3 Đề cao tư tưởng tiêu dao tự tại “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”
Tương đồng
4 Không coi trọng thành
lập các Thiền viện
4 Coi trọng xây dựng các Thiền viện, Thiền học hàn lâm
5 Thiền pháp dành cho
giai cấp bình dân trong xã
hội
5 Tuy chủ trương Thiền học hàn lâm, song cũng rất chú trọng truyền bá Thiền pháp cho đông đảo dân chúng
Tương đồng trong sự khác biệt
Hình 2: So sánh tư tưởng Thiền Nam tông và Thiền Trúc Lâm
4 Kinh Lăng Già, tiếng Phạn là Lavkavatarasutra Tên đầy đủ là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh Là
quyển thứ 16 trong Đại Chính Tạng kinh Lăng Già là tên một ngọn núi Tư tưởng chủ yếu của kinh Lăng Già cho rằng mọi sự hiện hữu trong thế giới đều do tâm tạo nên, mọi đối tượng nhận thức của chúng ta đều không tồn tại trong thế giới mà chính ở trong tâm ta Bộ kinh kết hợp tư tưởng Như Lai tạng và duy thức A Lại Đa thức, tiêu biểu cho kinh điển Phật giáo Đại Thừa Ấn Độ Kinh Lăng Già nhấn mạnh cái gốc của sự mê ngộ là do chưa hiểu được mọi pháp đều là sự hiện hữu của tự tâm, vì thế nếu giác ngộ được bổn tính của ý thức, không còn chấp trước sự đối lập của có và không, thì có thể lĩnh hội được bản chất vô sai biệt của thế giới (theo Phật Quang Đại Từ điển, bản điện tử)
Trang 26Về cơ bản, tư tưởng Thiền học của Sơ tổ Trần Nhân Tông và Nhị tổ Pháp Loa là hệ kế thừa thống nhất, nhưng Thiền học của Tam tổ Huyền Quang có những điểm tương đối khác với hai vị trước Chúng tôi sẽ đi vào phân tích cụ thể trong chương 2
Về phương pháp tu Thiền, Trúc Lâm lấy “giác ngộ” làm mục đích tu tập chính yếu, lấy “Thiền luật hợp nhất” làm phương pháp tu tập chủ đạo, kết hợp với niệm Phật pháp môn của Tịnh Độ tông tạo nên nét đặc sắc “Thiền Tịnh song
tu”, vận dụng một cách có hiệu quả phương pháp hỏi đáp “tham thoại đầu” và phép “tọa Thiền” Ngoài ra, “hình thức văn chương” cũng là nét đặc sắc của Thiền Trúc Lâm, rất nhiều tư tưởng Thiền được các Thiền sư văn chương hóa dưới dạng những bài kệ đầy chất thơ để khai ngộ cho đệ tử Thiền sư đồng thời cũng là thi nhân, mà tiêu biểu nhất là Trúc Lâm Tam tổ Huyền Quang với phong cách thơ khoáng đạt, tiêu dao, tự tại
1.3 Thơ ca
Có lẽ sinh thời Huyền Quang sáng tác khá nhiều, vì các sách sử đều ghi nhận tài văn chương xuất chúng của ông Lê Quí Đôn – Phan Huy Chú khen thơ ông “ý tinh tế cao siêu”, “lời bay bướm, phóng khoáng” Tuy nhiên, vì nhiều lý
do, thơ phú của ông nay chỉ còn lưu lại 25 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú chữ Nôm:
Vịnh Vân Yên tự
Vấn đề văn bản học thơ Huyền Quang hiện nay vẫn còn chưa thống nhất Bên cạnh một số dị biệt về câu chữ, bài thơ Xuân nhật tức sự của ông cũng được coi là mượn của một nhà thơ Trung Quốc Tuy nhiên, truyền thống nhà Thiền cho rằng khi đã dùng thì thành của mình vì mỗi lần nhắc lại là một lần khởi phát
Trang 27những ý nghĩa mới, cho nên nếu bài thơ đã được ghi nhận là của Huyền Quang thì không thể không phản ánh một phần tâm tư tình cảm của ông
Có thể nói, chính vì phong cách thi nhân khoáng đạt, tự do tự tại mà cuộc đời Huyền Quang phủ đầy huyền thoại Quả thật chưa có thiền sư thời Lý Trần nào lại gắn liền với nhiều huyền thoại như ông, tiêu biểu như sự tương truyền ông là thác sinh của tôn giả A Nan đã đề cập ở phần trước và câu chuyện nổi tiếng về nàng Điểm Bích Vua Trần Anh Tông vốn yêu quý Huyền Quang đạo cao đức trọng, lúc đó đã về trụ trì chùa Vân Yên núi Yên Tử, và có ban cho sư một dật vàng Nhưng sau đó, vua bỗng hoài nghi không tin rằng con người có thể hoàn toàn từ bỏ công danh và những dục vọng của đời để toàn tâm với việc tu hành nơi rừng núi thâm sâu Vua bèn sai một cung phi xinh đẹp, lanh lợi của mình là nàng Điểm Bích giả trang lên núi để thử lòng sư Nàng Bích đến Yên Tử, giả dạng cô gái nghèo mồ côi đến xin tá túc tại chùa Thời gian giao hẹn với vua đã đến gần, không làm sao quyến rũ được sư bèn đặt ra câu chuyện đáng thương của mình nhằm đọâng đến lòng trắc ẩn của sư, lấy được dật vàng vua ban đem về cho Trần Anh Tông, đồng thời đặt ra bài thơ chữ Nôm hữu tình, nói là do sư làm:
Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngân sênh Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ Màu Thích ca nào thưở hữu tình
Vua nhận được dật vàng trước kia ban tặng Huyền Quang tất nhiên trong lòng không vui, bèn mở pháp hội mời Huyền Quang về chủ trì, đồ tế lễ bày thịt rượu lẫn trong hoa quả chay tịnh và đàn tế trang trí bằng lụa vàng5 Huyền
5 Lụa vàng chữ Hán là Hoàng quyên, nói lái thì thành Huyền Quang
Trang 28Quang về đến nơi, lên đàn tế lễ thì lập tức rượu thịt lụa vàng đều bị gió cuốn bay
đi hết, chứng nghiệm lòng trong sạch của Thiền sư
Nhiều học giả nghi ngờ tính xác thực của câu chuyện trên, nó cũng không được ghi chép trong các thư tịch Thiền chính thức nào Tuy nhiên, vượt qua những nghi vấn, ở một góc độ nào đó, câu chuyện cho thấy một phần phong cách thi nhân hữu tình của Huyền Quang Và hơn thế nữa, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách hơn người Một con người uyên bác sắc sảo như Huyền Quang lẽ nào lại không nhìn ra câu chuyện hoang đường của Điểm Bích khi nàng muốn có được dật vàng của ông Nhưng người vẫn đưa vàng cho nàng Bích, để cứu cô gái này khỏi tội không hoàn thành việc vua giao Biết mà vẫn giúp người, đó là hành động của con người có bản lĩnh văn hóa cao cả
Về thơ ca của Huyền Quang, các nhà nghiên cứu đều khẳng định giá trị và
phong cách đặc biệt của thơ ông Tơn Sĩ Giác trong Nghiên cứu thơ Thiền cổ Việt
Hán khẳng định thơ ông phản ánh cảnh giới tu Thiền và thậm chí có những tác phẩm trữ tình khó có thể cho là do một Thiền sư viết nên.[75:32] Giả Duy
Khang trong Nghiên cứu Thiền phái Trúc Lâm triều Trần thì nhận xét: “Huyền Quang giỏi Phật học nhưng thơ của ông bình dị, ít nặêng nề danh từ Phật giáo Tuy vậy, tính cách đạt ngộ thanh thoát vẫn bàng bạc trong thơ ông”[53:44]
Tiểu kết
Mỗi thời đại sẽ sản sinh ra con người tiêu biểu cho thời đại đó Có nhiều cách để xây dựng một xã hội vững mạnh, đất nước phồn vinh thái hòa Đó có thể là xã hội lấy tôn ti trật tự, lấy kỷ cương làm giềng mối quốc gia Đó cũng có thể là lấy tự do tâm hồn, lấy bản lĩnh và sức mạnh tâm hồn của con người làm
Trang 29trụ cột tinh thần của đất nước Khi xã hội lấy kỷ cương làm gốc, xã hội sẽ trở nên trật tự thái hòa nhưng bản lĩnh của con người thời đại không thể hiện một cách rõ nét Triều Hậu Lê của Việt Nam với nền tảng tinh thần là kỷ cương, giềng mối của của Nho gia đã đưa đất nước Việt phong kiến đạt tới đỉnh cao hưng thịnh nhất, nhưng không thể hiện rõ bản lĩnh của con người thời Lê Có thể kể đến bản lĩnh của vị hoàng đế lỗi lạc Lê Thánh Tông, tuy nhiên đó là con người mang bản lĩnh cá nhân mình bao trùm lên cả thời đại, chứ vẫn chưa phải là tiêu biểu cho bản lĩnh chung của con người Việt thời đó Còn thời đại Lý Trần, đặc biệt là thời Trần, với nền tảng là triết lý của đạo Phật Thiền tông, đã lấy sức mạnh của cái tâm làm gốc, tôn trọng tự do tinh thần của con người Thiền là tự
do, con người có thể thể hiện sự tự do của mình, không phải sự tự do vô tổ chức mà là tự do có trách nhiệm Vì thế, thời đại Lý Trần mới có thể sản sinh ra những con người lỗi lạc như Tuệ Trung, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, những con người đầy bản lĩnh, lấy sức mạnh tự do của cái tâm để tu dưỡng tinh thần, và quan trọng hơn là phục vụ đất nước, vì hạnh phúc an lạc của muôn dân
Con người và cuộc đời của Huyền Quang là một trong những kết tinh đẹp nhất của bản lĩnh con người thời đại Lý Trần Ông đã sống một đời sống tinh thần minh triết, an lạc và đóng góp lớn vào sự hưng thịnh của Thiền phái Trúc Lâm Tuy nhiên, sau khi ông kế thừa Pháp Loa trở thành Tổ thứ ba của Thiền Trúc Lâm thì thiền phái cũng dần đi vào suy thoái Có người cho rằng ông là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đó Thực ra, phát triển đến đỉnh cao rồi đi vào suy thoái, hiện tượng này kế tiếp hiện tượng kia, con sóng này tiếp theo con sóng khác là quy luật muôn đời, không sự vật hiện tượng nào nằm ngoài quy luật này cả Thiền Trúc Lâm phát triển đến Huyền Quang là đạt
Trang 30đến đỉnh cao rồi, cho nên sự suy thoái sau đó là điều hoàn toàn có thể lý giải Hơn nữa, chính quyền thời kỳ này ngày càng coi trọng Nho giáo, lấy sức mạnh của kỷ cương trật tự làm gốc chứ không phải lấy sức mạnh tinh thần làm gốc như thời kỳ trước đó nữa, thì thiền Trúc Lâm, đỉnh cao của chữ tâm và tự do tinh thần dần đi vào suy thoái cũng là điều dễ hiểu Nguyên nhân vận động nội tại kết hợp với tác động của cả xu thế xã hội bên ngoài là nhân tố chủ yếu dẫn đến sự mai một của Thiền Trúc Lâm, đó không phải là điều mà một cá nhân Huyền Quang có thể đi ngược lại quy luật của phát triển Huyền Quang có lẽ nhận thức tường tận xu hướng tất yếu đó, hơn nữa tuổi tác đã cao, nên về cuối đời ông thường giao cho quốc sư An Tâm chủ trì công việc
Thời đại tôn trọng tự do tinh thần, lấy sức mạnh của cái tâm làm căn gốc của toàn xã hội đã sản sinh ra một Huyền Quang đầy bản lĩnh trong đời sống tinh thần cá nhân, trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp và cả trong thế giới tự
do sáng tạo của văn chương nghệ thuật Bản lĩnh vĩ đại đó của Huyền Quang là kết tinh sáng ngời của thời đại Lý Trần, một giai đoạn lịch sử tuyệt đẹp không dễ gì lặp lại
Trang 31Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều nền văn minh, văn hóa Có những thời kỳ huy hoàng rạng rỡ như thời đại văn hóa Phục Hưng phương Tây, và cũng có những thời kỳ tăm tối chẳng hạn như thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc Con người của nền văn hóa tối là con người một chiều, cuồng tín, tư tưởng của một cá nhân duy nhất áp đặt lên cả thời đại, con người không có sự tự do tự thân mà ngược lại là sự tin tưởng tuyệt đối vào một thế lực tinh thần nào đó Ngược lại, con người của nền văn hóa sáng là con người của nhiều chiều kích khác nhau, con người tự do rộng mở ra bốn phương tám hướng Tâm hồn bao dung rộng lớn ấy là nguồn gốc của những sáng tạo văn hóa kỳ tuyệt Văn hóa Phục hưng và văn hóa Thiền là tiêu biểu cho nền văn hóa rạng rỡ đa chiều kích ấy Chẳng thế mà nền văn hóa Phục hưng có thể sản sinh ra nhưng con người vĩ đại như Rabelai, L Da Vinci, Cervantes … , những con người vừa là nghệ sỹ, vừa là chiến binh, kiến trúc sư …, mà phương diện nào cũng hết sức thành công Chẳng thế mà thời đại Thiền Lý Trần đã sản sinh ra những con người như Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, những con người vừa có thể là hoàng đế, vừa là thiền sư, vừa là nghệ sỹ Trong đó, Huyền Quang tôn giả nổi bật lên với sự dung hòa tuyệt vời giữa một Thiền sư, một triết gia và một nghệ sỹ
MỘT THIỀN GIẢ – TRIẾT GIA – NGHỆ SỸ
Trang 322.1 Thơ ca Huyền Quang – những kinh nghiệm tâm linh của một Thiền giả
Huyền Quang tôn giả trước hết là một Thiền sư lỗi lạc trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Thiền về bản chất là tự do, và đỉnh cao của sự giác ngộ tự do Thiền chính là một bản lĩnh sống an nhiên tự tại giữa cuộc đời Niềm an nhiên tự tại ấy được ông hòa quyện nhuần nhuyễn trong sáng tạo nghệ thuật, trở thành một trong những nét đặc sắc chủ đạo của thơ Huyền Quang Những kinh nghiệm tâm linh đậm chất Thiền được thể hiện nổi bật ở ba phương diện: cảm thức giải thoát, thiên nhiên Phật – cõi vô tâm và cảm quan huyễn mộng
2.1.1 “Quên” – Cảm thức giải thoát
Cảm giác giải thoát thường hiện diện trong thơ ông Con người vẫn sống giữa cuộc thế nhưng với một niềm hoan lạc thầm kín, an nhiên tự tại, kết đọng trong những khoảnh khắc “quên” thần diệu, khi con người đạt được trọn vẹn cái hạnh phúc tự nhiên, tự tại của cuộc sống
Giải trừ phiền não trong cuộc sống là một trong những cứu cánh của đạo Phật, tu Thiền cũng không nằm ngoài mục đích đó Phật chỉ cho chúng sinh thấy rõ gốc gác căn bản của phiền não khổ đau chính là sự “vô minh” của con người
“Vô minh” tức là không sáng suốt, vì thế mà không nhìn ra được bản chất của hết thảy sự vật hiện tượng trong cuộc sống này là vô thường, bất cứ một sự vật hiện tượng nào đều không thể thoát khỏi quy luật “thành, trụ, hoại, không”6 Con người vì chấp vào sự biến đổi, mất đi của những điều tốt đẹp đó mà sinh ra
ưu phiền đau khổ Còn Thiền sư, một khi đã lĩnh ngộ được bản chất biến đổi
6 Tức là “hình thành, tồn tại, mất đi, trở thành hư không”, theo quan niệm của nhà Phật, vạn vật trong thế giới này đều phải tuân theo quy luật trên, không có bất kì sự vật hiện tượng nào có thể thường trụ (tồn tại mãi mãi), sự hằng thường duy nhất đó chính là vô thường (theo Phật Quang đại từ điển, bản điện tử)
Trang 33khođng ngöøng ñoù cụa ván vaôt, nghóa laø bieât chaâp nhaôn söï sinh ra, toăn tái, bieân ñoơi, maât ñi cụa mói söï vaôt hieôn töôïng trong cuoôc soâng moôt caùch an nhieđn töï tái, thì cuõng chính laø ñaõ thoaùt ra khoûi chaâp tröôùc, giại thoaùt mình ra khoûi söï phieăn naõo ñôøi thöôøng
Trong thô Huyeăn Quang, ođng theơ hieôn söï giại thoaùt cụa mình baỉng caùch trôû veă vôùi thieđn nhieđn Söï trôû veă vôùi thieđn nhieđn ôû ñađy chính laø söï hoøa laøm moôt vôùi thieđn nhieđn, ñoùn nhaôn thieđn nhieđn nhö noù ñang laø, khođng mạy may khôûi leđn
yù nghó veă söï sinh dieôt, ñép xaâu, queđn taât cạ theâ söï traăn túc, nhö coù theơ thaây roõ hôn trong baøi Cuùc hoa 1:
Vöông thađn vöông theẫ dó ñođ vöông Tóa cöûu tieđu nhieđn nhaât thaùp löông Tueâ vaõn sôn trung vođ lòch nhaôt Cuùc hoa khai xöù töùc truøng döông
(Queđn mình, queđn ñôøi, queđn heât cạ Ngoăi lađu laịng leõ, moôt giöôøng thaâm lánh Cuoâi naím ôû trong nuùi khođng coù lòch Nhìn hoa cuùc nôû bieât ñaõ ñeân tieât truøng döông)Con ngöôøi suoât naím ôû trong choân röøng nuùi, khođng mạy may baôn bòu, khođng coøn vöông vaân gì Thađn, tađm vaø cạnh ñeău tòch tónh neđn daên ñeân tráng thaùi queđn kì dieôu Thôøi gian, kẹ saùt nhađn vođ tình voân laø noêi aùm ạnh khođn nguođi cụa con ngöôøi, nay chaúng coøn mạy may laøm ñoông loøng thieăn Ngöôøi ôû trong nuùi queđn cạ ngaøy thaùng, thaây hoa cuùc nôû ñaăy môùi chôït nhôù ra laø muøa thu ñaõ ñeân Söï
“queđn” aây khođng phại laø phụ nhaôn taât thạy mói söï tređn ñôøi Coù moôt thöïc tái maø thieăn sö khođng luùc naøo nguođi queđn laø thieđn nhieđn ñép ñeõ xung quanh Coù theơ noùi,
Trang 34Huyền Quang đã “quên” chính mình trong thiên nhiên, trong vẻ đẹp rạng rỡ của hoa cúc mùa thu giữa núi rừng cô tịch
Cái “quên” của Thiền sư ở đây là cảm thức “quên” tuyệt đối Không chỉ quên sự thế, tức là bỏ qua sự chấp trước đối với cuộc đời, mà còn quên cả chính mình, “vong thân”, vô ngã Thói thường, mỗi con người đều coi mình là một tiểu vũ trụ trung tâm trong đại vũ trụ Cái “tự ngã” trong bản thân mỗi chúng ta là điều khiến con người khó vượt qua nhất Chấp nhận sự biến đổi khách quan là điều không ít người có thể làm được, nhưng chấp nhận sự biến đổi trực tiếp liên quan đến lợi ích được mất cá nhân thì khó vô cùng Chúng ta gìn giữ một tình yêu, níu kéo một người yêu ngay khi người đó còn đang ở bên ta, vì chúng ta lo sợ tình yêu ấy của ta ngày nào đó sẽ biến mất Hân thưởng vẻ đẹp của hoa cỏ trong trời đất đồng thời ta cũng man mác buồn khi chứng kiến vẻ đẹp ấy rơi rụng
Vì thế, thế giới tiểu thuyết mới có một nàng Lâm Đại Ngọc của Hồng Lâu Mộng thương tâm đến mức khóc chôn xác hoa tàn Một Thiền sư đạt ngộ như Huyền Quang thì khác Với ông, “quên” tức là chấp nhận cuộc sống như nó vốn thế Chấp nhận nhưng không phải nhẫn nhịn chịu đựng mà ngược lại, đem hết tâm hồn mình ra để thâm nhậïp, cảm nhận cái đẹp của đời sống Quên sự thế, quên cả cái tự ngã của bản thân, Huyền Quang hòa nhập vào thế giới một cách tuyệt đối: Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương (Ngồi lâu lặng lẽ, một giường thấm lạnh) Thiền sư ngồi tọa Thiền trong am núi, cũng mát lạnh dễ chịu như khí núi chung quanh, Thiền sư là một với cây cỏ thiên nhiên quanh ông, sự hòa nhập tuyệt đối vào đại vũ trụ Cái lạnh đó không chỉ là cái lạnh mát của cảm giác vật chất, mà còn là cái tịnh mát của tâm người, như Thiền ngữ “Tâm tịnh tự nhiên lương”, tâm an tịnh thì tự nhiên sẽ mát Khi tâm không khởi niệm phân biệt chấp
Trang 35trước thì tự nhiên sẽ lặng, sẽ lạnh mát dễ chịu như khí núi tịch mịch Ngược lại, một khi lòng chứa đầy dục vọng thì cho dù ở giữa băng đảo vẫn thấy quá nóng Cảm giác lạnh mát ấy không chỉ là của núi rừng mà còn từ chính cái tâm đã lặng của Thiền nhân Cái an nhiên tĩnh tại của người đã thoát khỏi chấp trước nhị nguyên là cảnh giới kỳ diệu của những bậc kỳ nhân đắc đạo
Tuy nhiên, cái quên ấy của Thiền sư không phải là sự bất chấp, quay lưng với thực tại, mà là quên đi tự ngã để thâm hiểu nguyên lý vận động của đời sống, để hân thưởng mọi vẻ đẹp trong đời sống này Nàng Lâm yêu hoa mà khóc hoa tàn, còn Huyền Quang cũng dành nhiều tình yêu cho hoa, nhưng người biết rằng vẻ đẹp kia theo quy luật sẽ đến lúc tàn lụi Vì thế, người không tiếc thương hoa mà dành hết tâm hồn mình cho việc thưởng thức vẻ đẹp huy hoàng ngay trước mắt của hoa,:
Hoa tại trung đình nhân tại lâu Phần hương độc tọa tự vong ưu
(Cúc hoa 5)(Hoa ở dưới sân, người ở trên lầu Một mình thắp hương ngồi quên hết phiền muộn) “Vong ưu”, quên hết phiền muộn là cảm giác của Thiền sư khi đối diện với hoa Tất thảy dường như không còn tồn tại, ngoại trừ vẻ đẹp huy hoàng trước mắt của cúc hoa Con người vô ngã đến bên hoa, hoa hào phóng chia sẻ niềm an nhiên tự tại với Thiền sư
Con người vô ngã hoàn toàn “quên” mình trong khoảnh khắc một đêm trăng đầu thu tuyệt đẹp với khóm cây giăng lưới vầng trăng sáng:
Dạ khí phân lương nhập họa bình
Trang 36Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh Trúc đình vong thích hương sơ tận Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh
(Tảo thu) (Khí đêm chia hơi mát vào đến bức rèm vẽ Cây trước sân xào xạc báo tiếng thu
Dưới mái nhà tre quên bẵng hương vừa tắt Mấy khóm cây cành giăng lưới vầng trăng sáng) Hơi đêm mát rượi nhập vào bức rèm vẽ, tiếng cây lá xào xạc như tiếng mùa thu đi, cái không gian bên ngoài đang lưu chuyển không ngừng ấy với không gian bên trong sâu thẳm của tâm thức dường như đang hòa làm một Trong khoảnh khắc ấy, từ trong thiền thất tịch tĩnh, tâm hồn con người hướng ra, hòa vào đất trời mênh mông, vào nhịp thời gian lưu chuyển Vào giây phút bừng thức ấy, con người “quên” hết chung quanh, quên cả sự tu thiền mà nhập làm một với vũ trụ bao la Cảnh vật thiên nhiên dường như cũng đang tan vào nhau: mấy khóm cây cành giăng lưới vầng trăng sáng… Thế gian vô thường ngưng tụ lại và trở thành vĩnh cửu trong một ánh trăng, trong tình yêu thâm thiết với vẻ đẹp của vũ trụ
Số lượng thơ Huyền Quang còn lại hiện không nhiều, nhưng cảm giác
“quên”- giải thoát này trở đi trở lại trong nhiều bài thơ của Thiền sư Trong Thiền thất giữa ngàn cây tươi tốt của mình, người như quên hết cả thời gian, như trong bài Trú miên:
Mộc tê song ngoại thiên cưu tuyệt Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư
Trang 37(Trên cây quế ngoài cửa sổ, ngàn con chim cưu vắng tiếng Một chiếc gối trong gió mát, giấc mộng ban ngày chưa tàn) Thiền sư trầm mình trong không gian vắng lặng của vườn tược cây cối xung quanh, một cách tự nhiên chìm vào giấc ngủ giữa làn gió mát hiu hiu lúc nào không hay Người không cảm thấy cô đơn lẻ loi trong buổi trưa lặng tiếng chim, mà ngược lại trong giấc ngủ bình an giữa ban ngày ông đã thể nhập vào cảnh giới xung quanh, hòa làm một với giấc trưa yên ắng Cảnh tịch mịch nhưng không mang lại cảm giác cô độc, mà trở thành sự tịch lặng êm đềm không gợn chút âu lo Sự thế cho dù có đảo điên thế nào, giang sơn có biến đổi đến đâu chăng nữa thì Thiền sư vẫn lấy cái tâm Phật tịch lặng của mình để nhìn sự vật, vẫn có thể hòa mình toàn vẹn vào một buổi trưa êm dịu bằng giấc ngủ ngày vô
ưu, bằng tấm lòng Thiền, Phật tâm, của bậc Thiền nhân đạt đạo:
Lòng Thiền vặc vặc trăng soi rọi Thế sự hiu hiu gió thổi qua Cốc được tính ta nên Bụt thực Ngại chi non nước cảnh đường xa
(Vịnh Hoa Yên tự phú) Có thể nói, dạo bước trong cõi thơ của Huyền Quang, ta cảm nhận sâu sắc cảnh giới siêu thoát của một Thiền nhân đạt đạo, “quên” cái tự ngã của mình trong vô cùng vô ngã của thế giới xung quanh Cái siêu thoát ấy không còn chỉ của riêng Thiền sư Huyền Quang và cảnh giới Thiền – thơ của ông mà còn vượt thoát ra ngoài đường biên của ngôn ngữ, lan tỏa đến người đọc
Trang 382.1.2 Vân Yên - Thiên nhiên Phật và cõi vô tâm
Thiên nhiên luôn là niềm cảm hứng bất tận của thi nhân Thế giới thiên nhiên với muôn vàn hình sắc bên ngoài được phản chiếu qua lăng kính tâm hồn phong phú của nhà thơ không chỉ đơn thuần là nhiên nhiên như nó là mà còn biểu hiện cái nhìn riêng của thi nhân về cuộc đời Vì thế đi vào thế giới thiên nhiên trong thơ cũng là đang tiếp xúc với thế giới tâm hồn của thi gia Thế giới Phật giáo bao hàm tất cả chúng sinh, bao hàm mọi sự sống dù là tế vi nhất Vì thế, trong thế giới Thiền, nhất là trong thơ Thiền, chúng ta có thể thấy được những đặc điểm về cảm quan thiên nhiên của Thiền tông, để thấy được một thế giới tự nhiên mới mẻ dưới góc nhìn của Thiền gia
Thiền tông tuy là một loại triết học tâm linh chủ quan, nhưng cảm quan về thế giới tự nhiên của Thiền so với triết học trước nó có nhiều khác biệt sâu sắc Truyền thống Lão Trang chủ trương học thuyết người và tự nhiên hợp thành một thể , “thiên nhân hợp nhất”, “tề vật” có phần thiên về phiếm thần luận Truyền thống Nho gia lại chú trọng mối tương quan về “bỉ đức” giữa con người và tự nhiên, đề cao mối quan hệ về mặt nhân cách và tình cảm giữa con người và giới tự nhiên, cho rằng “bậc trí giả thì hiếu động, lạc quan, mà bản tính của nước thì linh hoạt, vì thế thích hợp với nước; bậc nhân giả thì thích cái tịch tĩnh, sống lâu, mà bản tính của núi là trầm tĩnh, nên thích hợp với núi” [79, tr.140] Truyền thống thiên nhiên của Nho gia lấy sơn thủy làm hệ mạch chính, thiên nhiên là biểu tượng và nhân cách, tình cảm của con người, mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc Còn cảm quan thiên nhiên của Thiền nằm ngoài các truyền thống Lão Trang và Nho gia đó, đối diện với cùng một thế giới thiên nhiên, Thiền dựa vào quan điểm về pháp không, coi mọi vạn vật vạn tượng là một hiện tượng thuần
Trang 39túy duy nhất – sắc (pháp) của tự nhiên, cũng là một thể đồng nhất với không Thiền tông thường nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc” và “phi sắc diệt không”, nghĩa là không không nằm ngoài bản chất hiện hữu của sắc Cảm quan thiên nhiên mới mẻ này của Thiền đã nhanh chóng trở thành tố chất tư duy mới của tư tưởng nghệ thuật Trung Hoa, với hai gương mặt đại diện xuất sắc là Vương Duy và Tô Đông Pha
Cảm quan thiên nhiên của Thiền tông thể hiện trong luận điểm khái quát
“nhất thiết sắc tức thị Phật sắc, nhất thiết thanh tức thị Phật thanh” Trong Lục tổ Đàn Kinh còn ghi chép công án “phong xuy phàm động”, nổi tiếng của Lục tổ Huệ Năng Hai hòa thượng tranh luận với nhau xem lá buồm động hay là gió lay động, tức là luận về bản chất của sự vật Nhưng kiến giải mà Huệ Năng đưa ra khác hẳn với tri thức và kinh nghiệm thường tình Huệ Năng phủ định cả gió động lẫn buồm động mà cho rằng do “tâm động” Trong hoàn cảnh này, tất cả những kinh nghiệm và ngôn ngữ trong quá khứ của con người đều không có ích lợi gì, cái đang tồn tại đó chính là thực tại trước mắt, thực tại hiện tiền Thiền tông không quan tâm nhiều đến hiện tượng tự nhiên, mà chủ yếu tập trung vào cảm nhận sự hiển hiện của chân như trong đối tượng tự nhiên trực quan trước mắt Câu chuyện của Thiền sư Thanh Nguyên chép trong Ngũ đăng hội nguyên
có thể tiêu biểu cho tinh thần này
“ Lão tăng ba mươi năm trước chưa tham thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước Khi tham thiền, thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước Bây giờ, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước.” [61]
Trang 40Có thể khái quát cái nhìn của Thiền sư Thanh Nguyên thành ba loại Thứ nhất, khi chưa tham Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước, đó là góc nhìn khách quan về hiện tượng tự nhiên Thứ hai, khi học Thiền, tức là đã tiếp cận với quan điểm vềpháp không, thấy núi không phải là núi, thấy nước không phải là nước, bắt đầu hình thành một loại trực quan cảm tính, sắc tướng hóa đối tượng tự nhiên trước mắt, cho nên núi không phải là núi, nước không phải là nước Đó là do người quan sát vẫn chưa thoát khỏi ngã chấp và pháp chấp, “ngã” muốn nhìn thấy “không” (ngã chấp), cho nên không muốn nhìn sơn thủy như là sơn thủy (pháp chấp, tức là dùng góc nhìn của kinh nghiệm thế tục), vì thế mà không thể thật sự cảm nhận được cái pháp không của núi, của nước Thứ ba, khi đã đạt ngộ rồi, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước, có chút gì đó giống như góc nhìn tự nhiên khách quan khi chưa tham Thiền Thực ra, khi đó nhìn thấy núi và nước chỉ đơn thuần là trực quan, đơn thuần là hiện tượng tự nhiên, nó vượt lên trên thời gian và không gian, không có bất cứ kinh nghiệm lịch sử nào, sơn thủy trở thành một đối tượng trực giác, để giúp người tham thiền có thể tự chứng nghiệm Phật tính Khi sơn thủy là đối tượng trực quan thuần túy, thì cũng đã cảm nghiệm được pháp không Nói cách khác, pháp không được lĩnh hội chính thông qua sơn thủy
Với Huyền Quang, con đường Thiền cũng là con đường trở về với thiên nhiên, hòa đồng với pháp không của thiên nhiên Ông “Phật hóa” núi trời Vân Yên, coi nơi đây cũng là một cõi trời Phật, cảnh Phật, thiên nhiên Phật, một vẻ
“Thiền thiên” Người buông bỏ niềm trần tục như buông bỏ một nỗi buồn, và cất bước vân du như đi tìm một pháp vui, náu tới Vân Yên, náu vào khói mây Trong con mắt Thiền sư, cái đẹp của vũ trụ này là hiện thân của Bụt, Bụt trú thân trong