Một Nhà nước hiện đại không chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà phải cân bằng với chính trị ổn định và có nền an sinh tốt.Vì vậy, nghiên cứu pháp luật CTXH- một bộ phận cấu thành an sinh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI 5
1.1 KHÁI NIỆM CỨU TRỢ XÃ HỘI 5
1.1.1 Sự ra đời của cứu trợ xã hội 5
1.1.2 Khái niệm cứu trợ xã hội 7
1.2 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI 12
1.3 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ CỨU TRỢ XÃ HỘI 16
1.3.1 Nguyên tắc mức trợ cấp cứu trợ xã hội không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống trước khi phát sinh nhu cầu cứu trợ mà phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu, tình trạng tài sản thực tế của đối tượng 16
1.3.2 Nguyên tắc cân đối giữa nhu cầu thực tế của đối tượng với khả năng đáp ứng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội 17
1.3.3 Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động CTXH 18
1.4.1 Cứu trợ xã hội là quyền cơ bản của con người trong xã hội 19
1.4.2 Cứu trợ xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của các thành viên trong xã hội 20
1.4.3 Cứu trợ xã hội góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, công bằng xã hội và thúc đẩy tiến bộ xã hội 21
1.4.4 Cứu trợ xã hội có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và mang tính toàn cầu 23 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Trang 4CHƯƠNG 2 26
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 26
2.1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI VIỆT NAM 26
2.1.1 Giai đoạn 1945 – 1975 26
2.1.2 Giai đoạn 1975 đến nay 27
2.2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI 29
2.2.1 Về đối tượng và điều kiện hưởng CTXH 29
2.2.2 Các chế độ cứu trợ xã hội 40
2.2.3 Nguồn kinh phí thực hiện cứu trợ xã hội 45
2.2.4 Cơ cấu tổ chức hoạt động cứu trợ xã hội 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53
CHƯƠNG 3 56
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI 56
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CTXH 56
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội nhằm cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta 56
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội 57
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường 59
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội nhằm tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật an sinh xã hội 61
3.2 YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI 62
3.2.1 Nhận thức đúng vai trò của cứu trợ xã hội ở nước ta hiện nay 62
Trang 53.2.2 Hoàn thiện pháp luật CTXH phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của
đất nước 63
3.2.3 Hoàn thiện pháp luật CTXH nhằm mở rộng hơn nữa đối tượng CTXH hướng tới mục tiêu bao quát toàn bộ dân số 64
3.2.4 Hoàn thiện pháp luật CTXH phải hướng tới thiết lập được pháp luật CTXH tiến bộ, kế thừa thành tựu lập pháp, khắc phục những hạn chế của pháp luật CTXH hiện hành 65
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 66
3.3.1 Về đối tượng và điều kiện được hưởng CTXH 66
3.3.2 Về chế độ áp dụng đối với các đối tượng hưởng CTXH 70
3.3.3 Nguồn kinh phí thực hiện CTXH 71
3.3.4 Trong công tác tổ chức thực hiện 72
3.3.5 Ban hành Luật cứu trợ xã hội 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN CHUNG 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ 2.1: TỔNG SỐ ĐỐI TƯỢNG SỐNG TẠI CỘNG ĐỒNG ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ CTXH THEO NĐ 67/2007/NĐ-CP 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
An sinh xã hội nói chung và cứu trợ xã hội (CTXH) nói riêng là một trong những thiết chế quan trọng của hầu hết các quốc gia nhằm giúp đỡ những người “yếu thế” trong xã hội khắc phục cuộc sống khó khăn và sớm
ổn định, hòa nhập cộng đồng CTXH ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong truyền thống dân tộc, với tinh thần “áo lành đùm áo rách”, “nhường cơm xẻ áo” khi cá nhân, gia đình gặp hoạn nạn khó khăn Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, kinh tế thị trường phát triển một mặt thúc đẩy sức sản xuất, tăng sức cạnh tranh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế nhưng mặt khác nó cũng tạo ra những rủi ro đối với môi trường sống và xã hội Tình trạng ô nhiễm, phá hủy môi trường gây nên bão, lũ lụt, hạn hán triền miên,
sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội ngày càng thể hiện rõ nét Chính vì vậy, nghiên cứu nội dung CTXH là vấn đề mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết
Hơn nữa, an sinh xã hội cùng với kinh tế, chính trị là ba thiết chế cơ bản của nhà nước hiện đại Một Nhà nước hiện đại không chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà phải cân bằng với chính trị ổn định và có nền an sinh tốt.Vì vậy, nghiên cứu pháp luật CTXH- một bộ phận cấu thành an sinh xã hội là chúng ta góp phần xây dựng các thiết chế của nhà nước hiện đại, phù hợp với tình hình thế giới trong điều kiện hội nhập hiện nay
Mặt khác, thời gian qua công tác về CTXH đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, các quy định của pháp luật CTXH hiện hành vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội cũng như độ bao phủ tới các đối tượng CTXH
Trang 8Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về cơ sở lý luận
và thực tiễn pháp luật CTXH, từ đó đưa ra định hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật CTXH đặc biệt có ý nghĩa cả trên phương diện lý luận và thực
tiễn Đây chính là những lý do cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật
Việt Nam về cứu trợ xã hội” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
CTXH là một trong ba nội dung quan trọng của an sinh xã hội Việt Nam Trong những năm gần đây, nghiên cứu về an sinh xã hội đã được các học giả,
các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Ở bậc tiến sỹ, đề tài “Cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc xây dựng pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” (năm
2008) của tác giả Nguyễn Hiền Phương; đề tài khoa học cấp Nhà nước“Cơ sở
khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015” (năm 2009) do GS, TS Mai Ngọc Cường làm
chủ nhiệm đề tài và ngoài ra có nhiều bài báo, tạp chí khác… nghiên cứu về lĩnh vực này Với tư cách là một bộ phận của an sinh xã hội nên việc nghiên cứu nội dung CTXH các tác giả mới dừng lại ở mức độ khái quát nhất và chưa
có những đánh giá cụ thể, sâu sắc từng nội dung của CTXH
Ngoài ra, một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên nghiên cứu về nội dung pháp luật CTXH, song nội dung của khóa luận không còn mang tính thời sự, số liệu cung cấp không phù hợp tại thời điểm nghiên cứu hiện nay
Việc tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về cứu trợ xã hội” mang
một ý nghĩa thiết thực, trên cơ sở nghiên cứu đề tài tìm ra những vấn đề pháp lý cần bổ sung, hoàn thiện về pháp luật CTXH.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật CTXH ở Việt Nam, từ đó đưa ra những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện
Trang 9pháp luật CTXH Nhằm đạt được mục đích này luận văn đề ra những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động CTXH như
khái niệm, bản chất, nội dung…từ đó có cái nhìn tổng quan về CTXH nói riêng và an sinh xã hội nói chung
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định về CTXH với
các nội dung cơ bản như đối tượng CTXH, điều kiện hưởng CTXH, tổ chức thực hiện…đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các nội dung còn hạn chế của pháp luật hiện hành về CTXH cần được hoàn thiện
Thứ ba, từ những kết quả rút ra được khi nghiên cứu và phân tích thực
trạng về pháp luật CTXH tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quan trọng này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, tác giả dựa trên cơ sở phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử để nghiên cứu pháp luật về CTXH Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu đối với từng trường hợp cụ thể như:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu, phân tích, tiếp thu
có chọn lọc các nghiên cứu khoa học có giá trị của các nhà nghiên cứu đi trước, cũng như các quy định pháp luật của các nước trên thế giới trong một số nội dung nhất định
Phương pháp so sánh: Sử dụng trong các trường hợp phân biệt một
số khái niệm và trong trường hợp cần thiết so sánh nội dung cụ thể của Pháp luật CTXH Việt Nam với quy định pháp luật các nước trên thế giới
Phương pháp khảo sát thực tiễn: Tìm hiểu, thu thập các số liệu về
công tác CTXH qua các năm gần đây Qua đó cung cấp cho luận văn những
số liệu minh chứng thuyết phục và có tính khoa học cao
Trang 105 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp bậc sau đại học, luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động CTXH Luận văn đi sâu vào nghiên cứu những nội dung cơ bản của các đối tượng CTXH thường xuyên và CTXH đột xuất mà không nghiên cứu các đối tượng khác như đối tượng nghèo đói, đối tượng tệ nạn xã hội nghiện hút, mại dâm, nhiễm HIV/AIDS
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cứu trợ xã hội và pháp luật cứu trợ xã hội Chương 2: Thực trạng chính sách và pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật cứu trợ xã hội ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI
1.1 KHÁI NIỆM CỨU TRỢ XÃ HỘI
1.1.1 Sự ra đời của cứu trợ xã hội
Trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp những điều kiện thuận lợi và may mắn để tồn tại và phát triển Trái lại họ thường xuyên bị
đe dọa bởi sự tác động tiêu cực của điều kiện sống Trước tác động tiêu cực của thiên nhiên như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, của quá trình phát triển kinh tế như sự phân công lao động, sự phân hóa giàu nghèo, của các cuộc chiến tranh xung đột sắc tộc, dịch bệnh…dẫn đến trong xã hội có không ít người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, vật chất và tinh thần Họ bị rơi vào tình trạng khó khăn, bần cùng, yếu thế, khó có điều kiện tồn tại, phát triển và cần sự giúp đỡ của cộng đồng Đây trở thành một yêu cầu khách quan cho sự tồn tại của mỗi cá nhân trong cộng đồng
Để khắc phục khó khăn, đáp ứng yêu cầu tồn tại của mình, ban đầu con người tìm cách đáp ứng bằng những biện pháp mang tính bản năng, tự phát và được thực hiện ở phạm vi hẹp như gia đình, họ hàng, chòm xóm… với những hình thức đơn giản như nhường cơm, xẻ áo, giúp đỡ công lao động, lập quỹ
dự phòng…Dần dần khi xã hội có sự phân công lao động, của cải xã hội nhiều hơn, các hình thức phân phối đa dạng hơn thì các hình thức tương trợ cộng đồng cũng phát triển phong phú và có tính tổ chức cao hơn Bên cạnh các hình thức cứu trợ mang tính tự phát, các hoạt động cứu trợ được thực hiện bởi các phường, hội và đặc biệt khi tôn giáo ra đời thì hoạt động cứu trợ càng được quan tâm, thúc đẩy ý thức cưu mang, đùm bọc lẫn nhau của mỗi người dân trong xã hội
Trang 12Trước những nhu cầu của người dân về CTXH, đòi hỏi các nhà nước phải đứng ra gánh vác “trách nhiệm xã hội” của mình Dưới sự điều tiết của Nhà nước, hoạt động CTXH phát triển đa dạng và phong phú hơn Hoạt động CTXH không chỉ dừng lại ở hình thức mang tính truyền thống như từ thiện, phát chẩn cứu đói…mà còn có sự tham gia chặt chẽ của nhà nước, hiệp hội,
cá nhân…nhằm giúp đỡ những thành viên của mình khi họ gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống vì nhiều lý do
Xem xét về lịch sử ra đời của CTXH cho thấy, CTXH xuất phát từ nhu cầu khách quan, tất yếu của cuộc sống trong cộng đồng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển, CTXH cũng là hình thức tương trợ đầu tiên, làm cơ sở cho sự phát triển đa dạng, phong phú của các hình thức tương trợ hiện đại sau này của hệ thống an sinh xã hội các quốc gia CTXH cũng được nhìn nhận như là
“trách nhiệm xã hội” của Nhà nước đối với công dân của mình, là sự thể hiện
“thái độ” của Nhà nước đối với bộ phận người “yếu thế” trong xã hội Thực tế cũng minh chứng rất rõ cho sự tồn tại của các Nhà nước, của chính quyền các quốc gia mà ở đó công tác xã hội được đảm bảo làm cơ sở vững vàng cho sự tồn tại và phát triển kinh tế
Trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển kinh tế thì sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên gay gắt, nó không chỉ diễn ra ở phạm vi một quốc gia
mà còn ở phạm vi quốc tế Trên thế giới cũng hình thành hai nhóm nước là nước giàu và nước nghèo Dưới góc độ dân sinh thì nước nghèo là trung tâm của mọi sự quan tâm với các quyền cơ bản như: ăn, ở, đi lại, y tế, giáo dục, thông tin…Vì vậy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện hoạt động CTXH đối với người dân “yếu thế” của mình với những mức độ khác nhau Chính sách CTXH đã trở thành chính sách quan trọng của nhiều quốc gia và được thể chế hóa thông qua các văn bản pháp luật về CTXH Mặt khác giữa các quốc gia cũng có sự hợp tác, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện CTXH CTXH trở thành vấn đề có tính toàn cầu và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc
Trang 131.1.2 Khái niệm cứu trợ xã hội
1.1.2.1 Cứu trợ xã hội là một bộ phận của an sinh xã hội
Con người ai cũng muốn cuộc sống yên vui no đủ, xã hội nào cũng muốn được ổn định và phát triển Nhà nước muốn duy trì trật tự xã hội tốt buộc phải đảm bảo cho mọi người các điều kiện trước hết về ăn, ở, sức khỏe, tìm kiếm việc làm, giải quyết các tệ nạn xã hội, tha hóa xã hội…bằng các biện pháp xã hội Những biện pháp công cộng của xã hội nhằm giúp con người và gia đình họ khi ở vào hoàn cảnh bị ngừng hoặc giảm thu nhập, không có thu nhập do ốm đau, già yếu, tai nạn lao động, mồ côi, bệnh hoạn, thiên tai…có thể khắc phục một phần những khó khăn, những nội dung đó được gọi là an sinh xã hội
Ở Việt Nam, an sinh xã hội (social security [1]) do dịch từ tiếng nước ngoài nên thuật ngữ an sinh xã hội có nhiều tên gọi khác nhau như: bảo đảm
xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội…Tuy nhiên, dù dưới tên gọi nào an sinh
xã hội cũng bao hàm các nội dung đó là sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình: các trường hợp túng thiếu về kinh tế do mất người nuôi dưỡng, về già, tàn tật; những trường hợp bị thiệt hại về thiên tai, hỏa hoạn đồng thời xã hội cũng ưu đãi những người có công với cách mạng Nội dung này được khái quát qua rất nhiều khái niệm về an sinh xã hội Trong
Hiến chương Đại Tây Dương, an sinh xã hội được hiểu theo nghĩa rộng là sự
bảo đảm thực hiện quyền con người sống trong hòa bình, được tự do làm ăn,
cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo
vệ bình đẳng trước pháp luật, được học tập, làm việc và nghỉ ngơi, có nhà ở; được chăm sóc y tế và đảm bảo thu nhập để có thể thỏa mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, tuổi già…Hay trong đạo luật an sinh xã
hội của Mỹ, an sinh xã hội được hiểu là sự đảm bảo của xã hội nhằm bảo tồn
nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời
Trang 14sống sung mãn và phát triển tài năng đến tột độ Tổ chức lao động quốc tế
ILO đã đưa ra một trong những khái niệm về an sinh xã hội được sử dụng khá
rộng rãi: “An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành
viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng về thu nhập hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” Trên cơ sở tiếp cận khái niệm
an sinh xã hội của các học giả cũng như của tổ chức lao động quốc tế ILO, ở
Việt Nam khái niệm an sinh xã hội gần đây được hiểu “ là một hệ thống các
cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế- xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách
về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt”[26]
Có thể thấy, an sinh xã hội được hình thành gắn liền với các nội dung
đó là bảo hiểm xã hội; cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội, trong đó cứu trợ xã hội
là trụ cột chính không thể thiếu trong nền an sinh của mỗi quốc gia CTXH là hình thức sơ khai đầu tiên để thực hiện và phát triển các hình thức an sinh xã hội hiện đại
1.1.2.2 Khái niệm cứu trợ xã hội
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật quốc tế vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về CTXH mà chỉ đề cập bằng cách tiếp cận thông qua những quyền cơ bản của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948, khuyến nghị 67 của tổ chức lao động quốc tế ILO năm 1944 về đảm bảo phương tiện sinh sống, khuyến nghị 69 của tổ chức lao động quốc tế ILO năm 1944 về chăm
Trang 15sóc y tế và công ước 102-1952 về quy phạm tối thiểu an sinh xã hội Theo đó CTXH được tiếp cận với các quyền tối thiểu của con người, đó là các quyền
về ăn, mặc, ở, về giáo dục, chăm sóc y tế, đảm bảo nhu cầu thiết yếu khi bị rủi
ro, tai nạn, tuổi già…Cho đến nay hầu hết các nước đều thống nhất cho rằng CTXH là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến nhất và được thực hiện bởi nhà nước, cộng đồng nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội khi họ lâm vào tình trạng khó khăn, bất hạnh vì nhiều nguyên nhân khác nhau
Ở Việt Nam, mặc dù CTXH đã được thực hiện từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về CTXH trong các văn bản pháp luật Theo cách hiểu thông thường, cứu trợ là “giúp cho qua khỏi cơn nguy khốn”[19] hoặc “giúp cho khỏi cơn nghèo ngặt”[19] CTXH gồm hai nhóm từ ghép là “cứu tế xã hội” và “trợ giúp xã hội” Để hiểu rõ bản chất của CTXH chúng ta bắt đầu đi từ khái niệm “cứu tế xã hội” Theo từ điển bách khoa toàn
thư Việt Nam, cụm từ “cứu tế xã hội” được định nghĩa là “sự trợ giúp bằng
tiền hoặc hiện vật có tính cấp thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người lâm vào hoàn cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống hàng ngày của bản thân và gia đình”[23] Cứu tế xã hội mang tính tức thời,
tính cấp cứu nhằm giúp cho đối tượng tạm thời thoát khỏi tình cảnh hiểm nghèo Đối tượng của cứu tế xã hội chủ yếu là những người với những nguyên nhân rủi ro, bất hạnh khác nhau dẫn đến cuộc sống bị đe dọa nghiêm trọng, không có sự cứu tế thì bản thân và gia đình có thể bị nguy hại đến cuộc sống, thậm chí có thể dẫn đến cái chết (chết đói, chết rét…) Hình thức thực hiện cứu tế xã hội rất phong phú và linh hoạt Cứu tế có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật Trên thực tế, cứu tế xã hội thường được áp dụng đối với đối tượng bị thiệt hại do thiên tai, hoặc tai họa bất thường khác, hoặc là những người cần được trợ giúp trong một khoảng thời gian ngắn, giúp họ vượt qua tình trạng khó khăn nguy kịch của cuộc sống
Trang 16Khác với cứu tế xã hội, trợ giúp xã hội vừa có tính tức thời, vừa có tính
lâu dài trong đó tính lâu dài là chủ yếu Trợ giúp xã hội là “giúp đỡ thêm
bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được trợ giúp
có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình sớm hòa nhập vào cộng đồng”[23] Hay trong một số công trình nghiên cứu, cho rằng
trợ giúp xã hội là sự bảo đảm và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân
dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các biện pháp và hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi
ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế hoặc hụt hẫng trong cuộc sống khi
họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình”[4] Trợ giúp xã hội không có tính “tức thời” “cấp cứu” bằng cứu tế xã
hội Trợ giúp xã hội thường ổn định lâu dài và có tính đến việc phát huy nội lực của bản thân đối tượng để vươn lên vượt hoàn cảnh, hòa nhập với cộng đồng
Như vậy, dựa trên quan điểm của quốc tế nói chung và Việt Nam nói
riêng, CTXH có thể hiểu: Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội
và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói…vì những nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống
và hòa nhập cộng đồng
Dưới góc độ kinh tế, CTXH là đảm bảo nguồn thu nhập tối thiểu cho cuộc sống của một bộ phận dân cư trong xã hội khi họ bị rơi vào tình trạng khó khăn, bất hạnh, hiểm nghèo…nên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội Họ không có khả năng tự đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của bản thân và gia đình mà tự mình không thể khắc phục được và cần có sự nâng
đỡ về vật chất để vượt qua khó khăn đó CTXH là hoạt động không nhằm
Trang 17mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải, dịch vụ cho các thành viên xã hội gặp bất hạnh, thu hẹp dần
sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói
Dưới góc độ xã hội, có thể hiểu CTXH là sự tương trợ cộng đồng có tính xã hội sâu sắc CTXH là biện pháp hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và xã hội cho các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn, rủi ro nhằm giảm thiểu những bất ổn xã hội, duy trì ổn định xã hội Theo đó, những khó khăn bất hạnh của mỗi cá nhân được cả xã hội chia sẻ, gánh vác mà không đòi hỏi một nghĩa vụ trực tiếp nào về tài chính Ở đây không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện, hơn thế nữa lại là yếu tố tạo nên sự hòa đồng giữa các thành viên trong xã hội Cũng vì những ý nghĩa xã hội của mình mà CTXH được coi là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân và có sức hút hấp dẫn trước những giá trị nhân bản của con người
Trên thực tế hiện nay, chúng ta bắt gặp các cách sử dụng khác nhau về thuật ngữ “cứu trợ xã hội” hay “bảo trợ xã hội”, “trợ giúp xã hội” trong các văn bản pháp luật, tài liệu tham khảo, công trình nghiên cứu….Vậy có sự khác nhau
cơ bản nào trong các cách sử dụng thuật ngữ hiện nay? Như trên, tác giả trình bày trong nhiều trường hợp khái niệm CTXH và trợ giúp xã hội được hiểu đồng
nghĩa với nhau, còn bảo trợ xã hội theo nghĩa truyền thống là hệ thống cơ chế,
chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp
và bảo vệ những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong cuộc sống ổn định cuộc sống
và hòa nhập cộng đồng như người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt…và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác” [26]
Dù được sử dụng dưới bất kỳ thuật ngữ nào, chúng ta đều nhận thấy đặc trưng chung của CTXH, bảo trợ xã hội và trợ giúp xã hội là:
- Đối tượng được hưởng chế độ, bao gồm mọi người dân không có sự phân biệt khi gặp phải những rủi ro, bất hạnh, khó khăn…trong cuộc sống
Trang 18- Nghĩa vụ đóng góp không đặt ra như một yêu cầu đối với người được hưởng có tính đến tình trạng kinh tế (thu nhập và tài sản) của họ
- Mức trợ cấp được xác định dựa trên nhu cầu thực sự và thiết yếu của người hưởng
- Mục đích trợ cấp nhằm duy trì cuộc sống của người thụ hưởng và gia đình họ chứ không nhằm khôi phục lại mức sống của họ như trước khi gặp rủi ro bất hạnh
Chính vì sự tương đồng, không có sự phân biệt đáng kể như trên nên trong thời gian dài chúng ta sử dụng thuật ngữ “cứu trợ xã hội” trong các văn bản pháp luật của Nhà nước như Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09.03.2000 của chính phủ; Thông tư số 18/2000/TT-BLDDTBXH ngày 28/07/2000 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội…hay các giáo trình “an sinh xã hội” của trường Đại học Luật HN; giáo trình “cứu trợ xã hội” của Đại học Lao động- Xã hội Với sự ra đời của Nghị định số 67/2007/NĐ- CP ngày 13.04.2007 của Chính phủ thuật ngữ “bảo trợ xã hội” lại được sử dụng nhiều Gần đây, trong các đề tài nghiên cứu khoa học khái niệm “trợ giúp xã hội” cũng được sử dụng phổ biến rộng rãi [4,18] Như vậy, theo quan điểm của tác giả sử dụng thuật ngữ “cứu trợ xã hội”, “bảo trợ xã hội” hay “trợ giúp xã hội” sẽ không có sự khác nhau về nội dung cấu thành của nó trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay
1.2 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI
CTXH là một chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, là biện pháp bảo vệ của xã hội đối với các thành viên “yếu thế” của mình, góp phần củng cố an toàn xã hội, ổn định chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế, thể hiện sự công bằng, thúc đẩy tiến bộ xã hội Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của CTXH, hều hết các nước đều thực hiện nó bằng cách xây
Trang 19dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật CTXH Theo tổng kết của tổ chức lao động quốc tế ILO thì trong số 172 nước thành lập hệ thống an sinh
xã hội thì chế độ CTXH đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu Ở Mỹ sự
ra đời của đạo luật an sinh xã hội năm 1935 cũng gắn liền với áp lực của nhu cầu CTXH với thực trạng đói nghèo trong đời sống của nhóm người yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già…Một số nước như Pháp, Thụy Điển, Đức còn xác định CTXH cho những người nghèo nhất chính là trọng tâm và mục tiêu chủ đạo của an sinh xã hội [5]
Tuy nhiên, là một nội dung mang nặng tính xã hội nên khái niệm CTXH phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm của từng quốc gia Dựa trên quan điểm chung của tổ chức lao động quốc tế ILO và kết quả nghiên cứu khoa học luật
trong nước có thể đưa đến khái niệm về pháp luật CTXH như sau: Pháp luật
cứu trợ xã hội là tổng thể các quy định của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực trợ giúp giữa Nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng các biện pháp và hình thức khác nhau cho các thành viên xã hội khi gặp phải những khó khăn, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống vì những nguyên nhân khác nhau dẫn đến khả năng không đủ lo liệu được cuộc sống tối thiểu cho bản thân và gia đình nhằm tránh được những mối đe dọa của cuộc sống thường nhật và ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
Pháp luật CTXH quy định những nội dung cơ bản đó là: đối tượng CTXH; các chế độ CTXH; tài chính thực hiện CTXH cũng như tổ chức quản
lý thực hiện hoạt động CTXH
Thứ nhất, đối tượng CTXH
Đối tượng CTXH mặc dù là áp dụng cho mọi đối tượng ưu tiên trong
xã hội, tuy nhiên các quốc gia đều lựa chọn đối tượng theo thứ tự ưu tiên những người bất hạnh, khó khăn, rủi ro nhất Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, đối tượng của CTXH được đề xuất đầu tiên bao gồm người già, người cô
Trang 20đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật…[31] Không có một quy định chuẩn chung
áp dụng cho các quốc gia về đối tượng cứu trợ, song phụ thuộc vào mức độ quan tâm, tình trạng kinh tế mà các quốc gia có những tiêu chí khác nhau khi lựa chọn đối tượng CTXH Chẳng hạn để được hưởng trợ cấp kinh tế định kỳ đối với người già ở Canada đối tượng phải đạt độ tuổi từ 65 tuổi trở lên, không có nguồn thu nhập, có nơi cư trú hợp pháp trên lãnh thổ Canada từ 10 năm trở lên và đảm bảo các chỉ số suy giảm sức khỏe thông qua kỳ kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm Ở Đan Mạch, người tàn tật được hưởng trợ cấp
từ thu nhập chung quốc gia khi bị suy giảm vĩnh viễn 50% khả năng lao động
về vật chất và tinh thần trở lên, có ít nhất 3 năm cư trú tại Đan Mạch và đảm bảo điều kiện thẩm tra thu nhập…[31] Ở Việt Nam cùng với sự thay đổi của đất nước đối tượng CTXH ngày càng được pháp luật quy định mở rộng, bao gồm: trẻ em mồ côi và người có hoàn cảnh tương tự như trẻ em
mồ côi, người cao tuổi, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần, người già trên 85 tuổi, người nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, người nhiễm HIV, AIDS không có khả năng lao động, người gặp khó khăn do thiên tai hoặc những
lý do bất khả kháng khác gây ra
Điểm đặc biệt của điều kiện hưởng CTXH đó là nghĩa vụ tài chính không được đặt ra cho người thụ hưởng Sở dĩ như vậy bởi các khoản CTXH được coi như biểu hiện của việc đảm bảo quyền con người trong xã hội, là trách nhiệm của Nhà nước đối với các công dân của mình và mang ý nghĩa nhân đạo, xã hội cao cả
Thứ hai, chế độ CTXH
Khi nói đến chế độ cứu trợ chúng ta hiểu đó là các hình thức trợ cấp cho các đối tượng của CTXH dưới các cách khác nhau như: trợ cấp vật chất, chăm sóc y tế hoặc bằng tinh thần…Trong đó, trợ cấp vật chất được coi là
Trang 21quan trọng nhất, được xác định trên cơ sở nhu cầu trợ giúp và khả năng đáp ứng tài chính của các quốc gia
Xuất phát từ đối tượng CTXH đa dạng mà các chế độ CTXH cũng phong phú để đáp ứng mục đích của CTXH Pháp luật về CTXH Việt Nam quy định hai hình thức CTXH chính đó là: CTXH thường xuyên và CTXH đột xuất Chế độ CTXH thường xuyên có tính chất ổn định, lâu dài, áp dụng cho những đối tượng không thể tự lo cho cuộc sống hàng ngày của mình Chế
độ CTXH đột xuất có tính tức thời, được thực hiện một lần và các hình thức
đa dạng, phong phú hơn phụ thuộc vào từng tình huống với những nhu cầu cụ thể Chế độ này áp dụng đối với đối tượng gặp khó khăn vì lý do bất khả kháng mà cuộc sống của họ bị đe dọa trong một thời gian ngắn nhất định
Ngoài ra ở phạm vi rộng hơn, hoạt động CTXH cũng được thực hiện với các nội dung khác như xóa đói giảm nghèo, nâng đỡ người lầm lỡ, mắc các tệ nạn xã hội…
Thứ ba, nguồn lực thực hiện CTXH
Tất cả các nội dung cơ bản của pháp luật CTXH đều là lý thuyết, không
có khả năng thực thi trên thực tế nếu không có nguồn lực thực hiện CTXH Pháp luật CTXH quy định rất rõ ràng, cụ thể nguồn lực thực hiện CTXH CTXH được thực hiện dựa trên nguồn kinh phí của Nhà nước (chủ yếu từ các nguồn thuế của quốc gia) Bên cạnh nguồn tài chính được đảm bảo từ ngân sách nhà nước, nguồn tài chính còn dựa trên cơ sở tự nguyện của các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức, cá nhân…trong và ngoài nước cũng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động CTXH
Thứ tư, công tác tổ chức và thực hiện hoạt động CTXH
Theo quy định của Pháp luật, công tác tổ chức và thực hiện các hoạt động CTXH được thống nhất từ trung ương xuống địa phương Cơ quan đứng đầu chịu trách nhiệm chính là Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội với cơ
Trang 22quan chuyên môn là Cục bảo trợ xã hội Tương đương với cấp tỉnh, thành phố
là Sở Lao động Thương binh và Xã hội với các cơ quan chuyên môn thực hiện là phòng Lao động Thương binh và xã hội…
Tóm lại, pháp luật CTXH là một bộ phận của hệ thống pháp luật về các vấn đề xã hội nói chung và pháp luật an sinh xã hội nói riêng Pháp luật CTXH là công cụ để các chủ trương, đường lối về chính sách CTXH đi sâu vào thực tế cuộc sống, nhằm mục đích quản lý, kiểm soát và hướng hoạt động CTXH theo những mục tiêu nhất định của mỗi quốc gia
1.3 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ CỨU TRỢ XÃ HỘI
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật CTXH là những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm CTXH trong việc điều chỉnh các quan hệ CTXH Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật CTXH Việt Nam thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề đảm bảo quyền con người, từng bước cải thiện đời sống của mỗi thành viên xã hội, phát triển kinh tế-xã hội thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Là bộ phận cấu thành của pháp luật an sinh xã hội, chế độ CTXH cũng đảm bảo thực hiện các nguyên tắc chung của hệ thống an sinh như nguyên tắc đảm bảo thực hiện đối với mọi thành viên xã hội, nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý, nguyên tắc lấy số đông bù số ít…Tuy nhiên với đặc thù riêng của mình về đối tượng, hình thức thực hiện, mục đích trợ cấp…nên chế độ CTXH xác định những nguyên tắc riêng cho mình, cụ thể một số nguyên tắc sau:
1.3.1 Nguyên tắc mức trợ cấp cứu trợ xã hội không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống trước khi phát sinh nhu cầu cứu trợ mà phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu, tình trạng tài sản thực tế của đối tượng
Quyền được hưởng an sinh xã hội nói chung và hưởng CTXH nói riêng
Trang 23là quyền của công dân trong xã hội Mọi thành viên trong xã hội không phân biệt địa vị xã hội, trình độ văn hóa, giới tính…khi gặp khó khăn, bất hạnh bản thân và gia đình không tự khắc phục được thì được hưởng trợ giúp xã hội Mức trợ cấp xã hội không phụ thuộc vào thu nhập, tài sản của đối tượng trước khi có biến cố rủi ro xảy ra, mà phụ thuộc vào nhu cầu của đối tượng cần CTXH cũng như khả năng đáp ứng của Nhà nước và cộng đồng Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của CTXH, theo đó các khoản trợ cấp không nhằm
bù đắp hay thay thế thu nhập của đối tượng, cũng không nhằm đảm bảo cuộc sống với những yêu cầu định trước mà chỉ nhằm giúp cho đối tượng thoát ra khỏi tình trạng cuộc sống bị đe dọa, vươn lên hòa nhập cộng đồng
Tuy nhiên, trên thực tế nguyên tắc này trong CTXH không có nghĩa là cào bằng, ai cũng như ai mà phải dựa trên mức độ rủi ro, hoàn cảnh khác nhau…mà quyết định mức cứu trợ khác nhau Vì vậy, pháp luật CTXH đã phân loại đối tượng CTXH để đưa ra chế độ CTXH thường xuyên và chế độ CTXH đột xuất
Có thể nói, đây là nguyên tắc xuyên suốt bao trùm toàn bộ nội dung của hoạt động CTXH trong hệ thống ASXH Khác với nội dung bảo hiểm xã hội hay ưu đãi xã hội thì vấn đề đóng góp vật chất hay sức người không được đặt
ra đối với các đối tượng hưởng chế độ CTXH
1.3.2 Nguyên tắc cân đối giữa nhu cầu thực tế của đối tƣợng với khả năng đáp ứng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
Các nghiên cứu về an sinh xã hội cho thấy các quốc gia càng phát triển thì mức độ và đối tượng CTXH càng phổ biến rộng rãi Tuy nhiên ở Việt Nam với tình trạng đất nước còn nghèo, GDP bình quân đầu người năm 2006 đạt 740USD, năm 2009 đạt 1060 USD trong khi đó năm 2004 của Thái Lan 2.262 USD; Philipin là 1030 USD, Indonesia là 1.146 USD, Việt Nam chỉ cao
Trang 24hơn Lào 286 USD và Campuchia 368 USD [16] nên quan tâm đến an sinh xã hội nói chung và CTXH nói riêng vẫn còn nhiều mới mẻ và chưa được sự quan tâm của Nhà nước trong một thời gian dài Hơn nữa, do những đặc thù của Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội mà nhu cầu CTXH ở Việt Nam là rất lớn Với tỷ lệ số hộ đói nghèo, số lượng người tàn tật không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu hiện nay …thì số lượng đối tượng cần trợ giúp đang là bài toán nan giải trên con đường phát triển đất nước Vì vậy, thực hiện CTXH phải cân đối giữa nhu cầu thực tế của đối tượng với khả năng đáp ứng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước, ngoài các khoản trợ giúp do ngân sách Trung ương chi trả thì các địa phương trích từ 2%-5% các nguồn thu của địa phương làm quỹ dự phòng cho các hoạt động phòng chống thiên tai, hỏa hoạn… Nguồn thu các địa phương khác nhau thì mức độ CTXH cho các đối tượng là khác nhau Tuy nhiên, mức trợ cấp CTXH cũng phải đảm bảo được nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì được cuộc sống cho mọi đối tượng hoặc thoát khỏi hoàn cảnh nguy nan trước mắt
Với tầm quan trọng như vậy nên trong quá trình thực hiện công tác CTXH nhà nước luôn luôn phải quan tâm và quán triệt thực hiện nguyên tắc trên Nếu mức CTXH cao hơn so khả năng đáp ứng thì sẽ không đảm bảo thực hiện, thậm chí còn tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nguồn cứu trợ Nếu mức trợ cấp quá thấp thì không đảm bảo được mục đích cứu trợ là “lưới đỡ kinh tế cuối cùng” giúp đỡ người dân
1.3.3 Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động CTXH
Xuất phát từ các đối tượng CTXH khác nhau mà hình thức, mức độ cứu trợ cũng khác nhau Có những đối tượng là nguyên nhân từ thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt…; có những đối tượng do hoàn cảnh như trẻ em mồ côi, người
Trang 25mắc các tệ nạn; có những đối tượng do điều kiện sức khỏe như người tàn tật…nên các mức và hình thức cứu trợ từ đó cũng rất đa dạng và phong phú
Có đối tượng cần cứu khỏi chết đói, chết rét, bệnh tật… nhưng có những đối tượng cần trợ giúp thường xuyên để duy trì cuộc sống trong thời gian dài…Hay trong cùng một nhóm hưởng cứu trợ nhu cầu cũng khác nhau, chẳng hạn khi có thiên tai, bão lụt thì người cần tiền để dựng lại nhà ở, người cần lương thực để chống đói Trong một số các trường hợp, việc thực hiện CTXH bằng tiền, hiện vật nhưng cũng có những trường hợp cần cứu trợ về tinh thần như thành lập các viện dưỡng lão, các trung tâm tư vấn cho mọi lứa tuổi Tóm lại, CTXH là hoạt động rất đa dạng và phong phú từ đối tượng, hình thức cứu trợ đến cách thức thực hiện
Bên cạnh tính đa dạng của hoạt động cứu trợ thì yếu tố xã hội hóa cũng rất được quan tâm khi thực hiện hoạt động CTXH trên thực tế Xã hội hóa hoạt động cứu trợ được hiểu đó là sự tham gia của toàn xã hội vào công tác CTXH Mỗi cá nhân sống trong cộng đồng đều phải có trách nhiệm với các thành viên khác và với chính mình trên cơ sở sự yêu thương, che chở, đùm bọc lẫn nhau Nhà nước giữ vai trò trung tâm, khuyến khích và tạo điều kiện
để bất cứ cá nhân, tổ chức nào có lòng từ thiện đều có thể tham gia vào các hoạt động CTXH Thời gian gần đây, việc xã hội hóa hoạt động CTXH đã được phát huy hiệu quả, hàng loạt các hoạt động được tổ chức như: “ủng hộ đồng bào lũ lụt”, chương trình “vì người nghèo”, “ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam”…Có thể nói CTXH thể hiện rõ nét nhất nguyên tắc xã hội hóa
so với các bộ phận khác trong hệ thống an sinh xã hội
1.4 Ý NGHĨA CỦA CỨU TRỢ XÃ HỘI
1.4.1 Cứu trợ xã hội là quyền cơ bản của con người trong xã hội
CTXH thể hiện một cách rõ nét nhất quyền cơ bản của con người trong
Trang 26xã hội: quyền được sống, được bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội, giữa người bình thường và những người tàn tật hay những người không may rơi vào những hoàn cảnh khó khăn, quyền được sự yêu thương, đùm bọc, che chắn, bảo vệ cho mỗi thành viên của xã hội trước các biến cố, bất lợi xảy ra đối với họ Quyền này đã được ghi nhận tại Điều 22- Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc ngày 10/12/1948: “mọi người đều có quyền hưởng một mức sống đủ đảm bảo sức khỏe và nhu cầu của mình cùng gia đình nhất là về
ăn uống, nhà ở, thuốc men…” Như vậy có thể nói, với tư cách là một thành viên trong xã hội mọi người đều có quyền hưởng CTXH khi gặp khó khăn, bất hạnh, rủi ro Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình các chế độ CTXH nhằm đảm bảo quyền con người Quyền này được xây dựng trên nền tảng “thỏa mãn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho phẩm giá và sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân”[24]
Ở Việt Nam, quyền CTXH đã được ghi nhận trong điều 67, Hiến pháp 1992: “người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ” là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện hoạt động CTXH và ban hành những văn bản pháp luật quy định về CTXH Ngoài ra, quyền CTXH được ghi nhận thông qua các văn bản có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh người tàn tật, Pháp lệnh người cao tuổi, Luật bảo vệ chăm sóc bà
mẹ, trẻ em…Điều này cho thấy, CTXH không chỉ đơn thuần là hoạt động mang tính tự phát, tính nhân đạo của cộng đồng mà dưới góc độ của pháp luật
nó trở thành chế định quan trọng của một quốc gia
1.4.2 Cứu trợ xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của các thành viên trong xã hội
Bất kỳ xã hội nào dù giàu hay nghèo cũng luôn tồn tại những bộ phận người “yếu thế” Vì những nguyên nhân khác nhau mà họ rơi vào hoàn cảnh
Trang 27khó khăn, bần cùng, nghèo đói, dẫn đến không có đủ khả năng tự đảm bảo nhu cầu cuộc sống tối thiểu của bản thân, gia đình và không tự mình khắc phục được khó khăn đó nên cần đến sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng Lúc này CTXH được coi là biện pháp bảo vệ cho cuộc sống của những đối tượng
đó Với tư cách là một công cụ pháp lý, CTXH chính là sự đảm bảo cho các thành viên khó khăn trong xã hội được đảm bảo cuộc sống tối thiểu và hòa nhập với cộng đồng Thông qua các hình thức trợ giúp như bằng tiền, hiện vật hoặc những trợ giúp về tinh thần đã giúp đỡ được các đối tượng giải quyết được các khó khăn trước mắt, ban đầu hoặc những khó khăn lâu dài đối với các đối tượng không có khả năng khắc phục được khó khăn của mình trong một thời gian dài hoặc suốt cuộc đời CTXH được xem như là “lưới đỡ kinh
tế cuối cùng” về miếng cơm, manh áo hàng ngày cho đối tượng CTXH không chỉ giải quyết được vấn đề trước mắt là nhu cầu sống tối thiểu hàng ngày mà còn tạo điều kiện thuận lợi để cho những đối tượng bất hạnh tự vươn lên hòa nhập với cộng đồng và nâng cao đời sống của mình bằng những biện pháp như: tư vấn việc làm, xóa đói giảm nghèo, hướng nghiệp, giáo dục, y tế…Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rằng CTXH không phải là sự ban
ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực mà là quyền của mỗi thành viên trong xã hội, là trách nhiệ m, nghĩa vụ của cả cộng đồng
1.4.3 Cứu trợ xã hội góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, công bằng xã hội và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Thực tế cho thấy, một xã hội muốn phát triển bền vững phải đảm bảo được sự ổn định về chính trị, xã hội Nguyên nhân của những bất ổn xã hội xuất phát từ nguồn gốc của sự đói nghèo và sự suy thoái về đạo đức Khi những nhu cầu thiết yếu của con người không được đảm bảo rất dễ dẫn đến
Trang 28phẩm giá và nhân cách của họ không được đảm bảo, xã hội sẽ trở thành bất
ổn, thiếu an toàn Với chức năng trợ giúp các đối tượng xã hội, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, CTXH đóng vai trò là chiếc “ van an toàn”, thu hẹp dần khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, điều tiết trật tự xã hội, hạn chế từ gốc rễ những bất ổn xã hội, góp phần duy trì ổn định xã hội trong đó có ổn định chính trị và an toàn xã hội Khi xã hội đã được an toàn, chính trị ổn định thì tất yếu sẽ dẫn đến kinh tế có điều kiện thuận lợi để phát triển
CTXH còn thể hiện là công cụ thực hiện công bằng xã hội CTXH thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội theo cả chiều ngang và chiều dọc Sự phân phối lại theo chiều ngang là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh, có điều kiện làm việc và những người bất hạnh không thể tự mình kiếm sống Sự phân phối theo chiều dọc là sự chuyển giao một phần của cải của những người có thu nhập cao và những người có thu nhập quá thấp thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc của người giàu chia cho người nghèo một cách cực đoan hay phân phối bình quân mà còn phải đảm bảo tính công bằng trong cơ chế hưởng thụ, phân chia nguồn lực
Bên cạnh việc góp phần thực hiện công bằng xã hội, CTXH còn là biện pháp góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững Xét cho cùng chiến lược của các quốc gia đều nhằm vào mục đích cuối cùng là đảm bảo và
có những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mọi người dân và lợi ích của toàn xã hội Trong sự phát triển đó, CTXH cũng có những đóng góp quan trọng CTXH tạo ra các cơ hội công bằng, đảm bảo cho mọi người nhất là những người “yếu thế” và những người dễ bị tổn thương được hưởng một nền giáo dục cơ bản, được bồi dưỡng về nhân cách, chăm sóc y tế, dạy nghề, trợ giúp khi gặp khó khăn để họ có thể dần dần lo liệu và nâng cao chất lượng
Trang 29cuộc sống của bản thân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước
1.4.4 Cứu trợ xã hội có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và mang tính toàn cầu
CTXH tạo cho những con người bất hạnh, kém may mắn trong xã hội
có thêm điều kiện, lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố, những rủi
ro, giúp họ có cơ hội để phát triển, để hòa nhập với cộng đồng, kích thích tính tích cực trong mỗi con người, chống lại những tư tưởng và lối sống vị kỷ CTXH là hoạt động không nhằm mục tiêu vụ lợi, mục đích kinh doanh mà xuất phát từ nhu cầu khách quan của cuộc sống, đó là nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ khi gặp khó khăn, hiểm nghèo…Điều này thể hiện lòng nhân đạo, tình người trong mỗi xã hội Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế, giá trị vật chất ngày càng được coi trọng thì CTXH ngày càng có ý nghĩa hơn, không chỉ ở việc sống có nghĩa có tình nó còn góp phần giáo dục và hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển lành mạnh
CTXH không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia mà nó còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc Các tiêu chí đánh giá độ văn minh, tiến bộ của quốc gia không thuần túy ở sự phát triển kinh tế mà còn phụ thuộc vào các chính sách
xã hội nói chung và CTXH nói riêng Chính vì vậy, sự quan tâm quyền con người đã vượt ra khỏi ranh giới phạm vi quốc gia vì một thế giới chung hòa bình, phát triển
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Mục đích nhằm giải quyết những vấn đề lý luận của toàn bộ luận văn, chương một đã làm sáng tỏ khái niệm CTXH và pháp luật CTXH trên cơ sở
nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, sự ra đời của CTXH như là một tất yếu khách quan để đảm
bảo sự tồn tại của mình vượt qua những khó khăn cuộc sống Theo cách hiểu thông thường CTXH gồm hai nhóm từ ghép là “ cứu tế xã hội” và “trợ giúp
xã hội” để nói đến sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng nhằm giúp con người vượt qua những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ổn định cuộc sống CTXH là một bộ phận của an sinh xã hội Nói đến nội dung của CTXH trên thực tế còn nhiều cách diễn đạt khác nhau như: bảo đảm xã hội, trợ giúp xã
hội nhưng thực chất nội hàm của các cách diễn đạt trên là không khác nhau
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời, khái niệm CTXH, chúng ta
tiếp cận CTXH dưới góc độ pháp luật Pháp luật CTXH Việt Nam ngày càng hoàn thiện và đảm bảo tính khả thi trên thực tế Nội dung chủ yếu của Pháp luật CTXH bao gồm: đối tượng, điều kiện hưởng CTXH; chế độ CTXH và nguồn tài chính thực hiện CTXH
Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật CTXH được xác định là
những chuẩn mực có tính bắt buộc để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Pháp luật CTXH bao gồm các nguyên tắc sau: Nguyên tắc mức trợ cấp CTXH không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống trước khi phát sinh nhu cầu cứu trợ mà phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu, tình trạng tài sản thực
tế của đối tượng; Nguyên tắc cân đối giữa nhu cầu thực tế của đối tượng với khả năng đáp ứng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội; Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động CTXH
Trang 31Thứ tư, CTXH có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ cuộc
sống của các thành viên trong xã hội, đồng thời đảm bảo quyền cơ bản của con người trong xã hội; mặt khác, CTXH còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, công bằng xã hội và thúc đầy tiến bộ xã hội; CTXH có ý nghĩa
nhân đạo sâu sắc và mang tính toàn cầu
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ CỨU TRỢ
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI VIỆT NAM
Như thông lệ quốc tế, sự phát triển pháp luật CTXH của mỗi quốc gia
đi từ sơ khai đến hoàn thiện dần Sự phát triển này phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức về CTXH, điều kiện kinh tế, xã hội và đặc điểm của mỗi quốc gia
Ở nước ta, CTXH là một chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách
xã hội và được thể chế thực hiện bằng pháp luật Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật CTXH cũng dần hoàn thiện để phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Trong phần này, tác giả trình bày sơ lược sự phát triển của pháp luật CTXH Việt Nam từ giai đoạn 1945 đến nay
2.1.1 Giai đoạn 1945 – 1975
Đây là giai đoạn đất nước tập trung hết sức người, sức của cho công cuộc giải phóng đất nước chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Ở đầu giai đoạn này, CTXH tập trung chủ yếu vào việc “diệt giặc đói” Với mục tiêu không để người dân chết đói, Bộ Cứu tế đã ra đời và ban hành Nghị định ngày 10/9/1945 về việc đặt nguyên tắc về cứu trợ kinh tế và thành lập ra một
cơ quan cứu tế tại các cơ sở y tế địa phương Sau đó, Ủy ban tối cao về tiếp tế
và cứu trợ được thành lập theo Sắc lệnh số 67/SL ngày 29/11/1945 của Chính phủ lâm thời Đặc biệt ngày 9/11/1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua, trong đó tại Điều 14 có ghi nhận về quyền CTXH
Từ đây quyền được giúp đỡ về vật chất và tinh thần của những đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội đã trở thành quyền hiến định
Trang 33Từ những năm 1945 trở đi, do yêu cầu của công cuộc kháng chiến nên các chế độ CTXH chủ yếu tập trung vào các đối tượng là người già cô đơn, trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa và đối tượng là nạn nhân của chiến tranh Một số văn bản pháp luật tiêu biểu cho thời kỳ này là: Thông tư 123/TTg ngày 30/03/1959 của Thủ tướng về việc thành lập quỹ nghĩa thương, thông tư 202/CP ngày 26/11/1966 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa và người tàn tật…Trợ cấp CTXH đã có tác dụng ổn định đời sống của toàn dân, tạo tâm lý yên tâm để sản xuất, xây dựng Miền Bắc, chi viện cho Miền Nam
2.1.2 Giai đoạn 1975 đến nay
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (tháng 4/1975), cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn cả nước độc lập thống nhất, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, do hậu quả nặng
nề của chiến tranh cùng ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80 đã làm cho đối tượng CTXH tăng lên, gánh nặng cho chính sách CTXH Nhìn chung, các quy định CTXH đầu giai đoạn này phải giảm giá trị thực tế, các đối tượng cứu trợ phải trông chờ vào các biện pháp tương trợ cộng đồng khác
Từ năm 1986 đến nay, pháp luật về CTXH ở nước ta có nhiều tiến bộ hơn, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ VI của Đảng – Đại hội mở ra thời kỳ đổi mới sâu sắc, toàn diện trên đất nước ta Nhà nước đã thực hiện rất nhiều chính sách nhằm hoàn thiện Pháp luật CTXH để phù hợp với tình hình mới Trong giai đoạn này, có khá nhiều văn bản pháp luật CTXH được ban hành, trong đó
có một số văn bản có giá trị pháp lý cao, đặc biệt có ý nghĩa đối với đối tượng CTXH như: Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL-UBTVQH ngày 30/7/1998, Pháp lệnh người cao tuổi của UBTVQH thông qua ngày 28/4/2000
Trang 34và lần đầu tiên chính sách CTXH được quy định đầy đủ trong Nghị định số 07/2000/NĐ- CP về chính sách CTXH (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định
số 168/2004/NĐ-CP ngày 20/9/2004) Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, chính sách CTXH ngày càng được chú trọng quan tâm hơn, với sự ra đời của hàng loạt các văn bản như:
- Nghị định của Chính phủ số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP
- Nghị định của Chính phủ số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
- Thông tư của Bộ LĐ-TBXH số 09/2007/TTBLĐTBXH ngày 13/7/2007 hướng dẫn một số điều Nghị định 67/2007/NĐ-CP
- Thông tư của Bộ LĐ-TBXH số 26/2008/TTBLĐTBXH ngày 10/11/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH
- Thông tư liên tịch của Bộ LĐ-TBXH và Bộ nội vụ số BLĐTBXH-BNV ngày 21/09/2009 hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
32/TTLT-tổ chức và định mức cán bộ, nhân viên của cơ sở bảo trợ xã hội công lập
- Nghị định của Chính phủ số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ
xã hội
- Nghị định của Chính phủ số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác của Chính Phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp về công tác CTXH
Có thể nói, kể từ khi ra đời đến nay, pháp luật CTXH không ngừng hoàn thiện góp phần vì mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…Tuy
Trang 35nhiên, Pháp luật CTXH hiện hành còn bộc lộ những hạn chế nhất định và cần phải có những đánh giá cụ thể đối với từng nội dung của Pháp luật CTXH
2.2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI
2.2.1 Về đối tượng và điều kiện hưởng CTXH
Theo pháp luật hiện hành CTXH bao gồm hai chế độ: CTXH thường
xuyên và CTXH đột xuất CTXH thường xuyên là sự giúp đỡ về vật chất và
các điều kiện sinh sống khác của xã hội một cách thường xuyên cho các thành viên của mình khi gặp phải những rủi ro, bất hạnh, rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, cuộc sống thường nhật luôn bị đe dọa; CTXH đột xuất là sự giúp
đỡ về vật chất và các điều kiện sinh sống khác của xã hội cho những thành viên của mình khi gặp phải những rủi ro hoặc khó khăn bất ngờ như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn…làm cuộc sống tạm bợ bị đe dọa về lương thực, nhà ở…cần phải có sự trợ giúp khẩn cấp
Như vậy, giữa chế độ CTXH thường xuyên và chế độ CTXH đột xuất đều là sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng đối với các đối tượng khó khăn
mà bản thân và gia đình họ không thể vượt qua được để ổn định cuộc sống Tuy nhiên, hai khái niệm trên có một số khác biệt nhằm phân biệt hai hình thức cứu trợ này
Thứ nhất, đối tượng hưởng chế độ CTXH thường xuyên là những cá
nhân, hộ gia đình có thiệt thòi về tuổi tác, sức khỏe, điều kiện kinh tế ; trong khi đó các đối tượng hưởng chế độ CTXH đột xuất các yếu tố này không đặt ra mà do các yếu tố khách quan gây nên làm ảnh hưởng đời sống của người được cứu trợ
Thứ hai, thời gian hưởng chế độ CTXH thường xuyên có thể kéo dài
hàng năm hoặc có khi là cả cuộc đời nhưng đối với CTXH đột xuất chỉ mang tính chất “một lần” để giúp họ vượt qua những khó khăn ban đầu
Trang 36Ngoài hai chế độ CTXH kể trên, còn một số đối tượng thuộc diện đói nghèo và đối tượng tệ nạn xã hội như nghiện hút ma túy, hành nghề mại dâm, người lang thang ăn xin cũng có thể được hưởng CTXH ở một mức độ nhất định, song không được coi là đối tượng CTXH chủ yếu Vì vậy, luận văn không trình bày nội dung các đối tượng này trong phạm vi nghiên cứu của tác giả
2.2.1.1 Đối tượng và điều kiện hưởng CTXH thường xuyên
Theo quy định pháp luật hiện hành, đối tượng CTXH thường xuyên bao gồm 9 nhóm đối tượng sau:
(i) Trẻ em mồ côi và người có hoàn cảnh tương tự như trẻ em mồ côi; (ii) Người cao tuổi bao gồm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ gia đình nghèo và người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo
(iii) Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội;
(iv) Người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng
tự phục vụ;
(v) Người mắc bệnh tâm thần hoặc tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm;
(vi) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo
(vii) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (viii) Hộ gia đình có hai người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng
tự phục vụ hoặc có từ 2 người mắc bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần
Trang 37đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm
(ix) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi, trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới
18 tuổi
Như vậy, so với các quy định trước đây, nhóm đối tượng hưởng chế độ CTXH thường xuyên đã tăng lên 9 đối tượng so với 4 đối tượng quy định trong Nghị định số 07/2000/NĐ-CP Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung cụ thể của nhóm đối tượng đầu tiên này
- Trẻ em mồ côi và người có hoàn cảnh tương tự như trẻ em mồ côi,
đó là:
+ Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng;
+ Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng,
+ Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của Pháp luật
+ Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không có người nuôi dưỡng
+ Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo
+ Người chưa thành niên từ đủ 16 dến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên
Đây là đối tượng đầu tiên được quan tâm trong nhóm đối tượng CTXH thường xuyên Điều này cũng dễ hiểu bởi nhận thức của nhân loại nói chung
và của Việt Nam nói riêng thì trẻ em được coi là tương lai đất nước Chính vì vậy, quyền trẻ em đã trở thành quyền hiến định, ghi nhận tại Điều 65- Hiến
Trang 38pháp 1992 “trẻ em được gia đình, nhà trường và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục” Tuy nhiên, một số trẻ em do những hoàn cảnh nhất định phải cần đến sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng, xã hội Trẻ em mồ côi sống trong điều kiện rất khó khăn, không được chăm sóc đầy đủ, phải lao động kiếm sống, ít có điều kiện đến trường, phải sống trong cảnh nghèo đói Theo kết quả tổng hợp báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết “ từ năm 2001 đến nay con số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã giảm xuống 1,7 triệu em trong giai đoạn 2005-2007 và có xu hướng ổn định, không tăng đến năm 2008 Ngoài ra còn có 1,8 triệu em trong các hộ nghèo”[9] Đây là các đối tượng rất cần sự quan tâm của Nhà nước và cộng đồng nhằm giúp các
em sớm hòa nhập cuộc sống và đảm bảo phát triển đầy đủ, toàn diện
Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Điều kiện xác định đối tượng hưởng CTXH thường xuyên là trẻ em từ đủ 16 dến dưới 18 tuổi đang đi học văn hóa, học nghề (khoản 1 điều 4 Nghị định 67/2007/ NĐ-CP) là không phù hợp, bởi các lý do sau: (i) theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao động thì người đủ 15 tuổi trở lên có thể tham gia quan hệ lao động; (ii) hiện nay, với điều kiện kinh tế, sức khỏe, trẻ em nói chung đã tham gia quan hệ lao động dưới các hình thức khác nhau trong độ tuổi từ 12-
13 trở lên và thậm chí ở một số gia đình khó khăn các em đã là trụ cột trong gia đình Chính vì vậy, trong khi nguồn ngân sách cho CTXH chưa đủ mức độ bao phủ thì việc lựa chọn đúng đối tượng cứu trợ, đúng người là điều rất cần thiết
- Người cao tuổi: Vấn đề người cao tuổi đã và đang trở thành vấn đề
xã hội của nhiều quốc gia quan tâm Quan tâm chăm sóc người già nói chung
và người già cô đơn không người nuôi dưỡng là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, nhất là đối với Việt Nam, một đất nước có truyền thống tôn trọng người già Theo quy định của pháp luật hiện hành, những người cao tuổi sau thuộc diện hưởng chế độ CTXH:
Trang 39+ Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ gia đình nghèo
+ Người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo
Bằng quy định này, Nhà nước đã giúp không ít các đối tượng người già duy trì ổn định cuộc sống lúc cuối đời
Tuy nhiên, căn cứ vào quy định trên ta thấy tiêu chí quan trọng của đối tượng người cao tuổi được hưởng CTXH là “cao tuổi” và “hộ gia đình nghèo” Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên và được coi là hộ gia đình nghèo theo chuẩn nghèo do Nhà nước quy định (áp dụng cho giai đoạn 2006-2010) là: 260.000/tháng đối khu vực thành thị và 200.000 đồng/tháng đối với khu vực nông thôn Với quy định này, chúng ta thấy pháp luật vẫn còn “bỏ ngỏ” cho một số đối tượng về mặt thực tế không được hưởng CTXH nhưng vẫn ỷ lại, trông chờ vào sự trợ cấp của nhà nước Điều này xuất phát từ thực tế, người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) còn sức khỏe có gần 30% tham gia làm các công việc khác nhau để kiếm sống, 10% làm việc nhà để con cháu đi làm, đặc biệt ở vùng nông thôn tỷ lệ làm việc gia đình cao gấp 4,5 lần tỷ lệ chung cả nước [4] Mặt khác, các nước
có hệ thống CTXH phát triển như Canada, Thụy Điển, Pháp …pháp luật đều xác định sức khỏe là tiêu chí quan trọng cho người hưởng trợ cấp xã hội và họ phải qua một kỳ kiểm tra sức khỏe toàn diện để làm căn cứ xác định đối tượng và mức hưởng CTXH Trong khi đó, quy định trên của pháp luật Việt Nam lại không lấy tiêu chí sức khỏe làm cơ sở xác định đối tượng và mức độ trợ cấp cho người cao tuổi
- Người từ 85 tuổi trở lên, không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm
xã hội: Theo số liệu của báo cáo tại hội thảo khoa học “chính sách pháp luật
về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay” do viện KAS và viện Nhà nước và
Trang 40pháp luật tổ chức tháng 4 năm 2010 tại Cần Thơ cho biết năm 2009 có 1,25 triệu đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội, trong đó: nhóm người từ 85 tuổi trở lên chiếm 43,1%, nhóm khuyết tật chiếm 24,5%, người già cô đơn khoảng 9,6%, người tâm thần khoảng 8,6%, người đơn thân nuôi con nhỏ khoảng 7,6%, trẻ em mồ côi khoảng 5% [10] Có thể nói, cùng với sự phát triển kinh
tế của đất nước thì điều kiện sống của con người được nâng cao, tuổi thọ kéo dài hơn Vì vậy, quy định người từ 85 tuổi trở không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội được hưởng chế độ cứu trợ là đáp ứng phần lớn nhu cầu của người già hiện nay
Tuy nhiên, trên thực tế một số người trên 85 tuổi bản thân họ không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội nhưng lại có khoản thu nhập ngoài như: nguồn trợ cấp từ con cháu, từ các hoạt động cho thuê nhà, tiền lãi suất tiết kiệm…Nếu pháp luật chỉ dừng lại tiêu chí không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người già trên 85 tuổi là không hợp lý Vì vậy, pháp luật trong thời gian tới nên có những tiêu chuẩn cụ thể hơn về điều kiện kinh tế của đối tượng này để đảm bảo đúng ý nghĩa CTXH là “lưới đỡ kinh tế cuối cùng”
- Người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ Người tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho hoạt động, sinh hoạt học tập gặp nhiều khó khăn” (Điều 1, Pháp lệnh về người tàn tật) Đời sống của người tàn tật rất thiệt thòi và gặp nhiều khó khăn, gần 60% hộ có người tàn tật có mức sống trung bình, 1/3
số hộ thuộc diện hộ nghèo, 17,59% hộ có người tàn tật chưa được hưởng bất kỳ loại chính sách nào [2] Trình độ học vấn của người tàn tật còn rất thấp, có tới 41% người không biết chữ; trên 94% người tàn tật trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động không có trình độ chuyên môn, trong số này chỉ có 1,22% là