Đến năm 1998, tại Điều 1, Pháp lệnh người tàn tật số UBTVQH10 có nêu: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hoài Thu
Hà Nội – 2009
Trang 3MỤC LỤC Trang
Chương 1 Khái quát chung về lao động tàn tật và sự cần thiết
phải có những quy định riêng đối với lao động tàn tật
7
1.1 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng 7 1.1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Việt Nam 7 1.1.2 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng 9
1.2 Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động tàn tật 14
1.3 Ý nghĩa của những quy định riêng đối với lao động tàn tật 22
1.4 Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật về lao
động tàn tật ở Việt Nam
26
Chương 2 Chế độ pháp lý hiện hành về lao động tàn tật và thực
tiễn áp dụng ở Việt Nam
35
2.1 Các quy định pháp luật cơ bản đối với lao động tàn tật 34
2.1.1 Nhóm các quy định về chế độ đối với lao động tàn tật 34 2.1.1.1 Quy định về quyền làm việc của lao động tàn tật 34 2.1.1.2 Nhóm các quy định về học nghề và việc làm cho lao động
2.1.2.1 Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất
kinh doanh dành riêng cho người tàn tật
39
2.1.2.2 Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
khác thuộc mọi thành phần kinh tế
42
Trang 42.1.2.3 Nhóm các quy định riêng về dạy nghề cho lao động tàn
2.1.4 Về quỹ việc làm cho người tàn tật 48
2.1.5 Nhóm các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 50
2.1.6 Nhóm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động 51
2.2 Thực trạng lao động tàn tật và việc thực hiện các quy định
pháp luật đối với lao động tàn tật
52
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam 57
3.1 Một số nhận xét và đánh giá pháp luật về lao động tàn tật 57
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật 64
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và Việt Nam vừa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cao là rất lớn, vấn đề tạo việc làm cho người lao động đang là mối quan tâm bức thiết của người dân nói chung và người tàn tật nói riêng
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người tàn tật, tạo điều kiện cho họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội
là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc Theo số liệu thống kê, ở nước ta hiện có khoảng 5,3 triệu người tàn tật chiếm 6,34% dân số, trong đó trên 69% đang ở độ tuổi lao động Đại bộ phận lao động tàn tật không thể sống tự lập, khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, chỉ có khoảng 30% có hoạt động tạo thu nhập bằng các nghề thủ công truyền thống 93,4% người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn kỹ thuật; số có chứng chỉ nghề chỉ có khoảng 6,5% (theo số liệu của ngành lao động – thương binh và xã hội) Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động tàn tật là một vấn đề hết sức khó khăn, còn nhiều vướng mắc cần phải giải quyết
Bộ luật lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 và Bộ luật đến nay đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 Bộ luật lao động đã có những quy định riêng cho một số loại lao động đặc thù, trong đó có lao động là người tàn tật Những quy định về
“Lao động là người tàn tật” tại mục III, Chương XI của Bộ luật lao động là sự
kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đó trong lĩnh vực lao động Trong thời gian qua, mặc dù, việc ban hành các chính sách, quy định pháp luật
đã tương đối đầy đủ song vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chính sách và quy định pháp luật vẫn chưa được thực hiện có hiệu quả và người tàn tật vẫn gặp khó khăn trong việc tìm được một việc làm cùng thu nhập ổn định Tình
Trang 6trạng sử dụng lao động tàn tật không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm
xã hội, sự vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về an toàn vệ sinh lao động,… còn xảy ra khá phổ biến Hơn thế, công tác thanh kiểm tra còn lỏng lẻo, việc xử lý vi phạm còn bị xem nhẹ, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật trong đối tượng này còn chưa thường xuyên và chưa sâu rộng
Từ tình hình trên em lựa chọn “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn góp phần vào việc
hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật đối với lao động tàn tật ở nước ta
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm hai mặt là:
- Phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đối với lao động là người tàn tật
- Từ đó, rút ra những kết luận cần thiết, những ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện chế độ pháp lý đối với lao động tàn tật, cũng như áp dụng có hiệu quả chúng trong thực tiễn đời sống
4 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam là một đề tài khá mới mẻ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn Đã có một số bài báo và một vài công trình nghiên cứu về vấn đề này, như:
Trang 7- Khóa luận tốt nghiệp (2000), “Chế độ lao động đối với người tàn tật”, của Trần Thị Hoa
- Khóa luận tốt nghiệp (2004), “Chế độ lao động đối với người tàn tật ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Oanh
Ngoài ra, còn một số bài báo cũng đề cập đến lao động tàn tật như: “Tạo
cơ hội cho người khuyết tật hòa nhập và tiếp cận đầy đủ trong quá trình phát triển” của TS Đàm Hữu Đắc đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 324/2007 hay “Để người khuyết tật Việt Nam có việc làm phù hợp và ổn định” của Nghiêm Xuân Tuệ đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 304 + 305/2007,…
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó chưa làm rõ các khía cạnh pháp lý đối với lao động tàn tật Hầu hết các công trình, bài viết của các tác giả chủ yếu tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội mà chưa quan tâm nhiều đến khía cạnh pháp lý của vấn đề lao động là người tàn tật Do đó, có thể nói rằng, đề tài
“Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu một cách
có hệ thống, tương đối toàn diện lao động tàn tật dưới góc độ pháp luật Trước thực tiễn lao động tàn tật ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu có hệ thống vấn
đề này mang tính thời sự cao, nhất là chúng ta đang bắt tay vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động, dự kiến trình Quốc hội vào năm 2011, xây dựng Luật Người tàn tật, dự kiến trình Quốc hội vào năm 2010 Kết quả của đề tài sẽ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động cũng như quá trình tổ chức thực hiện pháp luật đối với lao động này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lấy phép biện chứng của triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho quá trình nghiên cứu Ngoài ra, phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, khảo sát, thu thập,… được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực lao động liên quan đến người tàn tật là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu
Trang 86 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Khái quát chung về lao động tàn tật và sự cần thiết phái có những quy định riêng đối với lao động tàn tật
Chương 2 Các quy định pháp lý hiện hành về lao động tàn tật và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TÀN TẬT 1.1 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng
1.1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Việt Nam
Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của nước ta đã ghi nhận: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân” (Điều 55) và “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52) Như vậy, quyền và nghĩa vụ lao động là một phạm trù pháp lý phổ biến áp dụng với mọi công dân Việt Nam, điều này cũng phù hợp với Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về quyền con người (năm 1948)
Trong Bộ luật lao động Việt nam có nêu “Người lao động là người có ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động: (Điều 6) Song có một thực tế là trong số những người lao động đáp ứng cả ba yếu tố trên không phải đều tham gia vào quan hệ lao động một cách giống nhau Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của ngành nghề, công việc cũng như đặc điểm riêng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ lao động mà ngoài những quy định chung cho mọi người lao động, Bộ luật lao động đã dành riêng Chương XI, quy định lao động có tính đặc thù Cần phải lưu ý rằng, việc quy định một số chế độ lao động áp dụng riêng cho một số lao động đặc biệt không phải là một đặc quyền, đặc lợi mà xuất phát từ hoàn cảnh thực tế khách quan, từ nhu cầu chính đáng của lao động này, giúp họ giảm bớt những khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng và bảo vệ họ khi tham gia vào quan hệ lao động
Như vậy, có thể hiểu lao động có đặc điểm riêng là hệ thống các quy phạm điều chỉnh một số quan hệ lao động có những yếu tố đặc thù nhằm bảo vệ những lợi ích của bản thân người lao động cũng như lợi ích chung của xã hội
Trong điều kiện hiện nay, lao động có đặc điểm riêng được coi như một chế định của luật lao động Việt Nam, chế định này được phân loại dựa trên một
số yếu tố cơ bản và có tính phổ biến sau:
Trang 10Thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người lao động có:
- Lao động nữ
- Lao động chưa thành niên
- Lao động là người tàn tật
- Lao động là người cao tuổi
- Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
- Lao động là người nước ngoài
Thứ hai, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người sử dụng lao động có:
- Lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Lao động ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động
Thứ ba, xuất phát từ những đặc điểm, tính chất của công việc có:
- Lao động nghệ thuật
- Lao động làm việc tại nhà
- Lao động giúp việc gia đình
Cho đến nay, ở nước ta chưa có tiêu chí và phân loại thống nhất về người tàn tật cũng như lao động tàn tật Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật người khuyết tật số LĐTBXH ngày 07 tháng 8 năm 2009 thì cả nước hiện có khoảng 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số Trong đó: 29,41% tàn tật vận động, 16,82% tâm thần, 17% đa dạng tật, 13,84% thị giác, các dạng tật thính giác, ngôn ngữ, trí tuệ chiếm tỷ lệ thấp hơn (từ 6 – 10%) Nguyên nhân gây ra tàn tật có tới 35,8% bẩm sinh, do bệnh tật chiếm 32,24%; do hậu quả chiến tranh là 25,56%, còn lại là các nguyên nhân khác như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tai nạn giao thông… Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người tàn tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do
Trang 1145/TTr-Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai
Trong số những người tàn tật thì trên 69% đang ở độ tuổi lao động Đại
bộ phận lao động tàn tật không thể sống tự lập, khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, chỉ có khoảng 30% có hoạt động tạo thu nhập bằng các nghề thủ công truyền thống 93,4% người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn
kỹ thuật; số có chứng chỉ nghề chỉ có khoảng 6,5% 31, tr.4
1.1.2 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng
1.1.2.1 Khái niệm lao động tàn tật
Cơ sở xác định ai sẽ được công nhận là người tàn tật và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống luật pháp liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi Do vậy, không có một khái niệm chung nào
về người tàn tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật Có hai cách tiếp cận khác nhau cho khái niệm này như sau:
Định nghĩa nhắm tới đối tượng hưởng lợi ở quy mô hẹp và đồng nhất, có liên quan đến suy giảm khả năng, được sử dụng để xây dựng các văn bản luật với mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho từng cá nhân tàn tật, hoặc người sử dụng lao động tàn tật
Định nghĩa khác mang ý nghĩa bao quát hơn nhằm bảo vệ những người tàn tật khỏi bị phân biệt đối xử, định nghĩa này có đối tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người tàn tật nhẹ
Ở Trung Quốc, Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật ban hành năm 1990 định nghĩa người khuyết tật là người bị mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật và/hoặc các dạng khuyết tật khác [34, tr.17] Định nghĩa này mang tính bao quát, đã nêu thế nào là tàn tật, khuyết tật, làm cơ
sở cho việc bảo vệ người tàn tật khỏi bị phân biệt đối xử
Ở Ấn Độ, Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động xã
Trang 12hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần; trong khi đó định nghĩa về người khuyết tật lại được nêu
“một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới bốn mươi phần trăm theo xác nhận của một cơ quan y tế có thẩm quyền” [34, tr.17] Như vậy, về người khuyết tật, luật pháp Ấn Độ có 2 định nghĩa, một là về khuyết tật, với mục đích chống phân biệt đối xử đối với người khuyết tật, còn định nghĩa dạng thứ hai nhằm hướng tới đối tượng hẹp hơn, có khuyết tật từ 40% trở lên
Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là
“người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến cho người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển trong nghề nghiệp [34, tr.18] Đây cũng là một loại định nghĩa với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát, với mục tiêu bình đẳng về việc làm giữa người khyết tật và người không bị khuyết tật
Theo quan điểm của Tổ chức y tế thế giới, người tàn tật (person with disability) là người khi họ bị giảm chức năng và hạn chế sự tham gia các hoạt động xã hội, là kết quả của sự kết hợp tình trạng cá nhân như bệnh tật, chấn thương hoặc các rối loạn chức với các yếu tố môi trường cản trở Đây là định nghĩa dạng bao quát, nhằm chống phân biệt đối xử với người tàn tật
Việc quan tâm của xã hội đến những người tàn tật không chỉ bằng những khoản trợ cấp xã hội, cái quý hơn là giúp họ tự lực và cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình là người vẫn có ích cho xã hội Các nước trên thế giới ngày càng chú ý đến lao động là người tàn tật Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có hai Công ước về lao động tàn tật, đó là Công ước số 128 ban hành năm 1967 và Công ước số 159 ban hành năm 1983 về tái thích ứng cho lao động
Trang 13giám định y khoa xác nhận” Đây là một định nghĩa được nêu trong Nghị định hướng dẫn Bộ luật lao động nên phạm vi hướng tới của nó hẹp, chỉ là các đối tượng “suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên” có giám định y khoa Định nghĩa này không nêu rõ thế nào là “tàn tật” mà chỉ đưa ra hậu quả của thương tật
Đến năm 1998, tại Điều 1, Pháp lệnh người tàn tật số UBTVQH10 có nêu: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” Đây là một khái niệm hết sức bao quát về người tàn tật, làm cơ sở để xác định ai là người tàn tật Khái niệm cũng làm cơ sở cho việc xây dựng khái niệm lao động tàn tật sau này
06/1998/PL-Ngày 23 tháng 4 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2004/NĐ-CP sửa đổi, bỏ sung Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm
1995, trong đó có sửa đổi, bổ sung khái niệm về lao động tàn tật: “Lao động là người tàn tật theo quy định tại Nghị định này là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ Y tế” (Điều 1) Đây là khái niệm tương đối toàn diện về lao động tàn tật, khắc phục những bất cập trong khái niệm lao động tàn tật nêu ở Nghị định số 81/CP, bởi ngoài việc nêu hậu quả của tàn tật là suy giảm khả năng lao động 21%, có giám định y khoa, khái niệm còn nêu rõ thế nào là tàn tật: bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau
Khái niệm lao động tàn tật trong Nghị định số 116/2004/NĐ-CP thực chất
là sự “kết hợp” giữa khái niệm lao động tàn tật trong Nghị định số 81/CP và khái niệm người tàn tật trong Pháp lệnh người tàn tật Sự kết hợp này đã đạt đến
Trang 14sự hợp lý cho khái niệm lao động tàn tật, các dấu hiệu, tiêu chí của lao động tàn tật đã rất rõ ràng Khái niệm này sẽ rất thuận lợi cho các mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho từng lao động tàn tật, hoặc người sử dụng lao động tàn tật Điều này mang lại ý nghĩa to lớn, giúp cho việc hoạch định chính sách
và thực hiện chính sách đối với lao động tàn tật được hiệu quả
Như vậy, lao động tàn tật là người ở độ tuổi lao động (nam từ 15 – 60 tuổi, nữ từ 15 – 55 tuổi) không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ Y tế Trong quá trình nghiên cứu đề tài, khái niệm này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong luận văn này
1.1.2.2 Phân loại lao động tàn tật
Để phân loại người tàn tật nói chung và lao động tàn tật nói riêng, có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:
a/ Theo nguyên nhân dẫn đến tàn tật gồm có:
- Nhóm nguyên nhân tàn tật do bẩm sinh
- Nhóm nguyên nhân tàn tật do bệnh tật
- Nhóm nguyên nhân tàn tật do chiến tranh
- Nhóm nguyên nhân tàn tật do tai nạn lao động
- Do những nguyên nhân khác
Cách phân loại này có thể giúp ngành y tế có biện pháp chăm sóc sức khỏe phù hợp Tuy nhiên, phân loại theo cách này không được thuận tiện cho việc thống kê và khó áp dụng các chính sách hỗ trợ cần thiết Do vậy, để thuận lợi hơn người ta phân loại theo mức độ tàn tật
b/ Theo tiêu chuẩn phân loại theo khả năng suy giảm, khuyết tật và trở ngại (ICIDH) do Tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 1980 thì cách phân loại này phân biệt giữa mức độ khuyết tật của cơ thể (suy giảm), cấp độ con
Trang 15người (khuyết tật) và cấp độ xã hội (trở ngại) Các định nghĩa về người khuyết tật theo ICIDH gồm 7 dạng: [33, tr.5]
- Suy giảm khả năng vận động như bị cụt chân, cụt tay, liệt, bại não,
- Suy giảm thính giác/nói (giao tiếp)
- Suy giảm thị giác bao gồm mù, mù màu,…
- Hành vi cư xử xa lạ (thường là do kết quả bệnh thần kinh phân liệt hay chứng loạn thần kinh hay những bệnh tâm thần khác)
- Chứng động kinh/ngất xỉu
Tiêu chuẩn phân loại này được các Bộ, ngành có lĩnh vực hoạt động liên quan nhất về vấn đề người khuyết tật sử dụng như: Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục – Đào tạo
c/ Theo bộ chỉ số đa mục tiêu
- Phản ánh tình hình chung về tàn tật: Phân loại tàn tật theo chức năng: nhìn, nghe, vận động, thông tin, nhận thức về một vấn đề, tự chăm sóc bản thân; mức độ khó khăn do tàn tật
- Phản ánh nguyên nhân khuyết tật: bẩm sinh, ốm đau, bệnh tật; tai nạn lao động, tai nạn giao thông; chiến tranh, xung đột, nguyên nhân khác;
- Phản ánh cơ cấu, địa bàn cư trú của người khuyết tật theo địa giới hành chính: cả nước, tỉnh, huyện, xã, vùng kinh tế, khu vực thành thị và nông thôn;
- Phản ánh theo nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân;
- Phản ánh theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp;
- Phản ánh nhu cầu đa dạng của người khuyết tật theo nhu cầu trợ giúp: chỉnh hình phục hồi chức năng, khám chữa bệnh khi ốm đau; học văn hoá, học nghề, tạo việc làm; phương tiện vận động chuyên dùng, máy trợ thính; trợ cấp
xã hội; nuôi dưỡng trong các cơ sở xã hội…
Tóm lại, cách phân loại như trên chỉ là tương đối, tùy thuộc vào từng mục đích, sử dụng mà người ta phân loại cho phù hợp Ở Việt Nam, hiện chưa có
Trang 16tiêu chí và phân loại thống nhất về người tàn tật Tuy nhiên, theo báo cáo của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật người khuyết tật số 45/TTr-LĐTBXH ngày 07 tháng 8 năm 2009 cho thấy cuộc điều tra về người tàn tật đã phân loại người tàn tật theo các dạng tật, các nguyên nhân gây ra tàn tật
1.2 Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động tàn tật
1.2.1 Đặc điểm về sinh lý, sức khoẻ
Sức khoẻ là vốn vô cùng quý giá của con người Với bất kỳ ai nếu không
có sức khoẻ thì họ sẽ không thể làm được gì và điều đó đồng nghĩa với việc không có thu nhập nuôi sống bản thân, để góp phần xây dựng gia đình và xã hội Nhà nước ta cũng đã có những chủ trương chính sách quan tâm đến sức khoẻ của toàn dân nhằm tăng nguồn nhân lực đất nước
Như trong khái niệm về lao động tàn tật ta đã thấy lao động tàn tật bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, điều đó cho thấy sức khỏe của lao động tàn tật không thể như những người bình thường khác.Lao động tàn tật là một trong những nhóm người yếu thế, cần được hỗ trợ nhiều nhất về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Chăm sóc sức khỏe cho người tàn tật là truyền thống, là đạo
lý của dân tộc, của xã hội và là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách, của Nhà nước ta hiện nay Tuy nhiên, số lao động tàn tật có bảo hiểm y tế chưa nhiều Khi họ đi khám chữa bệnh họ cũng được đối xử bình đẳng như những người không tàn tật khác Họ chủ yếu được chăm sóc bởi gia đình, họ hàng, ít hoặc chưa được tiếp cận các hệ thống bảo trợ xã hội của nhà nước
Chính những đặc điểm về sức khỏe này mà lao động tàn tật bị cản trở trong lao động và tìm kiếm việc làm, khiến cho họ giảm các cơ hội có việc làm
và thu nhập so với các lao động bình thường khác Chính vì vậy, nhà nước cần
có các quy định riêng đối với loại lao động này, tạo điều kiện cho họ có cơ hội tìm được việc làm phù hợp với sức khỏe của họ Đây chính là một lý do cơ bản đầu tiên của sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động tàn tật
Trang 17Một điều hiển nhiên là lao động tàn tật chỉ làm được một só công việc nhất định, song từ kinh nghiệm và nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu họ được đào tạo phù hợp gắn với công việc mà lao động tàn tật có khả năng tham gia và họ được giúp đỡ để thích nghi trong một môi trường lao động thuận lợi thì lao động tàn tật làm được rất nhiều loại hình công việc không thua kém người bình thường bởi họ cũng có kiến thức, kỹ năng, tài năng, mục đích, khát vọng như những người lao động bình thường khác, ngoài ra còn có thêm sự quyết tâm và nghị lực rất cao Nhưng quan trọng hơn là phải nhìn nhận được các loại hình phong phú của công việc mà người tàn tật có khả năng làm được và yêu thích, biết tạo điều kiện lao động phù hợp nhất đối với họ và loại khỏi những yếu tố bất lợi cho họ Tuỳ theo loại dị tật nào mà có các loại hình công việc tương ứng Chẳng hạn, đối với dạng tật vận động (cụt chi, khèo, thọt, liệt,…), hoạt động của các chi giảm hẳn, rất khó khăn trong vận động di chuyển nên cần được sử dụng vào những công việc không đòi hỏi phải đi lại, di chuyển nhiều như: văn phòng, trực điện thoại, Những người tàn tật về thị giác (mù hay khiếm thị) họ có thể làm các công việc như: làm tăm, dệt may, đan lát, vấn chổi, mátsa, châm cứu, Đối với người tàn tật về ngôn ngữ thì ưu tiên họ làm những công việc chân tay không cần giao tiếp
Chính vì yếu tố sức khoẻ này mà về hình thức trông họ không được nhanh nhẹn lắm và người sử dụng lao động cho rằng họ không thể lao động như những lao động bình thường khác và do vậy người sử dụng lao động ít muốn nhận lao động tàn tật vào làm việc Trong khi đó, người lao động tàn tật thì tha thiết được làm việc Chính vì vậy, chúng ta cần xây dựng một chế độ lao động riêng đối với người tàn tật đến độ tuổi lao động mà còn khả năng lao động để giải phóng sức lao động cho lao động tàn tật, góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội
1.2.2 Đặc điểm về tâm lý
Cảm nhận của mọi người khi tiếp xúc với người tàn tật đó là người tàn tật sống rất khép kín, không thích giao tiếp, ít hòa nhập vào cộng đồng Tâm lý
Trang 18chung ở người tàn tật là mặc cảm, tự ti và bi quan về tật nguyền của mình Chính cách sống này khiến họ trở nên rất thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, ngay
cả những vấn đề liên quan trực tiếp tới bản thân họ đó là quyền lợi của mình
Nguyên nhân dẫn đến tâm lý trên chủ yếu là bản thân người tàn tật không
tự tin về bản thân, họ mặc cảm nghĩ rằng mình không giúp được gì cho gia đình, cho xã hội, cộng thêm định kiến xã hội, cho rằng người tàn tật là gánh nặng của gia đình và có thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử Mặt khác, do đặc điểm đặc thù của người tàn tật Việt Nam phần lớn sống trong hộ gia đình nghèo nên càng khiến họ không tự tin, sống rất khép kín
Lao động tàn tật cũng không nằm ngoài những đặc điểm này của người tàn tật nói chung, thậm chí còn tự ti, mặc cảm nặng nề hơn những đối tượng tàn tật khác Nếu như trẻ em tàn tật, người già tàn tật (những người tàn tật không nằm trong độ tuổi lao động) ít có những quan tâm, mặc cảm liên quan đến việc làm, thu nhập, thì ngược lại với người tàn tật trong độ tuổi lao động, nhu cầu có việc làm, có thu nhập là vô cùng bức thiết Tuy nhiên, vì nhiều rào cản, trên thực tế lao động tàn tật đa phần sống dựa vào gia đình, ít có các hoạt động tạo thu nhập Nhiều người lao động tàn tật đã không thể tìm được một nghề nghiệp bền vững ngay cả khi đã hoàn thành việc học nghề, thêm vào đó là cả những thất bại và chán nản Thất vọng vì bị phân biệt đối xử và vì những định kiến sai lầm về khả năng lao động, nhiều người đã không còn tích cực tìm kiếm việc làm
và chỉ còn trông chờ vào phúc lợi dành cho người tàn tật nếu có, hoặc kiếm sống bằng những nghề có giá trị gia tăng thấp trong nền kinh tế phi chính thức với sự giúp đỡ của gia đình và cộng đồng Tâm lý của lao động tàn tật nặng nề hơn bởi
lẽ những người bình thường trong độ tuổi của họ đã có thể kiếm tiền, có thu nhập để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình Suy nghĩ này tạo nên thái độ sống mặc cảm, tự ti của lao động tàn tật và càng mặc cảm, tự ti thì lao động tàn tật càng khó tìm được việc làm để có thu nhập Từ thực trạng này không có gì ngạc nhiên khi thấy có mối liên kết vũng chắc giữa tình trạng đói nghèo và tàn tật
Trang 19Một yêu cầu đặt ra là: hình thành ý thức xã hội quan tâm đến người tàn tật, tuyên truyền phổ biến pháp luật đến tất cả mọi người trong xã hội để cộng đồng có sự nhận thức đầy đủ và đúng mức về người tàn tật, về lao động tàn tật
Và từ sự nhận thức đầy đủ sẽ dẫn đến thái độ và hành vi của cộng đồng được đúng đắn hơn để người tàn tật cảm thấy mình được tôn trọng, được động viên, khuyến khích, trợ giúp để hòa nhập cộng đồng, tiếp cận việc làm, tạo thu nhập
và ổn định cuộc sống
1.2.3 Yếu tố xã hội
Lao động tàn tật là chủ thể được quan tâm nghiên cứu không chỉ vì lợi ích của bản thân đối tượng này mà còn vì lợi ích của toàn xã hội Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đòi hỏi công sức đóng góp của toàn xã hội, đòi hỏi phải phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng lao động
Do đặc thù của đất nước gần một nửa thế kỷ chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước nên số người tàn tật thương binh nhiều, nhà nước cần có những chế độ ưu đãi, những chính sách phù hợp với những người có công, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn” Đối với những người tàn tật không phải do chiến tranh, họ là những người “yếu thế”, thiệt thòi hơn những người bình thường khác, Nhà nước cần phải có chính sách
cụ thể về vấn đề người tàn tật Với mục tiêu xây dựng các các chính sách kinh
tế, xã hội, phát triển đất nước vì con người, cho con người thì việc xây dựng chính sách đối với lao động tàn tật cần được đặc biệt quan tâm Về phía lao động tàn tật, nhu cầu có việc làm là rất lớn, họ luôn mong muốn được lao động, được làm việc, có thu nhập, trước hết là nuôi sống bản thân, sau là giúp đỡ gia đình, tạo ra của cải vật chất góp phần xây dựng đất nước Một chính sách kinh
tế bền vững phải gắn với việc giải quyết tốt các vần đề thất nghiệp, trong đó có vấn đề việc làm cho lao động tàn tật Vấn đề xã hội này trong nền kinh tế thị trường đang ngày càng trở lên cấp bách
Để xử lý đúng đắn những vấn đề xã hội cấp bách trong cơ chế mới, Đảng
ta đã lập danh mục những nhiệm vụ cụ thể để giải quyết từng bước các vấn đề
Trang 20xã hội: giải quyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược… Hướng ưu tiên là giải quyết việc làm cho những người đến tuổi lao động, …Là các vấn đề xã hội nhưng khi giải quyết lại phải gắn rất chặt với các vần đề kinh tế bởi vì tăng trưởng kinh tế là tiền đề rất quan trọng để giải quyết các vấn đề xã hội Ngược lại, giải quyết tốt vấn đề xã hội là điều kiện ổn định xã hội, phát triển kinh tế Có ý kiến cho rằng cứ phát triển kinh tế cao thì tức khắc khắc sẽ giải quyết được mọi vấn đề xã hội và dẫn đến tiến bộ xã hội Song thực tế ở nhiều nước cho thấy, nền kinh tế hùng mạnh nhưng các vấn đề xã hội lại trở nên căng thẳng và nhức nhối như bạo lực, tệ nạn
xã hội, bất bình đẳng Bài học rút ra cho thực trạng này là: Tăng trưởng kinh tế
tự nó không giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội, trong những trường hợp cụ thể còn làm trầm trọng thêm nhiều vấn đề như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường
… Tăng trưởng kinh tế tự nó cũng không dẫn đến tiến bộ xã hội mặc dù nó có thể góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Ở nước ta, dù là trong chiến tranh hay hòa bình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đều có những chủ trương và giải pháp xử lý các vấn đề xã hội phù hợp với điều kiện và thực tiễn Ngày nay, khi vận hành cơ chế thị trường trong nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, với tư duy khoa học và trí tuệ thực tiễn, Đảng ta đã xác lập những quan điểm đúng đắn và thiết kế những nội dung và các giải pháp thực hiện chính sách hợp
lý trong hoàn cảnh mới Như vậy là chính sách kinh tế và chính sách xã hội phải phải thực hiện song song với nhau, đan xen với nhau, lồng quyện vào nhau Nếu ngược lại, chính sách xã hội đi sau chính sách kinh tế thì người ta coi các vấn đề
xã hội như là gánh nặng của nền kinh tế và giải quyết được đến đâu hay tới đó, khi ấy sẽ phát sinh những gay cấn khó lường Còn nếu chính sách xã hội đi trước chính sách kinh tế thì sẽ rơi vào tình trạng không có điều kiện vật chất bảo đảm chính sách sẽ trở thành lời hứa suông [41, tr.25] Xuất phát tử những quan điểm ấy, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đúng đắn cho mọi đối tượng xã hội nói chung và chính sách cho lao động tàn tật nói riêng
Trang 21Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia xã hội – rào cản đối với lao động tàn tật Lao động tàn tật muốn tìm kiếm được việc làm, trước hết họ phải tham gia xã hội đầy đủ và độc lập Việc tham gia xã hội đầy đủ và độc lập chính là điều kiện, tiền đề để có thể giải quyết việc làm cho lao động tàn tật Tuy nhiên, thực tế hiện nay, người tàn tật không được tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội, bao gồm các hoạt động sinh hoạt văn hóa, học văn hóa, học nghề, tìm kiếm việc làm,… Các yếu tố cản trở đến sự tham gia đầy đủ của người tàn tật vào các hoạt động của xã hội bao gồm:
Thứ nhất là thái độ của cộng đồng đối với lao động tàn tật Thái độ của
một người đối với sự vật, sự việc bắt nguồn từ tập quán văn hóa, quan điểm và nhận thức của họ đối với sự vật, sự việc đó Thái độ của của cộng đồng đối với người tàn tật từ trước đến nay theo quan điểm nhân đạo, tức là người tàn tật là những đối tượng cần được bảo trợ, cần được chăm sóc Các hoạt động cưu mang, giúp đỡ người tàn tật là việc làm nhân đạo Chính từ phương pháp nhìn nhận này, mà người tàn tật bị coi là không có khả năng làm việc (do sự khiếm khuyết của họ ngăn cản họ làm việc), coi người tàn tật là gánh nặng của gia đình, xã hội và có thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử Chính thái độ của cộng đồng
đã khiến người tàn tật mất tự tin vào bản thân, sống mặc cảm Do vậy, phải có các quy định riêng đối với lao động tàn tật, để tạo điều kiện cho họ được tham gia lao động, sản xuất như những lao động nình thường khác
Thứ hai là các công trình xây dựng công cộng Điều 52, khoản 1, điểm đ
Luật xây dựng số 26/2003/QH11 của Quốc hội ngày 26/11/2003 quy định:
“….đối với các công trình công cộng phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật” Theo đó, Bộ xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn xây dựng công trình công cộng đảm bảo cho người tàn tật, …:các tòa nhà mới xây, các cơ sở hạ tầng mới đã dễ dàng tiếp cận hơn đối với người tàn tật (dễ dàng đi lại đối với xe lăn, thang máy có bảng điều khiển dành cho người khiếm thị…)
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau (như điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, sự quản lý chưa chặt chẽ của cơ quan nhà nước, thiếu cơ chế giám sát, )
Trang 22nhiều tòa nhà, cơ sở hạ tầng mặc dù được xây dựng mới xong vẫn không đáp ứng các yêu cầu tiếp cận đối với người tàn tật Sự việc này diễn ra thậm chí cả ở những khu vực thành thị: nhiều tòa nhà cũng không dễ dàng đi lại đối với xe lăn ngay cả dưới tầng một, bao gồm các trường học, bệnh viện, các tòa nhà của Chính phủ và những nơi làm việc
Mặt khác, nhiều tòa nhà, cơ sở hạ tầng được xây dựng từ trước ít có sự sửa đổi, nâng cấp nên rất bất cập trong việc tiếp cận đối với người tàn tật Những nguyên nhân này là một trong những rào cản để người tàn tật tham gia
xã hội đầy dủ
Thứ ba là các công trình giao thông đường bộ Các quy định về giao
thông tiếp cận cho người tàn tật cũng được Nhà nước hết sức quan tâm Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 có 3 điều quy định liên quan đến người tàn tật, là các Điều 23, 33 và 44 Điều 33 quy định về người khuyết tật, người già yếu tham gia giao thông:
“1 Người khuyết tật sử dụng xe lăn không có động cơ được đi trên hè phố
và nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ
2 Người khiếm thị khi đi trên đường bộ phải có người dắt hoặc có công cụ
để báo hiệu cho người khác nhận biết đó là người khiếm thị
3 Mọi người có trách nhiệm giúp đỡ người khuyết tật, người già yếu khi đi qua đường”
Điều 44 quy định về bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ:
“1 Công trình đường bộ xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện an toàn giao thông cho người, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong đó có người đi bộ và người khuyết tật Đường đô thị xây dựng phải có hè phố, phần đường, cầu vượt, hầm và tổ chức
giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật đi lại an toàn, thuận tiện”
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc thực hiện các quy định này còn rất hạn chế Người tàn tật nói chung và lao động tàn tật nói riêng tham gia giao
Trang 23thông rất thiếu an toàn Chẳng hạn, vỉa hè là dành cho người đi bộ, và người tàn
tật dùng xe lăn, nhưng xe máy vẫn thường xuyên leo lên vỉa hè, điều này gây
mất an toàn cho mọi người nói chung và lao động tàn tật nói riêng
Thứ tư, là các yếu tố xã hội: Việt Nam là một nước chậm phát triển
Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn như vậy, người tàn tật khó có điều
kiện để tham gia hoạt động xã hội đầy đủ Theo kết quả khảo sát người tàn tật
do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiến hành năm 2005 thì phần lớn các
hộ gia đình có người tàn tật có mức sống thấp Theo đánh giá của các hộ gia
đình thì có 32,5% số hộ thuộc loại nghèo (chung cả nước là 22%), 58% số hộ có
mức sống trung bình, chỉ có 9% số hộ thuộc loại khá và 0,5% số hộ thuộc loại
giàu Hộ càng có nhiều người tàn tật thì mức sống càng giảm, trong nhóm hộ có
01 người tàn tật, 31% là thuộc diện hộ nghèo, song tỷ lệ hộ nghèo ở nhóm có 3
người tàn tật lại lên trên 63% Mức sống thấp này cũng khiến người tàn tật ít có
điều kiện để có thể tham gia xã hội đầy đủ
Thứ năm chính sách và pháp luật về người tàn tật chưa được cộng đồng
quan tâm nhiều Nhiều người cho rằng hỗ trợ người tàn tật là việc làm từ thiện,
nhân đạo, chủ yếu là quyên góp bằng tiền, ủng hộ qua các tổ chức từ thiện Điều
này đúng với việc giúp đỡ trẻ em tàn tật, người già tàn tật - những người không
có khả năng tạo ra thu nhập, không có tài sản tích luỹ Nhưng riêng đối với lao
động tàn tật thì giúp lao động tàn tật có được việc làm, tự tạo thu nhập mới là
điều quan trọng hơn cả, mới là cái gốc của vấn đề Đó không chỉ là việc làm từ
thiện, mà trên hết là trách nhiệm của các cấp, các ngành và tất cả mọi người
Tuy nhiên, nhận thức về chính sách và pháp luật về lao động tàn tật của đa số
cộng đồng chưa thực sự đúng đắn Hơn nữa, trong một môi trường mà nhiều
người thất nghiệp như hiện nay, các nhà chức trách, những người chủ sử dụng
lao động, gia đình và những người khác thường chưa coi việc tìm việc làm cho
người tàn tật là ưu tiên
Thứ sáu, là tình trạng sống chung, phụ thuộc vào gia đình Hầu hết người
tàn tật sống chung với gia đình của họ Theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động
Trang 24– Thương binh và Xã hội năm 2005 thì có tới trên 24% số hộ gia đình đang sống trong các căn nhà tạm; 65% có nhà bán kiên cố và 11% có nhà kiên cố Điều này cản trở lao động tàn tật có cuộc sống độc lập
1.3 Ý nghĩa của những quy định riêng đối vói lao động tàn tật
1.3.1 Ý nghĩa kinh tế
“Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước” [2, tr.1] Pháp luật lao động tàn tật góp phần xây dựng đất nước, giải phóng sức lao động bởi lẽ pháp luật về lao động tàn tật đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho lao động tàn tật, vượt qua mặc cảm, khó khăn của bản thân để lao động sản xuất, giúp họ tự lập, ổn định cuộc sống Có lao động, người tàn tật không phải sống dựa vào gia đình, vào sự cưu mang của xã hội, góp phần giải phóng sức lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh
Pháp luật về lao động tàn tật đã tạo cơ hội cho người tàn tật phát huy tiềm năng, trí lực và cả sức lao động của họ cho sự phát triển xã hội Lao động tàn tật
là một lực lượng lao động không nhỏ, đồng thời cũng là một lực lượng tiêu dùng những sản phẩm công nghệ như điện thoại cho những người câm điếc, xe lăn, chân tay giả, máy trợ thính, gậy dẫn đường, sách chữ nổi,… Đó là chưa kể đến khi người lao động có cơ hội giáo dục, học nghề, việc làm sẽ giảm đi rất nhiều khoản trợ cấp xã hội và bảo hiểm y tế mà hiện nay hàng năm nhà nước ta vẫn phải tốn hàng trăm tỷ đồng Rõ ràng, lao động tàn tật đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân, công việc mà họ đang làm đã giúp giảm bớt chi phí dành cho phúc lợi tàn tật và có thể giảm nghèo
Hơn nữa, pháp luật lao động tàn tật có chế độ ưu đãi đối với cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật; đồng thời quy định quyền lợi và nghĩa vụ của cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp nhận người tàn tật vào học nghề và làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ
Trang 25sở sản xuất kinh doanh, cơ sở dạy nghề tìm kiếm lợi nhuận, góp phần xây dựng kinh tế xã hội
1.3.2 Ý nghĩa xã hội
Thứ nhất, pháp luật lao động tàn tật thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân
tộc “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “Mỗi người
vì cộng đồng”, sự chia sẻ, đùm bọc đối với đồng bào mình vừa là truyền thống vừa là đạo lý, là nhu cầu, là lẽ sống của hầu hết mọi người Việt Nam Pháp luật
về lao động tàn tật đã phát huy và nâng cao thêm truyền thống đó
Điều 31 Pháp lệnh về người tàn tật có quy định: “Ngày 18 tháng 4 hàng năm được lấy là ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật” Chăm sóc người tàn tật là truyền thống, là đạo lý của dân tộc, của xã hội và là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách, của Nhà nước ta hiện nay Tuy nhiên, bảo vệ chăm sóc như thế nào để mọi tiềm năng được phát huy, được sử dụng, giúp họ thay đổi được vị thế của mình từ người phụ thuộc đến người độc lập trong cuộc sống mới
Đã có nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trong cả nước đã tích cực đóng góp giúp đỡ cho người tàn tật với giá trị lên đến hàng nghìn tỷ đồng
Trang 26Cùng với các chính sách pháp luật khác, pháp luật lao động có những quy định về học nghề, tạo việc làm cho người tàn tật, tạo điều kiện cho họ vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng, điều đó có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Pháp luật lao động đối với những người là thương binh, bệnh binh thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa đối với những người đã cống hiến cho sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc, đã tham gia chiến đấu chống lại kẻ thù bảo vệ nhân dân, mang lại cuộc sống hòa bình cho tất cả mọi người
Thứ hai, pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam còn thể hiện tính nhân
văn, xã hội và có tính quốc tế Hệ thống pháp luật về lao động tàn tật mang tính nhân văn, xã hội và có tính quốc tế, đánh dấu sự phát triển, tiến bộ và nhân đạo Các văn bản pháp luật cũng đã kế thừa có tính tham khảo những kinh nghiệm của các nước để áp dụng một cách phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống của nhân dân ta
1.3.3 Ý nghĩa pháp lý
Vấn đề lao động tàn tật được cộng đồng quốc tế quan tâm từ rất lâu Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 159 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho người tàn tật (Do Đại hội đồng ILO thông qua ngày 20/6/1983) có hiệu lực ngày 20/6/1985 chứng tỏ tầm quan trọng của vấn
đề lao động đối với người tàn tật
Ở Việt Nam, pháp luật về lao động tàn tật đã góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội về lao động tàn tật, tạo hành lang pháp lý cho lao động này có việc làm phù hợp và ổn định Đến nay, pháp luật liên quan đến lao động tàn tật được ban hành tương đối đầy đủ như các quy định dành riêng cho người tàn tật được
cụ thể hóa trong Bộ luật lao động, Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản hướng dẫn thi hành Quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước là tạo môi trường pháp lý kết hợp với chuẩn mực đạo đức và xã hội để khuyến khích các tổ chức kinh tế, các cơ quan, đoàn thể tạo cơ hội giải quyết việc làm cho người tàn tật,
Trang 27tạo cơ hội cho lao động tàn tật có việc làm, có thu nhập, phát triển tốt nhất các tiềm năng của mình, ổn định cuộc sống, ngày càng được tham gia bình đẳng các hoạt động trong xã hội
Những quy định đối với lao động tàn tật đã bước đầu tạo ra khung pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ lao động, trong đó một bên là người lao động tàn tật Đối với người sử dụng lao động, những quy định này cho phép họ có quyền
sử dụng lao động tàn tật trong những điều kiện nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với truyền thống và giá trị văn hóa Việt Nam
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trong những năm qua đã góp phần làm thay đổi nhận thức về người tàn tật nói chung và lao động tàn tật nói riêng cũng như cách tiếp cận trong việc trợ giúp lao động tàn tật Nó tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức xã hội về lao động tàn tật Chính vì thế đã tạo nên sựchuyển biến tích cực về nhận thức vai trò, khả năng hòa nhập cộng đồng của người tàn tật, khắc phục một bước các kỳ thị xa lánh đối với họ, giúp họ có thêm sức mạnh tinh thần để sống
và thêm tin yêu cuộc sống
Thứ hai, từ quan niệm xã hội và cộng đồng giúp đỡ người tàn tật với ý
nghĩa làm từ thiện, nhân đạo sang chia sẻ trách nhiệm xã hội, dựa vào quyền và nhu cầu của người tàn tật Nhiều tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ người tàn tật không chỉ khắc phục khó khăn trước mắt mà còn giúp đỡ họ các điều kiện cần thiết để thực hiện sự bình đẳng về nghĩa vụ và trách nhiệm như các công dân khác trong xã hội, từ đó giúp khuyến khích và tạo điều kiện cho người tàn tật được thực hiện quyền có việc làm của mình trên cơ sở bình đẳng và không bị
phân biệt đối xử Nhận thức của các cấp chính quyền, xã hội và bản thân lao
động tàn tật về quyền bình đẳng của lao động tàn tật được nâng cao
Pháp luật lao động tàn tật tạo một hành lang pháp lý cho hệ thống các trường dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm, các bộ, ngành, địa phương dành
sự ưu tiên quan tâm đối với lao động tàn tật Hàng năm, hệ thống các trường dạy
Trang 28nghề, trung tâm giới thiệu việc làm đã tiếp nhận đào tạo nghề miễn phí cho hàng vạn người tàn tật, đó là tiền đề cơ sở cho lao động tàn tật có việc làm phù hợp và
“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”, “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùng với xóa đói giảm nghèo, … bảo vệ chăm sóc trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật là sự tiếp nối, là thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng và ước vọng cao đẹp của Bác Hồ kính yêu
Quan tâm đến người tàn tật là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội quan tâm để góp phần tạo sự ổn định xã hội, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân người tàn tật,
mở rộng cơ hội cho họ có điều kiện phát triển Chính vì thế, trong nhiều năm qua nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo
vệ cho những người không may mắn, bất hạnh trong cuộc sống như người tàn tật, thương binh, bệnh binh…
Trang 29Quá trình hình thành pháp luật về lao động tàn tật gắn liền với quá trình hình thành pháp luật về người tàn tật có thể chia thành hai giai đoạn:
1.4.1 Giai đoạn trước khi có Bộ luật lao động năm 1994
1.4.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1954:
Những năm đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ, cùng với sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm rất sớm đến vấn đề lao động là người tàn tật
Bản Hiến pháp năm 1946 đã dành các Điều 7, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”
Cụ thể các quy định trong Hiến pháp, các Sắc lệnh và các Nghị định đã quy định chi tiết hơn cho các đối tượng Sắc lệnh số 20 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 16 tháng 2 năm 1947 quy định hưu bổng thương tật được căn cứ vào tật bênh nặng hay nhẹ Số tiền hưu bổng thương tật theo độ tật bệnh và theo chức vụ (binh và sỹ; úy và tá; tướng) Bệnh tật xếp thành các độ, từ 5% đến 100%, độ trên cách độ dưới 5% Nghị định hướng dẫn thi hành số 49/TB-QĐ-TC (19/11/1948) của Liên Bộ Thương binh - Quốc phòng và tài chính quy định tiêu chuẩn thương tật được xếp theo các mức độ từ
5 % - 100% Đến Sắc lệnh số 242 ngày 12 tháng 10 năm 1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh số 20 ngày 16 tháng 2 năm 1947, một số điểm đã được sửa đổi, bổ sung như: bổ sung tên gọi là thương binh và chế độ được hưởng là lương hưu thương tật…
1.4.1.2 Giai đoạn từ 1955 đến 1985
Trong bối cảnh của một nền kinh tế kế hoạch hóa đến cao độ và có chiến tranh kéo dài, ác liệt nên vào thập kỷ 60, 70, vấn đề lao động tàn tật hầu như không được đặt ra một cách trực tiếp Hơn nữa trong thời gian này, Việt Nam chưa tham gia sinh hoạt trong nhiều tổ chức quốc tế trên phạm vi thế giới và khu vực nên vấn đề lao động tàn tật cũng chưa phải là một vấn đề đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, tháng 1 năm 1955, thương binh được chuyển sang tiêu chuẩn thương tật 6 hạng Tiêu chuẩn này được quy định bằng Nghị định số 18 ngày
Trang 3017/11/1954 của Liên Bộ Thương binh, Y tế, Quốc phòng và Tài chính Sang đến thời kỳ 1964 đến 1985 đối tượng hưởng chính sách này không chỉ nguyên quân nhân bị thương mà còn bao hàm cả đối tượng hưởng chính sách như thương binh thể hiện tập trung ở các văn bản: Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964, Nghị định 111/CP ngày 20/7/1967 của Hội đồng Chính phủ, Nghị định 08/NĐ-1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam Một số văn bản cấp Bộ ban hành như: danh mục những nghề dành cho người tàn tật (Quyết định 92 Bộ Lao động tháng 6/1975), chế độ học bổng, học phí đối với thương bệnh binh, người tàn tật, quy định chế độ phụ cấp tạm thời, trợ cấp khó khăn,… Trong quá trình thực hiện chế độ đối với thương binh đã bộc lộ nhiều điểm không phù hợp với tình hình mới Do vậy, kế thừa những tiêu chuẩn mới làm cơ sở cho việc xác định tính chất thương tật, ngày 18/9/1985 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 236/HĐBT về việc bổ sung một số chế độ, chính sách về thương binh và
xã hội Ngoài ra, Chính phủ còn quy định cho lao động tàn tật được đào tạo nghề miễn phí và có học bổng; đầu tư xây dựng nhà xưởng, trang thiết bị để thành lập một số trường dạy nghề và cơ sở sản xuất dành riêng cho người tàn tật; miễn giảm một số loại thuế cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có tối thiểu 51% lao động là người tàn tật
Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
có quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó” (Điều 30) hay “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó” (Điều 32)
Vào đầu thập kỷ 80, vần đề lao động được xã hội quan tâm, bởi lẽ, đây là thời kỳ cả nước bước vào xây dựng phát triển kinh tế, đưa Việt Nam tiến lên
con đường xã hội chủ nghĩa Hiến pháp 1980 quy định: “Lao động là cơ sở để
Trang 31phát triển kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Lao động là nghĩa vụ và vinh dự của người công dân” (Đ iề u 21 ); “Lao động là quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân Công dân có quyền
có việc làm Người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện các chế độ nhằm đề phòng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp” (Điều 58)
“Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh và gia đình liệt sĩ, tạo điều kiện cho thương binh phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có cuộc sống ổn định” (Điều 74)
1.4.1.3 Giai đoạn từ 1986 đến trước ngày ban hành Bộ luật lao động năm 1994
Vào đầu thập kỷ 90, trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề lao động tàn tật mới được đề cập trong một số văn bản, đó là: Pháp lệnh về bảo hộ lao động (10/9/1991); Nghị định số 233/HĐBT (22/6/1990) ban hành Quy chế lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tại Điều 55 Hiến pháp 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” và tại Điều 67 cũng khẳng định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và
có đời sống ổn định Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”
Trang 32Như vậy, xuyên suốt các quy định của Hiến pháp đều khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Mặc dù không có những quy định cụ thể đối với lao động tàn tật, nhưng có thể hiểu lao động tàn tật cũng được bình đẳng với mọi công dân khác trong tất
cả các mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình, trong đó có quyền được lao động, được làm việc, cống hiến cho xã hội
Như vậy trong giai đoạn này, ngay từ những năm mới thành lập, Nhà nước đã chú ý đến việc ban hành quy định riêng phù hợp với người tàn tật, tuy nhiên các chính sách này chỉ dành cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tập trung của người tàn tật và mới chỉ tập trung vào đối tượng là thương binh Các cơ sở quy mô nhỏ (dưới 10 người) chưa được chú ý tới trong các chính sách này, do
đó hạn chế rất nhiều việc phát huy hiệu quả của chính sách cũng như vai trò của Chính phủ trong lĩnh vực tạo cơ hội cho người tàn tật có việc làm
1.4.2 Giai đoạn từ khi có Bộ luật lao động năm 1994 đến nay
Đây là giai đoạn quan trọng nhất có tính chất đánh dấu cho sự phát triển của pháp luật dành cho người tàn tật Ngày 29/5/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công, tiếp theo, ngày 29/4/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh đã quy định rõ chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh Tất cả những vấn đề cơ bản nêu trên đều tập trung vào các đối tượng bị tàn tật do chiến tranh, còn những đối tượng bị tàn tật do nguyên nhân khác vẫn chưa được quy định cụ thể
Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 23 tháng 6 năm 1994 là văn bản đầu tiên có quy định chung về lao động là người tàn tật Bộ luật lao động thể chế hoá các chính sách của Nhà nước và hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các quy định của Hiến pháp 1992 liên quan đến lao động, quản lý và sử dụng lao động “Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích
và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được
Trang 33hài hoà và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.[2, tr.2]
Bộ luật này được áp dụng cho mọi người lao động và mọi tổ chức có sử dụng người lao động thông qua hợp đồng lao động ở mọi thành phần kinh tế và mọi hình thức sở hữu Bộ luật này cũng áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc trong gia đình và những loại hình lao động đặc thù Bộ luật đã có 1 mục riêng (mục III) trong chương XI quy định một số điều đối với lao động là người tàn tật, từ Điều 125 đến Điều 128
Bộ luật lao động quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống…”
Những quy định trong Bộ luật lao động đối với lao động tàn tật đã được
cụ thể hoá và hướng dẫn trong các văn bản pháp luật như: Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật; Thông tư liên tịch số 01/1998/TT-LT BLĐTBXH-BTC-BKHĐT ngày 31 tháng 01 năm 1998 về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính phủ về lao động tàn tật; Thông tư số 23TC/TCT ngày 26 tháng 4 năm 1996 hướng dẫn thủ tục miễn thuế đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho lao động là người tàn tật; Nghị định số 116/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày
23 tháng 4 năm 2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật;
Trang 34Thông tư liên tịch số 19/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BKHĐT hướng dẫn thi hành Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 và Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật
Các văn bản pháp luật đó quy định cụ thể hơn về quyền làm việc của người tàn tật, các quyền được phục hồi sức khoẻ và chức năng lao động, được học nghề và được vay vốn với lãi suất thấp, xây dựng quỹ việc làm dành riêng cho người tàn tật ở các địa phương, cách lập quỹ, sử dụng và quản lý quỹ việc làm dành cho người tàn tật; miễn thuế cho các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật; hỗ trợ vốn ban đầu để đầu tư thiết bị máy móc cho các cơ sở sản xuất kinh doanh cho người tàn tật; chế độ đối với lao động tàn tật; chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên lao động tàn tật và người sử dụng lao động tàn tật
Ngoài ra, còn một số văn bản về người tàn tật trong đó có một số quy định liên quan đến chế độ dành cho lao động tàn tật Đó là Pháp lệnh về người tàn tật được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 8/8/1998 Pháp lệnh ra đời nhằm bảo vệ chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật phát huy khả năng của mình ổn định cuộc sống hòa nhập cộng đồng Việc ban hành Pháp lệnh là bước cụ thể hóa chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với người tàn tật, đồng thời thể hiện truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc ta
Pháp lệnh đưa ra khái niệm người tàn tật một cách rõ ràng và được sử dụng thống nhất trong cả nước
Đối với người tàn tật bị thương trong chiến tranh còn được hưởng thêm chính sách ưu đãi riêng Trẻ em tàn tật, người tàn tật nặng được nhà nước và xã hội trợ giúp tại nơi cư trú hoặc tại các cơ sở xã hội của Nhà nước
Riêng đối với người tàn tật còn sức khỏe có khả năng lao động và có nhu cầu học nghề, Pháp lệnh về người tàn tật dành chương IV để quy định học nghề
và việc làm đối với người tàn tật, gồm 6 điều từ Điều 18 đến Điều 23 của Pháp
Trang 35lệnh Theo quy định này, người tàn tật được tạo điều kiện giúp đỡ, được xét giảm hoặc miễn các khoản đóng góp, được hưởng trợ cấp xã hội và được xét cấp học bổng theo chế độ được theo học tại các trường dành riêng cho người tàn tật, được trợ giúp về dụng cụ phương tiện chuyên dùng Những cơ sở dạy nghề hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc kinh doanh
Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về người tàn tật, có các văn bản sau: Nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về người tàn tật, trong đó Điều 12 quy định dẫn chiếu sang Nghị định hướng dẫn Bộ luật lao động: “Lao động và việc làm của người tàn tật, thực hiện theo Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật”; Thông tư số 13/2000/TT-BLĐTBXH của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 12 tháng 5 năm 2000 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 55/1999/NĐ-CP nói trên; Thông tư liên tịch số 13/1999/TTLT- BLĐTBXH-BTC-BKHĐT của Bộ lao động thương binh
xã hội, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch Đầu tư ngày 8 tháng 5 năm 1999 về việc hướng dẫn cho vay Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm và lập quỹ giải quyết việc làm địa phương
Bên cạnh các quy định này, Chính phủ còn có các quy định về chính sách cứu trợ xã hội, như Nghị định của Chính phủ số 07/2000/NĐ- CP ngày 9/3/2000
về chính sách cứu trợ xã hội, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định này thay thế Nghị định số 07/2000/NĐ-CP nói trên)
Tóm lại, lịch sử hình thành pháp luật dành cho người tàn tật là một tiến
bộ lớn, là một bước tiến dài trong quá trình thực hiện chính sách xã hội Những người lao động tàn tật đã có một “chỗ dựa” vững chắc để thực hiện quyền được lao động, quyền được làm việc của mình
Trang 36CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ HIỆN HÀNH VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
2.1 Các quy định pháp luật cơ bản đối với lao động tàn tật
2.1.1 Nhóm các quy định về chế độ đối với lao động tàn tật
2.1.1.1 Quy định về quyền làm việc của lao động tàn tật
Điều 23 Tuyên ngôn toàn cầu về Quyền con người (được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948) có nêu: “Mọi người đều
có quyền có việc làm, được tự do lựa chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc tiêu chuẩn, phù hợp và được bảo vệ khỏi bị thất nghiệp Tất cả mọi người, không phân biệt đối xử, có quyền được hưởng mức trả công bình đẳng cho một công việc tương đương Bất cứ ai làm việc đều có quyền được hưởng mức trả công tiêu chuẩn, phù hợp và được đảm bảo cho người đó và gia đình họ tồn tại xứng đáng với nhân phẩm của mình …” [27, tr.4]
Hiệp ước quốc tế về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, theo đó các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc công nhận mọi người đều có quyền có việc làm, trong đó có quyền có cơ hội được kiếm sống bằng việc làm do tự do lựa chọn hay chấp nhận và cam kết bảo vệ quyền đó Các biện pháp cần được thực hiện nhằm thực thi một cách đầy đủ quyền này bao gồm hướng nghiệp, dạy nghề và việc làm có năng suất Các quốc gia thành viên của Hiệp ước cũng cam kết đảm bảo trả công bình đẳng đối với công việc có giá trị tương đương mà không biết đối xử dưới bất kỳ hình thức nào, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh, đảm bảo cơ hội thăng tiến đến mức độ phù hợp, một cách bình đẳng đối với tất cả mọi người, không phụ thuộc vào bất kỳ điều kiện nào khác ngoài kinh nghiệm và năng lực công tác [27, tr.5]
Hội nghị quốc tế về quyền con người họp tại Viena năm 1993, khi trực tiếp bàn về người khuyết tật đã nhấn mạnh trong tuyên ngôn Viena và Chương
Trang 37trình hành động rằng “Mọi người đều bình đẳng từ khi sinh ra và có quyền được sống và hưởng hạnh phúc, quyền được học tập và có việc làm, sống độc lập và được chủ động tham gia vào tất cả các mặt của xã hội Mọi phân biệt đối xử trực tiếp hoặc đối xử một cách kỳ thị đối với người khuyết tật sẽ vi phạm quyền của người đó” Hội nghị quốc tế kêu gọi Chính phủ thông qua hoặc điều chỉnh luật pháp nhằm đảm bảo người khuyết tật được hưởng tất cả các quyền này [27, tr.8]
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13 tháng 12 năm 2006 được xem là một Công ước toàn diện và đầy đủ nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, trong đó công nhận quyền được có việc làm của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng với những người lao động khác, điều này bao gồm quyền
có cơ hội kiếm sống từ việc làm được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trong môi trường làm việc mở, được hòa nhập và có khả năng tiếp cận Các quốc gia thành viên cũng cam kết thực hiện các biện pháp thích hợp để bảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền có việc làm
Bên cạnh hệ thống pháp luật quốc tế tương đối đầy đủ và toàn diện, pháp luật trong nước, tại Bộ luật lao động quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật…” (khoản 1 Điều 125)
Quyền có một công việc để nuôi sống bản thân là một quyền đương nhiên được toàn thể cộng đồng công nhận và đã được pháp luật ghi nhận đối với tất cả mọi người nói chung và người tàn tật nói riêng Quyền làm việc của lao động tàn tật là tiền đề tạo cơ hội cho lao động tàn tật có việc làm, có cơ hội tiến thân,
tự lập trong cuộc sống, không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân, thể hiện
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với lao động tàn tật trong điều kiện nền kinh tế có nhiều chuyển biến
Mặc dù có luật quốc gia, khu vực và luật quốc tế hiện hành cùng các văn bản pháp luật khác, bên cạnh đó còn có các hoạt động của các cơ quan quốc tế
và nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ, lao động tàn tật trên toàn thế giới vẫn
Trang 38tiếp tục thường xuyên phải gánh chịu những vi phạm về quyền con người Đây
là một thực tế không thể chối cãi Trong lĩnh vực việc làm, các số liệu thống kê sẵn có đã chỉ ra rằng tỷ lệ người lao động tàn tật không có việc làm đang có xu hướng gia tăng cao hơn so với người lao động khác Khó khăn khi tham gia vào môi trường thể chất bao gồm việc đi lại, nhà ở, nơi làm việc, nguy cơ mất các lợi ích khi bắt đầu làm việc, cùng với những định kiến vẫn còn ở nhiều tổ chức
sử dụng lao động, đồng nghiệp, cộng đồng đã làm trầm trọng thêm tình hình vốn
đã rất khó khăn Điều này không có nghĩa là chưa hề có sự cải thiện Phát triển đáng kể trong hệ thống luật pháp về chống phân biệt đối xử ở trong nước một số năm trở lại đây là rất đáng khuyến khích.[27, tr.12-13]
2.2.1.2 Nhóm các quy định về học nghề và việc làm cho lao động tàn tật
Điều 27 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đặc biệt dành cho công việc và việc làm Nghiêm cấm phân biệt đối xử về khuyết tật trên mọi lĩnh vực liên quan đến mọi hình thức việc làm Kêu gọi các quốc gia thành viên
mở ra các cơ hội cho người khuyết tật tại nơi làm việc, cả ở khu vực công cộng cũng như tư nhân Để thực hiện điều này, Công ước đã xúc tiến tiếp cận người khuyết tật với các công việc được tự do lựa chọn, các chương trình hướng dẫn nghề và kỹ thuật cơ bản, cũng như phục hồi chức năng nghề nghiệp, chương trình trở lại công việc và duy trì công việc Các điều khoản đề cập đến người khuyết tật tìm kiếm việc làm, những vấn đề việc làm và những người bị thương tật trong quá trình làm việc và những người muốn quy trì việc làm Công ước cũng ghi nhận rằng đối với nhiều người khuyết tật ở các nước đang phát triển, tự tạo việc làm hay kinh doanh nhỏ có thể là giải pháp đầu tiên, và trong một số trường hợp là giải pháp duy nhất Công ước kêu gọi các quốc gia thành viên thúc đẩy những cơ hội như vậy Các quốc gia thành viên cũng được kêu gọi đảm bảo cho người khuyết tật không bị rơi vào hoàn cảnh nô lệ hay công việc lao động rẻ mạt và được bảo vệ trên nền tảng bình đẳng cơ bản như mọi người khỏi lao động bắt buộc hay lao động cưỡng bức