Những căn cứ để tiến hành thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993: "Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua
Trang 1KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HÀ
NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2010
Trang 2KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HÀ
NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang
HÀ NỘI - 2010
Trang 31.1.1.2 Những căn cứ để tiến hành thủ tục phục hồi doanh nghiệp
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
19
phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản ở Việt Nam
22
trạng phá sản của một số nước trên thế giới
23
Trang 41.5.1 Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 2004
26
theo quy định của Luật phá sản năm 2004
26
của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
32
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
34
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
38
2.1.3.4 Các hoạt động kinh doanh được pháp luật cho phép trong
quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh
45
Trang 52.1.4 Trình tự, thủ tục thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
46
nền kinh tế quốc dân
49
2.1.5.2 Phục hồi khả năng thanh toán trước thời điểm yêu cầu mở
thủ tục tuyên bố phá sản và phục hồi tổ chức tín dụng sau
khi có quyết định mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản của
tổ chức tín dụng
51
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
56
doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
56
2.2.1.2 Doanh nghiệp đã quá thời hạn thanh toán mà không thanh
toán được các khoản nợ khi chủ nợ yêu cầu
57
kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
57
vào tình trạng phá sản
59
Trang 62.3.2 Tình hình thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
59
2.3.2.1 Những ưu điểm của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản theo luật phá sản 2004
63
2.3.2.2 Những điểm còn hạn chế của thủ tục phục hồi doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản theo luật phá sản 2004
66
PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 2004
72
phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
72
thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
74
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản theo quy định của Luật phá sản năm 2004
79
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phá sản là một hiện tượng thường gặp trong nền kinh tế thị trường vì những lý do khác nhau doanh nghiệp lâm vào tình trạng không trả được nợ đến hạn, lúc đó doanh nghiệp có nguy cơ bị quy luật thị trường đào thải bằng con đường phá sản Để cứu vãn doanh nghiệp trong những trường hợp này, pháp luật về phá sản ở các nước nói chung thường quy định các biện pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Trình tự, thủ tục phục rồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một bộ phận quan trọng trong trình tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp được quy định ở luật phá sản 2004 Thủ tục này nhằm tạo ra những điều kiện, cơ hội để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể vượt qua được tình trạng mất khả năng toán nợ đến hạn, tránh bị tuyên bố phá sản Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp phục hồi thành công còn có thể đảm bảo quyền, lợi ích cho chủ nợ và những người liên quan; công ăn việc làm cho người lao động; duy trì ổn định, trật tự xã hội từ đó làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
Quốc hội khóa IX thông qua Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/1994 đã có quy định khá chi tiết và tương đối đầy đủ nội dung thủ tục phục hồi nhằm cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Song trong 9 năm thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp nói chung và thủ tục phục hồi nói riêng đã thể hiện những bất cập trong quá trình áp dụng cũng như việc phát huy hiệu quả của nó trên thực
tế khi thủ tục phục hồi được qui định như là một khâu của quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Trước những yêu cầu đòi hỏi mới của nền kinh tế thị trường, việc hoàn thiện khung pháp luật về phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh
Trang 8nghiệp nói riêng là cần thiết Ngày 15/06/2004 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật phá sản mới thay thế Luật phá sản doanh nghiệp (1993) và có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 Thủ tục phục hồi đã được Luật phá sản qui định theo hướng tách ra thành thủ tục tương đối độc lập trong thủ tục phá sản với nhiều qui định mới Vì vậy, việc nghiên cứu những qui về thủ tục phục hồi trong Luật phá sản là điều rất quan trọng và cần thiết, trên cơ sở đó đưa những kiến nghị nhằm sớm đưa Luật phá sản vào cuộc sống và đạt được hiệu quả trong quá trình áp dụng Với mong muốn đó, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
"Những quy định pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" làm đề tài luận văn tốt
nghiệp Cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến thời điểm hiện nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thủ tục phá sản nói chung và thủ tục phục hồi nói riêng Đó là các công trình: Báo
cáo phúc trình đề tài "Đánh giá thực trạng, thực hiện nghiên cứu, phân tích
để khuyến nghị hoàn thiện pháp luật phá sản doanh nghiệp và các quy định khác có liên quan" của Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp do PGS.TS Dương
Đăng Huệ làm chủ nhiệm; Đề tài hoặc các bài viết như: ''Thực tiễn giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong thời gian qua, những khó khăn vướng mắc và một số đề xuất kiến nghị'', của TS Nguyễn Văn Dũng: Đề tài ''Một số vấn đề lý luận về phá sản", của TS Trần Kim Hào và ThS Nguyễn
Kim Anh ở Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương; Đề tài "Dấu hiệu
xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản", của PGS.TS Đặng Văn
Thanh Các công trình cũng như các bài viết này đã nghiên cứu về những nội dung cơ bản của thủ tục phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản còn ở mức khiêm tốn Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, khi Luật phá sản trong giai đoạn sửa đổi bổ sung, cần có công trình nghiên cứu khoa học phân tích, đánh giá sâu
Trang 9hơn về những quy định của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với tư cách là thủ tục độc lập
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác như phân tích, so sánh tổng hợp Bên cạnh việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về phá sản Việt Nam, tác giả còn tham khảo những tài liệu pháp luật về phá sản nước ngoài qui định về thủ tục phục hồi Từ đó, có sự so sánh, đối chiếu và đánh giá khách quan những quy định thủ tục phục hồi trong Luật phá sản
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn phân tích đánh giá đúng thực trạng pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện Luật phá sản
Với mục đích đó đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi của Luật phá sản, từ đó nêu lên được những ưu điểm, tiến bộ cũng như những hạn chế của các quy định đó
- Đưa ra một số kiến nghị, phương hướng nhằm hoàn thiện Luật phá sản 2004
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục quan trọng của Luật phá sản Dưới góc độ pháp lý, phục hồi có thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể là biện pháp nhằm phục hồi doanh
Trang 10nghiệp hoặc thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Quá trình phục hồi có thể diễn ra tại Tòa án hoặc ngoài Tòa án
Song, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu những nội dung cơ bản liên quan tới trình tự, thủ tục tại Tòa án áp dụng cho việc phục rồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định theo Luật phá sản 2004
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và chi tiết về các quy định liên quan đến thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong bối cảnh Luật phá sản mới được ban hành Vì vậy, luận văn có những đóng góp sau:
Thứ nhất: Luật phá sản quy định thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản với tư cách là một thủ tục tương đối độc lập Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những quy định về thủ tục phục hồi sẽ gợi mở một số vấn đề để cơ quan nhà nước có thẩm quyền lưu tâm trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật phá sản nói chung và thủ tục phục hồi nói riêng
Thứ hai: Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng toàn bộ các quy
định liên quan đến thủ tục phục hồi và thực tiễn áp dụng các quy định đó, làm
cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện Luật phá sản 2004
Thứ ba: Quá trình nghiên cứu những quy định của Luật phá sản về thủ
tục phục hồi, luận văn đưa ra một số giải pháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hồi nói riêng và Luật phá sản nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 11Chương 1: Khái quát về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản theo luật phá sản năm Việt Nam 2004
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thủ tục phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo luật phá sản Việt Nam 2004
Trang 121.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Ở nước ta, khái niệm phá sản xuất hiện sau thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế Văn bản pháp lý đầu tiên liên quan đến giải quyết tình trạng doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không có khả năng thanh toán nợ đó là Quyết định
số 315/QĐ-HĐBT ngày 01/09/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Tại khoản 4 Điều 3 của Quyết định quy định:
Đối với các đơn vị kinh doanh thua lỗ kéo dài nhiều năm thì
Bộ và địa phương phải lập danh sách đầy đủ, tiến hành phân loại theo mức độ quan trọng của các sản phẩm và dịch vụ do đơn vị tạo ra và theo mức độ kém hiệu quả của các đơn vị Từ đó có thể tìm ra các biện pháp để hỗ trợ cho các đơn vị sáp nhập vào các xí nghiệp khác hoặc chuyển đổi thành các tổ chức kinh tế tập thể Nếu đơn vị đã thực hiện các biện pháp chấn chỉnh trên mà vẫn không có hiệu quả, tiếp tục thua lỗ và không có khả năng trả nợ thì cho phép giả thể [12]
Như vậy Quyết định này đã đề cập đến doanh nghiệp kinh doanh thua
lỗ không có khả năng thanh toán nợ, nếu xét về bản chất thì nó là phá sản
Trang 13Nhưng trong thời điểm này thì doanh nghiệp chỉ được phép giải thể bởi vì
khái niệm về phá sản doanh nghiệp tại thời điểm này chưa được đặt ra
Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và luật công ty năm 1990 đã bước đầu đề cập đến khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Theo Điều 24 - Luật công ty 1990: ''Công ty gặp khó khăn thua lỗ trong hoạt
động kinh doanh đến lúc tại một thời điểm tổng số các tài sản của công ty không
đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty lâm vào tình trạng phá sản"
Định nghĩa này đã có điểm hạn chế rất lớn là chưa phản ánh được bản chất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Bởi vì, tại một thời điểm nào đó mà tổng giá trị tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn nhưng chưa chắc doanh nghiệp đó đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ nếu như các chủ nợ thực hiện việc hoãn nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp hoặc có người mua nợ hoặc bảo lãnh cho doanh nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn về nhận thức vấn đề phá sản doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế trong Luật công ty
1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 Luật phá sản doanh nghiệp 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và nguyên nhân của việc mất khả năng thanh toán, hành động của doanh nghiệp khi bị mất khả năng thanh toán, làm cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam 1993 thì doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động
kinh doanh
Thứ hai: Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
Trang 14Thứ ba: Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để
khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng vẫn không khắc phục được
Quy định này cho thấy việc mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là do doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh một cách trầm trọng và đã áp dụng các biện pháp tài chính để khắc phục nhưng không đạt kết quả chứ không phải do một nguyên nhân nào khác Về mặt pháp lý, doanh nghiệp chỉ bị xem là phá sản khi có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tình trạng mất khả năng thanh toán chỉ là tình trạng báo động rằng doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị tuyên bố phá sản Sẽ không có một doanh nghiệp nào bị phá sản khi chưa có yêu cầu tuyên bố phá sản của chủ nợ, công đoàn hoặc chính doanh nghiệp mắc nợ hay Tòa án chưa chủ động mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Quyết định tuyên
bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền là cơ sở pháp lý xác định tính hợp pháp của một cái chết đã được dự báo khi chưa có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền thì dù doanh nghiệp có chấm dứt hoạt động
kinh doanh thì cũng chỉ là "Một cái chết chưa được chôn"
Như vậy, về mặt pháp lý nếu dùng khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản năm 1993 để chỉ tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn một cách thực sự quan trọng và đang đứng bên bờ vực phá sản làm cơ sở để ra quyết định tuyên bố phá sản là chưa hợp lý và đã gây không ít khó khăn cho chủ nợ trong việc chứng minh là doanh nghiệp đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ Còn vì sao doanh nghiệp trễ hạn thanh toán không trả nợ thì chủ nợ không biết mà cũng không cần phải biết
Chính vì việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn nhiều điểm chưa hợp lý nên điều này đã được sửa đổi tại Điều 3 - Luật phá sản năm 2004 như sau: " Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có
Trang 15khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu" Như vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp đồng thời phải hội
đủ hai điều kiện cơ bản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và khi chủ nợ chính thức yêu cầu thanh toán nợ mà doanh nghiệp không có khả năng trả được các khoản nợ đó Đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước
ta và đã thể hiện sự can thiệp sớm của nhà nước vào hiện tượng phá sản
Việc ghi nhận các vấn đề liên quan đến thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và thủ tục thanh lý nợ của doanh nghiệp được quy định từ Điều 13 đến Điều 94 của Luật phá sản năm 2004, Luật phá sản là luật
về thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, theo tinh thần của Luật phá sản, các thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ khác liên quan tới quá trình phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi, sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc thủ tục thanh toán nợ trong tố tụng dân sự
Tính chất đặc thù của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được nhìn nhận trong mối quan hệ
so sánh với quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa bị yêu cầu mở thủ tục phá sản So sánh với quá trình tự phục hồi đó, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có sự khác biệt cơ bản đó là: Quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện, còn phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lại là thủ tục tư pháp
Trong kinh doanh, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ Khi đó, để lành mạnh hóa hoạt động của doanh nghiệp khỏi phải lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp có thể thực hiện việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh hay nói cách khác tự phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình Quá trình phục hồi này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp, họ tự quyết định có hay không thực hiện
Trang 16việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; tự quyết định các phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh cũng như thực hiện phương án phục hồi
Khác với quy trình tự phục hồi, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục tư pháp Đây là một giai đoạn trong thủ tục yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp, được tiến hành sau khi Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp
và chính Tòa án là người quyết định thủ tục phục hồi này Mặc dù công việc chính trong quá trình phục hồi do doanh nghiệp thực hiện nhưng việc phục hồi chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định về nội dung, thủ tục xem xét thông qua và thời hạn thực hiện phương án phục hồi phải tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật Hơn nữa, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Tòa án cũng như các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu những hậu quả pháp lý tồi tệ trong trường hợp doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh của mình không thành công
1.1.1.2 Những căn cứ để tiến hành thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993:
"Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau
khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn"
Tại nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ quy định dấu
hiệu lâm vào tình trạng phá sản là: "Doanh nghiệp bị thua lỗ trong 2 năm liên
tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp"
Trang 17Theo các quy định này, có thể nói các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay những người nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh nghiệp là rất khó có thể đưa vụ việc đến Tòa án Dường như vào thời điểm luật này được thông qua, việc phá sản doanh nghiệp còn quá mới mẻ và thực
sự có nhiều ý kiến khác nhau về các hậu quả của việc cho phép doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được phá sản
Ví dụ: Hậu quả mất việc làm của người lao động hay gây mất ổn định các hoạt động của xã hội mà không có sự quan tâm thích đáng cho các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng không thể hoạt động, không thể trả nợ, không đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp và xã hội song vẫn phải tồn tại Các điều kiện mà các quy định nói trên nêu ra cho việc có thể đưa việc phá sản doanh nghiệp đến Tòa án, một mặt có thể quá muộn khi nhìn vào thời hạn hay
"Ba tháng liên tiếp không trả lương cho người lao động"
Và theo Điều 3 - Luật phá sản năm 2004 "Doanh nghiệp, hợp tác xã
không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản" Như vậy, theo quy định này doanh
nghiệp mắc nợ chỉ cần mắc nợ chủ nợ với số tiền là 1.000 đồng và thời gian quá hạn thanh toán là 10 ngày kể từ ngày chủ nợ gửi giấy đòi nợ thì được coi như doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Nhưng với quy định này, có thể
sẽ khắc phục được tình trạng quá muộn để phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay có điều kiện tốt hơn trong việc thanh toán cho các chủ nợ
Đó là vì vào thời điểm khi phát hiện ra doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì việc này có thể đưa ngay đến Tòa án, các hoạt động và tài sản của doanh nghiệp sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của Tòa
án và các chủ nợ Khi đó cơ hội để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có thể được chấp nhận nếu có phương án phục hồi kịp thời được các chủ nợ và Tòa án đồng ý thông qua
Trang 18Theo kinh nghiệm của các nước, có thể nói việc xác định thời điểm Tòa án thụ lý đơn để xem xét việc phá sản là khá sớm khi so sánh với quy định hiện thời của Việt Nam
Ví dụ: Luật phá sản của Nhật Bản quy đinh: "Mọi thương nhân và pháp nhân kể cả pháp nhân không có quy chế thương nhân, khi bị lâm vào tình trạng ngừng thanh toán thì đều phải khai báo trong thời hạn 15 ngày để
mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thủ tục thanh lý doanh nghiệp"
1.1.1.3 Điều kiện để xác định thời điểm một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Trong hoàn cảnh thực tế ta có thể nhận thấy thời điểm bắt đầu mở thủ
tục phá sản là thời điểm xác định Tòa án có thể bảo vệ được quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, giúp các chủ nợ có thể tham gia vào công việc quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản để họ có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình Bằng việc quy định một số điều khoản tại chương IV - Luật phá sản năm 2004, có thể giúp doanh nghiệp mắc nợ có thể có điều kiện tốt hơn để phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
và giảm bớt những khó khăn có thể xẩy ra Vì vậy, điều kiện để xác định thời điểm một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là:
- Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ
- Đã quá thời hạn thanh toán mà không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu
Như vậy, nếu doanh nghiệp làm ăn không bị thua lỗ thì tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được thể hiện qua sổ sách tài chính kế toán của doanh nghiệp, song trong sổ sách kế toán lại thể hiện rõ doanh nghiệp có các khoản nợ đến hạn chưa thanh toán và cũng không chịu thanh toán thì chủ nợ chưa thể yêu cầu Tòa án bắt đầu thực hiện thủ tục phá sản doanh nghiệp đó
Và vấn đề được thực hiện đầu tiên là chủ nợ sẽ phải đi kiện để đòi nợ theo thủ
Trang 19tục bình thường và chờ khi nào giải quyết xong và xin thi hành án Điều này
sẽ tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp chây lỳ không trả nợ và các chủ nợ hay các đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong phạm vi pháp luật cho phép đưa đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp Phải chờ đợi cho đến khi trên sổ sách tài chính của doanh nghiệp mắc nợ đó phản ánh rõ sự thua lỗ của doanh nghiệp
Theo quy định chung thì Luật phá sản không chỉ chú ý đến việc thanh toán nợ hay việc "Trả nợ tập thể" cho các chủ nợ, người lao động mà rất chú trọng tới việc giúp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể thoát ra khỏi khó khăn và phục hồi lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên có những ý kiến lại cho rằng, luật không nên coi việc phục hồi hay tổ chức lại việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là bắt buộc mà nên khuyến khích, tạo mọi
cơ hội, điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể thực hiện phương án phục hồi lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được dễ dàng hơn, tiện lợi hơn
Có thể nói rằng, cùng với sự hoàn thiện của Luật doanh nghiệp thì số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế tư nhân đã được phát triển một cách nhanh chóng và đóng góp ngày càng nhiều vào tổng đầu tư của toàn xã hội Có nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt động thì cũng có nhiều doanh nghiệp cần giải thể và phá sản, đây là một vấn đề không thể tránh khỏi của một nền kinh tế cạnh tranh Vấn
đề cần nêu ra ở đây là làm sao bằng các quy định phù hợp của luật pháp sẽ tạo cho các doanh nghiệp thực sự có một "Sân chơi" hợp lý để họ có thể được thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh một cách công bằng, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các trường hợp khác liên quan đến các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bất kể họ là người cho doanh nghiệp vay tiền hay là người làm công ăn lương
Trang 20của doanh nghiệp Và điều kiện quan trọng hơn là các quy định này phải đảm bảo một cách có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan và của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó đã lâm vào tình trạng phá sản
1.1.2 Những đặc trƣng cơ bản của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lầm vào tình trạng phá sản là một trong những thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt và nó được điều chỉnh bởi những hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt Tính chất đặc biệt của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
là quyết định của tập thể Đa số các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, nếu họ đã nợ các chủ nợ một số nợ khổng lồ mà không thể nào trả nổi hoặc vỡ
nợ vì nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì sẽ dẫn đến kết quả là khai phá sản Nhưng khi các chủ nợ nộp đơn đến Tòa án yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản thì khi Tòa án thụ lý đơn sẽ tổ chức hội nghị chủ nợ, khi
đó các chủ nợ có thể đồng ý cho doanh nghiệp mắc nợ có cơ hội xóa bỏ các món nợ hoặc làm lại từ đầu bằng cách làm ăn có tổ chức và có quy củ để có thể trả dần những món nợ đó cho các chủ nợ Như vậy doanh nghiệp mắc nợ
có thể áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Thứ hai: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
tránh được những hậu quả xấu do việc phá sản gây ra Việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ không chỉ ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân chủ nợ, con nợ, người lao động mà còn kéo theo nhiều hậu quả bất lợi khác cho xã hội nói chung Đối với các chủ nợ, trong trường hợp doanh nghiệp mắc nợ gặp nhiều khó khăn, việc thanh toán ngay tài sản của doanh
Trang 21nghiệp mắc nợ cho chủ nợ không phải bao giờ cũng là giải pháp tối ưu cho
họ, vì không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản cũng còn đủ tài sản để thanh toán hết các món nợ của mình Vì vậy, sẽ tốt hơn nếu doanh nghiệp mắc nợ được giúp đỡ có thể thoát khỏi tình trạng phá sản bằng con đường phục hồi hoạt động kinh doanh
Thứ ba: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản có thể có tác động tốt đến môi trường kinh doanh Việc phá sản doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh với quy mô lớn, có nhiều đối tác làm ăn hoặc hoạt động trong những ngành nghề chủ chốt quan trọng đối với nền kinh tế đất nước rất dễ làm phát sinh tác động dây chuyền đến các lĩnh vực kinh tế khác cũng như các hoạt động khác của các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Vì vậy việc tạo điều kiện phục hồi hoạt động kinh doanh cho các chủ nợ là một xu hướng cần thiết và phải được khẳng định trong luật phá sản hiện đại
Thứ tư: Việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản được Tòa án và các chủ nợ tạo điều kiện tối đa Một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp mắc nợ thoát khỏi tình trạng phá sản là việc pháp luật cho phép doanh nghiệp mắc nợ chủ động xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình Kế hoạch này sẽ được trình lên Hội nghị chủ nợ, nếu được thông qua thì về cơ bản doanh nghiệp mắc nợ được khôi phục lại vị trí pháp lý ban đầu, được tiếp tục sản xuất kinh doanh một cách bình thường
1.2 VAI TRÒ CỦA THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Thứ nhất: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ
Trang 22Khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường, việc các doanh nghiệp mắc nợ nhau là chuyện bình thường, ít có doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi nợ Khi có đối tác kinh doanh nợ mình thì chủ nợ có quyền đòi
nợ và việc đòi nợ có thể thông qua nhiều hình thức, biện pháp đòi nợ khác nhau trong đó có biện pháp khởi kiện ra Tòa án Tuy nhiên nếu đòi nợ bằng con đường kiện tụng ra Tòa dân sự, nhiều khi không giải quyết được một cách thỏa đáng quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh Vì vậy, với tư cách là một thủ tục đòi nợ thông thường, nhà nước phải thiết kế thêm các cơ chế đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi cần thì có thể sử dụng để đòi nợ, đó
là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong thủ tục phá sản Tính ưu việt ở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là ở chỗ chủ nợ có thể theo dõi, giám sát được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để
từ đó có thể xác định được việc thu hồi nợ mà doanh nghiệp mắc nợ phải trả khi phương án phục hồi đã thực hiện xong Việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ
nợ khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản bằng cách mở rộng hành lang pháp lý, tạo cơ hội cho chủ nợ thu hồi được nợ đã làm cho luật phá sản trở thành công cụ pháp lý có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh doanh
Luật phá sản năm 2004 đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Điều này được thể hiện qua các quy định của pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ
Thứ hai: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mắc nợ, tạo điều kiện để cho doanh nghiệp mắc nợ có cơ hội trở lại hoạt động kinh doanh bình thường trên thị trường
Trang 23Khi mới xuất hiện, Luật phá sản chưa đặt ra vấn đề bảo vệ doanh nghiệp mắc nợ, vì tại thời điểm này hầu hết các quan điểm cho rằng phá sản cũng là một tội phạm, người gây ra sự phá sản bị coi là phạm nhân, do đó họ không những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt bằng nhiều hình thức khác nhau, kể cả việc tử hình Ngày nay quan niệm về việc kinh doanh đã được thay đổi, do đó, cách xử sự của nhà nước và pháp luật đối với doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản cũng được thể hiện theo hướng tích cực, có lợi cho doanh nghiệp mắc nợ Hoạt động kinh doanh là hoạt động chứa nhiều rủi ro, ngoài sự mong muốn của các doanh nghiệp bởi thị trường kinh doanh thường xuyên có sự biến đổi và do có nhiều sự tác động của khách quan nên tình trạng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thua lỗ, không trả được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu là điều có thể xẩy ra ở bất kỳ nơi nào và vào thời điểm nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào Mặt khác, doanh nghiệp
bị phá sản có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu cho xã hội mà trước hết nó xẩy
ra đối với chủ nợ và người lao động Chính vì vậy, hiện nay khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì điều đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp ngay và phân chia tài sản cho các chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn này để có thể tiếp tục đi trên con đường kinh doanh và thanh toán được các khoản nợ cho các chủ nợ Để đảm bảo thực hiện được vấn đề trả nợ tốt hơn luật đã có nhiều hình thức phục hồi để các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức phù hợp với quy mô và hoạt động của mình như: huy động vốn mới; thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới công nghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất; bán lại
cổ phần cho chủ nợ; bán hoặc cho thuê tài sản không cần thiết
Thứ ba: Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
góp phần bảo vệ lợi ích cho người lao động
Trang 24Trong chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo vệ người lao động bởi vì bảo vệ người lao động là thể hiện quan điểm vì con người, do con người mà trước hết là người lao động Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là vấn đề chung của toàn xã hội, trong đó thiết thực nhất vẫn là tổ chức Công đoàn, Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam [24, Điều 1] và "Công đoàn có quyền cùng với
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và những người lao động khác" [27, Điều 10]
Vì vậy, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và vấn đề này có thể gây
ra các hậu quả xấu cho người lao động vì chính sự phá sản mà người lao động phải mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất nghiệp Do vậy, muốn bảo vệ người lao động, trước hết là phải làm sao để doanh nghiệp không bị phá sản Ban chấp hành Công đoàn (đại diện cho người lao động) đồng ý cho doanh nghiệp
áp dụng cơ chế phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là "cứu được doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản cũng chính
là cứu được người lao động thoát khỏi tình trạng thất nghiệp" [15, tr 21]
Thứ tư: Phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản góp phần bảo vệ kỷ cương xã hội
Khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản, trước những nguy cơ có thể mất nhiều khoản tín dụng của mình, các chủ nợ có động lực mong muốn thúc đẩy thực hiện những hành vi chống lại doanh nghiệp mắc
nợ Những hành vi đó có thể là hợp pháp cũng có thể là bất hợp pháp Nếu không có sự can thiệp của pháp luật hoặc sự can thiệp đó không có hiệu quả thì những hành vi bất hợp pháp của các chủ nợ rất dễ xẩy ra, gây nên tình trạng lộn xộn trong đời sống xã hội Do vậy pháp luật về phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phá sản quy định cách thức và thời gian
mà mỗi nhóm chủ nợ được thanh toán nợ và không làm ảnh hưởng hoặc gây
Trang 25lộn xộn đến những nhóm khác tạo nên một sự cân bằng cần thiết trong việc thanh toán cho các chủ nợ, cũng có nghĩa là các bên được đưa vào một khuôn khổ chung mà trong đó lợi ích của các bên đều được xem xét một cách công bằng và minh bạch
Bằng việc giải quyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ cũng như giữa các chủ nợ với nhau, những quy định về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã góp phần hạn chế những mâu thuẫn, những căng thẳng có thể có giữa họ, nhờ đó góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương trong xã hội
Thứ năm: Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản góp phần tổ chức lại cơ cấu nền kinh tế
Phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã góp phần tích cực vào việc tổ chức cơ cấu lại nền kinh tế Những doanh nghiệp nào không có khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh coi như họ đã
tự chứng minh doanh nghiệp của mình thực sự làm ăn kém hiệu quả Đồng thời việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là một trong những biện pháp buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động, sáng tạo nhưng không được mạo hiểm, liều lĩnh
Tóm lại, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa rất to lớn trong nền kinh tế thị trường nói riêng, trong hệ thống pháp luật nói chung, là cơ sở pháp lý để các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế do Luật phá sản điều chỉnh, áp dụng một cách thống nhất góp phần lập lại kỷ cương và trật tự xã hội
1.3 VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN TÒA ÁN ĐỐI VỚI THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Pháp luật của hầu hết các nước đều trao cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản,
Trang 26song vai trò cụ thể của cơ quan này trong quá trình giải quyết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khác nhau và không giống nhau
Bởi vì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là hiện tượng xấu gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và cho nhiều người, do đó cơ quan nào có quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản là vấn đề được pháp luật nhiều nước quan tâm
Theo quy định tại Điều 7 - Luật phá sản năm 2004, thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thuộc Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh và Tòa
án nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng
ký kinh doanh của cấp đó
Tùy vào tính chất của việc phá sản, quy mô của doanh nghiệp, Tòa án nhân dân tỉnh sẽ lấy lên để tiến hành giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp thuộc thẩm quyền cấp huyện Việc giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản cấp Huyện do một Thẩm phán phụ trách, tại Tòa án cấp Tỉnh thì
do một hoặc ba Thẩm phán phụ trách Do đó, nếu như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tập trung tại Tòa án nhân dân tỉnh thì Luật phá sản năm 2004 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản cho Tòa án huyện, điều này có thể được lý giải bởi sự không ngừng nâng cao về trình độ chuyên môn
và nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán
Quy định như vậy là phù hợp với tính chất và hoạt động của Tòa án các cấp theo tinh thần Nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về "Một số trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", giai đoạn
2005 - 2010, theo đó tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân Tối cao chủ yếu thực hiện việc xét xử Giám đốc thẩm, Tái thẩm bản
Trang 27án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới bị kháng nghị, tập trung vào việc tổng kết thực tiễn, hướng dẫn việc xét xử của Tòa án các cấp
Tham gia vào quá trình giải quyết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tòa án có vị trí trung tâm, có vai trò chủ đạo và là người trực tiếp giải quyết loại công việc này của xã hội Thủ tục giải quyết yêu cầu doanh nghiệp tuyên bố lâm vào tình trạng phá sản được mở đầu bằng việc Tòa án nhận đơn, thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Tòa án quyết định việc mở hay không mở thủ tục phá sản Vai trò của Tòa án không chỉ dừng lại ở việc quyết định những vấn đề thuộc về tố tụng phá sản mà nó còn can thiệp vào cả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo đảm tài sản của doanh nghiệp
Khi giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, Tòa án cùng với các bên phải phân tích, đánh giá khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để trên cơ sở đó mà ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thủ tục phục hồi chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của chủ nợ Đối với những doanh nghiệp mắc nợ rõ ràng là không thể có được khả năng thanh toán sau khi được áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì pháp luật cho phép Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản và tiến hành ngay thủ tục thanh lý doanh nghiệp
mà không cần làm bất cứ một thủ tục pháp lý nào khác
Khác với hệ thống chung này, pháp luật phá sản Việt Nam mà cụ thể
là Luật phá sản doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành năm 1993 lại quy định mà theo đó bất cứ một doanh nghiệp nào bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đều phải trải qua giai đoạn xây dựng phương án hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, họp Hội nghị chủ nợ để bàn bạc xem xét phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh
Trang 28doanh này và sau đó nếu không được chấp nhận của Hội nghị chủ nợ, Tòa án mới ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đó Quy định này dẫn tới hậu quả là, mặc dù tài sản của doanh nghiệp mắc nợ trên thực tế đã không còn
gì đáng kể, bản thân chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp và các chủ nợ không muốn doanh nghiệp phục hồi nhưng doanh nghiệp đó vẫn bắt buộc phải thực hiện đầy đủ các bước như trên Như thế việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong trường hợp này rõ ràng là không chỉ không có kết quả mà còn trái ý muốn của các đương sự
Để khắc phục tình trạng này, Luật phá sản năm 2004 đã đi theo hướng quy định nhiều thủ tục khác nhau trong thủ tục phá sản tại Điều 5 - Luật phá sản 2004 bao gồm: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thủ tục thanh lý tài sản, thủ tục tuyên bố phá sản, căn cứ vào tình trạng thực tế của doanh nghiệp có thể có khả năng áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án ra quyết định doanh nghiệp được tiến hành thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh khi được 2/3 số chủ nợ không có bảo đảm tham gia Hội nghị chủ nợ đồng ý Bản chất của thủ tục này là khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đó được Tòa án dành cho một thời gian "Đệm" nhất định nhằm tạo cơ hội để doanh nghiệp bằng các nỗ lực của chính mình với sự giúp đỡ của các chủ nợ mà khôi phục lại hoạt động kinh doanh của mình Mục đích của cơ chế này của Tòa án nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ vượt qua tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, khôi phục lại hoạt động kinh doanh bình thường, hạn chế đến mức thấp nhất việc giải thể doanh nghiệp khi còn có hy vọng phục hồi nó.Nhưng trong quá trình thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh nếu doanh nghiệp thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản
Trang 291.4 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM
Trên thế giới, vào thời kỳ La Mã, các thương gia thường họp nhau lại
và đưa ra một quy định chung là: Người nào không trả được nợ thì bắt làm nô
lệ và mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và do đó chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường, do đó ở La Mã thời đó có nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì "Chuồn là hơn", nên họ thường bỏ trốn
Để ổn định trật tự xã hội, nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ Cách làm này cũng thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều người chủ nợ thì dễ xảy ra tranh chấp Bởi thế người ta thấy rằng để các chủ nợ đều được trả nợ một cách đảm bảo công bằng và hợp lý, tốt nhất Tòa
án địa phương đứng ra quản lý số tài sản rồi phân chia số tài sản này cho các chủ nợ theo vốn và lãi của mỗi người
Sau đó, vào thời Trung cổ, các quốc gia Châu Âu cũng ban hành luật phá sản Luật phá sản đầu tiên của Anh do vua Herry VIII ký vào năm 1542 Đây là đạo luật chống lại cá nhân gây ra phá sản Năm 1905 Nam Tư ban hành "Luật cưỡng chế hòa giải phá sản" theo luật này giữa các chủ nợ và con
nợ có thể áp dụng phương pháp hòa giải để phục hồi lại hoạt động sản xuất kinh doanh của con nợ
Còn ở Việt Nam, trước giải phóng cũng có hai đạo luật điều chỉnh phá sản đã được ban hành là Luật phá sản trong Luật thương mại trung phần tại Miền Trung Việt Nam ngày 02/06/1942 và Luật phá sản trong Luật thương mại Miền Nam Việt Nam năm 1972 Từ sau giải phóng Miền Nam, chúng ta
đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không khuyến khích cạnh tranh nên khái niệm phá sản hầu như không có khi chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường thì vấn đề phá sản và giải quyết phá sản mới được đặt ra Ngày
Trang 3030/12/1993, Quốc hội đã thông qua Luật phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên luật này hầu hết chỉ thiên về bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và hầu như ít đặt ra mục tiêu tái tạo lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, sau 11 năm thực hiện luật phá sản năm 1993 thấy có nhiều vấn đề bất cập, chưa tạo điều kiện cho chủ nợ có thể phục hồi lại hoạt động kinh doanh nên ngày 15/6/2004, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 5 đã thông qua luật phá sản năm
2004 là đã có 10 điều quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
1.5 PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.5.1 Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Estonia
Khi các nước Đông Âu từ bỏ các cơ cấu kinh tế chủ nghĩa xã hội của quá khứ, họ đã nhanh chóng ban hành Luật phá sản mới Thật đáng kinh ngạc
và đã có quá nhiều nước đã ưu tiên cho việc xây dựng luật phá sản mới Ba Lan năm 1990, Hungari năm 1991, Cộng hòa Sec và Estonia năm 1992, Nga năm 1993 Tuy nhiên rất nhiều trong số Luật phá sản này được soạn thảo một cách vội vã Một số nước hy vọng phá sản là giải pháp cho việc giải thể các doanh nghiệp nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả
Luật phá sản Estonia dường như là đạo luật tốt nhất trong số các nước này, nó là một luật toàn diện, được tổ chức chặt chẽ và rõ ràng do giáo sư Paul Varul trường đại học Tartu soạn thảo chính, cùng với các ý kiến đóng góp và tư vấn rộng rãi của các luật sư Ertonia và nước ngoài, Luật phá sản đã được thông qua trước hiến pháp cải cách Ertonia Luật này áp dụng đối với các công ty tư nhân và không có những quy định áp dụng đặc biệt đối với các thực thể nhà nước Luật này trao hầu hết các quyết định quan trọng cho chủ
nợ và người quản lý tài sản độc lập, từ đó giảm thiểu vai trò của các quan chức Nhà nước Là một vấn đề chính sách, bộ luật chủ yếu bảo vệ quyền của
Trang 31chủ nợ, chẳng hạn như cho phép các chủ nợ không hài lòng có quyền khởi kiện Mục đích là nhằm thúc đẩy đầu tư bằng cách giảm bớt rủi ro thua lỗ của chủ nợ
Phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Ertonia là một trong những vấn đề được quan tâm và được quy định rõ ràng trong luật phá sản trong giai đoạn phục hồi, luật quy định một cách rõ ràng người quản lý tài sản có quyền thu hồi các khoản tiền cho chủ nợ ngay trong giai đoạn phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải thúc đẩy nhanh việc thanh toán
nợ cho các chủ nợ là những người thân cận của bên mắc nợ (chẳng hạn các cán bộ hoặc họ hàng) Kế hoạch thỏa hiệp và thanh toán nợ sẽ có hiệu lực thi hành nếu được các chủ nợ biểu quyết thông qua (thông thường đại diện cho 2/3 khoản nợ không có bảo đảm có khiếu nại và sẽ là mức 3/4 khoản nợ không có bảo đảm khiếu kiện nếu các chủ nợ đó được thanh toán 1/2 khoản
nợ khiếu kiện của mình) Với những quy định như vậy, luật này có thể khiến việc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trở nên quá dễ dàng khi nó trở thành công cụ ép buộc của các chủ nợ cá nhân đối với bên mắc nợ
có khả năng thanh toán Và vấn đề phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Estonia đã tạo ra chuẩn mực cho việc cải cách luật thương mại ở các nước mới nổi
1.5.2 Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Hoa Kỳ
Vấn đề phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản Mỹ năm 2005 đã được Quốc hội của nước này xác định thuộc về thẩm quyền riêng của nhà nước liên bang, có nghĩa là một vụ việc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không thể được thụ lý bởi tòa án tiểu bang Trong hoàn cảnh hàng triệu người thất nghiệp do hậu quả của việc khủng hoảng tài chính hiện nay, ở Mỹ hẳn phải có hàng chục ngàn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể Để cứu vớt những doanh nghiệp này,
Trang 32thông qua thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản các cá nhân hay doanh nghiệp không có khả năng chi trả cho chủ nợ có thể tìm ra cơ hội để trở lại thương trường bằng cách họ có thể tổ chức lại hoạt động tài chính và thực hiện kế hoạch trả hết các khoản nợ của mình Mục đích cơ bản của luật phá sản Mỹ là cho con nợ lương thiện một cơ hội làm lại từ đầu bằng cách làm nhẹ gánh nặng cho con nợ đối với hầu hết các khoản nợ, và giúp họ tuần tự trả cho các chủ nợ bằng tài sản có sẵn cho việc chi trả Vấn đề này được quy định tại chương 11 của luật phá sản Mỹ, đây thực sự là một cú hích
để cho con nợ muốn bất đầu kinh doanh lại, nếu con nợ vẫn đang còn lại một chút tài sản nào đó thì nó có thể khôi phục lại hoạt động kinh doanh của mình
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
THEO LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 2004
2.1 THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường diễn ra ngày càng khốc liệt, sự rút lui, lâm vào tình trạng phá sản của một bộ phận doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi Khi nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ, đại diện công đoàn hay chính doanh nghiệp mắc nợ có thể đệ đơn lên Tòa án yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
2.1.1.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ
Theo quy định tại Điều 61 - Luật phá sản 2004 việc triệu tập Hội nghị chủ nợ được quy định như sau:
Trang 341 Trường hợp việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản kết thúc trước ngày lập xong danh sách chủ nợ thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày lập xong danh sách chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập hội nghị chủ nợ
2 Các hội nghị chủ nợ tiếp theo có thể được thẩm phán triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo đề nghị của tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm
3 Giấy triệu tập hội nghị phải được gửi cho người có quyền tham gia hội nghị chủ nợ và người có nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ
4 Hội nghị chủ nợ do thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản chủ trì
Với quy định tại điều luật này thì chúng ta thấy được rằng, ở đây Tòa
án chỉ định Thẩm phán phụ trách thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp và Thẩm phán không phải là người có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản, nhưng do tính chất phức tạp của hiện tượng phá sản Thẩm phán phải là người trung gian, nhân danh Nhà nước đứng ra giúp các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người có liên quan đạt được những thỏa thuận nhất định Trong trường hợp có thể được, Thẩm phán cũng là người đứng ra tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ tự cứu vãn mình Cho nên khi nhận được đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp mắc nợ, xét thấy nội dung đơn hợp lệ thì Thẩm phán được giao phụ trách giải quyết vụ phá sản phải ra quyết định thông báo triệu tập hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ được Luật phá sản thiết kế như là thiết chế để thông qua
đó các bên có liên quan trong vụ phá sản cùng nhau tìm kiếm, thỏa thuận phương án phục hồi để cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản [41,
tr 66] Bên cạnh đó, hội nghị chủ nợ cũng là nơi để các chủ nợ có thể thể hiện hết ý chí và quan điểm của mình liên quan đến tài sản của mình Luật phá sản
Trang 35quy định rất rõ về thẩm quyền bởi đây là cơ sở để các chủ nợ thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình
2.1.1.2 Quyền hạn Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là nơi tập hợp tất cả các chủ nợ cũng như người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không phân biệt họ có nộp đơn hay không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Để thực hiện tốt điều này, hội nghị chủ
nợ cũng cần phải có các thẩm quyền nhất định bởi vì chính sự quy định về thẩm quyền là cơ sở để hội nghị chủ nợ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Hội nghị chủ nợ có các quyền sau:
- Quyền đề nghị Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để bảo vệ tốt quyền, lợi ích của các chủ nợ, Luật phá sản quy định trong trường hợp xét thấy người quản
lý không có khả năng điều hành hoặc tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh
sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản cho doanh nghiệp Thẩm quyền này chính là biện pháp bảo đảm cho những quyết định của Hội nghị chủ nợ đạt được hiệu quả khi thực hiện trên tế [41, tr 67]
- Xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trình hội nghị chủ nợ xem xét, quyết định Một trong những mục đích lớn nhất của việc áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là tìm mọi biện pháp để cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Thông qua việc thực hiện nội dung phương án phục hồi các chủ nợ có thể tạo điều kiện giúp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trở lại bình thường, phục hồi khả năng thanh toán nợ cho chủ nợ Do vậy, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp có vai trò quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Bất kỳ chủ nợ nào cũng đều có quyền xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và nộp cho Tòa án Đây là quyền mới
Trang 36được Luật phá sản năm 2004 ghi nhận nhằm tạo điều kiện cho các chủ nợ tham gia một cách tích cực và chủ động hơn vào quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Với quy định này cho thấy, vai trò chủ động của chủ nợ đã được nhấn mạnh, thông qua đó các chủ nợ có thêm cơ hội, tự mình đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nào cho phù hợp để cứu vãn doanh nghiệp, nhưng thực chất ý định này là nhằm mục đích cứu mình trước nguy cơ doanh nghiệp mắc nợ không có khả năng thanh toán nợ cho mình
- Giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định: "Sau khi Thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Chủ nợ có nghĩa vụ giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp" [30, Điều 73]
Ở đây, việc giám sát phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là giám sát doanh nghiệp thực hiện hoạt động quản lý và hoạt động kinh doanh "Do vậy, việc quy định giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trao cho các chủ nợ với tư cách cá nhân chứ không phải nhân danh tập thể chủ nợ" [41, tr 68] Chủ nợ thực hiện việc giám sát nhằm buộc doanh nghiệp mắc nợ phải thực hiện theo đúng nội dung phương án phục hồi được thông qua tại hội nghị chủ nợ Khi thực hiện quyền giám sát nếu xét thấy doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả về phương án phục hồi nghĩa
là doanh nghiệp đã thực hiện tốt việc quản lý và thanh toán hết các khoản nợ cho chủ nợ thì "Thẩm phán có quyền đồng ý đình chỉ thủ tục phục hồi và sự đồng ý của chủ nợ được coi là hợp lệ khi được quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán nhất trí" [30, Điều 76] Trong trường hợp nếu phát hiện doanh nghiệp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi và có khả năng làm cho khối tài sản phá sản giảm sút hoặc bị mất mát và quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm, chủ nợ có quyền yêu
Trang 37cầu Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối với tài sản của doanh nghiệp mắc nợ theo [15, tr 118]
- Quyền được thanh toán các khoản nợ từ tài sản doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện được phương án phục hồi đã được Hội nghị chủ nợ nhất trí thông qua thì các chủ nợ sẽ được thanh toán các khoản nợ theo nội dung đã đề ra trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của
- Quyền của doanh nghiệp mắc nợ: Xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để trình ra Hội nghị chủ nợ xem xét, thông qua
Theo quy định tại Luật phá sản năm 2004 thì phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải nêu rõ các biện pháp cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh như: Huy động vốn mới, thay đổi mặt hàng sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất, tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hay chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản xuất Trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cũng phải nêu rõ thời hạn, kế hoạch thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh không được hội nghị thông qua là một trong những căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp [15, tr 110]
2.1.1.3 Nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ
Theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, trong quá trình doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thực hiện giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, các chủ nợ có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận tại hội nghị chủ nợ và theo dõi doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận đó Để các chủ nợ thực hiện tốt quyền giám sát của mình, đòi hỏi phải có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các chủ nợ với nhau Bởi lẽ trong quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vừa phải tiến hành
Trang 38thực hiện các giải pháp phục hồi, vừa phải thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ theo kế hoạch, thời gian được ghi nhận trong phương án phục hồi Vì vậy, sự liên hệ, phối hợp giữa các chủ nợ sẽ giúp các chủ nợ kiểm tra doanh nghiệp có thực hiện đúng thời gian và thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho các chủ nợ hay không điều này được thể hiện ở những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: Nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ của doanh nghiệp mắc
nợ: Có thể thấy chủ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là chủ thể duy nhất có nghĩa vụ xây dựng các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ nếu muốn được áp dụng thủ tục phục hồi Bởi lẽ vào thời điểm này chỉ có doanh nghiệp mắc nợ mới là người hiểu rõ tình trạng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình
Do vậy, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra được các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp và hiệu quả nhất Điều đó không những giúp doanh nghiệp có thể thực hiện được những cam kết thanh toán nợ cho các chủ nợ mà còn là quyền lợi của chính bản thân lâm vào tình trạng phá sản
Thứ hai: Nghĩa vụ thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua và được Tòa án công nhận: Doanh nghiệp mắc nợ là chủ thể có nghĩa vụ thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được thông qua hội nghị chủ nợ nhưng phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Tòa án và chủ nợ trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được Thẩm phán công nhận sẽ có hiệu lực đối với doanh nghiệp mắc nợ cũng như tất cả các bên liên quan Doanh nghiệp mắc
nợ có trách nhiệm thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh theo đúng thời hạn, nội dung Theo quy định tại Khoản 2 - Điều 73 - Luật phá sản năm 2004 thì định kỳ 6 tháng một lần doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo với Tòa án về tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là 3 năm, kể từ ngày cuối cùng đăng
Trang 39báo về quyết định của Tòa án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, các chủ nợ và doanh nghiệp có quyền thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
2.1.2 Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Xuất phát từ sự nhận thức việc cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng
trong xã hội cũng như mong muốn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xác định sự ổn định và phát triển nền kinh tế cho đất nước Luật phá sản của hầu hết các nước trên thế giới rất chú trọng tới việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là nhằm củng cố và thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp để đảm bảo quyền đòi nợ cho các chủ nợ một cách có hiệu quả và tối ưu nhất
Thẩm phán có trách nhiệm triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất để lấy ý kiến của các chủ nợ về việc cần phải áp dụng thủ tục nào (thủ tục phục hồi hay thanh lý tài sản) đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Ở đây chúng ta có thể nhận thấy rằng thành phần tham gia Hội nghị chủ
nợ chính là các chủ nợ mặc dù tính chất các khoản nợ có thể khác nhau, vị trí của các chủ có thể không giống nhau thế nhưng trong việc tham gia Hội nghị chủ nợ nói riêng và thủ tục tố tụng phá sản nói chung cần phải thể hiện và đảm bảo nguyên tắc bình đẳng là lấy ý kiến thống nhất chung của tập thể
Tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản
sẽ báo cáo về tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải đề xuất phương án tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng và thời hạn trả nợ để Hội nghị
Trang 40chủ nợ bàn bạc, quyết địnhcó cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản áp dụng thủ tục phục hồi hay không
Thẩm phán chỉ ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã đề xuất trong hội nghị chủ nợ
2.1.2.1 Nợ của doanh nghiệp
Nợ của doanh nghiệp là một trong những điều kiện cần và đủ để có thể xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Luật phá sản doanh nghiệp mặc dù không quy định doanh nghiệp nợ đối với chủ nợ là bao nhiêu thì lâm vào tình trạng phá sản mà chúng ta chỉ cần hiểu rằng doanh nghiệp chỉ cần nợ đối với chủ nợ 1.000 đồng mà không có khả năng thanh toán thì lâm vào tình trạng phá sản Nhưng khi chủ nợ nộp đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp mắc nợ thì một trong những thủ tục mà doanh nghiệp mắc nợ phải thực hiện khi tòa án tiến hành Hội nghị chủ nợ để xây dựng phương án hòa giải, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là lập danh sách và báo cáo về các khoản nợ của mình đối với chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần Mục đích của việc quy định này là nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ và góp phần tạo thuận lợi cho tổ chức quản lý, thanh lý tài sản thực hiện công bằng bởi nhiệm vụ của mình
Tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, doanh nghiệp mắc nợ phải cam kết thanh toán các khoản nợ đối với chủ nợ khi doanh nghiệp thực hiện thành công phương án phục hồi đã được Hội nghị chủ nợ thông qua thì các chủ nợ
sẽ được thanh toán các khoản nợ theo nội dung đã đề ra trong phương án phục hồi, tuy nhiên không phải trong trường hợp nào doanh nghiệp mắc nợ cũng có khả năng phục hồi được hoạt động kinh doanh của mình Vì vậy, trong nhiều