1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại - những vấn đề lý luận và thực tiễn

102 807 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 914,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về trọng tài và giải quyết tranh chấp trọng tài, trong đó phải kể đến: “Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nướ

Trang 1

Đại học quốc gia Hà Nội

Khoa luật

==========

Nguyễn Thanh Huy

Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại

Trang 2

Đại học quốc gia Hà Nội

Khoa luật

==========

Nguyễn Thanh Huy

Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại

- những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chuyên ngành : Luật kinh tế

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phan Chí Hiếu

Luận văn thạc sĩ luật học

`

Hà Nội - 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cảm đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Được viết trên cơ sở những hiểu biết cá nhân, có tham khảo các tài liệu đã được công

bố Kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thanh Huy

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 11

1.1 Khái quát về trọng tài và quyết định của trọng tài thương mại 11

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của trọng tài thương mại 11

1.1.1.1 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại các nước trên thế giới 11

1.1.1.2 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam 14 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quyết định của trọng tài thương mại 16

1.1.2.1 Khái niệm quyết định trọng tài 16

1.1.2.2 Đặc điểm quyết định của trọng tài 19

1.1.3 Phân loại quyết định trọng tài thương mại 20

1.2 Thi hành quyết định của trọng tài thương mại 22

1.2.1 Vai trò của việc thi hành quyết định trọng tài thương mại 22

1.2.2 Các hình thức thi hành quyết định của trọng tài: 27

1.2.2.1 Tự nguyện thi hành 27

1.2.4 Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại 38

1.2.4.1 Các dấu hiệu pháp lý của cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại 38

1.2.4.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại 40

CHƯƠNG 2 - THỰC TIỄN VẬN HÀNH CƠ CHẾ THI HÀNH 46

QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 46

2.1 Thực trạng pháp luật về thi hành quyết định trọng tài thương mại 46

2.1.1 Điều kiện để các quyết định của trọng tài được đưa ra thi hành 60

Trang 5

2.1.3 Thủ tục thi hành quyết định của trọng tài thương mại 63

2.2 Các thiết chế liên quan đến việc thi hành quyết định trọng tài thương mại 70

2.2.1 Cơ quan thi hành án dân sự 70

2.2.2 Toà án nhân dân 71

2.2.3 Viện kiểm sát nhân dân 71

2.3 Các điều kiện đảm bảo vận hành cơ chế thi hành quyết định trọng tài 73 2.3.1 Về đội ngũ cán bộ: 73

2.3.2 Về quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan khác 74

2.3.3 Về kinh phí, cơ sở vật chất 75

CHƯƠNG 3 - HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 77

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại tại Việt nam 77

3.2 Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện 79

3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện 79

3.2.2 Phương hướng hoàn thiện 79

3.3 Giải pháp hoàn thiện 80

3.3.1 Đối với thi hành quyết định của trọng tài thương mại nước ngoài 80 3.3.2 Đối với thi hành quyết định của trọng tài thương mại việt nam 81 3.3.3 Các giải pháp chung 86

KẾT LUẬN 99

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (12/1986) đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế và xã hội Nền kinh tế nước ta sau hơn hai mươi hai năm đổi mới

và mở cửa đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Song cũng trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, các tranh chấp thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp thời

Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài, trong đó trọng tài là phương thức giải quyết

có nhiều ưu việt Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết

Có rất nhiều ưu điểm, song trên thực tế ở Việt Nam, con đường giải quyết bằng trọng tài vẫn chưa được các bên tranh chấp hướng tới Theo báo cáo của Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội năm 2008, trong các trung tâm trọng tài ở Việt Nam, chỉ có Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam là tổ chức có số vụ tranh chấp thụ lý, giải quyết nhiều nhất Tuy nhiên, tính bình quân 3 năm

2004, 2005, 2006 cũng chỉ có khoảng 20 – 25 vụ/năm Trong khi đó, năm

2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết khoảng 300 vụ án

Trang 7

khoảng 1.100 vụ Điều đó cho thấy việc giải quyết các tranh chấp thương mại

tại các trung tâm trọng tài "chưa hấp dẫn" đối với các doanh nghiệp và cá

thích vấn đề này, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản đó là cơ chế thi hành quyết định của trọng tài hiện nay chưa hợp lý dẫn đến việc hiệu quả thi hành chưa cao

Về nguyên tắc, các phán quyết của trọng tài có hiệu lực thi hành như các phán quyết của tòa án Trình tự, thủ tục thi hành quyết định trọng tài được quy định khá cụ thể và rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn

Do vậy, để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường trọng tài thực sự trở thành phương thức giải quyết tối ưu cho các bên tranh chấp đòi hỏi các phán quyết của trọng tài phải được thực thi một cách nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời Điều đó cũng có nghĩa cần phải có một cơ chế thi hành hợp lý và có hiệu quả

Cơ chế thi hành các quyết định của trọng tài thương mại được hiểu là các yếu tố cần thiết để thi hành, cơ chế đó bao gồm: Các văn bản pháp luật điều chỉnh; các chủ trương, chính sách của nhà nước về thi hành các quyết định của trọng tài; quyết định trọng tài; hệ thống cơ quan thi hành án, tòa án, Viện Kiểm sát, đương sự…và mối tương quan giữa các yếu tố này

Hiện nay, cơ chế thi hành các quyết định của trọng tài thương mại chưa

có được sự gắn kết cần thiết và đồng bộ, chưa thực sự có mối quan hệ hữu cơ, đặt biệt là hệ thống pháp luật điều chỉnh và hệ thống cơ quan thi hành các quyết định trọng tài thương mại

Luận văn này với mong muốn sẽ làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng như thực tiễn thi hành các quyết định của trọng tài thương mại tại Việt Nam, qua

Trang 8

đó có những đề xuất xây dựng một cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Thi hành quyết định của trọng tài là vấn đề khá phức tạp và được nhiều nhà nghiên cứu, luật gia trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là các chuyên gia và những người làm công tác thực tiễn Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về trọng tài và giải quyết tranh chấp trọng tài, trong đó phải kể đến: “Trọng tài kinh tế - một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta” (Đề tài khoa học cấp trường của Bộ môn Luật kinh tế Trường Đại học luật

Hà Nội), Pháp luật giải quyết tranh chấp ở Việt Nam (đề tài nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ dự án VIE/94/003), Chuyên đề thông tin pháp lý về thực trạng công tác thi hành án (Bộ Tư pháp năm 2000), các báo cáo tại Hội thảo Việt Pháp năm 1999 về giải quyết tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài, Nguyễn Đình Thơ (2007), Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường

ĐH Luật Hà Nội…và một số đề tài luận văn tiến sĩ, cao học và cử nhân trong nước cũng đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đề tài này Tuy nhiên, các công trình này cũng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cơ cấu tổ chức và hoạt động của trọng tài, còn vấn đề thi hành quyết định của trọng tài ít được

đề cập tới, hoặc có nhưng đã không còn phù hợp với tình hình thực tế có nhiều thay đổi hiện nay, về cơ bản nó vẫn bị bỏ ngỏ và như vậy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu cơ sở lý luận một cách cơ bản và toàn diện về vấn đề thi hành quyết định của trọng tài ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của đề tài là:

Trang 9

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thi hành quyết định trọng tài như là một biện pháp để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh; đồng thời phân tích thực trạng pháp luật, thực trạng

tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành quyết định của trọng tài ở Việt Nam; làm rõ những nguyên nhân của thực trạng nói trên

Từ mục đích này, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Làm rõ khái niệm và các đặc điểm của quyết định trọng tài;

- Cơ chế thi hành quyết định trọng tài và các bộ phận hợp thành cơ chế;

- Thực trạng thi hành quyết định trọng tài, tổng hợp, phân tích pháp luật thực định về thi hành quyết định của trọng tài, tìm hiểu các quy định thi hành quyết định thi hành quyết định trọng tài ở các nước trên thế giới

Qua đó, đưa ra những kiến nghị về phương hướng hoàn thiện các quy định đó trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp luật thực định và thực tế việc thi hành quyết định trọng tài ở Việt Nam và quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Tromg quá trình nghiên cứu, việc phân tích các vấn đề khác về trọng tài chỉ với mục đích làm sáng tỏ và có cái nhìn toàn diện hơn về đối tượng nghiên cứu nói trên

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề thi hành quyết định của trọng tài chúng tôi lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ

sở phương pháp luận để xem xét Đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể

Trang 10

như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử,… làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề thi hành quyết định trọng tài ở Việt Nam

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trong Luận văn, tác giả nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống

cơ sở lý luận về thi hành quyết định trọng tài, phân tích thực trạng pháp luật

và cơ chế thi hành quyết định trọng tài ở nước ta hiện nay Trên cơ sở những phân tích đánh giá này, kết hợp tham khảo quy định của một số nước trên thế giới về thi hành quyết định trọng tài, Luận văn chỉ ra một số đặc thù trong thi hành quyết định trọng tài để qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thi hành quyết định trọng tài, nâng cao hiệu quả cơ chế thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam, đảm bảo các quyết định của trọng tài thương mại được thực thi một cách nghiêm túc trên thực tế

Với kết quả như trên, luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu phục vụ việc học tập và giảng dạy, cũng như tham khảo để hoàn thiện pháp luật về thi hành quyết định trọng tài

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có nội dung được chia thành

3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại

Chương 2: Thực tiễn vận hành cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại tại Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ THI HÀNH

QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về trọng tài và quyết định của trọng tài thương mại

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của trọng tài thương mại

1.1.1.1 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại các nước trên thế giới

Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên, người Hy Lạp cổ đại đã biết sử dụng trọng tài như là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh, theo đó: Nếu hai bên có tranh chấp và định chọn người xét xử thì họ có quyền chỉ định người mà họ ưa thích để làm việc này, họ phải tôn trọng ý kiến người đó

và không được thưa kiện trước toà án

Đối với trọng tài thương mại, phải đến khi kinh tế hàng hoá phát triển hình thành nền kinh tế thị trường thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển thì trọng tài thương mại mới thật sự ra đời

Thời kỳ đầu, trọng tài thương mại chủ yếu tồn tại dưới hình thức trọng tài vụ việc, về sau, khi thương mại phát triển mạnh mẽ thì trọng tài thường trực mới xuất hiện

Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) là trọng tài do các bên lập ra để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải tán khi vụ tranh chấp đó được giải quyết xong

Trong tài thường trực (trọng tài quy chế) là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ, có bộ máy quản lý, có trụ sở làm việc thường xuyên, có quy tắc tố tụng riêng và danh sách trọng tài viên cụ thể

Quá trình đi từ trọng tài vụ việc đến trọng tài thường trực là quá trình

bổ sung, hoàn thiện các hình thức tổ chức của trọng tài Các Trung tâm trọng tài, với tính chất là một tổ chức thường trực xuất hiện đầu tiên phải kể đến là Toà án Trọng tài Quốc tế London (LCIA) thành lập năm 1892, Toà án trọng

Trang 12

tài thường trực quốc tế (PCA) thành lập năm 1899, Toà án trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) thành lập năm 1923…Ở khu vực Châu

Á, các trung tâm trọng tài xuất hiện muộn hơn: Trung tâm trọng tài Kuala lumpur thành lập năm 1978, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông (HKIAC) thành lập năm 1985, Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore thành lập năm 1990…

Sự ra đời và phát triển của Trung tâm trọng tài thương mại diễn ra hết sức đa dạng, phong phú phụ thuộc vào điều kiện phát trển kinh tế, xã hội nói chung cũng như hoàn cảnh cụ thể của từng nước, từng khu vực

Tổ chức trọng tài ở một số nước trên thế giới:

* Trọng tài Cộng hòa Liên bang Đức

Là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động trên nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên về trọng tài

Hình thức trọng tài: Có hai hình thức trọng tài đó là: trọng tài thường xuyên (trọng tài quy chế) và trọng tài ad – hoc Nước Đức có 6 tổ chức trọng tài thường xuyên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau với tổ chức gọn nhẹ gồm Ban Thư ký điều hành và một danh sách trọng tài viên

Thủ tục tố tụng trọng tài được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều lệ hoạt động của từng tổ chức trọng tài Ngoài ra, các bên cũng có quyền thỏa thuận riêng

* Cộng hòa Pháp

Bên cạnh tòa thương mại, hình thức trọng tài thương mại cũng là hình thức giải quyết phổ biến các tranh chấp kinh doanh Mô hình trọng tài giống như mô hình trọng tài ở Đức

Trang 13

* Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất được ưu chuộng ở

Mỹ Nước này có nhiều tổ chức trọng tài khác nhau

Ở cấp Liên bang, tổ chức trọng tài hoạt động theo Đạo luật năm 1925, đến năm 1970 được mở rộng và bổ sung các điều khoản của Công ước New York năm 1958

Do có sự khác nhau về luật tố tụng giữa các bang, nên năm 1926, Hiệp hội trọng tài Mỹ được thành lập (gọi tắt là AAA) Hiệp hội ban hành Điều lệ trọng tài thương mại có ý nghĩa lớn trong tố tụng trọng tài nói chung của toàn liên bang

Tổ chức AAA có trụ sở ở New York, gồm Ban Điều hành, Thư viện quốc

tế, các phòng họp Hiệp hội có chi nhánh tại 42 trung tâm kinh tế lớn ở Mỹ

Hiệp hội trọng tài Mỹ giải quyết mọi tranh chấp trong kinh doanh nói chung

* Vương quốc Anh

Ở Anh, do trọng tài là đối tượng điều chỉnh của luật pháp quốc gia cho nên mọi thỏa thuận trọng tài nhằm loại trừ thẩm quyền của tòa án đều vô hiệu Thế nhưng, trên thực tế giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài lại khá phổ biến do tính ưu việt của trọng tài so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác

Có hai hình thức tổ chức trọng tài ở Anh: Trọng tài thường trực và hình thức trọng tài vụ việc lâm thời

* Nhật Bản

Ngoài hoạt động của tòa án, các tranh chấp thương mại còn có thể được đưa ra giải quyết tại Hiệp hội trọng tài thương mại Nhật Bản theo Quy tắc của Hiệp hội

Trang 14

Hiệp hội trọng tài Nhật Bản là tổ chức xã hội được lập ra để giải quyết tranh chấp thương mại Hiệp hội có nhiều chi nhánh; đứng đầu là Chủ tịch và đứng đầu chi nhánh là các Giám đốc Hiệp hội còn có Ban Thư ký Hiệp hội

có bản quy tắc trọng tài từ năm 1963 và được sửa đổi vào năm 1971

Hiệp hội đứng ra lập danh sách trọng tài viên và niêm yết công khai tại Văn phòng chi nhánh để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp tham khảo chọn trọng tài viên Hiệp hội có trách nhiệm chỉ định trọng tài viên hay chủ tịch trọng tài khi các bên không chỉ định được

* Nước Malaysia

Năm 1978, Malaysia thành lập trung tâm trọng tài quốc tế khu vực Đây

là tổ chức trọng tài quốc tế phi chính phủ Mặc dù, trung tâm này là tổ chức phi chính phủ, nhưng chính phủ Malaysia giúp đỡ rất nhiều về tài chính và không can thiệp vào hoạt động của trung tâm Hiện nay, trung tâm này giải quyết khá nhiều tranh chấp giữa các doanh nghiệp Malaysia

1.1.1.2 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trọng tài ra đời khá muộn Vào đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, trọng tài ở Việt Nam ra đời và được chia thành hai loại: Trọng tài giải quyết tranh chấp trong nước và trọng tài giải quyết tranh chấp quốc tế

Cả hai loại trọng tài này đều hoàn toàn không phải là tổ chức phi chính phủ mà là cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế Bởi vậy, về bản chất không phải là trọng tài thương mại theo đúng nghĩa của nó

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế hành chính quan liêu sang nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn đến nhiều loại hình chủ thể

Trang 15

phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Thực tế này kéo theo hệ quả tranh chấp trong kinh doanh phát sinh ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, nội dung đa dạng đòi hỏi phải có tổ chức chuyên giải quyết các tranh chấp Mặt khác, quyền tự do kinh doanh – nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường bao gồm quyền quyết định việc lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh; lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh; tự do giao kết hợp đồng; tự do quyết định tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh và tự do lựa chọn cơ quan tài phán giải quyết các tranh chấp phát sinh Nhà nước đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh thì đồng thời có trách nhiệm bảo đảm thực hiện các quyền đó Do vậy, phải có cơ quan tài phán khác ngoài Toà án để các chủ thể kinh doanh thực hiện quyền lựa chọn cơ quan tài phán khi giải quyết tranh chấp Đây là lý do hệ thống Trọng tài kinh tế Nhà nước bị giải thể và Trọng tài kinh tế phi chính phủ theo Nghị định 116/CP ngày 05 tháng 09 năm 1994 ra đời

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 116/CP thì Trọng tài kinh tế là tổ chức

xã hội - nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu

Tuy nhiên, nếu như Toà kinh tế giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thẩm quyền Nhà nước quy định thì các Trung tâm Trọng tài kinh tế thành lập theo Nghị định 116/CP chỉ được giải quyết những vụ tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn Đây chính là sự khác nhau mang tính bản chất giữa hai hệ thống cơ quan cùng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế cùng tồn tại song song ở nước ta

Tính đến trước khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại được ban hành năm

2003, trên toàn quốc đã có 05 Trung tâm Trọng tài kinh tế được thành lập

Trang 16

gồm: Trung tâm Trọng tài kinh tế Hà Nội, Trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long, Trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn, Trung tâm Trọng tài kinh tế Bắc Giang, Trung tâm trọng tài kinh tế Cần Thơ Dù các Trung tâm trọng tài này chưa mang đầy đủ các tính đặc thù của tổ chức trọng tài phi chính phủ như trọng tài ở các nước, nhưng đó là một bước thử nghiệm để chuyển hoàn toàn trọng tài Nhà nước sang trọng tài mang tính chất tư nhân

Từ năm 2003, với sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các Trung tâm trọng tài thương mại có cơ sở pháp lý cao hơn để tổ chức và hoạt động nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra đối với lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại

Hiện nay, cả nước có 07 trung tâm trọng tài, trong đó 05 trung tâm có trụ sở tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với tổng số trọng tài viên là trên

180, riêng Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam có khoảng 118 trọng tài viên với số lượng giải quyết vụ việc bình quân khoảng 25 - 30 vụ/năm Đây là trung tâm có số lượng giải quyết vụ việc lớn nhất cả nước Trong những năm qua hầu như các trung tâm trọng tài chủ yếu dừng lại ở việc triển khai thi hành Pháp lệnh trọng tài thương mại về việc sửa đổi bổ sung điều lệ hoạt động và quy tắc tố tụng Thực tế các tranh chấp giải quyết bằng trọng tài chủ yếu tập Trung tại trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quyết định của trọng tài thương mại

1.1.2.1 Khái niệm quyết định trọng tài

Hoạt động quan trọng nhất của trọng tài là ra các quyết định giải quyết tranh chấp Khi các bên thông qua trọng tài để giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa họ thì cái mà các bên mong muốn đạt được là công bằng, nhanh chóng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình Kết quả này được

Trang 17

thể hiện ở giai đoạn cuối của thủ tục trọng tài bằng quyết định trọng tài Đây

có thể là quyết định của một trọng tài viên duy nhất hoặc của Hội đồng trọng tài (sau đây gọi tắt là trọng tài viên) Trọng tài viên có thể ra quyết định bổ sung nếu thấy rằng một quan điểm của quyết định trọng tài đã tuyên chưa rõ hoặc chưa được giải quyết Quyết định của trọng tài hoặc quyết định bổ sung được đưa ra theo nguyên tắc đa số Nếu không đạt được đa số thì chủ tịch Hội đồng trọng tài sẽ quyết định với tư cách là trọng tài viên duy nhất

Quyết định trọng tài là hình thức thể hiện của phán quyết trọng tài trong

đó nó chứa đựng sự phân xử của trọng tài về vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại trọng tài

Trong thực tế, trọng tài ra nhiều loại quyết định như: quyết định về thẩm quyền của mình, quyết định giải quyết một phần tranh chấp, quyết định

về thủ tục trọng tài, quyết định các biện pháp khẩn cấp tạm thời…Như vậy, trong các quyết định này, loại quyết định nào được coi là quyết định trọng tài

Để xác đâu là quyết định trọng tài, chúng ta xem xét về mặt bản chất của các quyết định nói trên thì thấy rằng:

- Các quyết định giải quyết một phần tranh chấp, tuy chưa thực sự giải quyết được hoàn toàn vấn đề nhưng nó đã trực tiếp giải quyết tranh chấp của các bên Loại quyết định này có giá trị chung thẩm và các bên phải thi hành Như vậy nó là quyết định trọng tài

- Còn đối với các loại quyết định về thủ tục trọng tài, quyết định áp dụng của biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ đơn thuần là các thủ tục nhằm phục

vụ cho việc giải quyết tranh chấp chứ không phải là sự giải quyết tranh chấp

Ở các quốc gia trên thế giới thì khái niệm quyết định trọng tài được hiểu một cách khá đơn giản và có nhiều điểm khác với nước ta Đa số các nước

Trang 18

phát triển như Anh, Mỹ, Pháp… chỉ phân loại thành quyết định trọng tài mang tính quốc tế và quyết định trọng tài không mang tính quốc tế

Quyết định trọng tài mang tính quốc tế là quyết định trọng tài giải quyết các vụ việc mang tính ngoài phạm vi lãnh thổ của nước đó, tức là chỉ căn cứ vào tính chất của vụ việc tranh chấp mà không phụ thuộc vào quốc tịch trọng tài; ngược lại, quyết định trọng tài không mang tính quốc tế là những quyết định giải quyết tranh chấp mang tính chất nội địa, tức các vụ việc tranh chấp trong nước

Nhìn chung, cách hiểu về khái niệm quyết định trọng tài khó thống nhất

ở các nước và có thể khẳng định rằng quan niệm của họ về quyết định trọng tài đều tương tự như trong các công ước quốc tế về trọng tài Trước hết, chúng ta tìm hiểu quy định trong văn bản có tính chất quốc tế về vấn đề này

Trong Quy tắc trọng tài UNCITRAL quy định một cách đơn giản: Quyết định trọng tài sẽ được lập thành văn bản, sẽ là cuối cùng và có hiệu lực rằng buộc đối với các bên Các bên có trách nhiệm thi hành quyết định trọng tài một cách không chậm trễ

Không có một định nghĩa chung của thuật ngữ “quyết định trọng tài” được chấp nhận ở tất cả các nước Thậm chí, không một định nghĩa nào được tìm thấy trong các công ước quốc tế có liên quan đến trọng tài, bao gồm: các hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1927 và Công ước New York 1958, mặc dù Công ước New York 1958 được dành riêng để nói về việc thừa nhận và thi hành các phán quyết Khái niệm gần nhất được quy định trong Công ước New York là:

“Thuật ngữ: quyết định trọng tài sẽ không chỉ bao gồm các quyết định được đưa ra bởi các trọng tài viên được chỉ định cho mỗi vụ mà còn bao gồm

cả các quyết định được đưa ra bởi các tổ chức trọng tài thường xuyên mà các bên đã đệ trình tranh chấp lên” (Công ước New York 1958 điều I.2)

Trang 19

Có ý kiến cho rằng, cần có một định nghĩa của thuật ngữ “quyết định trọng tài” trong luật mẫu của UNCITRAL, nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận

Một số nước quan niệm rằng: “quyết định trọng tài” có nghĩa là một phán quyết cuối cùng giải quyết mọi vấn đề được đệ trình lên trọng tài và bất

kỳ quyết định nào khác của trọng tài mà cuối cùng xác định bất kỳ vấn đề về nội dung cơ bản hoặc vấn đề thẩm quyền hoặc bất kỳ vấn đề thủ tục nào khác, nhưng trong trường hợp vấn đề thủ tục chỉ được gọi là quyết định trọng tài nếu trọng tài gọi quyết định của mình là một quyết định trọng tài

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, có thể có nhiều hơn một phán quyết được đưa ra trong quá trình trọng tài

Tuy nhiên, đa số các nước dùng thuật ngữ quyết định trọng tài chỉ dùng cho các quyết định của trọng tài nhằm quyết định cuối cùng các vấn đề mà họ đưa ra xem xét Điều này có liên quan đến việc phân biệt giữa các quyết định (có liên quan đến các vấn đề), các lệnh và chỉ thị về thủ tục (liên quan đến việc điều hành trọng tài) Các lệnh và chỉ thị về thủ tục nhằm giúp đẩy nhanh quá trình xét xử trọng tài – các lệnh và chỉ thị này giải quyết các vấn đề như: trao đổi các văn bản làm bằng chứng, việc lập các văn bản và thoả thuận nhằm thực hiện việc tranh tụng

Như vậy, chúng ta có thể hiểu quyết định trọng tài như sau: Quyết định

trọng tài là quyết định được trọng tài thông qua bằng biểu quyết theo đa số về việc giải quyết chung thẩm một phần hoặc toàn bộ tranh chấp liên quan đến kinh tế giữa các bên đương sự

1.1.2.2 Đặc điểm quyết định của trọng tài

Quyết định trọng tài có một số đặc điểm sau:

Trang 20

- Là phán quyết của tổ chức xã hội – nghề nghiệp, song quyết định trọng tài mang quyền lực nhà nước, bắt buộc các bên đương sự phải nghiêm túc thực hiện, nếu bên thi hành sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế

- Quyết định trọng tài là chung thẩm, các bên phải thi hành, trừ trường hợp toà án huỷ quyết định trọng tài theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại Điều đó có nghĩa là, quyết định trọng tài khi đã được Hội đồng trọng tài tuyên sẽ có hiệu lực sau một khoảng thời gian luật định mà không bị kháng cáo, kháng nghị, giám đốc thẩm, tái thẩm

- Quyết định trọng tài không bắt buộc phải tuyên công khai

- Là kết quả của quá trình xem xét vụ việc tranh chấp của Hội đồng trọng tài theo Quy tắc tố tụng riêng của từng trung tâm trọng tài, không bắt buộc theo một trình tự tố tụng thống nhất

- Trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, quyết định trọng tài có thể được tuyên trên cơ sở pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật do các bên lựa nhưng đảm bảo nguyên tắc không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

- Hình thức của quyết định trọng tài bằng văn bản xong nội dung của nó

có tính linh hoạt tùy thuộc vào tố tụng của từng trung tâm trọng tài trên cơ sở bảo đảm một số nội dung cơ bản theo luật định

1.1.3 Phân loại quyết định trọng tài thương mại

- Phân loại quyết định trọng tài theo dấu hiệu lãnh thổ

Có rất nhiều cách phân loại quyết định trọng tài Tuy nhiên, cách phân loại chính thống ở nước ta hiện nay là phân loại theo dấu hiệu về lãnh thổ và chủ thể Theo cách này thì quyết định trọng tài được chia thành quyết định trọng tài trong nước và quyết định trọng tài nước ngoài

Trang 21

Việc phân loại này có ý nghĩa thực tiễn khi áp dụng pháp luật điều chỉnh chúng Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức thế nào là quyết định trọng tài trong nước, nhưng đối với quyết định trọng tài nước ngoài, tại phần thứ sáu: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài,

khoản 2 Điều 342 BLTTDS ghi nhận: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài

là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của trọng tài nước ngoài do các bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động” Như vậy, quyết định trọng tài nước ngoài có thể được tuyên ở ngoài

hoặc trong lãnh thổ Việt Nam

Có thể dùng phương pháp loại trừ để đưa ra khái niệm quyết định trọng tài trong nước Các quyết định trọng tài không phải quyết định trọng tài nước ngoài được coi là quyết định trọng tài trong nước Quyết định trọng tài trong nước bao gồm các quyết định giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên do các tổ chức trọng tài được thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở đóng tại Việt Nam Theo quy định tại điều 44 Pháp lệnh trọng tài thương mại thì quyết định trọng tài phải

có các nội dung chủ yếu sau đây: (i) Ngày, tháng, năm và địa điểm ra quyết định trọng tài; trong trường hợp việc giải quyết vụ tranh chấp do Trung tâm Trọng tài tổ chức thì quyết định trọng tài phải có tên Trung tâm Trọng tài; (ii) Tên, địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn; (iii) Họ, tên các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất; (iv) Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp; (v)

Cơ sở để ra quyết định trọng tài; (vi) Quyết định về vụ tranh chấp; quyết định

về phí trọng tài và các chi phí khác; (vii) Thời hạn thi hành quyết định trọng tài; (viii) Chữ ký của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất

Trang 22

- Phân loại quyết định theo hình thức trọng tài: Dựa vào tiêu chí phân loại này, quyết định trọng tài sẽ được phân thành quyết định trọng tài vụ việc

và quyết định trọng tài thường xuyên

- Phân loại quyết định trọng tài theo tính chất của quyết định: Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài tiến hành hoà giải Trong trường hợp hoà giải thành thì các bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận hoà giải thành Biên bản hoà giải thành phải được các bên và các trọng tài viên ký Quyết định công nhận hoà giải thành của Hội đồng trọng tài là chung thẩm

Nếu các bên không tự thỏa thuận được, Hội đồng trọng tài sẽ ra phán quyết giải quyết vụ việc

Như vậy, dựa vào tiêu chí này, quyết định trọng tài được phân ra thành hai loại: Quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định giải quyết vụ việc

1.2 Thi hành quyết định của trọng tài thương mại

1.2.1 Vai trò của việc thi hành quyết định trọng tài thương mại

Thi hành quyết định trọng tài là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa các quyết định của trọng tài đã có hiệu lực pháp luật

ra thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành quyết định trọng tài một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân khi bị xâm hại

“Thi hành” là đem việc đã định sẵn làm theo điều đã định Như vậy, thi hành quyết định trọng tài là hành vi làm cho những vấn đề được phán quyết trong quyết định của trọng tài được thực thi trong thực tế Thi hành quyết định trọng tài được chia làm hai hình thức, căn cứ vào tính chất của nó:

Trang 23

- Hình thức thứ nhất là các đương sự tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong quyết định trọng tài Ở hình thức này không có một cơ chế chung cho mọi trường hợp, mà thi hành các nghĩa vụ được phán quyết trong quyết định của trọng tài như thế nào là do các đương sự thỏa thuận thống nhất Theo đó, phương pháp, cách thức…thi hành quyết định của trọng tài cũng vô cùng đa dạng Trên thực tế, thi hành quyết định trọng tài ở hình thức này là phổ biến trên thế giới

- Hình thức thứ hai là hình thức thi hành thông qua việc sử dụng quyền lực nhà nước: Đa số các quyết định của trọng tài được tự nguyện thi hành Tuy nhiên, cũng cá biệt có những trường hợp vì những lý do khác nhau một bên không chịu tự nguyện thi hành Khi quyết định của trọng tài bị một trong các bên không chịu tự nguyện thực hiện, thì việc thi hành quyết định của trọng tài tương đối phức tạp Việc giải quyết vấn đề này phụ thuộc hoàn toàn vào quy định của pháp luật

Đối với Việt Nam hiện nay, việc thi hành quyết định của trọng tài phụ thuộc vào quyết định của trọng tài trong nước hay của trọng tài nước ngoài:

Nếu là quyết định của trọng tài trong nước thì được thi hành theo các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, BLTTDS, Luật Thi hành án và các pháp luật có liên quan khác Theo các quy định này, với tính chất chung thẩm của mình, quyết định trọng tài có hiệu lực pháp lý như một bản án, quyết định của tòa án Trình tự và thủ tục thi hành tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Đối với các quyết định của trọng tài nước ngoài thì việc thi hành tại Việt Nam buộc phải thông qua thủ tục tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Nhưng không phải đối với bất cứ nước nào Việt Nam cũng công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài của nước họ tại Việt Nam

Trang 24

Chúng ta chỉ công nhận và cho thi hành đối với các trường hợp: Nước đó là thành viên công ước New York 1958; giữa nước đó và Việt Nam đã ký các hiệp định song phương về vấn đề này hoặc theo nguyên tắc có đi có lại Thủ tục công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được quy định cụ thể tại chương XXVI của BLTTDS

Như vậy, ở hai trường hợp trên, với bản chất có sự khác nhau về đặc điểm lãnh thổ, chủ quyền quốc gia mà thủ tục thi hành cũng có sự khác nhau nhất định Đó là, quyết định trọng tài nước ngoài không đương nhiên có hiệu lực tại Việt Nam mà phải thông qua việc công nhận và cho thi hành của tòa án

có thẩm quyền, còn quyết định của trọng tài thương mại trong nước sẽ đương nhiên có hiệu lực pháp luật trên thực tế Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do trước nhà nước, quyết định của trọng tài thương mại trong nước luôn bao hàm nội dung sự thừa nhận chính thức của nhà nước do trọng tài là một thiết chế được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật quốc gia Ngược lại, một quyết định của trọng tài nước ngoài do không có vị trí tài phán chính thức tại Việt Nam nên hành vi công nhận và cho thi hành bao hàm hai nội dung:

“Chính thức hóa” và sự “công nhận công quyền, nhà nước hóa”

Với những phân tích và nhận định trên, chúng ta có thể đưa ra một định

nghĩa về thi hành quyết định trọng tài như sau: Thi hành quyết định của trọng

tài là hành vi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp được ghi nhận trong quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài Trong trường hợp các quyền và nghĩa vụ đó không được các bên tự nguyện thực hiện thì có thể bằng cách thông qua cơ quan nhà nước gắn cho quyết định trọng tài một hình thức mang biểu tượng của công quyền một hiệu lực cưỡng chế thi hành

Ở nhiều nước kinh tế phát triển, việc lựa chọn trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh là rất phổ biến và việc thi hành quyết định

Trang 25

các quyền và nghĩa vụ của các bên được trọng tài phân xử trong quyết định trọng tài Tuy nhiên, phạm vi tự nguyện thi hành và thi hành bằng cưỡng chế nhà nước cũng rất khác nhau ở mỗi nước, điều này phụ thuộc vào văn hóa pháp lý, trình độ phát triển kinh tế… của mỗi nước Nhưng có thể nhận xét chung là: Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, có bề dày truyền thống pháp luật thì đa phần quyết định trọng tài được các đương sự tự nguyện thi hành Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế kém phát triển thì các trường hợp thi hành quyết định trọng tài bằng biện pháp cưỡng chế khá phổ biến Đối với các trường hợp phải sử dụng quyền lực nhà nước để thi hành quyết định trọng tài thì quan niệm về thi hành quyết định trọng tài trong trường hợp này cũng khác nhau: Đa phần các nước (Anh, Mỹ, Đức, Trung Quốc…) cho rằng muốn

sử dụng biện pháp quyền lực nhà nước để thi hành quyết định trọng tài cần phải thông qua cơ chế công nhận cho thi hành tại tòa án Nhưng một số ít quốc gia như Thụy Điển lại cho rằng không cần thông qua thủ tục công nhận cho thi hành tại tòa án mà chuyển thẳng tới cơ quan thi hành án để thi hành

Hoạt động thi hành quyết định trọng tài có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự, hoạt đồng này nhằm thực thi trên thực tế các quyền và nghĩa vụ của các bên, vai trò của hoạt động này được thể hiện trên các bình diện sau:

- Thi hành quyết định trọng tài là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của

cá nhân, tổ chức trong kinh doanh, là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển

Quyết định trọng tài là sự áp dụng các quy định của pháp luật vào giải quyết tranh chấp của trọng tài Đối với các quyết định trọng tài đúng đắn, nó chứa đựng các quy định về quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong kinh doanh Thông qua hoạt động thi hành quyết định của trọng tài, các quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được thực hiện

Trang 26

Hoạt động kinh tế tất yếu nảy sinh các tranh chấp, tức là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tranh chấp tạm thời bị “tắc nghẽn” đòi hỏi phải khơi thông để tạo sự “lưu thông” trong quan hệ kinh tế Thông thường, người ta giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa giải, tòa án, trọng tài, trong đó giải quyết bằng trọng tài thường được các nhà kinh doanh lựa chọn Cùng với việc lựa chọn này họ cũng mong muốn phán quyết của trọng tài công bằng, khách quan, nhưng phải được thực thi trên thực tế Trong trường hợp một bên cố tình không thi hành quyết định của trọng tài thì họ cũng mong muốn có cơ chế giải quyết thỏa đáng và nếu quyết định trọng tài đó phù hợp với pháp luật sẽ phải được thi hành Điều đó vừa làm cho các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh được “khơi thông”; mặt khác, tạo cảm giác an toàn trong kinh doanh cho các nhà kinh doanh, từ đó thúc đẩy họ đầu tư vào sản xuất kinh doanh

- Thi hành quyết định trọng tài là yếu tố đảm bảo sự hoạt động của một thể chế giải quyết tranh chấp trong nền kinh tế thị trường, góp phần làm giảm tải đáng kế cho hoạt động xét xử của tòa án

Trọng tài là một thể chế đặc trưng của nền kinh tế thị trường mà sự tồn tại của nó mang tính tất yếu và cần thiết để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển trong trật tự, không bị rối loạn Hoạt động của trọng tài bao gồm một quá trình từ tiếp nhận vụ việc đến khi ra quyết định trọng tài Đây có thể là sự kết thúc của một chu trình hoạt động của trọng tài Tuy nhiên, đối với đương sự thì quan tâm lớn nhất của họ là quyết định trọng tài có chứa đựng sự công bằng, hợp lý và được thi hành trên thực tế như thế nào Nếu một khi quyết định của trọng tài không được thực hiện trên thực tế thì toàn bộ quá trình hoạt động của trọng tài là vô nghĩa và nó đơn thuần chỉ tồn tại trên giấy tờ mà thôi Như vậy, tất yếu dẫn tới việc họ sẽ không chọn trọng tài khi giải quyết các tranh chấp

Trang 27

Nếu thi hành quyết định trọng tài thực sự có hiệu quả sẽ làm tăng sự quan tâm của các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh Họ tin tưởng vào thiết chế trọng tài và lựa chọn trọng tài làm tổ chức tài phán cho hoạt động kinh doanh của mình nếu có tranh chấp, qua đó làm giảm số lượng tranh chấp trong kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án

- Thi hành quyết định trọng tài góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh, ý thức thực hiện các cam kết trong đời sống dân sự, trong hoạt động kinh doanh, thông qua đó kỷ cương pháp chế được tăng cường

Một khi các quyết định trọng tài chứa đựng lẽ phải thuộc về người kinh doanh đúng pháp luật, thì điều đó cũng khiến các chủ thể kinh doanh phải tìm hiểu pháp luật để kinh doanh đúng pháp luật Bởi kinh doanh trái pháp luật, khi xảy ra tranh chấp thì thiệt hại tất yếu do bản thân mình gánh chịu Mặt khác, thi hành quyết định trọng tài liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp cũng như các bên liên quan, cho nên hơn ai hết họ bị tác động bởi các quy định pháp luật áp dụng giải quyết các tranh chấp của họ Điều đó làm họ phải tìm hiểu và bị ảnh hưởng bởi pháp luật trong kinh doanh,

từ đó nâng cao ý thức pháp luật của họ Đồng thời cũng nhắc nhở họ ý thức thực hiện các cam kết, thoả thuận đúng pháp luật trong hoạt động kinh doanh

1.2.2 Các hình thức thi hành quyết định của trọng tài:

Quyết định trọng tài được thi hành dưới hai hình thức đó là: Tự nguyện thi hành và Cưỡng chế thi hành

1.2.2.1 Tự nguyện thi hành

Tự nguyện thi hành là một trong hai biện pháp được áp dụng trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung, trong đó có hoạt động thi hành quyết định

trọng tài

Trang 28

Tự nguyện thi hành xuất phát từ phía các bên đương sự, nhằm thực hiện quyền, nghĩa vụ đã được quyết định trọng tài ghi nhận, thể hiện ý chí và mong muốn của các đương sự Mặt khác, tự nguyện thi hành quyết định trọng tài còn là một biện pháp của chấp hành viên được áp dụng trong quá trình thi hành quyết định trọng tài

Kết quả của tự nguyện thi hành là tiền đề, là cơ sở, là căn cứ để cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu đương sự không

tự nguyện thi hành

Tự nguyện thi hành án là một hình thức thi hành quyết định trọng tài đem lại hiệu quả rất cao cho xã hội Một quyết định trọng tài nếu được các bên đương sự tự nguyện thi hành sẽ góp phần giữ vững ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, duy trì và thắt chặt mối quan hệ kinh doanh, tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức của Nhà nước và các đương sự

Tóm lại, tự nguyện thi hành án là cách thức mà các đương sự lựa chọn

để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đã được ghi nhận trong quyết định trọng tài Tự nguyện thi hành còn được hiểu là một hình thức thi hành quyết định trọng tài được cơ quan thi hành án áp dụng, là một giai đoạn bắt buộc trong quá trình tổ chức thi hành quyết định trọng tài của cơ quan thi hành án

Tự nguyện thi hành có một số đặc điểm sau:

- Tự nguyện thi hành là quyền của các đương sự trong quá trình thi hành quyết định trọng tài

Đối với người được thi hành án: Sự tự nguyện của người được thi hành

án chính là họ dùng quyền lợi của mình đã được quyết định trọng tài có hiệu lực pháp luật ghi nhận để thể hiện sự tự nguyện của mình Sự tự nguyện thi hành án của người được thi hành án thể hiện ở chỗ họ có thể thỏa thuận với

Trang 29

người phải thi hành án về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành án, nhưng thỏa thuận này không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Việc tự nguyện thi hành án của người được thi hành án cũng được Nhà nước khuyến khích và được thể hiện dưới một cơ chế khác Đó là người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện đồng ý cho bên phải thi hành

án hoãn thi hành án, thời gian hoãn do bên được thi hành án quyết định Hoặc người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện từ bỏ quyền và lợi ích của họ được hưởng theo quyết định, nếu việc từ bỏ này không làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước hoặc của người khác Cả hai trường hợp nói trên, tuy cách xử lý khác nhau nhưng về bản chất đều giống nhau đó là thể hiện việc tự nguyện thi hành của người được thi hành án

Tuy nhiên, khi nói đến tự nguyện thi hành là chủ yếu nói đến sự tự nguyện thi hành của người phải thi hành án, đó là việc người phải thi hành án

tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ đối với người được thi hành án mà không cần có sự tác động của cơ quan thi hành án Đây là đối tượng thể hiện một cách trực tiếp nhất, cụ thể nhất về bản chất và hình thức của tự nguyện thi hành án

Việc tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án có thể được thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng với quyết định thi hành án; cũng có thể họ chỉ

tự nguyện thực hiện một phần trong các khoản phải thi hành án

- Biện pháp tự nguyện thi hành là biện pháp đầu tiên và cũng là biện pháp bắt buộc phải áp dụng trong quá trình thi hành

Biện pháp tự nguyện thi hành là cơ sở, là tiền đề khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, chỉ khi nào người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, cố tình chống đối, không thực hiện nghĩa vụ về tài sản, hoặc cố tình dây dưa mặc

dù có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án mới áp dụng biện pháp khác

Trang 30

Tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của đương sự có thể được thực hiện trong mọi thời điểm kể từ khi có phán quyết của Hội đồng trọng tài cho đến khi kết thúc việc thi hành quyết định trọng tài Nó có thể được thực hiện ở trước hoặc sau khi cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế (Ra quyết định cưỡng chế thi hành)

1.2.2.2 Cưỡng chế thi hành

Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết Trong thi hành án dân sự nói chung

và thi hành quyết định trọng tài nói riêng, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo quyết định trọng tài

Tuy vậy, khi người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục, mặc dù có điều kiện thi hành án mà tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không

tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan thi hành án phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành Cưỡng chế thi hành án thể hiện quyền năng của cơ quan thi hành án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo quyết định được thi hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật

Như vậy, Cưỡng chế thi hành án quyết định trọng tài là biện pháp

cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên áp dụng nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo quyết định của trọng tài thương mại, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà

Trang 31

không tự nguyện thi hành trong thời hạn luật định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản

Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi có đủ các điều kiện sau:

- Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo quyết định của trọng tài

- Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

Có điều kiện thi hành án có thể được hiểu là người phải thi hành án có tài sản, có thu nhập, có tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc khi phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền Còn khi phải thực hiện nghĩa vụ trả lại nhà hoặc vật, thì điều kiện thi hành án ở đây là vật, nhà đang tồn tại theo đúng quyết định

đã tuyên

- Người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án: Không tự nguyện thi hành án được hiểu là đã hết thời gian tự nguyện thi hành theo luật định mà người phải thi hành án không thực hiện các nghĩa vụ đã được ghi nhận trong phán quyết của trọng tài

Theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự thì cưỡng chế có các hình thức cụ thể sau: (i) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (ii) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (iii) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; (iv) Khai thác tài sản của người phải thi hành án; (v) Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (vi) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

Dù nghĩa vụ mà đương sự phải thi hành là nghĩa vụ trả tiền, nghĩa vụ chuyển giao vật, quyền tài sản, giấy tờ thì cơ quan thi hành án cũng chỉ được áp dụng một hoặc một số biện pháp cưỡng chế đã được quy định trên

Trang 32

đây Ngoài các biện pháp cưỡng chế này, cơ quan thi hành án không được phép sử dụng bất kỳ một biện pháp cưỡng chế nào khác

Ngoài ra, pháp luật còn quy định không được tổ chức cưỡng chế vào các thời điểm như ngày nghỉ, ngày lễ, ban đêm…

Với những phân tích trên có thể khẳng định rằng, cưỡng chế thi hành án

là biện pháp cuối cùng để thi hành quyết định trọng tài nói riêng và bản án, quyết định của tòa án nói chúng Xét về cả lý luận và thực tiễn thì tự nguyện thi hành là phương án tối ưu đối với việc thi hành quyết định trọng tài

1.2.3 Hiệu quả thi hành quyết định trọng tài thương mại

* Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí, công sức, thời gian…mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định

Bất cứ một quyết định trọng tài nào đó đã được ban hành thì chủ thể của

nó đều mong muốn nó được thi hành trên thực tế Tuy nhiên, không phải quyết định trọng tài nào cũng được thi hành trên thực tế Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc không thể thi hành, hoặc thi hành không đầy đủ nội dung các quyết định trọng tài

Hiệu quả thi hành quyết định trọng tài được hiểu là mối quan hệ giữa kết quả thực tế của việc thi hành quyết định trọng tài so với các nội dung đã được ghi nhận trong quyết định trọng tài Ngoài ra, hiệu quả thi hành còn được đánh giá bởi thời gian thi hành, công sức, các chi phí để thi hành án so với kết quả đạt được từ việc thi hành

Đối với hiệu quả nói chung của việc thi hành án còn là sự so sánh giữa

số lượng quyết định trọng tài có hiệu lực phải thi hành so với quyết định trọng tài đã được thi hành Tổng giá trị tài sản phải thi hành so với giá trị tài sản

Trang 33

Ví dụ: Theo báo cáo của Bộ Tư pháp tại Quốc hội thì, công tác thi hành

án dân sự năm 2008 bước đầu có chuyển biến tích cực, đã thi hành xong 70,96% vụ việc, thu hồi số tiền phải thi hành án dân sự hơn 3.568 tỷ đồng, đạt 45,66% Như vậy, nếu xét đến hiệu quả về số vụ việc được thi hành thì có thể đánh giá hiệu quả thi hành án là cao Song, nếu xét đến tiêu chí về tổng số tiền thu hồi thì đạt hiệu quả thấp (đạt chưa đến 50%)

* Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành quyết định trọng tài:

- Yếu tố đầu tiên phải kể đến là quyết định trọng tài – đối tượng của việc thi hành:

Ảnh hưởng của quyết định trọng tài tới hiệu quả thi hành án ở chỗ: Nội dung của quyết định trọng tài nếu được tuyên một cách rõ ràng, hợp tình, hợp

lý thì sẽ được các bên đương sự tự nguyện thi hành và chấp hành viên dễ dàng thực hiện Ngược lại, một quyết định trọng tài không rõ ràng, hợp tình hợp lý

sẽ dẫn đến việc các bên đương sự chống đối, không thi hành, chấp hành viên không hiểu rõ bản chất của việc thi hành dẫn đến việc xây dựng phương án thi hành không có tính khả thi…

- Hệ thống chính trị

Ở nước ta, hệ thống chính trị là thống nhất, gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước và các tổ chức chính trị; chính trị - xã hội So với các nước, đây là điểm khá thuận lợi trong việc tác động, giáo dục tư tưởng đối với các bên đương sự Trong trường hợp buộc phải cưỡng chế thi hành nghĩa vụ của bên phải thi hành thì yếu tố các tổ chức xã hội như: Hiệp hội doanh nghiệp nói chung, Hiệp hội ngành, cơ quan chủ quản, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…đóng vai trò khá quan trọng trong việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành, cũng như những người có quyền lợi liên quan thi hành các nghĩa vụ được ghi nhận trong phán quyết của trọng tài

Trang 34

- Ý thức chấp hành pháp luật của các đương sự

Như đã phân tích ở trên, việc các đương sự tự nguyện thi hành án là biện pháp thi hành án được Nhà nước khuyến khích Tự nguyện thi hành án sẽ giúp chính các đương sự giữ được mối quan hệ làm ăn, bên cạnh đó sẽ giảm được rất nhiều các chi phí liên quan đến việc cưỡng chế thi hành Nhiều trường hợp còn tránh được các hiện tượng khiếu nại tố cáo, ảnh hưởng đến dư luận xã hội…

- Hệ thống pháp luật liên quan đến thi hành quyết định trọng tài

Hệ thống pháp luật liên quan đến thi hành quyết định trọng tài là tổng thể các quy định liên quan đến việc thi hành quyết định trọng tài Nó bao gồm các quy định của pháp luật về trọng tài, pháp luật về công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài và quan trọng nhất là các quy định về thi hành án dân sự

Cũng giống như thực trạng của một số lĩnh vực thì pháp luật về thi hành

án dân sự đang tồn tại một số bất cập Bất cập đầu tiên phải kể đến đó là có quá nhiều các văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực này, dẫn đến hiện tượng có

sự chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn về nội dung

Ví dụ về sự mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật:

Tại điểm 1.2.b của Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/07/2003 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh trọng tài thương mại quy định: Trong các trường hợp sau đây, vụ tranh chấp tuy các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án: “Khi được nguyên đơn cho biết bằng văn bản sẽ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết hoặc khi được Toà án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp mà trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của nguyên

Trang 35

đơn hoặc thông báo của Toà án bị đơn không phản đối (được coi là các bên có thoả thuận mới lựa chọn Toà án giải quyết vụ tranh chấp thay cho thoả thuận trọng tài) hoặc bị đơn có phản đối nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh là trước đó các bên đã có thoả thuận trọng tài (trường hợp này được coi là không có thoả thuận trọng tài)”

Quy định này là trái với điều 5 của pháp lệnh trọng tài thương mại quy định khi vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà thỏa thuận đó không vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài được đảm bảo thực hiện bằng việc tòa án từ chối thụ lý nếu một bên khởi kiện ra tòa

Trước khi ban hành Luật Thi hành án, ngoài pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 2004 còn có tới trên dưới một trăm văn bản hướng dẫn trực tiếp hoặc

có liên quan đến công tác thi hành án dân sự Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thi hành quyết định trọng tài

- Hiệu quả của hoạt động thi hành án phụ thuộc rất lớn vào các quy định

về trình tự, thủ tục thi hành án

Nếu việc quy định trình tự, thủ tục quá rườm rà, không phản ánh đúng thực thế khách quan sẽ gây ra rất nhiều lãng phí về công sức, thời gian, tiền bạc của các bên thi hành án, của cơ quan thi hành án và các cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan Việc quy định trình tự, thủ tục không hợp lý rất dễ gây ra sự lúng túng cho chấp hành viên, sự phán đối, chống đối của các bên thi hành án

- Năng lực làm việc của chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự - chủ thể chính của việc thi hành quyết định trọng tài

Chấp hành viên – chủ thể của hoạt động thi hành quyết định trọng tài, được “mang” quyền lực nhà nước, chấp hành viên được áp dụng các biện pháp cần thiết trên cơ sở pháp luật, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để thi

Trang 36

hành quyết định trọng tài Việc nhận thức cũng như năng lực của chấp hành viên có ý nghĩa quyết định đến việc thi hành hay không thi hành được quyết định trọng tài trên thực tế

Thực tế hiện nay, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của một số chấp hành viên đang còn nhiều hạn chế yếu kém Do vậy, một trong nhưng nguyên nhân của việc án tồn đọng, hiệu quả thi hành không cao là do năng lực làm việc của chấp hành viên

- Điều kiện làm việc, cơ sở vật chất của chấp hành viên, cơ quan thi hành án: Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành Thực tế hiện nay, điều kiện làm việc, cơ sở vật chất của các cơ quan thi hành án là rất kém Hiện tượng thiếu phòng làm việc, các trang thiết bị văn phòng, phương tiện đi lại, trang thiết bị khác phục vụ cho quá trình tác nghiệp của chấp hành viên diễn ra tại nhiều nơi trên cả nước

- Sợ phối hợp giữa các cơ quan hữu quan có liên quan trong việc thi hành quyết định trọng tài

Để thi hành một quyết định trọng tài đòi hỏi phải có sự phối hợp của rất nhiều các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Về phía cơ quan nhà nước có thể phải kể đến như: Cơ quan quản lý thi hành án, cơ quan tòa án, Viện kiểm sát, công an (trong trường hợp cưỡng chế

và xác minh), Ban chỉ đạo…

Về phía tổ chức phải kể đến như ngân hàng, các tổ chức tín dụng… Như vậy, việc thi hành quyết định nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí hợp tác và phối hợp của các cơ quan tổ chức có liên quan kể trên trong hoạt động thi hành quyết định trọng tài của chấp hành viên

Trang 37

Đây được coi là yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động thi hành quyết định trọng tài

Nghĩa vụ thi hành án trong các quyết định trọng tài thương mại chủ yếu

là nghĩa vụ trả tiền Do vậy, nếu người phải thi hành án không có tài sản, tiền bạc thì việc thi hành quyết định trọng tài là chưa thể thực hiện được

* Tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành quyết định trọng tài thương mại

Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành án là rất cần thiết

về mặt lý luận Bởi có xây dựng được tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành một cách chính xác, đầy đủ thì việc hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài mới có cơ sở để áp dụng trên thực tế

Theo quan điểm của chúng tôi, thì tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành quyết định trọng tài bao gồm tổng thể các tiêu chí sau:

- Thời gian thi hành quyết định trọng tài: Đây có thể được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả thi hành quyết định trọng tài Mục đích của phán quyết trọng tài là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự Chính vì vậy mà quyền lợi chính đáng của các đương sự được bảo

vệ càng sớm, càng tốt Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các bên đương

sự rất cần vốn để hoạt động Do vậy, tiến độ thi hành quyết định trọng tài ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh, nếu chậm chễ việc thi hành có thể dẫn đến hậu quả doanh nghiệp bị phá sản hoặc ngừng hoạt động…

- Các chi phí liên quan đến việc thi hành quyết định trọng tài, bao gồm các chi phí liên quan đến sử dụng phương tiện làm việc, hồ sơ, sổ sách Các chi phí liên quan đến các hoạt động xác minh, cưỡng chế, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên cưỡng chế

- Ảnh hưởng của việc thi hành quyết định trọng tài đến dư luận xã hội: Tiêu chí này khó xác định song cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá

Trang 38

hiệu quả thi hành quyết định trọng tài bởi một quyết định trọng tài được thi hành một cách nhanh chóng, chính xác không bị chậm chễ, khiếu nại tố cáo sẽ

có tác động rất lớn đến ý thức chấp hành pháp luật của mọi công dân trong đó

có ý thức tôn trọng và nghiêm túc thi hành các quyết định trọng tài đã có hiệu lực pháp luật

1.2.4 Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại

1.2.4.1 Các dấu hiệu pháp lý của cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại

Từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý

Qua từ điển tiếng nước ngoài và tiếng Việt, có thể thấy từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”

Với giải thích trên thì cơ chế có thể hiểu là tổng hợp tất cả các yếu tố và mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu thành nên một tập hợp nhằm thực hiện một công việc nhất định Các yếu tố này không nằm trong mối quan hệ riêng biệt và độc lập mà nằm trong mối quan hệ có đi có lại, biện chứng và chúng cần có nhau để tồn tại

Hiện nay, “cơ chế” là từ được dùng khá phổ biến, thông thường nó đứng trước và bổ nghĩa cho các cụm từ đi sau nó như: Cơ chế tài chính, cơ chế thị trường, cơ chế phối hợp…

Cơ chế thi hành quyết định trọng tài là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể, các cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật

Trang 39

hệ của các cơ quan nhà nước, cá nhân liên quan đến quá trình hiện thực hóa quyết định của trọng tài

Cơ chế thi hành quyết định trọng tài trong đó phân định rõ nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước liên quan, sự phối hợp giữa các cơ quan, cá nhân trong việc thực thi các quyết định trọng tài

Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thi hành quyết định trọng tài là nhằm biến các quyền, nghĩa vụ của đương sự được ghi nhận trong quyết định trọng tài có hiệu lực trên thực tế, mục đích này chi phối mọi hoạt động của các chủ thể trong cơ chế thi hành

Điều kiện hoạt động của cơ chế thi hành là hệ thống pháp luật thi hành

án dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan

* Dấu hiệu pháp lý của cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại:

- Chủ thể quan trọng nhất trong cơ chế thi hành quyết định trọng tài thương mại đó là Hệ thống cơ quan thi hành án dân sự

- Mục đích của cơ chế thi hành quyết định trọng tài là: Làm cho các quyết định của trọng tài – là phán quyết của một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, không mang tính quyền lực nhà nước có giá trị thi hành bắt buộc đối với các bên đương sự Trong trường hợp không tự nguyện thi hành sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án

- Trình tự, thủ tục thi hành quyết định trọng tài là hình thức biểu hiện của cơ chế thi hành quyết định trọng tài

- Tuy không phải là hoạt động tố tụng trọng tài, nhưng hoạt động thi hành quyết định trọng tài có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm cho quyền và nghĩa vụ của các bên đượng sự được thực thi trên thực tế, góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 40

- Hoạt động thi hành quyết định trọng tài chịu sự giám sát chặt chẽ của Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền

Phụ thuộc vào quyết định trọng tài trong nước hay quyết định trọng tài nước ngoài mà cơ chế thi hành quyết định cũng có sự khác nhau Sự khác nhau của cơ chế được thể hiện thông qua trình tự, thủ tục thi hành quyết định trọng tài

1.2.4.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại

1.2.4.2.1 Pháp luật về thi hành quyết định trọng tài thương mại:

* Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của pháp luật quy định về thi hành quyết định trọng tài

- Pháp luật về thi hành quyết định trọng tài là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các đương sự; mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan; giữa Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giữa cơ quan quản lý thi hành án với cơ quan thi hành án trong việc thi hành quyết định trọng tài

- Pháp luật thi hành quyết định trọng tài là một bộ phận gắn liền với pháp luật về tố tụng trọng tài thương mại và pháp luật tố tụng dân sự Có vai trò hết sức quan trọng trong việc làm cho các quyết định trọng tài được thực thi trên thực tế, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các đương sự đã được quyết định trọng tài ghi nhận, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Các quy định là cơ sở nền tảng cho mọi hoạt động của các thiết chế, đương sự trong quá trình thi hành quyết định trọng tài Nó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thi hành quyết định trọng tài

Ngày đăng: 10/07/2015, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI (2009) “Hội thảo Phân tích hiện trạng yêu cầu hủy quyết định trọng tài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Phân tích hiện trạng yêu cầu hủy quyết định trọng tài
6. Chính phủ (2008) “Báo cáo công tác thi hành án năm 2008” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2008
7. Bộ Tư pháp (2003) “Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm công tác thi hành án dân sự” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm công tác thi hành án dân sự
8. Học viện Tư pháp “Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
9. ThS Đỗ Hải Hà (2007), Bàn về khái niệm quyết định trọng tài nước ngoài theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Tạp chí Khoa học pháp lý 5 (42) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm quyết định trọng tài nước ngoài theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Tác giả: ThS Đỗ Hải Hà
Năm: 2007
10. Nguyễn Đình Thơ (2007), Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường ĐH Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Đình Thơ
Năm: 2007
11. Nguyễn Thanh Thủy (2007), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường ĐH Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2007
1. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 Khác
2. Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Khác
3. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Khác
4. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
12. TS Nguyễn Trung Tín (2006), Công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, NXB Tư pháp Khác
13. TS. Nguyễn Am Hiểu, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, Dự án VIE/94/2003 Khác
14. Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế (04/2001), Báo cáo kết quả cuộc tòa đàm pháp luật về trọng tài thương mại Nhật Bản Khác
15. ThS Dương Văn Hậu (1999), Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia Khác
16. Nhà pháp luật Việt – Pháp, Trọng tài quốc tế, NXB chính trị Quốc gia Khác
19. Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ quy định thủ tục thi hành án dân sự Khác
20. Nghị định số 116/CP ngày 5/09/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế Khác
22. Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài Khác
24. Luật mẫu vè trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế (1975) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w