1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam

217 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam
Tác giả Phạm Huyền Trâm
Người hướng dẫn T.S. Hồ Quốc Hùng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Phạm Huyền Trâm

HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

T.S HỒ QUỐC HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình khoa học trên là của riêng tôi Các kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận văn PHẠM HUYỀN TRÂM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được những thành quả như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Đặc biệt để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình

và vô cùng chu đáo từ phía giảng viên, TS Hồ Quốc Hùng Thầy đã giúp tôi định hướng, hướng dẫn cách trình bày cũng như giảng giải thêm nhiều vấn đề khác trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của tôi đến các thầy cô khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh, những người đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp cho tôi những kiến thức cần thiết để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn tốt nghiệp

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, đến phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học đã tạo những điều kiện tốt nhất cho học viên cao học trong suốt thời gian học tập tại trường

Tp Hồ Chí Minh, năm 2010 PHẠM HUYỀN TRÂM

Trang 4

và nội dung biểu đạt) ở mỗi vùng đất mà nó dừng chân

Nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu tính phổ quát của nó trong lĩnh vực truyện kể và đưa ra một số đặc trưng của nó ở một số vùng miền trên cả nước Từ đấy chỉ ra được những điểm giống và khác nhau cũng như nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác biệt của các kiểu truyện về rắn ở một số vùng miền trên

cả nước

Ngoài ra nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam chúng tôi hy vọng góp phần tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian của người Việt trong mối tương quan với tín ngưỡng dân gian của các dân tộc ở vùng Đông Nam Á và thế giới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Rắn trong văn hóa dân gian là một hiện tượng khá phổ biến trên thế giới Nó đã đi vào cuộc sống và trở thành những biểu tượng kinh điển Ai cũng biết đến hình tượng con rắn khôn ngoan và hiểm độc trong Kinh thánh cũng như hình tượng con rắn mang lại sự sống trong ngành y dược thế giới

Ở Đông Nam Á, hình tượng rắn cũng được nhắc đến qua các truyện kể dân gian của người Thái Lan, người Lào và đặc biệt là hình tượng rắn Naga của người Campuchia Nằm trong cơ tầng văn hóa chung ấy, hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam là một hiện tượng không chỉ có ở một địa phương mà nó còn phổ biến rộng rãi trên khắp cả nước Vì thế

mà từ lâu đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian

như bài viết: “Hình tượng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích” của tác giả Nguyễn Bích Hà

đăng trên tạp chí Văn hóa Dân gian, số 1, năm 1991 Mở đầu công trình này tác giả đã khẳng

định: “rắn là hình tượng khá phổ biến trong truyện cổ dân gian Nó không chỉ có ở Việt Nam

Trang 5

mà còn trở thành một hệ thống hình tượng quen thuộc trong truyện cổ Đông Nam Á và thế giới…Ở nước ta trên dọc các con sông Đà (Hà Sơn Bình), sông Hồng (vùng Hà Nội, Vĩnh Phú), sông Lam (Nghệ Tĩnh) và quanh vùng vịnh Hạ Long đều có đền thờ rắn, giải, thuồng luồng với hai nguồn truyện kể dân gian nổi bật: suy tôn và ca ngợi như những “vật linh hiện” hoặc căm ghét như kẻ thù độc ác nhất Hai nguồn truyện ấy mang hai thái độ và quan niệm vừa đối lập vừa dung hòa nhau về hình tượng rắn” Mặc dù không có dẫn chứng cụ thể

nhưng qua luận điểm trên, tác giả Bích Hà đã chỉ ra cho chúng ta thấy khu vực tập trung của nguồn truyện kể dân gian về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ Đồng thời dựa vào nội dung truyện, tác giả này cũng đã chia nguồn truyện này ra thành hai loại Việc phân loại cũng như đánh giá thái độ của con người qua hai nguồn truyện ấy là một gợi ý giúp chúng tôi có định hướng đúng khi nghiên cứu về hình tượng rắn ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ Ngoài nội dung mang tính khái quát vừa nêu, qua công trình này tác giả đã cho chúng ta cái nhìn cụ thể

về sự biến đổi của hình tượng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích đặc biệt là về hình tượng rắn trong truyện Thạch Sanh Tuy chỉ tập trung vào giải quyết các luận điểm dựa trên việc phân tích truyện Thạch Sanh nhưng qua bài viết này, tác giả cũng đã đưa ra được ý nghĩa cũng như sự biến nghĩa của hình tượng rắn thông qua thể loại thần thoại và truyện cổ tích Kết quả nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo tốt giúp chúng tôi mở rộng nghiên cứu trên nhiều truyện kể về rắn có cùng thể loại

Năm 1992, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian ở Nam bộ, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã đề cập đến mảng truyện kể về rắn như một chủ đề của truyện

kể dân gian về thú dữ ở Nam bộ như: công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ của tác giả Thạch Phương do NXB KHXH xuất bản, bài viết Một vài thu hoạch từ những câu chuyện truyền miệng ở mảnh đất phương Nam của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng in chung trong tập truyện Nghìn năm bia miệng do NXB Trẻ Tp HCM xuất bản Cả hai tác giả trên đều chỉ

dừng lại ở việc nêu và kể tên một số truyện kể về rắn ở Nam bộ

Trong tuyển tập (tập 3) của Đinh Gia Khánh, nhân nói về những nét đặc thù của văn hóa dân gian Việt Nam, ông cũng đã đề cập đến tục thờ rắn là vật tổ của các cư dân ở đồng

bằng và theo ông đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phổ biến của các truyện về rắn thần ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ Kết quả nghiên cứu trên đã tạo cho chúng tôi một cơ sở lý luận chắc chắn trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân hình thành truyện kể dân gian về rắn ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ

Trang 6

Năm 1998, tác giả Nguyễn Bích Hà lại có một chuyên luận nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm Thạch Sanh Chuyên luận này đã được NXB Giáo Dục xuất bản thành sách với nhan

đề: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á Nhân bàn

về truyện Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, tác

giả đã đi vào tìm hiểu rất kĩ môtíp dũng sĩ diệt rắn ác Và theo những tài liệu sưu tầm được,

tác giả cho thấy đây là môtíp khá phổ biến trong kiểu truyện dũng sĩ ở Việt Nam cũng như ở

Đông Nam Á Kế thừa những thành quả nghiên cứu từ trước, tác giả cũng khẳng định “rắn được dùng đồng nhất với khái niệm nước” - một yếu tố chi phối chặt chẽ đến đời sống của con

người thời bấy giờ Vì thế mà con người vừa có tâm lí cầu thân, làm hòa vừa có tâm lí muốn chống lại thiên nhiên hung dữ qua hình tượng rắn Những kết quả nghiên cứu của tác giả về

hình tượng rắn trong môtip dũng sĩ diệt rắn ác đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều điều trong

quá trình thực hiện đề tài của mình

Qua các công trình nghiên cứu của những năm 90 vừa được đề cập ở trên, chúng tôi thấy rằng các nhà nghiên cứu đã bước đầu chú ý đến hình tượng rắn trong văn hóa dân gian đặc biệt là trong thể loại truyện kể dân gian về rắn Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy rằng hình tượng rắn trong truyện kể dân gian chỉ được đề cập đến khi nó có liên quan đến một đề tài khác mà các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu Chẳng hạn như tác giả Bích Hà là người đã nói rất nhiều (xét trong giai đoạn này) về hình tượng rắn trong truyện kể dân gian nhưng vấn đề chính

mà tác giả này quan tâm lại là truyện Thạch Sanh và những kiểu truyện dũng sĩ ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á

Từ năm 2000 trở đi đặc biệt là vào đầu năm 2001 - năm Tân Tỵ, chúng ta thấy sự xuất hiện khá phong phú và đa dạng của các bài viết về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian được đăng trên hầu hết các báo, trong đó có thể kể ra các bài viết tiêu biểu như:

“Rắn trong văn hóa dân gian – rắn trong tục ngữ” của tác giả Trần Trọng Trí, đăng

trên báo Áo Trắng, số 21 + 22, năm 2000

“Rắn trong tục ngữ, rắn trong văn hóa dân gian” của tác giả N.K.P, đăng trên báo Bà

Rịa - Vũng Tàu, số xuân, năm 2001

“Rắn “bò” qua ca dao” của tác giả Bảo Kiếm, đăng trên báo CAND, số xuân, 2001.

“Rắn trong thành ngữ và tục ngữ” của tác giả Nguyễn Nhân Thống, đăng trên báo

Đồng Nai, số xuân, năm 2001

Trang 7

“Tục ngữ và những chuyện nghịch lý về rắn” của tác giả, đăng trên báo Long An, số

Cũng nằm trong số những bài viết chào xuân Tân Tỵ, bài viết “Rắn trong huyền thoại

và văn chương” của tác giả Chu Minh Thụy, đăng trên báo Văn Nghệ, số xuân, năm 2001 lại

cho ta một cái nhìn rộng lớn hơn về hình tượng rắn trên thế giới Đây chỉ là một bài viết mang tính chất tổng hợp tài liệu của tác giả với con rắn từ Tây sang Đông và điểm cuối cùng của hành trình là Việt Nam Ở Việt Nam, tác giả này đã nói về hình tượng rắn qua truyền

thuyết vườn Lệ Chi Tuy chỉ mang tính liệt kê nhưng tác giả này bước đầu đã có sự so sánh

khi đặt hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam trong tương quan với hình tượng rắn trong văn hóa thế giới đặc biệt là hình tượng rắn ác trong truyện kể dân gian về rắn

Đi sâu vào nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn ở Việt Nam, tác giả Dương khuê trong bài viết “Rắn trong biểu tượng dân gian”, đăng trên website: http://www.thuvienhaiphu.com.vn cho rằng rắn là biểu tượng văn hóa được thiêng liêng hóa thành biểu tượng rồngvà “xu hướng tôn vinh, linh thiêng hóa rắn trong tiềm thức lịch sử văn hóa, cho phép chúng ta phán đoán, khẳng định rắn là tổ họ, là gốc, là tiền thân của rồng” Theo tác giả rắn là biểu tượng của thần sông nước, là vật tổ và rắn có khi là biểu tượng cho điều thiện, nhưng nhiều khi rắn là biểu tượng cho điều ác

Trong bài viết “Rắn trong tâm thức người Việt” , đăng trên tạp chí Tem, số 46, năm

2001, tác giả C.Q.T đã khẳng định rằng “con rắn đi vào đời sống văn hóa của rất nhiều nước, với vị thế những vị thần khởi nguyên Trong đó Việt Nam được xem là một mảnh đất mầu

mỡ ” Để chứng minh cho điều đó, tác giả bài viết đã cho thấy sự xuất hiện của hình tượng rắn từ thời vua Hùng thứ nhất khi vua bảo thần dân xăm hình giao long để khi xuống nuớc, thuồng luồng nhận là đồng loại mà không làm hại hay hình tượng rắn trong các thuyền rắn

Trang 8

nước trên mặt trống đồng và thạp đồng của văn hóa Đông Sơn Rắn còn xuất hiện trong các đền thờ Mẫu của các cư dân ven sông Bắc bộ và trong nghệ thuật tạo hình xưa Chính vì vậy, tác giả khẳng định trong văn hóa Việt Nam, rắn luôn chiếm vị trí trang nghiêm trong tâm thức dân tộc

Tuy cũng là những bài báo Xuân nhưng các tác giả Dương Khuê và C.Q.T đã khá dày công trong việc thu thập và phân tích các tài liệu Tác giả Dương Khuê và C.Q.T lại đi vào tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam Từ những dữ kiện đưa ra, hai tác giả này cũng đồng thời khẳng định vị trí quan trọng của rắn trong tâm thức dân tộc Theo chúng tôi, đây là những bài viết ngắn nhưng có chất lượng

Trong các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian của người Việt, các tác giả cũng đề cập đến hình tượng rắn, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:

Bài viết “Rắn Nagaraja trong tín ngưỡng văn hóa khơme Nam bộ” của tác giả Thiện Chí, đăng trên báo Bạc Liêu, số xuân, năm 2001

Bài viết “Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hóa khơme” của tác giả Phan Anh Tú, đăng trên Thông Báo Khoa Học, số 5, năm 2004

Công trình nghiên cứu “Tục thờ các vị thần sông nước” đăng trên website:

http://www.hanam.gov.vn (2004)

Bài viết “Mối quan hệ tương tác về văn hóa phi vật thể giữa văn hóa các dân tộc anh

em và văn hóa người Việt” đăng trên tạp chí Di Sản, Số 4(13), năm 2005

Công trình nghiên cứu “Phụng thờ thủy thần ở Linh Đàm (Hà Nội)” của tác giả Việt Hương, đăng trên tạp chí Di Sản, số 2, năm 2005

Bài viết “Thần bí lễ hội rắn ở làng Lệ Mật”, đăng trên website:

Trang 9

Nhìn chung các bài viết về hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2005 đều không liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu Tuy nhiên chính sự xuất hiện của hình tượng rắn qua các thể loại khác của văn học dân gian cũng như các lĩnh vực khác của đời sống sẽ là cơ sở để chúng tôi khảo sát sự chuyển đổi các ý nghĩa biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu hình tượng rắn trong văn hóa cũng như văn học dân gian ở Việt Nam, chúng tôi thấy rằng, rắn là một biểu tượng văn hóa được các nhà nghiên cứu chú ý đến từ rất lâu Mỗi bài viết ở trên là một cái nhìn rất riêng về hiện tượng này Đó chính là cơ

sở gợi mở cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam Vì thế, dựa trên cơ sở những công trình đã nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sẽ bổ

sung một cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn về hình tượng rắn trong văn hóa Việt đó là: hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam

Tính đặc trưng và phổ biến của các truyện được chúng tôi chọn dựa trên các tiêu chí sau:

- Tính phổ biến của nội dung truyện trên vùng khảo sát

- Sự xuất hiện thường xuyên của một hay vài môtíp trong các truyện

- Nội dung truyện gắn với văn hóa cũng như phong tục tập quán của địa phương

Ví dụ: ở miền Bắc và Bắc Trung bộ, chúng tôi sẽ tìm hiểu nhóm truyện về rắn trong

đó có liên quan đến một trong các nội dung sau:

Trang 10

- Hình tượng rắn gắn liền với tục thờ thủy thần

- Hình tượng rắn gắn liền với cuộc đấu tranh trị rắn ác của nhân dân

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5 Tư liệu nghiên cứu

- Các truyện kể dân gian về rắn ở các vùng miền khác nhau trên cả nước

+ Những truyện kể về rắn ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ được sử dụng trong luận

văn chủ yếu được chúng tôi trích ra từ các tài liệu sau: Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 5: Truyền thuyết dân gian người Việt (Kiều Thu Hoạch), Truyền thuyết các vị thần Hà Nội (Minh Thảo, Xuân Mỹ), Truyện linh dị Việt Nam (Phạm Minh Thảo), Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (Ninh Viết Giao) và một phần nhỏ từ wesite: http://www.hanam.gov.vn

+ Những truyện kể về rắn của các dân tộc ít người ở khu vực miền Trung và Tây nguyên

được sử dụng trong luận văn được chúng tôi thu thập chủ yếu từ các tài liệu như: Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung (Nguyễn Hữu Chúc), Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam (Hà Văn Thư,Võ Quang Nhơn), Sự tích Langbian : Truyện cổ các dân tộc thiểu số Lâm Đồng (Lâm Tuyền Tĩnh ), Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt Nam (Viện văn học)

và một phần trong các tập truyện kể của các dân tộc ít người thuộc khu vực này như: Chăm, Êđê, M’nông, Xêđăng…

+ Những truyện kể về rắn của khu vực Tây Nam bộ được sử dụng trong luận văn chủ yếu

được lấy từ tài liệu: Huyền thoại miệt vườn: Truyện cổ dân gian các dân tộc Nam bộ (Nguyễn Phương Thảo), Nghìn năm bia miệng (Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường), Tử chiến với KingCôBra (Nguyễn Bá)

- Các công trình địa chí, thần tích ở các tỉnh

Trang 11

+ Ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung bộ chúng tôi dựa vào tài liệu thần tích Việt Nam

Trên đây, chúng tôi chỉ nêu khái quát nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn còn phần tư liệu cụ thể chúng tôi sẽ miêu tả kỹ hơn ở mỗi chương

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về hình tượng rắn trong hệ thống truyện kể dân gian Việt Nam Từ đó đưa ra được những điểm đặc trưng của truyện kể dân gian về rắn ở một số vùng miền trên cả nước Đồng thời qua hệ thống truyện kể này, luận văn cũng giúp cho người đọc thấy được nét văn hóa tương đồng và dị biệt của người Việt xưa trong tương quan với nền văn hóa của một số dân tộc ở vùng Đông Nam Á

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được chia làm 4 chương:

Chương I: Khái quát biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và Việt Nam

Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày ý nghĩa của biểu tượng rắn trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay Chính sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong các lĩnh vực của đời sống nhân dân sẽ là cơ sở cho việc khảo sát sự chuyển đổi các ý nghĩa biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian

Chương II: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian của người Kinh ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ

Ở chương này, chúng tôi chọn đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ là vùng đất đầu tiên

để khảo sát vì một trong những lý do sau:

- Bắc bộ là vùng đất định cư đầu tiên của cư dân Việt

- Số lượng truyện kể liên quan đến đề tài của luận văn tương đối phong phú

Trang 12

- Nội dung các truyện kể sưu tầm ở hai vùng trên có nhiều chủ đề tương đồng

- Đây là những vùng đất mang đậm văn hóa truyền thống của người Việt xưa

Ngoài việc chọn vùng để khảo sát, ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát cấu tạo và các biến nghĩa của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian (nếu có) ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ Từ những ý nghĩa có được, chúng tôi sẽ vào tìm hiểu các môtip (nếu có) trong nhóm truyện cùng nội dung

Do đặc điểm văn hóa vùng miền nên truyện kể về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ thường có nhiều tên gọi khác nhau vì vậy truyện kể về rắn ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ chúng tôi đưa ra khảo sát sẽ bao gồm luôn các truyện kể về các biến thể của rắn như: thuồng luồng, con giải, giao long

Chương III: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian của một số dân tộc ít người miền Trung và Tây Nguyên

Cũng dựa trên số lượng và nội dung những tài liệu thu thập được, ở chương này chúng tôi chọn vùng miền núi Trung bộ và Tây nguyên để khảo sát Mặt khác đây cũng là những vùng có số lượng truyện tương đối và nội dung truyện mang đậm màu sắc văn hóa của các dân tộc ít người Việt Nam

Các bước tiến hành nghiên cứu ở chương này chúng tôi cũng làm tương tự như ở chương thứ 2 nhưng song song với việc khảo sát và đưa ra nét đặc trưng của những truyện kể

ở vùng này, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với những truyện kể ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ Chương IV: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Nam bộ

Ở chương này, chúng tôi chọn miền Tây Nam bộ là vùng đất cuối cùng để khảo sát vì:

- Đây là vùng đất mới có nhiều tộc người cùng sinh sống (kinh, khơme, Hoa, Chăm )

vì thế sẽ có sự kế thừa cũng như pha trộn giữa các giá trị tinh thần

- Những truyện kể về rắn tập trung ở vùng này mang đậm màu sắc của vùng đất mới Nam bộ

Trong quá trình thống kê, phân lập hình tượng rắn trong các thể loại truyện kể và một

số vùng miền tiêu biểu, luận văn sẽ tiến hành so sánh để rút ra những tương đồng và dị biệt

về cách biểu đạt cũng như tìm hiểu đời sống đích thực của nó

Trang 13

NỘI DUNG

Chương một

KHÁI QUÁT BIỂU TƯỢNG RẮN TRONG VĂN HÓA

THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1 Về khái niệm biểu tượng

Biểu tượng văn hóa là một đối tượng giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa của mỗi

quốc gia Nhà văn hoá Levis Strauss đã từng nói: “Mọi nền văn hoá đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng…”[10, XIII] Tuy nhiên, trước kia người ta thường cho biểu

tượng là những hình ảnh của trí tưởng tượng, do bịa đặt mà ra như: biểu tượng nàng tiên cá trong văn hóa Đan Mạch, biểu tượng rồng trong văn hóa Việt Nam, Trung Hoa, biểu tượng

sư tử biển của Singapore, biểu tượng rắn Naga trong văn hóa Thái Lan, Campuchia, Lào…

Vì thế mà biểu tượng văn hóa dường như ít được gắn với văn hóa của các quốc gia

Ngày nay, càng quan tâm tìm hiểu về văn hóa của dân tộc mình trong mối tương quan với các dân tộc khác, người ta càng thấy rằng biểu tượng văn hóa cũng như những huyền thoại, thần thoại, truyền thuyết… của các dân tộc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi vì khi tìm hiểu, giải mã các biểu tượng văn hóa chúng ta cũng đồng thời thấy được tư tưởng, tình cảm, phong tục tập quán… của con người trong những cộng đồng văn hóa và lãnh thổ xác định Vì vậy, trước khi đi vào khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không liên hệ đến khái niệm biểu tượng văn hóa

Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới thì bản chất khởi nguyên của biểu tượng là

một vật được chia làm hai nửa, mảnh sứ, gỗ hay kim loại, hai người mỗi bên giữ một nửa, khi khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ cũ

Theo từ điển Từ và ngữ Hán việt của tác giả Nguyễn Lân [20,tr.63] thì biểu tượng là:

“hình ảnh của sự vật hoặc hiện tượng nảy sinh ra trong óc khi sự vật hoặc hiện tượng đó không còn đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta như trước”

Trang 14

Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học [46,tr.88] thì biểu tượng là: “hình ảnh sáng tạo nghệ thuật có một ý nghĩa tượng trưng trừu tượng”

Cuối cùng nói như PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà thì : Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài… Nó chính là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến một cái khó

có thể nhìn thấy được nhưng nếu đã là biểu tượng chắc chắn nó đại diện cho các khía cạnh bản chất nào đó của văn hóa cộng đồng [67]

* Một số đặc điểm của biểu tượng

Từ những nội hàm của từ điển được xác định trên, có thể rút ra mấy đặc điểm sau:

- Biểu tượng phải được hình thành trong quá trình lâu dài

Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một quá trình lâu dài

- Biểu tượng có tính ước lệ

Biểu tượng luôn mang tính quan niệm, bởi nó bắt nguồn từ tư duy hình tượng Nó có nhiều cấp độ xâm nhập với cái được biểu trưng, các cấp độ đó phản ánh trình độ tư duy và

quan niệm nghệ thuật của con người Biểu tượng là cảm quan, nhận thức của con người được

lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trong quá trình sống Do đó biểu tượng không những không bị phai mờ qua thời gian mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người

Biểu tượng cổ nhất và đơn giản nhất bao giờ cũng gần với thực tế Chẳng hạn, rắn là con vật biểu tượng cho nước, giữa con rắn biểu tượng và con rắn trong thực tế không khác nhau Tuy nhiên, theo thời gian và không gian, biểu tượng dần được mỹ hóa, trừu tượng hóa

và cái được biểu trưng ban đầu sẽ mờ đi, nhiều lớp nghĩa mới xuất hiện Khi cái được biểu trưng xa rời quy ước ban đầu đó, nó mở đường cho sự hình dung và giải thích chủ quan, bay bổng của con người

- Biểu tượng có tính bền vững, ổn định

Tính bền vững, ổn định là điều kiện không thể thiếu để hình thành nên biểu tượng Bởi

vì nếu nó luôn thay đổi, nó sẽ không còn mang tính biểu tượng nữa, bởi giữa cái biểu tượng

và cái được biểu tượng không thay đổi hoặc ít thay đổi thì sự khám phá mới có ý nghĩa Tuy nhiên, việc giải nghĩa biểu tượng không phải là một thao tác đơn giản có thể giải quyết trong

Trang 15

một lần Vì biểu tượng không chỉ có một lớp nghĩa mà biểu tượng luôn mang trong nó biết bao suy tư, thăng trầm của cuộc sống con người

Biểu tượng sống là biểu tượng còn tiếp tục được giải mã, phân tích, khám phá các lớp nghĩa bên trong của nó Sự khám phá đó khiến biểu tượng gợi cảm đến bất tận Biểu tượng chết là khi người ta đã lí giải được toàn bộ ý nghĩa của nó, nó trở nên dễ hiểu, được sử dụng theo một số nghĩa nhất định nào đó và không còn được người ta dày công khám phá nữa

Tóm lại, giải mã các biểu tượng là việc làm có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các nền văn hóa trên thế giới Kết quả của việc giải mã sẽ giúp ta bóc tách được các lớp lịch sử che phủ lên biểu tượng đồng thời thấy được trình độ tư duy và quan niệm nghệ thuật của con người qua từng giai đoạn lịch sử

1.2 Biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới

Rắn là một con vật thường gây cho con người nhiều sự sợ hãi cũng như trí tò mò nhất Chính vì vậy không riêng gì ở Việt Nam mà hầu như ở các quốc gia trên thế giới, rắn luôn là đối tượng để mọi người “bàn luận”

Một nhà phân tâm học từng nói: “Rắn là một con vật có xương sống luôn hiện thân cho tâm hồn hội đẳng, cho cái tâm tăm tối, cho cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí”

[10,tr.762] Trong lời phát biểu của mình, tác giả này vừa khẳng định nhưng đồng thời ông cũng phủ định, ông vừa cho rằng rắn là xấu xa nhưng ngay sau đó ông lại cho rằng rắn cũng

Nhưng ở chỗ khác Giêsu lại dùng hình ảnh con rắn để ví với bản thân mình và ông

khuyên dạy con người: “Hãy khôn ngoan như con rắn”

Còn trong Phật Giáo, con rắn Naga được xem như đệ tử trung thành cuộn thân làm bảo tọa cho Đức Phật ngồi nhập định bên sông thiền đồng thời vươn cao mang bành làm tán che mưa cho Đức Phật chống lại sự tấn công hung hẵn của Ma vương nhằm phá đổ khoảnh khắc quyết định trên bước đường chứng ngộ của Đức Phật

Trang 16

Với người Hy Lạp cổ đại, rắn được xem là “người” đem lại sự sống, “người” khởi xướng… Vai trò khởi xướng của rắn được thể hiện rất rõ trong các huyền thoại về các nghi

lễ liên quan đến lịch sử và trong việc thờ cúng 2 vị thần lớn của thi ca, âm nhạc, y học và nhất là của thuật bói toán (thần Apollo và Dionysos) Ngoài ra theo phong tục dân gian của

Hy Lạp, người ta thường rưới sữa lên các nấm mộ cho các linh hồn đã chết nhằm giúp họ được hóa kiếp thành rắn

Còn đối với người Do Thái cổ, rắn là bản thân đại dương, khi uống nước nó tạo nên thủy triều, khi vùng vẫy nó gây ra bão Rắn là thần của nước khởi nguyên, là thần của tất cả các loại nước

Ở Châu Phi, người ta cũng xem rắn vị thần của nước khi cho rằng cầu vồng là con rắn đang uống nước biển, vì thế mà trong lúc hạn hán hoặc mưa nhiều người ta thường cầu khẩn rắn Và theo Krappe thì ý tưởng cho rằng cầu vồng là một con rắn đang uống nước biển là một ý tưởng phổ biến có thể tìm thấy ở người da đỏ ở vùng Nevada, người broro ở Nam Mỹ,

ở Pháp, sebillot, Nam Phi và Ấn Độ

Với nhân dân Ấn Độ, rắn Ananta là “kẻ nâng và bảo đảm sự ổn định của thế giới”

[10,tr.763] Vì vậy mà họ thường đóng một chiếc cọc vào đầu con Naga nằm dưới mặt đất, tại vị trí mà thầy phong thủy xác định khi muốn xây nhà Còn trong tiếng Arập, ý nghĩa của

từ rắn - elhayyal là ý tưởng về sự sống - elhayat

Vài phác họa trên cho thấy biểu tượng rắn bao giờ cũng có hai mặt Tùy theo văn hóa từng dân tộc và hoàn cảnh cụ thể để sử dụng đặc tính của nó cho phù hợp

Ngoài những ý nghĩa trên thì biểu tượng rắn còn xuất hiện với ý nghĩa về giới tính

Trong đạo Mật tông, rắn Kundalini là biểu trưng cho dục năng và sự sống “nó dùng miệng

mà ngậm bít đầu dương vật lại Khi thức dậy, rắn rít lên và cứng người lại và liên tiếp leo lên các luân xa: đấy là dục năng dâng lên, là sự sống tái hiện” [10,tr.763] Ở Châu Á và

Châu Mỹ, thời kỳ đồ đá rắn được xem là có tính lưỡng trị trong giới tính Tính lưỡng trị của

nó được bộc lộ ở chỗ nó vừa là tử cung vừa là dương vật Người ta còn cho rằng nguồn gốc của các kỳ hành kinh ở phụ nữ là do quan hệ của bà Eva với rắn Ở một số nước Châu Âu như Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, phụ nữ một số vùng rất sợ rắn chui vào mồm lúc họ đang ngủ bởi nó sẽ làm cho họ có thai khi đang kỳ hành kinh Quan niệm về giới tính của biểu tượng

Trang 17

rắn cũng có ở Ấn Độ, để có con những người phụ nữ Ấn Độ phải nhận một con rắn hổ mang làm con nuôi Còn người Tupi ở Braxin, để một người phụ nữ vô sinh trở thành mắn đẻ người ta sẽ cầm một con rắn quật vào háng người phụ nữ vô sinh

Đối với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ tín ngưỡng bản địa cộng với sự ảnh hưởng của các tôn giáo Ấn Độ, rắn thường được linh thiêng hóa và tôn thờ như những vị thần Thần rắn Naga được xem là người bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân

Vì vậy mà trong kiến trúc Phật giáo nguyên thủy (Therevada) tại Đông Nam Á, rắn Naga thường được trang trí trên các mái chùa ngụ ý xua đuổi tà ma và bảo vệ các ngôi chùa tránh khỏi hỏa hoạn Theo thần thoại, Naga là vị thần mưa nên có thể phun nước dập lửa Rắn Naga trong văn hóa của người Khmer là một hình tượng khá phổ biến, hình tượng này hiện diện trong văn hóa Khmer có lẽ từ trước khi văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến vùng đất này vì người Khmer vốn có tín ngưỡng bản địa thờ rắn Truyền thuyết lập quốc của người Khmer cũng đã kể lại sự kết hợp giữa đạo Bàlamôn và văn hóa bản địa (tín ngưỡng thờ rắn) như sau:

Một người Bàlamôn tên là Kaudinya đến vùng Đông Nam Á Ông ta mang theo một ngọn lao nhận được của một vị Bàla môn cao đạo nhất Ông ta vung tay ném ngọn lao vào vùng đất lạ Ngọn lao ấy bay vút cao và rơi xuống cắm vào một địa điểm Điểm ấy được chọn làm kinh đô nước Phù Nam

Sau đó, ông ta lấy một nàng công chúa bản địa làm vợ Nàng tên là Soma, là con gái vua rắn thần Naga.Và hai người tạo lập nên dòng dõi những người làm vua nước Phù Nam [8,tr.14 -15]

Người Khmer, người Chăm và hầu hết các tộc người chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đều có truyền thuyết lập quốc gần tương tự nhau như vậy Vào thế kỷ 14, tại Thái Lan vị vua đầu tiên của triều đại Sukhothai đã hợp thức hóa việc lên ngôi của mình cũng bằng cách tự cho mình thuộc dòng dõi của một thủ lĩnh Thái và một nàng Nagini (nàng tiên rắn)

Người Khmer tin rằng chính Kaudinya đã truyền cho họ những bí quyết về nghề trồng lúa và công việc thủy lợi Còn các vị vua Khmer sau này thì được tin là đã giao phối với một

Nagini xinh đẹp để duy trì dòng dõi hoàng gia Trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ kí (dẫn theo Đinh Gia Khánh), tác giả Châu Đạt Quan viết rằng: “hàng đêm quốc vương đều có đến ngủ với một nàng tiên rắn…”

Trang 18

Trong mỗi triều đại, các vị vua Khmer đều cho xây dựng các cung điện và các đền thờ khổng lồ bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ nơi thiêng liêng đó, vì vậy chúng luôn xuất hiện trên cầu thang, trên các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp

để xua đuổi tà ma

Ở Lào, người ta thường thêu trên thổ cẩm của mình một đôi rắn đang cuộn vào nhau bởi vì theo họ chỉ có người may mắn mới có thể nhìn thấy đôi rắn cuộn mình vào nhau Ngay khi nhìn thấy thế, người này nên cởi áo của mình ra và ném vào đôi rắn rồi đợi đến khi chúng bò đi chỗ khác sau đó người này nên mang chiếc áo đó về nhà và vắt lên người mình Khi có một người con trai nào trong gia đình đó sắp đến tuổi lập gia đình, anh ta sẽ mặc chiếc áo đó và chắc chắn anh ta sẽ cưới được người mình yêu, không những thế đôi uyên ương đó sẽ được sống hạnh phúc trọn cả cuộc đời Ngoài ra chiếc áo này còn mang may mắn đến cho những người làm kinh doanh Người dân tộc Lào thêu hình rắn quận mình vào nhau với một niềm tin rằng nó sẽ mang lại may mắn [55]

Trong lòng người dân Indonesia, rắn có một vị trí rất cao và sang trọng, người dân nơi đây tôn kính rắn giống như tôn kính thần Rắn tượng trưng cho sự lương thiện, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh Trên đảo Bali, người dân nơi đây còn xây dựng riêng một ngôi nhà ở của rắn giống như một ngôi chùa miếu, dùng để cúng tế, thắp hương, cầu khấn Trong động rắn

ở phía sau nơi ở của rắn còn nuôi những bầy dơi với số lượng rất lớn, để chuyên cung cấp thức ăn cho rắn

Nói chung, không phải là một hiện tượng nhỏ lẻ chỉ tồn tại ở một vài nơi, ý nghĩa của biểu tượng rắn tồn tại khắp nơi trên thế giới, gắn với từng dân tộc, từng quốc gia, rắn mang đến cho chúng ta cái nhìn mới mẻ về giá trị mà nó biểu đạt

1.3 Biểu tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam

Trở về biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam mà cụ thể là trong văn hóa dân gian

Có lẽ ấn tượng đầu tiên của người Việt Nam (ngày nay) khi nhắc đến con rắn là sự sợ hãi Rắn dường như chỉ được nhìn theo chiều hướng tiêu cực Tuy nhiên tìm hiểu trong văn hóa dân gian của dân tộc ta mới thấy rằng “con rắn” không chỉ mang ý nghĩa xấu mà có một thời gian khá dài, rắn đã được tôn thờ như một vị thần linh và được nâng lên thành biểu tượng văn hóa trong khát vọng cầu cho mưa thuận, gió hòa, cuộc sống tốt tươi

Trang 19

Trước hết, chúng tôi xin nói về biểu tượng tiêu cực Trong lời ăn tiếng nói của người xưa, hình tượng rắn thường xuyên xuất hiện với ý nghĩa tiêu cực Dường như cha ông ta đã tập trung tất cả những cái xấu ở đời để gán cho rắn

Để chỉ những người “bề ngoài thơn thớt nói cười” mà bên trong nguy hiểm giết người không dao cha ông ta nói “khẩu phật tâm xà” Rồi đề nhắc những người hiền lành coi chừng làm ơn mắc oán, bị kẻ xấu đổ vạ, cha ông ta lại nhắc khéo: “rắn đổ nọc cho lươn” hay “ấp rắn trong lòng”

Để chê bai những kẻ hay bày ra những thứ râu ria phức tạp, vô ích, người xưa dè bỉu:

khéo “vẽ rắn thêm chân” Rồi tới những chỗ nguy hiểm phải tránh xa người ta lai nhắc nhở nhau “hang hùm miệng rắn”

Không chỉ nhắc nhau, người xưa còn mượn hình ảnh rắn để mỉa mai tính cách của một

số người như: “thẳng như rắn bò”, “sư hổ mang, vãi rắn rết” Và có lẽ một câu nói về rắn làm cho mọi người nhớ nhất đó là: “cõng rắn cắn gà nhà” Hành động của kẻ hèn hạ đang tâm “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn về cắn gà nhà” trong câu nói này đã đưa rắn trở

thành một kẻ xấu mang tầm cỡ quốc tế

Chúng ta thắc mắc tại sao rắn lại mang nhiều “tội danh” như vậy? Có lẽ bởi rắn có nọc độc chết người Ngoài ra, do đặc điểm sinh sống của rắn lúc ẩn lúc hiện nên hình tượng rắn trong lời ăn tiếng nói của dân gian thường gắn với sự cảnh giác cao độ

Bên cạnh cách nhận thức ấy, trong nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, hội họa, rắn lại là một đề tài vô cùng hấp dẫn người nghệ sĩ Vẻ đẹp uốn lượn mềm mại của rắn, sự nhanh nhẹn, cái lưỡi, đôi mắt, chót đuôi, những hoa văn trên thân thể… tất cả luôn làm dâng trào cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ Có lẽ hình ảnh cổ xưa nhất của rắn mà ngày nay người

ta thường nhắc tới ở Việt Nam đó là hình giao long được thần dân của đời vua Hùng thứ nhất xăm lên mình để khi xuống nước thuồng luồng nhận làm đồng loại mà không làm hại Theo

tác giả Đinh Gia Khánh thì Nhan Sư Cổ trong sách Hậu Hán thư đã viết rằng giao long là

một loài lân trùng (rắn có vảy) có bốn chân Như vậy cả giao long, thuồng luồng đều chỉ loài rắn có vẩy không chân hoặc có chân

Hình ảnh rắn thường gắn liền với cuộc sống của cả cộng đồng cư dân người Việt cổ, không chỉ trong đời sống vật chất mà cả trong đời sống tinh thần Trên các trống đồng, thạp đồng của văn hóa Đông Sơn xung quanh biểu tượng mặt trời người ta thấy hình những con

Trang 20

rắn nước đang há miệng chờ chim lửa lao vào, tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực (rắn nước là âm, chim lửa là dương)

Vào thời Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê sơ, biểu tượng rắn trong nghệ thuật tạo hình ít được quan tâm hơn trước Tuy nhiên người ta vẫn tìm thấy hình ảnh của con rắn ẩn thân trong hình tượng con rồng Trong đó nổi bật nhất là hình tượng con rồng thời Lý – Trần

Hình tượng con rồng Lý-Trần được thể hiện phổ biến trên chạm nổi, do thuộc loại động vật bò sát nên nhiều khi hình chạm nổi lại như tượng tròn, chẳng hạn những tượng rồng lớn ở cột biểu chùa Dạm, ở đáy ao Long Trì chùa Phật Tích, ở đế bia chùa Long Đọi và tháp

Chương Sơn…những tượng này, được người xưa gọi là Long xà tức rồng rắn vốn có nguồn

từ con rắn, con trăn rất phổ biến ở địa vực nước ra Đây được xem là hình tượng nghệ thuật thực sự Việt Nam, là sáng tạo độc đáo của cha ông ta xưa Ta còn tìm thấy ngay trong nghệ thuật Việt, tượng con vật lớn như trăn - rắn ở miếu cạnh đền Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh), một

số hình chạm rắn bên cạnh hình chạm rồng ở bệ tượng Phật chùa Ngọc Khám, bệ tượng Quan Âm Nam Hải (Bắc Ninh) Hình rồng Lý-Trần được xác định là hình tổng hợp những yếu tố của nhiều con vật khác nhau, trong đó cơ bản là từ con rắn Và cũng trong giai đoạn này, trong thành Chà Bàn (thành Hoàng Đế) - kinh đô cuối cùng của vương quốc Chămpa, được xây dựng năm 982 thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, người ta cũng thấy trên góc tháp Cánh Tiên cao gần 20m có tượng rắn làm bằng đá trắng, 2 voi đá và nhiều tượng quái vật Tháp này được đánh giá là biểu tượng phong hóa Bình Định,

có niên đại hậu bán thế kỷ 11, đầu thế 12

Sau một thời gian dài ẩn thân trong hình tượng rồng, cuối thế kỷ 16, người ta lại thấy

sự xuất hiện trở lại của hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Tại đình Tây Đằng, Hà Tây, người ta đã tạc tượng một người đàn bà ngồi xổm, hai chân giang rộng, hai tay nắm lấy cổ và đuôi rắn Đây là một hình ảnh tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực, trong đó rắn được xem

là mang tính dương Cuối thế kỷ 17, nhờ sự phát triển của nghệ thuật dân dã mà một lần nữa người ta lại thấy sự xuất hiện của hình tượng rắn tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực Ở đình Phù Lão (Bắc Giang), người đương thời đã chạm hình một phụ nữ khỏa thân, với cái bụng khá to, quấn quanh lưng là một con rắn lớn Có lẽ hình ảnh này tượng trưng cho sự cầu phúc trong tín ngưỡng phồn thực (bụng nở) khi âm (người đàn bà) dương (con rắn) giao hòa

Trang 21

Có thể thấy rằng, không riêng gì ở Phương Tây mà ở Việt Nam ý nghĩa về giới tính của rắn cũng được người xưa thể hiện khá mạnh dạn Đến thế kỷ 18, tuy nghệ thuật dân dã không còn phát triển nhưng đôi khi hình tượng rắn vẫn được xuất hiện ở những công trình kiến trúc lớn của người đương thời như: ở Đền Gióng (Phù Đổng − Hà Nội), các nghệ nhân đã chạm một đôi rắn đang chui ra từ mũi rồng Sang thế kỷ 19, người ta lại thấy con rắn lại cuộn mình đẹp đẽ trên chiếc cửu đỉnh thiêng liêng của vương triều Nguyễn tại Huế Và ngày nay, người

ta vẫn còn thấy vô số hình rắn Naga được chạm khắc rất công phu trong những ngôi chùa cổ kính của người Khơme Nam bộ

Không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tạo hình, rắn còn xuất hiện trong đời sống tín ngưỡng của dân tộc Là một đất nước với đa phần cư dân lao động trong lĩnh vực nông nghiệp cho nên khí hậu là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của người dân Chính vì điều đó mà rắn − tượng trưng cho nước là vị thần linh thiêng mang lại cuộc sống no

đủ, hạnh phúc cho con người

Trong những đền thờ Mẫu (mẫu thiên, mẫu địa, mẫu thoải) - một tín ngưỡng gắn với nông nghiệp, luôn có một đôi rắn gọi là Thanh xà - Bạch xà bằng vải, bò vắt trong cung thờ Chính vì tượng trưng cho nước nên hình ảnh rắn luôn xuất hiện trong các lễ hội liên quan đến việc cầu nước, cầu mưa, của đại đa số các cư dân ở vùng đồng bằng Việt Nam, mà tập trung nhất vẫn là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ nước ta Có thể kể ra một số lễ hội liên quan tới rắn như: lễ hội rắn ở làng Lệ Mật - Hà Nội, lễ hội rước nước ở đình Nhật Tân - Hà Nội, lễ hội cầu nước ở Lãnh Giang, Cửa sông - Hà Nam, lễ hội đền Tranh ở Ninh Giang - Hải Dương, lễ hội rước thần Hang Lạng ở Xuân Sơn − Phú Thọ, lễ hội bơi bè ở Phài Lừa − Lạng Sơn, lễ hội đua ghe ngo ở miền Tây Nam bộ, vv…vv

Đến với văn học dân gian đặc biệt là trong truyện cổ dân gian, biểu tượng rắn cũng được nhắc đến với nhiều ý nghĩa Như chủ đề rắn ác hại người trong Thạch Sanh, truyện nói

về một con xà tinh tàn ác chuyên ăn thịt người và anh chàng Thạch Sanh bằng sức khỏe, sự mưu trí, thần thông đã ra tay diệt trừ rắn ác cứu thoát cả làng Rắn ác còn xuất hiện trong các truyện như Mãng Xà Vương ở Tân Bằng, sự tích suối rắn, Đền muối…Chủ đề rắn ác còn

được pha trộn giữa huyền thoại và lịch sử trong vụ án Lệ Chi Viên Trước kia người ta cho

rằng, Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc là do con rắn báo oán Và người vợ trẻ trung xinh đẹp của Nguyễn Trãi, nàng Thị Lộ chính là con rắn mẹ hóa thân để trả thù cho đàn con Tuy nhiên ngày nay, người ta biết rằng cái chết đầy oan khuất của vị anh hùng Nguyễn Trãi có

Trang 22

bàn tay thêu dệt của tập đoàn phong kiến hòng lấp liếm cho tội ác đê hèn còn độc ác hơn rắn độc của chúng

Ngoài ý nghĩa tượng trưng cho cái ác, gắn với tín ngưỡng thờ nước của đồng bằng Bắc

bộ, trong các truyện kể dân gian rắn còn được nhắc tới với vai trò “Thủy thần” Truyện kể về rắn thần – thủy thần, là một trong những truyện kể phổ biến nhất ở khu vực phía Bắc Việt Nam Tác giả Đinh Gia Khánh cũng khẳng định sự tồn tại phổ biến của nhóm truyện này như sau:

Nếu việc thờ chim làm vật tổ chủ yếu là tín ngưỡng của cư dân miền núi thì việc thờ rắn làm vật tổ lại chủ yếu là tín ngưỡng của cư dân đồng bằng, đầm lầy, sông, biển Cho đến nay vẫn còn lưu hành những mẩu chuyện về thần rắn, về ông Cộc, ông Dài ở các khúc sông như sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Lô, sông Thao, sông Cầu, v.v Nhưng các truyện về rắn thần lại đặc biệt phổ biến ở đồng bằng Dọc sông Cầu và sông Thương thuộc vùng đồng bằng tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang có đến hơn ba trăm làng thờ hai vị thần Tam Giang (ông Dài, ông Cộc) [18,tr.341]

Trong truyện kể dân gian ở miền Trung và Tây Nguyên, người ta còn thấy hình tượng rắn mang một ý nghĩa khá cổ xưa của truyện cổ tích Rắn tượng trưng cho những con người tốt đẹp của thế giới thần linh, sau khi kết hôn với một người con gái hiền lành, tốt bụng của thế giới loài người, rắn trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú… Với nội dung như vậy,

mà những kiểu truyện rắn ở đây thường đề cập đến những con người mang lốt rắn có thể kể

ra một số truyện tiêu biểu như: Chàng rắn, Chàng tiên rắn, lấy chồng rắn…

Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên nét tương đồng về sự hiện hữu của biểu tượng rắn trong văn học dân gian và các hình thái nhận thức khác, còn biểu hiện cụ thể chúng tôi sẽ trình bày

ở chương sau

Nói tóm lại, rắn trong văn hóa dân gian của người Việt là một trong những biểu tượng khá phong phú về ý nghĩa Cũng như quan niệm về con rắn trên thế giới, con rắn trong văn hóa dân gian Việt Nam cũng hàm chứa cả ý nghĩa tốt lẫn ý nghĩa xấu Mỗi khu vực và mỗi giai đoạn lịch sử mà nó xuất hiện lại mang đến cho ta những ý nghĩa khác nhau Nó góp phần làm phong phú thêm thế giới biểu tượng trong văn hóa của người Việt Nam

Trên đây, vừa khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và văn hóa dân gian Việt Nam Qua sự phong phú về ý nghĩa biểu đạt của biểu tượng, chúng ta thấy

Trang 23

rằng rắn là một biểu tượng văn hóa lâu đời và khá bền vững trong hệ thống biểu tượng văn hóa thế giới Mỗi quốc gia đều có những ý nghĩa riêng cho biểu tượng rắn Tuy nhiên một ý nghĩa tượng trưng lớn nhất bao trùm nhiều quốc gia, dân tộc, đó là rắn tượng trưng cho thủy thần Đối với các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á thì ý nghĩa này lại càng đậm đặc Xuất phát từ môi trường tự nhiên có nhiều điểm chung hình thành nên nền văn minh lúa

nước, ở các nước như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Mianma…nước được xem là

yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Với sự tồn tại của nhiều hội lễ cầu nước gắn với tín ngưỡng thờ thần nước, rắn – tượng trưng cho thủy thần được xem là vị thần chi phối phần lớn cuộc sống của các cư dân làm nông nghiệp Đối với Việt Nam đặt trong tương quan với thế giới và khu vực thì biểu tượng rắn cũng mang nhiều nét nghĩa tương đồng Tuy nhiên, với một nền văn minh lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc, biểu tượng rắn cũng được thể hiện theo những cách rất Việt Nam Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi

sẽ làm rõ nét đặc trưng của biểu tượng rắn trong những truyện kể dân gian Việt Nam

Trang 24

Chương hai

HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

CỦA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ VÀ BẮC TRUNG BỘ

Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ, đồng bằng sông Hồng là khu vực cư trú đầu tiên và lâu đời nhất sau khi người Việt cổ tiến hành cuộc di cư từ miền núi xuống đồng bằng Cùng với việc định cư ở lưu vực sông, cư dân Việt đồng thời lấy nông nghiệp là cơ sở để duy trì và phát triển sự sống Vì vậy mà mong ước về một năm cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu cùng với những lo sợ về thiên tai luôn thường trực trong ý nghĩ của cư dân Xây dựng cho mình một đời sống tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, những người bình dân cho rằng đó chính là một trong những kênh giao tiếp quan trọng của họ với tự nhiên để từ đó con người và tự nhiên

“thấu hiểu” nhau hơn Và họ cho rằng kết quả của những cuộc giao lưu đó sẽ đem đến cho

họ một cuộc sống “mưa thuận gió hòa”, ấm no, hạnh phúc Nằm trong hệ thống tín ngưỡng

đó, nước được xem là một yếu tố vô cùng quan trọng như người xưa đã đúc kết: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Nước quan trọng nhất nên được người dân nâng lên thành

“thủy thần” Và con rắn với hình dạng uốn lượn như những làn nước lên xuống đã được đồng nhất với nước Rắn đã đi vào đời sống tín ngưỡng của người dân đồng bằng sông Hồng,

đi vào cả truyện kể dân gian ở khu vực này

Trong những truyện kể dân gian về rắn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung

Bộ, chúng tôi thấy hình tượng rắn xuất hiện trong nhiều thể loại như: cổ tích, thần thoại, truyền thuyết Tuy nhiên theo cách phân loại cũ, thì có một số truyện được phân loại chưa hợp lý, chẳng hạn như theo tác giả Nguyễn Đổng Chi (chủ yếu dựa vào tuyển tập truyện cổ

tích do Nguyễn Đổng Chi biên soạn), chúng tôi thấy truyện Ông Cộc ông Dài, được xếp vào

thể loại cổ tích nhưng theo quan điểm hiện nay thì truyện này nên xếp vào thể loại huyền

thoại Vì vậy, để tiện cho việc nghiên cứu, người viết mạnh dạn xếp truyện Ông Cộc ông Dài

và một số truyện có nội dung và kết cấu tương tự vào thể loại huyền thoại Ở thể loại này, chúng tôi thu thập được 6 truyện chính

Trong thể loại truyền thuyết, chúng tôi thấy sự xuất hiện khá phong phú của hình tượng rắn Sau khi đọc và tuyển chọn, chúng tôi thu được 15 truyện về rắn thuộc thể loại này Xét về số lượng và nội dung truyện qua các thể loại, chúng tôi thấy rằng sự xuất hiện của hình tượng rắn trong thể loại truyền thuyết đa dạng và phong phú hơn Vì vậy ở chương

Trang 25

này chúng tôi sẽ tập trung khảo sát sự xuất hiện của hình tượng rắn qua truyền thuyết ở Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ

Trong quá trình khảo sát 21 truyện đã chọn, chúng tôi thấy sự xuất hiện của hình tượng rắn qua hai xu hướng sau:

+ Rắn được linh thiêng hóa

+ Rắn tượng trưng cái ác hại người

2.1 Hình tượng rắn trong nhóm truyền thuyết về thủy thần

Nét nổi bật nhất của các truyện kể về rắn ở khu vực này là thường gắn với sự linh thiêng hóa rắn trong tín ngưỡng thờ thủy thần Rắn thường xuất hiện như một vị thần linh thiêng cai quản vùng sông nước, cai quản cả mùa màng Vì vậy mà để cuộc sống no đủ, bình yên, người dân thường lập các đền thờ rắn ở gần những con sông Như trên đã nói thì đây chúnh là nét tương đồng phổ biến cho các nước trong khu vực có chung nền văn minh lúa nước

Về truyện có nội dung linh thiêng hóa rắn chúng tôi thấy có 14 truyện Dựa vào nội dung truyện, chúng tôi chia nhóm 14 truyện này ra thành 2 nhóm nhỏ

Ở nhóm nhỏ thứ nhất, chúng tôi tạm gọi là nhóm “Ông Cộc ông Dài” Ở đây chúng tôi không xét những truyện này như người ta từng xét nó như những dị bản của một truyện mà chúng tôi sẽ nghiên cứu những truyện này như một kiểu truyện đặc trưng và phổ biến của

khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ Nhóm này bao gồm 6 truyện sau: Bà Tăng Má, sự tích Ghềnh Bợ, sự tích ông Cộc ông Dài ở Thác Huống − Thái Nguyên, sự tích ông Cụt ông Dài

ở Yên Thành - Nghệ An, sự tích ông Cụt ông Dài ở Nam Đàn - Nghệ An, truyền thuyết đình làng Văn Xá (Hà Nam)

Ở nhóm nhỏ thứ hai, chúng tôi tạm gọi là “anh hùng rắn” gồm 8 truyện sau: Ông Lỗ ông Minh, Linh Lang đại vương, Hiển công thần, Truyện nàng công chúa đời Trần, truyền thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng), Hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc Lương, truyền thuyết đền Lảnh Giang, Long thần

Trước tiên chúng ta đi tìm hiểu nhóm truyện thứ nhất trong nội dung linh thiêng hóa rắn:

2.1.1 Nhóm truyện “Ông Cộc ông Dài”

Trang 26

Đây là nhóm truyện khá phổ biến ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ Xác định về thể loại của nhóm truyện này, như trên đã nói, trước đây, nhiều người cho rằng đây là thể loại thần thoại vì nó giải thích nguồn gốc của vũ trụ, tự nhiên theo tư duy của người nguyên thủy Tuy nhiên, trong nhóm truyện này lại liên quan đến việc giải thích một số địa danh cũng như tục thờ cúng thủy thần ở đồng bằng Bắc bộ Vì vậy có thể xếp nó vào thể loại truyền thuyết Để

giải quyết vấn đề này, chúng tôi dùng thuật ngữ huyền thoại (để chỉ một tổ hợp bao gồm các

thể loại: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thần kì) để gọi những truyện kể loại này

Truyện kể ở Thác Huống (Thái Nguyên) như sau: Một bà nhặt được 2 quả trứng Trứng nở ra hai con rắn Bà đi đâu rắn cũng đi theo Dân làng sợ hãi Bà phải đem hai con rắn thả xuống vực sâu Mỗi lần sang sông, bà gọi rắn lên và rắn đưa bà sang Khi bà qua đời, nước dâng lên cuốn trôi thi hài của bà đi Từ đó súc vật trong làng hay bị chết chóc, mùa màng thất bát Thầy phủ thủy báo là cần phải lễ thủy thần Dân làng từ đó, cứ đến tháng 5, tháng 7 để cầu mưa, tổ chức đua thuyền trên sông, chèo ngoằn nghèo theo các nơi mà trước kia rắn được thả xuống để dâng lễ cho thủy thần rắn (Dẫn theo Cao Xuân Phổ trong tạp chí

Những người đàn bà được nhắc tới trong kiểu truyện này thường là những người sống

cô độc hay hiếm muộn, nghèo khổ Trong truyện Bà Tăng Má (Tập 5, truyền thuyết Việt Nam – Kiều Thu Hoạch tuyển chọn) thì truyện được mở đầu như sau: tại làng La Phù ở ven sông Đà, vào đời Hùng Vương thứ 18 có một người đàn bà nghèo khổ, sống trong một cái lều cỏ ven sông Bà đã già mà vẫn chưa có chồng con [16,tr.179]

Trong sự tích Ghềnh Bợ thì thông tin về nơi ở của nhân vật cũng không có, chỉ biết

“Cách đây đã lâu lắm rồi, chẳng nhớ rõ là năm nào, tháng nào nữa, ở một làng nọ có một người đàn bà góa chồng, không có con cái”

[ 16,tr.729]

Trang 27

Truyện đình làng Văn Xá – Hà Nam kể rằng: Vào đời vua Lý Thái Tổ, ở Văn Xá, huyện Thanh Liêm có ông Cao Phúc kết hôn với bà Từ Thị Lang ở Văn Xá, huyện Nam Xang Hai ông bà tuổi cao mà vẫn chưa có con [54] Trong ông Cụt ông Dài ở Yên Thành cũng nói về hai vợ chồng già mà chưa có người nối dõi [11]

Những người đàn bà này thường tình cờ thụ thai với rắn hoặc nhặt được trứng rắn đem về nhà Bà Tăng Má trong một lần đi cắt cỏ về, thấy nóng bức, bà xuống sông tắm, trong lúc tắm bà thấy một con rắn nổi lên bên cạnh bà, từ đó bà thấy mỏi mệt bụng ngày một to ra Còn người đàn bà trong sự tích Ghềnh Bợ trong lúc đi làm cỏ dâu đã ướm vào một bước chân to kỳ lạ, ít ngày sau bà cũng thụ thai Trong ông Cụt ông Dài − Nghệ An thì lại kể như sau: Ngày xưa ở vùng Quan Hóa (Yên Thành) có gia đình họ Nhữ, hai ông bà đã già mà không có người nối dõi, hai ông bà buồn lắm Bỗng một hôm bà nằm mơ thấy một người to lớn khác thường vào cõng bà xuống âm ty để đỡ đẻ cho vợ Diêm Vương Nào ngờ từ đó bà mang thai Mười hai tháng qua, bà sinh ra hai cái trứng [11 ,tr.115] Ở Nam Đàn – Nghệ An, chúng tôi cũng sưu tầm được một truyện cũng có nội dung tương tự, đó là truyện kể về một gia đình ở Nộn Liễn cũng già cả mà chưa có con, bà vợ trong một lần đi mò cua bắt ốc bị một cơn sóng lớn phủ lên người và sau ba năm bà sinh được một cái trứng, trứng nở ra một đôi rắn, một xanh một đỏ [11,tr.117] Trong truyện đình làng Văn Xá thì người đàn bà tình

cờ vớt được hai quả trứng trắng ở ngoài sông

Ở Thanh Hóa, chúng tôi cũng thấy lưu truyền một truyền thuyết trong đó cũng nói về việc người đàn bà nhặt trứng rắn đó là truyền thuyết về suối Ngọc nhưng nội dung truyện này đã có sự pha trộn của nhiều kiểu truyện, truyện kể rằng: Ngày xửa, ngày xưa, nơi bản Ngọc thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán quanh năm, người dân túng đói vô ngần Một hôm, có hai vợ chồng trong bản hiếm muộn con đi làm đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù lạ Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc thả xuống nước, nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên người ấy lại thấy quả trứng đang trên tay mình Hai vợ chồng quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà đang ấp, quả trứng nở ra một con rắn Sợ quá, người chồng đem con rắn ra suối Ngọc thả, nhưng cứ đến tối con rắn lại về

ở với gia đình này Sau đó họ đã để con rắn ở lại sinh sống với mọi người Lạ thay, từ đó đồng ruộng của bản đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no ấm, hạnh phúc Chàng rắn ấy trở thành vị cứu tinh của bản nên được mọi người hết lòng tôn kính Rồi một hôm định mệnh, trời nổi cơn giông, sấm chớp đùng đùng Sau cơn giông, dân bản thấy xác chàng rắn

Trang 28

nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc Thương tiếc chàng rắn, dân bản chôn cất chàng bên chân núi, lập đền thờ gọi là Ngọc Từ Trong một buổi tế lễ, đồng bào bản Ngọc được thần báo mộng chàng rắn chết là do quyết chiến với thuỷ quái để bảo vệ dân bản Sau này chàng rắn được phong thần gọi là: Tứ Phủ Long Vương Từ đó, ở suối Ngọc bên chân núi Trường Sinh xuất hiện đàn cá thần hàng nghìn con luôn quây quần chầu trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn [52 ]

Ở truyện trên ta thấy rằng người đàn bà trong truyện cũng nhặt được trứng rắn giống như kiểu truyện chúng ta đang tìm hiểu nhưng số lượng ở đây chỉ là một quả Và quả trứng lại nở ra một con rắn Điểm đáng chú ý thứ hai là nhân vật rắn ở đây tuy mang hình hài rắn nhưng không được gọi với cái tên là ông Cộc ông Dài hay đơn giản là thần rắn mà lại được gọi là chàng rắn giống như nhân vật người rắn trong truyện kể của các dân tộc ít người Điểm đáng chú ý thứ ba là nhân vật chàng rắn không chỉ làm mưa, cung cấp nước cho ruộng đồng của dân bản mà còn ra tay tiêu diệt thủy quái bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân bản

Trở lại với nhóm truyện ông Cộc ông Dài, ở đây ta thấy sự xuất hiện của motip “Sự ra đời thần kỳ” ở truyện Bà Tăng Má(1), Sự tích Ghềnh Bợ(2), sự tích ông Cụt ông Dài – Yên Thành, Nghệ An(3), sự tích ông Cụt ông Dài – Nam Đàn, Nghệ An(4) Ở bốn truyện này những người đàn bà đều gián tiếp mang thai với rắn (không phải nhặt được trứng rắn), sau

đó đẻ ra những quả trứng rắn Những đứa con rắn ra đời là kết quả của thần rắn − tượng trưng cho nước với một người đàn bà hiếm muộn, nghèo khổ Giải thích về hiện tượng này,

có người cho rằng đó là do quan niệm hồn nhiên của con người về nguyên nhân mang thai và sinh nở Nhưng theo chúng tôi, ngoài ý nghĩa đó việc thụ thai với rắn còn cho thấy ước mơ

“cầu thân” của con người với rắn Họ dường như muốn rắn − một vị thần có vai trò lớn lao trong đời sống của mình trở thành người bà con họ hàng Bởi vì khi đã trở thành “người một

nhà” thì có lẽ sẽ “hiểu nhau” hơn Đây cũng chính là ý niệm theo tinh thần “tôtem” của dân

tộc Việt Nam khi vua hùng thứ nhất khuyên thần dân của mình xăm hình giao long trên cánh tay để thuồng luồng nhận là họ hàng mà không làm hại

(1) Truyện kể về một người đàn bà nghèo khổ trong một lần xuống sông tắm thấy rắn nổi lên bên cạnh Sau đó bà mang thai và đẻ

ra ba quả trứng, trứng nở thành ba con rắn Sau khi một con rắn chẳng may bị bà cuốc đứt đuôi, sợ dân làng dị nghị bà đem thả cả

ba con rắn xuống sông

Trang 29

(2) Truyện kể về một người đàn bà góa chồng có thai và sinh ra ba con rắn vì ướm chân vào một bước chân to Trong một lần, bà

sơ ý làm đứt đuôi con rắn út, cả ba con rắn đã bỏ đến sống ở các khúc sông

(3) Truyện kể về gia đình họ Nhữ đã già nhưng chưa có con Bà Nhữ nằm mơ đỡ đẻ cho vợ Diêm Vương Sau đó bà có thai và sinh ra hai cái trứng, trứng nở thành hai con rắn Ông Nhữ trong một lúc tức giận đã chắn đứt đuôi một con rắn Hai con rắn tức giận bỏ đi Khi bà mẹ quy tiên chúng mới về chịu tang

(4) Truyện kể về hai vợ chồng già nhưng chưa có con Bà vợ đi mò cua bắt ốc bị sóng lớn phủ lên người Từ đó bà mang thai và sinh ra một cái trứng, trứng nở ra đôi rắn, một xanh một đỏ Cả hai đều có mào đỏ trên đầu Một hôm, người cha không may chắn đứt đuôi con rắn xanh Sau tai nạn đó, sóng thần nổi lên đưa hai con rắn ra sông Lam

Dù với cách khác nhau (có thai với rắn hoặc nhặt trứng rắn) nhưng những người đàn

bà được nhắc đến ở trên đều trở thành bà mẹ “bất đắc dĩ ”có những đứa con là rắn sau khi những đứa con “không như mong đợi” đã ra đời sau những tháng ngày đằng đẵng

Những quả trứng kì lạ, tình cờ nhặt được của bà Thị Lang ở Văn Xá, của người đàn bà

họ Nhữ ở Yên Thành đều nở ra những con rắn Bà Tăng Má sau một thời gian dài mang thai sinh ra 3 quả trứng, nở thành 3 con rắn Người đàn bà trong sự tích Ghềnh Bợ cũng sinh được 3 con rắn Và sau ba năm mang thai người đàn bà ở Nộn Liễn – Nam Đàn cũng sinh được một cái trứng, trứng nở ra một đôi rắn, một xanh một đỏ

Chính vì có những đứa con là rắn nên những người đàn bà đều bị mọi người sợ hãi, xa lánh Tuy nhiên những người mẹ “bất đắc dĩ” cho dù có phần sợ hãi nhưng tất cả đều không

xa lánh những đứa con của mình bởi vì bên cạnh bản năng làm mẹ, họ cũng xem đó như việc

“trời đã bắt” Đáp lại tình thương của những người mẹ, những đứa con rắn này cũng luôn quấn quýt bên cha mẹ mình Và chi tiết thứ hai cũng thường được nhắc đến trong kiểu truyện này đó là việc các bà mẹ hoặc ông bố làm cụt đuôi của một con rắn Chính vì những đứa con

là rắn luôn gần gũi bên mẹ hoặc bố nên họ đi đâu chúng cũng đi theo Và trong một lần cuốc đất, các bà mẹ hoặc ông bố đều đã vô ý bổ lưỡi cuốc làm đứt mất khúc đuôi của một con rắn

Vì vậy mà con cụt đuôi được gọi với cái tên thân mật là ông Cộc hoặc ông Cụt, còn con không bị cụt đuôi được gọi là ông Dài Sau tai nạn mà bà mẹ hoặc ông bố của chúng gây ra thì những con rắn kêu khóc rồi bỏ nhà hoặc được đưa đến định cư trên những khúc sông Và cũng từ đó, những con rắn trở thành hà bá của những khúc sông

Bà Tăng Má đưa con ra 3 khúc sông Đà, đó là: La Phù, Trung Hà, Bà Triệu Ba con rắn của người đàn bà Ghềnh Bợ sợ hãi bỏ đi, một đứa quay về rồi chết, hai đứa còn lại ra sống ở ghềnh Bà Triệu và ghềnh Bợ Trong sự tích ông Cụt ông Dài ở Nam Đàn thì sau khi con rắn xanh bị người cha vô tình làm đứt đuôi thì mây đen sập xuống, sóng thần nổi lên đưa

Trang 30

hai con rắn ra sông Lam Con đỏ chạy lên bàu Ó (Thanh Chương), con xanh xuống bàu Đỗ Lâm (Hưng Nguyên) Sự tích ông Cụt ông Dài ở Yên Thành lại không biết hai con rắn đi đâu sau tai nạn mà người cha gây ra cho chúng, người ta chỉ đoán chúng xuống ở bàu Canh, bàu Dậu – Diễn Châu và thường làm mưa to gió lớn mỗi khi về cúng giỗ mẹ Trong truyền thuyết đình làng Văn Xá không có chi tiết một con rắn bị cụt đuôi mà truyện lại kể rằng: Một năm

ở Thanh Liêm trời làm dịch bệnh, hai ông Câu Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu rồi đi mất

Có một chi tiết mang tính khuôn mẫu luôn xuất hiện trong kiểu truyện này đó là luôn

có một biến cố xảy ra đối với những con rắn để từ đó rắn rời khỏi cuộc sống của con người Biến cố lớn nhất, phổ biến nhất thường là việc một trong hai con rắn bị con người làm cụt đuôi Đó phải chăng là một hành động mang tính tượng trưng cho việc làm thất lễ của con người đối với thần linh? Và mưa gió, sấm chớp, ngập lụt… là biểu hiện của sự giận dữ của thần linh đối với con người ? Ở đây, ta thấy luôn có yếu tố nước xuất hiện cùng với hình tượng rắn Trứng rắn, rắn xuất hiện trên những con sông Sau khi biến cố xảy ra, rắn ra đi cùng với những trận mưa to gió lớn Và khi rắn xuất hiện trở lại cũng gắn với nước

Từ sự suy đoán trên, chúng tôi liên tưởng đến sự tích Hồ Ba Bể Trong sự tích này,

người ta cũng nói đến sự thất lễ của loài người đối với thần nước khi thần đóng giả là một người ăn mày bẩn thỉu Và kết quả của hành động thất lễ đó là một trận ngập lụt lớn cuốn trôi hết mọi thứ chỉ còn lại mẹ con người đàn bà tốt bụng đã đối xử tốt với thần nước Đôi khi sự

trừng phạt của thần linh lại được thể hiện theo hướng ngược lại Trong Sự tích đầm Mực thì

người dân vùng Thanh Đàm đã phải chịu cảnh hạn hán hơn một năm trời Thầy Chu Văn An

đã đề nghị học trò của mình, vốn là con thủy thần làm mưa giúp dân Nhưng kết quả là không chỉ có con người bị trừng phạt mà chính con trai của thủy thần – người đã trái lệnh trời làm mưa cũng phải bỏ mạng

Vai trò của nước trong đời sống quá lớn khiến cho con người luôn nhún nhường, sợ hãi

Và để cho thần rắn nguôi giận cũng như không dâng nước hay làm đại hạn, dân làng đã lập những đền thờ bên sông để cúng thờ thần rắn

Ngoài nguyên nhân trên, trong một số truyện của nhóm này nói về việc thờ cúng thần rắn là do thần rắn có công giúp dân làng như trong truyền thuyết đình Văn Xá, hai anh em Câu Mang đã hiện thân nằm ngang khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy

Trang 31

Ở đền Tranh - Hải Dương, chúng tôi cũng thu được một truyện nói về ông Cộc ông Dài Tuy nhiên người thất lễ và có tội không phải là người dân mà lại là ông Cụt Rắn Cụt tính khí dữ tợn hơn rắn Dài, hoành hành khắp vùng, có khi chúng bắt cả người, còn cướp súc vật là chuyện thường xảy ra Ghe thuyền qua lại trên khúc sông, thường bị ông Cụt nổi sóng

dữ tợn làm cho đắm Cha mẹ nuôi ông Dài, ông Cụt thỉnh thoảng lại phải ra bờ sông van lơn xin con nuôi đừng làm hại người ta Tuy nhiên, ông Cụt vẫn quấy phá đời sống của người dân Ông còn cướp cả vợ của người khác về làm vợ mình Cuối cùng, Long vương cũng biết chuyện và xử ông đi đày đến ở sông Kỳ Cùng (thuộc về Lạng Sơn) Trong truyện trên ta thấy, ông Cụt dường như bị tước đi chức năng ban đầu là thần nước Ông được người dân nhân cách hóa và gắn với chuyện đời quá nhiều Vì thế mà ông giống với hình tượng một kẻ

ác hại người nhiều hơn là hình tượng “nước dữ” trong tín ngưỡng thờ thủy thần của người dân

Nói chung việc thờ cúng thần rắn ở các cửa sông cũng dựa trên quan niệm âm dương

về thế giới xung quanh Nước cũng được nhìn theo hai trạng thái Nước sinh lợi làm cho cuộc sống của con người bình yên, ấm no hạnh phúc nên con người thờ cúng thần để cảm ơn

và cầu xin cuộc sống của họ luôn được tốt đẹp Tuy nhiên, nếu nước gây thiên tai, lũ lụt hoặc hạn hán thì con người cũng cầu cúng để xin thần linh phù hộ, giúp đỡ cũng như tha thứ cho

họ nếu như họ chẳng may thất lễ với thần linh

Có thể đưa ra sơ đồ kết cấu chung cho kiểu truyện này:

Những người đàn bà có thai với rắn hoặc nhặt được trứng rắn

Trứng nở ra những con rắn

Rắn bị làm cụt đuôi

Rắn trở thành Hà bá ở những khúc sông

Nhân dân lập đền thờ cúng thần rắn

Trang 32

Không chỉ xuất hiện ở Bắc bộ mà ở Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung chúng tôi

cũng thấy lưu truyền kiểu truyện này (ở Hà Tĩnh có sự tích đền Tam Lang, ở vùng Thuận Hóa (nay là đất Quảng Trị, Thừa Thiên) có truyện ông Dời ông Cụt, ở Phú Yên có truyền thuyết sông Đà Rằng) Tuy nhiên số lượng truyện ở các khu vực trên không nhiều Điều đó

cho thấy rằng, kiểu truyện ông Cộc ông Dài vốn được ra đời ở khu vực Bắc bộ, theo thời gian và quá trình di cư của con người mà nó được bổ sung, thay đổi địa danh cho phù hợp với khu vực mà nó được lưu truyền

Khảo sát nhóm truyện này chúng tôi thấy truyện vừa mang màu sắc của truyện cổ tích nhưng đồng thời lại có bóng dáng của truyền thuyết

Truyện mang màu sắc cổ tích ở chỗ tồn tại motip sự thụ thai kỳ lạ giữa người và rắn Trong truyền thuyết cũng có motip sự ra đời kỳ lạ nhưng chủ yếu là do nhân vật lịch sử được

hư cấu Ở đây motip sự ra đời kỳ lạ lại đóng vai trò chính yếu trong việc hình thành cốt truyện Nó có một ý nghĩa sâu xa trong tín ngưỡng thờ nước của dân tộc

Cũng như đã tìm hiểu, ta thấy rắn là con vật đặc biệt, có rất nhiều biến thể và mang

nhiều ý nghĩa Và một trong những ý nghĩa khá nổi bật được gắn với rắn đó là nó được coi là biểu tượng của tính lưỡng trị giới tính biểu lộ ở chỗ nó vừa là tử cung, vừa là dương vật

[10,tr.769] Nói về nguyên nhân tồn tại ý nghĩa này của biểu tượng, tác giả Nguyễn Việt

Hương trong bài viết “tục thờ nước của các cư dân ven sông Hồng” cũng đã khẳng định: nét

ý nghĩa này của rắn một phần xuất phát từ chính hình thể của chúng nhưng phần khác, do vai trò đem lại sự sống của hình tượng Con rắn huyền thoại tạo nên sự sinh sôi nảy nở đã khiến

nó được hình dung thành một linga của trời cắm sâu vào lòng đất (cầu vồng) Sự giao hợp thiêng liêng này bao giờ cũng đi kèm với những cơn mưa, nguồn tinh quý báu khởi đầu sự sống Lớp ý nghĩa này đã đồng nhất rắn = dương vật = nước mà sự chuyển hoá vai trò thì không thể lúc nàocũng phân biệt rõ ràng được [67]

Không chỉ được đồng nhất với dương vật, rắn còn là hiện thân của nhục dục, tức là hiện thân của nguồn năng lực sinh sản Trong đạo Mật tông: đấy là Kundalini, cuộn khúc ở chân cột sống, trên luân xa của trạng thái ngủ, nó dùng miệng mà ngậm bít lấy đầu dương vật lại Khi thức dậy, rắn rít lên và cứng người lại, liên tiếp leo lên các luân xa: đấy là dục năng

dâng lên, là sự sống tái hiện [10,tr.763] Từ đấy có thể thấy “hiện tượng rắn phối ngẫu với

Trang 33

người không phải chỉ riêng gặp trong huyền thoại người Việt mà đó là hiện tượng mang tính đồng nguyên văn hoá”[67]

Ngoài yếu tố sự thụ thai kỳ lạ mang màu sắc thần kỳ của truyện cổ tích, truyện còn

mang cả màu sắc của truyền thuyết, ở chỗ tất cả các truyện được nêu ra đều giải thích cho một số địa danh có thật ở khu vực đồng bằng Bắc bộ Mỗi địa danh ấy lại gắn với việc giải thích tục thờ cúng thủy thần rắn ở các khúc sông chảy qua địa danh ấy

Tóm lại nhóm truyện ông Cộc ông Dài là một cái nhìn khái quát và mộc mạc của người bình dân về hình tượng rắn thông qua sự tồn tại hai trạng thái của nước Hình tượng ông Dài gắn với trạng thái của nước hiền và hình tượng ông Cụt gắn với trạng thái của nước

Những người đàn bà ở nhóm truyện này cũng tình cờ đi tắm và mang thai với rắn

nhưng điểm khác của nhóm truyện này so với nhóm truyện ông Cộc ông Dài đó là nếu như những người đàn bà ở nhóm truyện ông Cộc ông Dài là những người cô độc, nghèo khổ thì những người đàn bà ở nhóm truyện anh hùng rắn thường là những người phụ nữ có nhan

sắc, thuộc dòng dõi quý tộc (Nói “thường là” bởi vì trong nhóm truyện này có truyền thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng) nhân vật nữ không thuộc dòng dõi quý tộc) Những người phụ nữ này sau khi phát hiện có thai với rắn đều xem đó là việc tốt, thuận ý trời

Trong truyện ông Lỗ ông Minh thì nàng Quốc Hoa là vợ một danh tướng của Hùng Triều Vào một ngày hè nóng bức, khi đang cùng mấy nàng hầu tắm ở hành cung, một con giao long dài 10 trượng, đầu đội mũ hoa, mình có vẩy ngũ sắc, diễu chung quanh Quốc Hoa

Từ đó nàng thụ thai[16,tr.127] Trong truyện Linh Lang Đại Vương thì lại kể rằng: Linh

Trang 34

Lang là hoàng tử con vua, mẹ là một cung nữ, trong một lần ra tắm ở hồ thì bị rắn cuốn chặt

vào người, và từ đấy thì bà cũng có thai [35,tr.37 − 38] Trong truyện Nàng công chúa đời Trần thì phu nhân nhà bộ chúa Lý Nghi cũng đang tắm trên một hồ nhỏ thì thấy nước hồ

rung động, một con rắn trắng nổi lên vây phủ quanh thân thể phu nhân, sau đó nàng có thai

[16,tr.40] Truyện hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc Lương cũng nói về việc bà vợ của

quan lang Hoa Liên ở huyện Đông Ngàn (Từ Sơn ngày nay) trong một lần ra sông Hồng tắm

bị giao long quấn, rồi sinh ra hai người con [49,tr.171] Người đàn bà làm nghề câu tôm

trong truyền thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng) khi ngủ đã mơ thấy một con rắn

trắng quấn quanh người Việc đó lập lại hai lần và sau đó bà bỗng thấy mình có thai [58]

Cũng lấy ý tưởng người đàn bà thụ thai với rắn nhưng ta thấy ở đây hình tượng rắn đã được nâng lên ở cấp độ cao hơn Rắn không chỉ là kết quả của những cuộc hợp giao với người bình dân mà đã chuyển dần lên tầng lớp của những người quý tộc Điều này đã cho ta một suy đoán rằng hình tượng rắn xuất phát từ cuộc sống của người bình dân đang dần gia nhập vào cuộc sống của những bậc vua chúa, tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việc nâng cấp “địa vị” của hình tượng rắn chắc rằng đã được thực hiện thông qua bàn tay của tầng lớp thượng lưu Với trình độ nhận thức cao hơn, họ đã biến một sản phẩm tinh thần của tầng lớp bình dân thành sản phẩm tinh thần của tầng lớp mình Điều này được thể hiện rất rõ trong nguồn gốc xuất thân cũng như hành động của các nhân vật được nhắc đến trong nhóm truyện thứ hai so với nhóm truyện thứ nhất

Từ ý nghĩa đó mà chúng ta thấy rằng cũng thật dễ hiểu khi kết quả của những bào thai không còn là hình hài rắn “thô sơ” như trong thực tế cuộc sống mà hình tượng rắn đã được hóa vào hình tượng những người anh hùng có công với đất nước Vì vậy mà những cuộc sinh

nở của những người đàn bà thuộc nhóm truyện này thường chấn động trời đất và những đứa con họ sinh ra cũng là những bậc kỳ tài trong thiên hạ Chính vì những đặc điểm đó mà

chúng tôi gọi nhóm truyện thứ hai là nhóm truyện anh hùng rắn

Trong ông Lỗ ông Minh, bọc trứng của bà Quốc Hoa nở ra hai người con trai có tướng mạo kỳ quái: đầu rồng mình rắn, tiếng như tiếng chuông, mắt đen như sắt Khi lớn lên, mình cao 8 thước, sức địch muôn người, hiện ra hình dáng rồng rắn, xuất thánh nhập thần vô cùng biến hóa Linh Lang đại Vương lúc sinh ra trên mình có 28 vết hằn tựa như vẩy rồng và trên ngực có 7 hàng chấm óng ánh như ngọc Còn công chúa con của vợ bộ quan Lý Nghi với rắn

Trang 35

trắng thì có: dung mạo phương phi, dáng hình yểu điệu, môi hồng má phấn, mắt phượng mày rồng Nét khiến chim sa cá lặn, dáng nguyệt thẹn hoa nhường, đều đúng là thần thánh trên cõi đời…Hai người con trai của vị quan lang Hoa Liên lại được: sinh ra trong một cái bọc Trai lớn tay trái có ba cái lông xanh, trên lưng có hai hàng vảy hoa văn, ở bụng có hàng chữ Tây Hải Á hầu Đại tướng Người em thì có hàng chữ Tây Hải Cao Sơn Đại tướng…Đến khi trưởng thành cả hai đều rất tinh tường văn võ [50,tr.171] Người đàn bà ở Phả Lễ sinh hạ được hai cậu bé trắng trẻo xinh trai nhưng trên người có vẩy như vẩy rắn Lớn lên hai chàng trai trở thành hai người đánh cá rất giỏi, bơi lội trên sông trên lạch cũng rất tài Họ thường cứu giúp các thuyền gặp nạn nên dân trong vùng mới đặt tên là Phổ Hộ, Phổ Độ với ý nghĩa

là phù giúp, cứuđộ

Sự thụ thai cùng với sự ra đời của những hình dáng kỳ lạ đã cho chúng ta sự chuẩn bị trong tư tưởng Bởi vì chắc chắn những con người sinh ra không bình thường là để chuẩn bị cho những công việc, sứ mệnh thiêng liêng mà họ đã được giao phó từ trước

Hai con trai của nàng Quế Hoa được vua Hùng Duệ Vương giao cho trấn thủ vùng sông Nhị Hà và Ngưu Giang Hai ông đã chỉ huy thủy quân cùng với Sơn thánh chiến thắng cuộc xâm lược của Thục Vương Hoàng tử Linh Lang dùng quân tượng để đi đánh giặc Ông dùng lá cờ đỏ lệnh cho voi, cờ phất đến đâu giặc tan đến đó Còn nàng Ngọc đã được thiên đình giao cho trấn nhậm nhân dân và lãnh thổ nơi nàng sinh ra Nàng cũng phò trợ vua Trần Anh Tông dẹp giặc Nguyên Hai anh em nhà họ Hoàng được vua yêu mến và ban cho ấn kiếm làm tướng chỉ huy mười vạn tinh binh đi diệt giặc Lương Khi quân ta thắng lớn trở về

họ lại được vua ban thưởng trọng hậu Khi Trần Hưng Đạo mở trận thuỷ chiến ở cửa sông Bạch Đằng, hai chàng Phổ Độ và Hổ Độ đã đầu quân làm lính của Hưng Đạo Đại Vương, chuyên nhận đóng cọc trên sông và lặn dưới nước dò la thuyền giặc

Có một nét khá tương đồng giữa nhóm truyện anh hùng rắn so với nhóm truyện ông Cộc ông Dài đó là những con rắn ở nhóm truyện ông Cộc ông Dài sau khi ra đời đã trở về

trấn giữ những khúc sông, còn những người anh hùng rắn sau khi hoàn thành sứ mệnh thường hóa thành rắn hoặc thác trên sông, trở về với “thủy phủ”

Ông Lỗ ông Minh sau khi chiến thắng Thục Vương cũng hóa thành 2 con rắn dài hơn

10 trượng và biến mất Linh Lang sau khi dẹp xong giặc đã hóa thành giao long chui xuồng

hồ biến mất Hiển công thần trên đường dẹp giặc trở về cũng hóa rắn khi trời nổi gió mưa

Trang 36

sấm sét Trong truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát cũng kể về người anh hùng sinh

ra từ bọc trứng với các tình tiết thần kỳ Bà mẹ nằm mộng ra sông Lục Đầu tắm gặp thần Long quấn quanh mình rồi có thai sinh ra bọc 5 trứng, nở ra thành 4 trai 1 gái Đặt tên là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Đạm Nương Trương Hống và Trương Hát đã lập chiến công phi thường, đánh thắng quỷ và giúp Triệu Quang Phục phá giặc Lương Trương Hống, Trương Hát cũng hóa rắn sau khi hiển linh phù trợ Lý Thường Kiệt phá quân Tống

Với kết thúc tương đối giống nhau, ta thấy rằng đã có hai lớp nghĩa chồng lên nhau ở

nhóm truyện anh hùng rắn Ngoài lớp nghĩa thứ nhất chúng ta đã tìm hiểu ở nhóm truyện ông Cộc ông Dài thì ở nhóm truyện anh hùng rắn đã chồng thêm một lớp nghĩa ca ngợi

những vị anh hùng dẹp giặc cứu nước Chính vì sự cộng gộp của hai lớp nghĩa này mà ta thấy những vị anh hùng thường xuất thân từ rắn và trở về với rắn Rắn ngoài nhiệm vụ bảo

vệ sông nước bây giờ còn được giao nhiệm vụ đánh giặc

Qua việc hình thành một lớp nghĩa mới trên nền lớp nghĩa cổ, những truyền thuyết này giúp ta đi đến khẳng định rằng: những truyền thuyết này đã xuất hiện vào thời kỳ sau, khi mà đất nước bị xâm lăng Nhằm đáp ứng với nhu cầu thực tế đồng thời nhằm huyền thoại hóa nguồn gốc xuất thân của những vị anh hùng, các tác giả dân gian đã “làm mới” những truyện kể của mình bằng việc chồng lên một lớp nghĩa mới của lịch sử

Từ nhận định trên, chúng tôi đưa ra sơ đồ kết cấu chung cho kiểu truyện này:

Người đàn bà (thường xuất thân từ tầng lớp thượng lưu) thụ thai với rắn

Người đàn bà sinh ra những người con có hình dáng bên ngoài mang

dấu vết của rắn, tất cả đều có khả năng tài giỏi, đặc biệt

Những người con tham gia giết giặc hoặc phò vua đánh giặc

Sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về với sông nước

Được nhân dân sắc phong thủy thần và thờ cúng hằng năm

Trang 37

Ngoài hai kiểu truyện độc lập mà chúng ta vừa tìm hiểu thì trong quá trình khảo sát chúng tôi cũng thấy một số truyện mà nội dung của nó có sự pha trộn của cả hai kiểu truyện

trên Ví như trường hợp truyện Long thần của Nghệ An [36,tr.195] Đọc truyện ta thấy người

đàn bà cũng đi tắm ở suối và sau 3 năm có thai và sinh ra một bọc có 2 quả trứng Và bà cũng sợ hãi khi trứng nở ra rắn và giao long Một trong hai người con của bà cũng bị bố lỡ tay chém cụt đuôi Hai anh em cũng bỏ đi đến làm long thần ở con sông gần đó, nhân dân lập đền thờ cúng Đến đây thì truyện không khác gì nhóm truyện ông Cộc ông Dài mà chúng ta

đã tìm hiểu Tuy nhiên truyện vẫn chưa kết thúc ở đó Truyện còn kể thêm rằng: sau khi vua Thái Tông nhà Lý đi đánh giặc Chiêm Thành qua linh miếu này thần đã giúp vua đánh tan quân giặc chỉ trong một trận Khải hoàn trở về nhà vua đã sắc phong là thủy đẳng tối linh thần đại vương Ở phần nội dung còn lại này, ta lại thấy truyện giống những truyện ở nhóm truyện thứ hai Trong những truyện kiểu này thì nội dung thứ hai thường đậm nét hơn

Trong truyền thuyết đền Lãnh Giang − Hà Nam ta cũng thấy có sự pha trộn nội dung tương tự: người đàn bà trong truyền thuyết này là một người bình dân trong một lần đi tắm sông cũng bị thuồng luồng cuốn và thụ thai Bà cũng sinh ra một bọc trứng, trứng nở thành 3 con rắn và 3 con rắn cũng trở về 3 nơi: Đào Động, Thanh Do, Hoa Giám Nhân dân sợ hãi cũng xin lập đền thờ thần Và khi Thục Phán có ý định cướp ngôi vua Duệ Vương Người anh cả có tên là Vĩnh đã bỏ lốt, bái biệt mẹ lên đường giúp vua dẹp giặc Sau khi thắng trận ông Vĩnh được vua phong là Nhạc phủ Ngư thượng đẳng thần nhưng ông không nhận, xin về quê và hóa thân trong trận mưa gió Nhà vua gia phong cho ông là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ứng Thái thượng đẳng thần Giải thích về hiện tượng này các nhà nghiên cứu đã cho rằng đây là quá trình truyền thuyết hóa thần thoại Các thần thoại ban đầu kể về những hiện tượng tự nhiên nhằm giải thích nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc loài người và mơ ước sống hòa hợp với tự nhiên Nhưng về sau thần thoại trở nên gần gũi với cuộc sống của người dân hơn, thần thoại được truyền thuyết hóa rất mạnh mẽ, không còn giữ được nguyên dạng ban đầu Theo tác giả Nguyễn Huy Bỉnh thì: Rất nhiều các vị thần trong thần thoại đã đi vào truyền thuyết với tư cách là những nhân vật lịch sử, trở thành tổ tiên của dân tộc hoặc cũng

có thể là những vị tướng lĩnh chống giặc, những anh hùng sáng tạo văn hóa… Các truyền

Trang 38

thuyết này biểu hiện sự biến chuyển từ tư duy huyền thoại đến tư duy tôn giáo, từ thần thoại đến truyền thuyết Điều này do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là việc ghi chép lại thần tích của các triều đại, dẫn đến việc lịch sử hoá các vị thần tự nhiên thành những nhân vật lịch sử, hoặc gắn với các nhân vật lịch sử những bản tính của thần Khi đã được truyền thuyết hóa thì các nhân vật thần thoại trở nên có một lý lịch rõ ràng hơn, mang đậm dấu ấn của truyền thuyết, thường có dạng kết cấu: Sinh nở thần kỳ, chiến công phi thường và hóa thân kỳ ảo [3,tr 90 - 104]

Cũng chính vì những nguyên nhân đó cũng như ở nhóm truyện thứ hai, ở nhóm truyện thứ ba người dân cũng có thao tác “làm mới” những truyện cũ bằng cách ghép thêm một nội dung mới vào những câu chuyện cũ Ở nhóm truyện này, phần đầu thường được giữ nguyên như những truyện ở nhóm thứ nhất chỉ khác ở phần sau khi các nhân vật rắn trở về các con sông, họ thường hiển linh giúp vua giết giặc

Qua việc phân tích và tìm hiểu những nhóm truyện trong nội dung linh thiêng hóa rắn, chúng ta thấy rằng với lớp nghĩa cổ ban đầu của hình tượng rắn với ý nghĩa là những vị thủy thần trên những con sông, theo thời gian lớp nghĩa này đã được chồng lên lớp nghĩa mới

Lớp nghĩa mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Những vị anh hùng với nguồn gốc được linh thiêng hóa nhằm tôn thêm sự kỳ vĩ thần thánh chiến công mà họ đạt được, đáp ứng mơ ước của cộng đồng Tuy nhiên qua qúa trình tìm hiểu, phân tích, chúng ta vẫn nhận ra được lớp nghĩa cổ xưa nhất của hình tượng rắn (tượng trưng cho thủy thần) dưới lớp nghĩa mới (ca ngợi những vị anh hùng có công với đất nước) đang cùng tồn tại Qua đó cho thấy tác giả dân gian vừa linh động nhưng cũng khá cẩn trọng trong những sáng tác của mình

Qua các kiểu truyện rắn chúng ta vừa tìm hiểu, chúng ta cũng thấy nổi lên một vấn đề khác trong việc thờ cúng các vị thần linh ở Bắc bộ Ta thấy có hai dạng nhân vật thần tự nhiên: Một là những nhân vật có nguồn gốc tự nhiên, hai là những nhân vật có nguồn gốc nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa Thần có nguồn gốc tự nhiên là kết quả của quá trình sùng bái

và tôn thờ các yếu tố tự nhiên liên quan đến đời sống nông nghiệp như: thần đất, thần nước, thần mưa…Tuy nhiên theo thời gian các vị thần tự nhiên này đã bị lịch sử hóa trở thành các

vị thần nửa tự nhiên nửa lịch sử Tác giả Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người, đất Việt

cũng đã tìm hiểu rất kĩ về hiện tượng này và ông cũng khẳng định nguồn gốc ban đầu của

Trang 39

các nhân vật nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa đều là các vị thần tự nhiên, càng về sau này trải qua nhiều triều đại, các lớp văn hoá mới được bồi đắp và phát triển lên làm cho các vị thần

tự nhiên mang dáng dấp các vị nhân thần, như trường hợp của hai thần Trương Hống và Trương Hát Quá trình nhân hóa các vị thần tự nhiên là dấu tích của sự vận động trong việc hình thành hệ nhân thần, đó là biểu hiện của sự tự khám phá và ý thức về mình của con người

Cũng nằm trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên “ những con rắn hoặc còn nguyên vẹn dạng rắn với một vài điểm dị hình, hoặc biến thành cái tên truyền kì “con giải”, “con thuồng luồng” có tác động nhiều nhất vào mối tin tưởng của người dân”[47,tr.53] Do đó

sự xuất hiện cả hai dạng nhiên thần trong hình tượng rắn là một kết quả tất yếu ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ

2.2 Hình tượng rắn trong nhóm truyền thuyết người anh hùng diệt rắn ác

Bên cạnh việc sùng bái tự nhiên như những vị thần thì con người giờ đây cũng thấy rằng ý muốn của họ dường như không được tự nhiên đáp ứng Dù họ vẫn cầu cúng thường xuyên nhưng thiên nhiên vẫn cứ khắc nghiệt Chính vì lẽ đó mà trong suy nghĩ của con người thời bấy giờ luôn tồn tại hai luồng tư tưởng song song Thứ nhất là sợ sệt, sùng bái tự nhiên Thứ hai lại muốn thống trị, chinh phục tự nhiên khắc nghiệt Cũng vì thế mà bên cạnh hình tượng con rắn hiền lành, con rắn ác hại người cũng xuất hiện

Những con rắn bây giờ không còn hiền lành quẩn quanh chân những ông bố, bà mẹ

Nó thường tác oai tác quái, mỗi lẫn nó xuất hiện thì không chỉ “nhà tan cửa nát” mà còn làm thiệt hại cả mạng người Trước sự tàn phá của rắn ác, con người đứng ra quyết tâm tiêu diệt rắn ác, giành lại cuộc sống bình yên cho cộng đồng Cho dù trong cuộc chiến không cân sức

ấy, đôi khi con người phải bỏ mạng

Trong nhóm truyện có nội dung như trên, chúng tôi đã tuyển chọn được 6 truyện, đó là

các truyện: Đầm Muối, sự tích hang thuồng luồng, sự tích đền Đỗ Lâm, sự tích suối rắn, truyền thuyết đền Cáu (Bắc Ninh) và truyền thuyết làng Lệ Mật

Trong nhóm truyện này, chúng ta thấy luôn có sự xuất hiện của hình tượng rắn ác bên cạnh người anh hùng diệt rắn

Trong sự tích suối Rắn người ta kể rằng: Trong đoạn suối thuộc xã Hòa Lạc, thuộc

Lạng Sơn có một cái vực sâu chứa nhiều giao long Hành khách qua lại thường bị giao long

Trang 40

hãm hại, cho nên người ta gọi đó là “suối rắn” Một trong những nạn nhân của nó là người con gái của một người làm nghề đánh cá Người đàn ông làm nghề đánh cá này chỉ có một đứa con nên ông thường mang con đi đánh cá cùng với mình, chẳng may con ông đã bị giao long bắt mất Quá căm phẫn trước cái chết của con và sự tàn ác của giao long, ông quyết tâm đứng ra giết giao long trả thù cho con

Trong Đền Muối kể lại rằng: Khúc sông Khê Đầu Thượng thuộc Hoa Lư là nơi đông

vui sầm uất nay đã trở nên hoang vắng đến ghê sợ vì có một con giải quái ác chuyên ăn thịt người Dân làng vì sợ con giải, lập đền thờ nó nhưng nó vẫn không đi Trước tình hình đó, có một ông lão bán muối nghèo khổ, góa vợ đã tình nguyện đi trừ con giải

Điều đáng chú ý đầu tiên ở đây là hình tượng người anh hùng diệt rắn ác Nếu như ở nhóm truyện thứ hai thuộc nội dung thứ nhất ta thường thấy những vị anh hùng được tô vẽ, được thần thánh hóa về nguồn gốc xuất thân khi họ thoát thai từ rắn, nhập vào rắn và luôn mang trong mình một sức mạnh siêu nhiên, thì những người anh hùng ở nhóm truyện này lại luôn là những người bình dân yếu ớt được đặt ở thế đối lập với rắn Họ thường là người thân của những người bị hại, đau xót trước cái chết của người thân, đồng loại mà ra tay giết rắn cứu cộng đồng Họ lấy lòng căm thù cộng với lòng dũng cảm để làm động lực trong cuộc chiến đấu không cân sức của mình

Trong Sự tích suối Rắn người anh hùng là một người làm nghề đánh cá, trong Truyền thuyết làng Lệ Mật thì người anh hùng lại là một chàng trai họ Hoàng thuộc làng Lệ Mật

Đôi khi người anh hùng lại là một người tuổi cao sức yếu như: ông lão bán muối trong

truyện Đền muối, còn trong Sự tích hang thuồng luồng, người anh hùng là một người nghèo, góa vợ có tài bắn ná ở một nơi xa được dân chúng thỉnh cầu về trừ quái vật Còn trong Sự tích đầm Đỗ Lâm, người có công tiêu diệt rắn lại là một kép hát

Nếu như những người anh hùng rắn với sức mạnh phi thường sẵn có xuất hiện với sứ

mệnh cao cả là đánh giặc hoặc giúp vua đánh giặc thì những người anh hùng nông dân chất phác trước những mất mát đột ngột xảy ra với bản thân và cộng đồng, lại không có gì khác ngoài sức mạnh của bản thân và một ý chí quyết tâm tiêu diệt rắn ác để trả thù cho người thân và cộng đồng

Trong số họ, có người quyết tâm tiêu diệt rắn xuất phát từ nỗi đau của bản thân như:

Ông lão đánh cá (trong sự tích suối rắn), trước cái chết của đứa con gái ông vô cùng đau

Ngày đăng: 11/04/2013, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w