1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn hà nội năm 2005

148 363 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại học thái nguyên Trường đại học nông lâm --- Nguyễn ngọc tân Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một

Trang 1

Đại học thái nguyên Trường đại học nông lâm

-

Nguyễn ngọc tân

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh

đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn - hà nội năm 2005

Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp

Thái nguyên - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đ−ợc cảm ơn Các thông tin tài liệu trình bày trong luận văn này đã đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Ngọc Tân

Trang 3

Lời cảm ơn

Quá trình triển khai, thực hiện đề tài, tôi nhận được sự giúp rất quý báu

của cá nhân, các cơ quan và đơn vị Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo khoa Sau Đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn PGS - TS Nguyễn Xuân Thành, Phó khoa Đất và môi trường, Trường Đại Học Nông Nghiệp I, cán bộ phòng thí nghiệm nhà trường đã tham gia góp ý, và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND huyện, Trưởng phòng KHKT&PTNT, phòng Thống kê và UBND xã Phú Cường huyện Sóc Sơn nơi tôi công tác và thực tập về các thông tin và tạo điều kiện thuận lợi về thời gian

và địa điểm cho việc triển khai đề tài

Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Lẫm, TS Hoàng Hải - Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người hướng dẫn khoa học đã giành nhiều thời gian và tâm huyết chỉ bảo tôi phương pháp và những kiến thức cần thiết trong thời gian thực tập

Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực tập !

Tác giả

Nguyễn Ngọc Tân

Trang 4

mục lục

Trang

Phần thứ nhất: Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Những đóng góp mới của đề tài 3

Phần thứ hai: Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trong nước và trên thế giới 7

2.2.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới 7

2.2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu gạo trên thế giới 7

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 14

2.2.2 Tình hình sản xuất nghiên cứu lúa trong nước 15

2.2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước và xuất khẩu 15

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng lúa trong nước 18

2.3 Vi sinh vật đất với dinh dưỡng cây trồng trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững 22

2.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ngoài nước và trong nước 30

2.4.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ngoài nước 30

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng phân bón vi sinh trong nước 34

Phần thứ ba: Đối tượng, nội dung phương pháp nghiên cứu 43

3.1 Đối tượng nghiên cứu 43

3.1.1 Giống lúa Bắc thơm số 7 43

3.1.2 Ba loại phân hữu cơ vi sinh Biogro, Đa chức năng, Sông Gianh 43

3.1.2.1 Phân hữu sinh vi sinh Đa chức năng 43

3.1.2.2 Phân hữu cơ vi sinh Biogro 43

3.1.2.3 Phân hữu cơ hữu cơ vi sinh Sông Danh 43

3.1.3 Phân khoáng: đạm Urê, Super Lân, phân Kaliclorua 44

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 44

3.2.1 Địa điểm tiến hành 44

Trang 5

3.2.2 Thời gian tiến hành 44

3.3 Nội dung phương pháp nghiên cứu 44

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 44

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 44

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 46

3.3.3.1 Thời gian sinh trưởng: tính từ khi gieo đến khi thu hoạch 46

3.3.3.2 Chiều cao cây 46

3.3.3.3 Khả năng đẻ nhánh 47

3.3.3.4 Chỉ số diện tích lá (LAI) 47

3.3.3.5 Khả năng tích luỹ vật chất khô 48

3.3.3.6 Khả năng chống chịu 48

3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất 50

3.5 Hiệu quả kinh tế 51

3.6 Phương pháp xử lý số liệu: 51

Phần thứ 4: Kết quả và thảo luận 52

4.1 Điều kiện tự nhiên ở huyện Sóc Sơn 52

4.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Sóc Sơn 54

4.3 Điều kiện thời tiết và khí hậu 56

4.3.1 Nhiệt độ 57

4.3.2 ẩm độ không khí 58

4.3.3 Lượng mưa 59

4.3.4 Số giờ nắng 59

4.4 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến thời gian sinh trưởng của lúa 59

4.5 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân bón đến chiều cao cây lúa 61

4.6 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến khả năng đẻ nhánh 63 4.7 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến chỉ số diện tích lá 67

4.8 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến khả năng tích luỹ vật chất khô (KNTLVCK) 70

Trang 6

4.9 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến khả năng chống chịu

sâu bệnh và khả năng chống đổ 73

4.10 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến các yếu một số chỉ tiêu hoá tính của đất 77

4.11 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến một số chỉ tiêu sinh tính của đất 79

4.12 ảnh hưởng của loại phân và liều lượng phân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 83

4.13 Năng suất thực thu 87

4.14 Hiệu quả kinh tế 89

Phần thứ năm Kết luận và đề nghị 93

5.1 Kết luận 93

5.2 Đề nghị 94

Trang 7

Danh môc c¸c ký hiÖu ch÷, dÊu viÕt t¾t

Trang 8

Danh mục bảng biểu

1 Bảng 2.1 Số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các nước trong năm 2007

so với số liệu xuất khẩu ước tính đạt trong năm 2006 10

2 Bảng 2.2 Sản lượng thóc ở Châu á 13

3 Bảng 2.3 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở ấn độ 31

4 Bảng 2.4 Hiệu quả sản xuất phân vi sinh vật ở Trung Quốc 31

5 Bảng 2.5 Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan 32

6 Bảng 2.6 Các loại phân vi sinh vật ở ấn Độ 32

7 Bảng 2.7 Tình hình sản xuất phân bón vi sinh vật của Trung Quốc 33

8 Bảng 2.8 Hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với lúa ở một số quốc gia châu á 33

9 Bảng 2.9 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật cố định ni tơ hội sinh đối với một số cây trồng 38

10 Bảng 2.10 Khả năng tiết kiệm đạm khoáng của phân vi sinh vật cố định nitơ 38

11 Bảng 4.1 Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và cơ cấu kinh tế của huyện Sóc Sơn 55

12 Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây lương thực tại huyện Sóc Sơn 56

13 Bảng 4.3 Diễn biến thời tiết khí hậu Thành phố Hà Nội năm 2005 58

14 Bảng 4.4 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh tới thời gian sinh trưởng 60

15 Bảng 4.5 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chiều cao cây lúa 62

16 Bảng 4.6 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến khả năng đẻ nhánh 65

17 Bảng 4.7 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chỉ số diện tích lá 68

18 Bảng 4.8 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến khả năng TLVCK 71

Trang 9

19 Bảng 4.9 ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ 75

20 Bảng 4.10 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu hoá tính trước và sau thí nghiệm 78

21 Bảng 4.11 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh tính trước và sau thí nghiệm 80

22 ảng 4.12 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất 84

23 Bảng 4.13 Đánh giá năng suất thực thu giữa các công thức 87

24 Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế 90

danh mục các biểu đồ

1 4.1 Số lượng vi sinh vật vụ xuân, mùa và trước thí nghiệm 81

Trang 10

Năm 2005, lần đầu tiên nước ta xuất khẩu gạo đạt hơn 5,2 triệu tấn, với giá bình quân mỗi tấn 267 USD, thu về hơn 1,34 tỷ USD, đây là năm đạt được cả ba chỉ tiêu: sản lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu ở mức cao nhất, kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới

Những năm gần đây xu hướng xây dựng nền nông nghiệp bền vững nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng cây trồng nhưng vẫn giữ được độ phì nhiêu của đất thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ sinh thái được coi là một biện pháp quan trọng trong sự hình thành nhanh các cân bằng sinh học trên cơ sở sử dụng cân đối giữa phân vô cơ, phân hữu cơ và phân bón vi sinh vật là nội dung quan trọng của nền nông nghiệp sinh thái bền vững, sản phẩm nông nghiệp sạch chất lượng cao

Phân hữu cơ vi sinh đã và đang góp phần tích cực vào việc xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ bền vững Trong đó phải kể đến vai trò của vi sinh vật trong việc làm tăng độ phì nhiêu của đất Ngoài việc góp phần tích cực vào các quá trình chuyển hoá các chất bền vững trong đất thành các chất dễ tiêu cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, vi sinh vật còn sinh ra nhiều chất sinh học như: các loại vitamin, các chất kích thích sinh trưởng, kháng sinh,

Trang 11

enzim…cung cấp cho cây trồng, tăng độ phì của đất và cân bằng sinh thái học trong đất

Định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2010 là nhanh chóng xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng sinh thái bền vững, nông nghiệp sạch và chất lượng cao

Sóc Sơn là huyện ngoại thành phía Bắc thủ đô Hà Nội, với dân số là 268.136 người và diện tích đất tự nhiên là 30.651,3 ha (bằng 1/3 diện tích tự nhiên của thành phố Hà Nội), trong đó diện tích đất nông nghiệp là 12.675,6

ha, chiếm 41,35% tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích lúa hai vụ hiện nay là 16.281 ha, sản xuất lúa chất lượng cao đang được quan tâm phát triển trong hệ thống cơ cấu cây trồng của toàn huyện Đất đai của huyện Sóc Sơn chủ yếu là bạc màu trên nền phù sa cổ nghèo dinh dưỡng, do vậy bón phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh có tác dụng tăng độ phì của đất là rất cần thiết

Những năm gần đây, mức sống của người dân ngày càng cao dẫn đến nhu cầu sử dụng lúa gạo, nhất là các loại gạo thơm chất lượng cao và an toàn ngày càng lớn Để có được sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, ngoài yếu

tố giống ra thì phân bón bón là một yếu tố quan trọng trong thâm canh giống lúa mới hiện nay

Xuất phát từ thực tế nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh

trưởng phát triển của giống lúa Bắc Thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở Sóc Sơn - Hà Nội năm 2005

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh tới giống lúa Bắc thơm

số 7: các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lúa, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lúa và hiệu quả kinh tế của phân bón

- Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất của đất bạc màu huyện Sóc Sơn - Hà Nội

- Xác định tỷ lệ thay thế vô cơ bằng phân hữu cơ vi sinh

Trang 12

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân hữu cơ vi sinh so với phân hoá học

1.3 Những đóng góp mới của đề tài

- Về khoa học: kết quả của đề tài góp phần vào cơ sở lý luận sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh trên đất bạc màu

- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài có tác dụng nhân rộng diện tích bón phân hữu cơ vi sinh cho cây lúa

Việc xác định mức thay thế của phân hữu cơ vi sinh đối với phân hoá học góp phần tiết kiệm đầu tư, tăng thu nhập cho người trồng lúa, mà còn

có tác dụng cải tạo đất trồng, giảm ô nhiễm môi trường do giảm lượng phân hoá học

Trang 13

Phần thứ hai

Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Nước ta, từ chỗ thiếu lương thực cho đến nay chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Để đạt được thành quả đó trong 15 năm (1981- 1995) mức độ đầu tư phân bón hoá học ở nước ta tăng liên tục khoảng 7% đối với đạm, 8% đối với lân, 10% đối với kali, mặc dù vậy vẫn không đáp ứng được nhu cầu cân bằng dinh dưỡng của đất

Theo tính toán của các nhà khoa học thì hàng năm ở nước ta nông dân đã

sử dụng trên 60 triệu tấn phân hữu cơ các loại, nhờ đó mà tăng được khoảng 3 triệu tấn thóc Mặt khác nhờ có sử dụng phân hữu cơ mà đã góp phần tăng hiệu quả sử dụng phân hóa học, làm giảm việc sử dụng phân khoáng, ngăn chặn ô nhiễm môi trường và tăng năng suất cây trồng Điều đó cho thấy phân bón hữu cơ rất quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam (Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, 1995) [1]

Nông nghiệp Việt Nam trong 20 năm qua đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, song sản xuất còn nhiều bất cập và chưa mang tính bền vững Nông phẩm hữu cơ đang là sản phẩm được nhiều người tiêu dùng ở các nước công nghiệp ưa chuộng và có tiềm năng thị trường rất lớn áp dụng việc quản lý dinh dưỡng tổng hợp cây trồng kết hợp các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và kiểm soát dịch hại, để xây dựng giải pháp tổng hợp trong chăm sóc toàn diện cây trồng sẽ tạo ra bước đột phá mới trong phát triển nông nghiệp ở nước ta Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất, phân bón vi sinh sắp tới sẽ là sản phẩm được tạo ra từ những tổ hợp vi sinh đa hoạt tính, khi đó vi sinh vật sử dụng không chỉ có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hoá dinh dưỡng, giúp cây trồng

sử dụng dinh dưỡng tốt hơn mà còn có tác dụng nâng cao độ phì, giảm thiểu

Trang 14

các yếu tố sinh học và phi sinh học đối với cây và đất trồng (Chuyến khảo sát học tập về năng suất xanh và phát triển cộng đồng, 2000) [3]

Việc áp dụng các giống cây trồng mới vào sản xuất cũng là nguyên nhân làm mất dần đi một số giống cây trồng truyền thống, làm giảm sự đa dạng sinh học và làm tăng thiệt hại bởi dịch bệnh gây hại cây trồng Trong những năm cuối của thế kỷ 20, số lượng giống lúa mới được gieo trồng chiếm 75%, các giống lúa cũ chiếm 25% ở Việt Nam, rất nhiều giống lúa địa phương bao gồm hàng trăm giống lúa đang bị thay thế bởi các giống được cải tạo và các giống lúa lai

Nhìn lại các quá trình sử dụng phân khoáng, sản xuất nông nghiệp nước

ta bắt đầu sử dụng phân hóa học ở đầu thế kỷ 20 Sau khi đất nước thống nhất (1975), phân hóa học được sử dụng rộng rãi và với khối lượng lớn Nhưng việc tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng phân bón còn chưa được chú ý đúng mức Người nông dân sử dụng phân bón còn tùy tiện, chưa cân đối dẫn tới hệ số sử dụng phân bón không cao, cây dễ bị sâu bệnh phá hại, chất lượng nông sản thấp, gây ô nhiễm môi trường

Việc sử dụng các chế phẩm sinh học đã được nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam từ hơn 20 năm qua Các chế phẩm phân vi sinh thuộc các nhóm vi sinh vật đã được sản xuất gồm: vi sinh vật cố định nitơ phân tử cộng sinh, vi sinh vật cố định ni tơ phân tử tự do và hội sinh, vi sinh vật phân giải các chất hữu cơ dùng cho cây lúa và cây trồng cạn, vi sinh vật phân giải lân khó hòa tan, chế phẩm hỗn hợp giữa vi sinh vật cố định nitơ

và phân giải quặng phốt phát

Những hạn chế của cuộc cách mạng xanh và công nghiệp hóa nông nghiệp đã dẫn đến việc nhiều nước quay trở lại với nền nông nghiệp hữu cơ, làm cho nông nghiệp hữu cơ càng được nâng cao vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trên thị trường thế giới Đặc điểm quan trọng nhất của nông nghiệp hữu cơ là không sử dụng các chất hóa học tổng hợp như phân bón, thuốc trừ sâu và sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên như đất, nước và tăng

Trang 15

cường sử dụng các vật liệu hữu cơ Nông nghiệp hữu cơ có khuynh hướng sử dụng các biện pháp kỹ thuật rất kinh tế như làm đất tối thiểu Sử dụng có hiệu quả đầu tư hữu cơ và làm giảm giá thành sản phẩm, tăng chất lượng nông sản

Như vậy, phát triển nông nghiệp hữu cơ phải nằm trong mối quan hệ hài hòa của sự phát triển nông nghiệp bền vững ở cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường, việc phát triển kinh tế hợp lý dựa trên khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên để bảo đảm mức sống và xóa bỏ cách biệt giữa các tầng lớp và các thế hệ trong xã hội gắn với bảo vệ môi trường Nhưng hiện tại, nông nghiệp nước ta đang đứng trước những thách thức lớn là: Việt Nam là nước nghèo, số dân cao (hơn 83 triệu người), các nguồn lợi tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng, diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp

Để bảo đảm an ninh lương thực, các nước đều phải dựa vào hai yếu tố là tăng diện tích gieo trồng và tăng năng suất Với Việt Nam, biện pháp tăng năng suất đang là biện pháp cơ bản hiện nay Xu thế này cũng là xu thế chung của các nước đang phát triển Như vậy, để bảo đảm an ninh lương thực, các Quốc gia đông dân, đất nông nghiệp hạn chế cả về số lượng và chất lượng sẽ phải đi theo con đường thâm canh tăng năng suất với việc sử dụng các giống mới có năng suất và phẩm chất tốt, hạn chế phân khoáng và hóa chất bảo vệ thực vật Việt Nam cũng đã đi theo hướng này trong vài thập kỷ vừa qua

Vì vậy, các biện pháp tác động trong nông nghiệp hữu cơ cần hướng tới là: bảo vệ và cải thiện một cách bền vững độ phì tự nhiên của đất đai, trong đó biện pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất là rất quan trọng vì nó không những tạo cho đất tơi xốp, mà còn tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ chất dinh dưỡng và giảm các yếu tố gây độc trong đất, thiết lập một hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp mà trong đó dinh dưỡng từ nguồn cung cấp như phân hữu cơ, phân vi sinh phải bảo đảm được cung cấp cho cây đầy đủ về lượng, cân đối về tỷ lệ, tại từng thời điểm theo yêu cầu sinh trưởng, nhằm khai thác hợp lý với khả năng của hệ sinh thái Tăng cường sử dụng phân chuồng, phân xanh, phế phụ phẩm trong nông nghiệp, than bùn và các nguồn hữu cơ khác,

Trang 16

trong đó chú ý sử dụng các nguồn phân sinh học, phân hữu cơ vi sinh, nước phù sa (không bị ô nhiễm ) Khai thác tốt nhất hệ thống luân canh cây trồng

và cây họ đậu nói riêng để nâng cao dinh dưỡng cho đất và hạn chế phát sinh dịch hại, sử dụng giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao, có khả năng kháng sâu, bệnh và tăng cường sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh có nguồn gốc sinh học, chú ý bảo vệ thiên địch và tạo điều kiện cho thiên địch phát triển, bảo

đảm giữ vững cân bằng sinh học trong hệ sinh thái, tăng cường phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành chính để cung cấp nguồn phân hữu cơ cho trồng trọt, tạo tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Nhà nước cần

có chính sách phù hợp, khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ với những

ưu tiên đầu tư ban đầu về khoa học công nghệ, hệ thống tiêu thụ

Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế của cả nước, lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp trên cả nước và ở từng vùng, Bộ NN-PTNT đã định hướng chiến lược phát triển các ngành hàng chính đến 2010 Theo đó, sản xuất lúa sẽ ổn định diện tích canh tác từ 3,8 ha đến 4 triệu ha, giảm khoảng 200.000 đến 300.000 ha so với hiện nay, trong đó có 1,3 triệu ha lúa hàng hoá chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước (đồng bằng Sông Cửu Long 1 triệu ha, đồng bằng Sông Hồng 0,3 triệu ha)

Huyện Sóc Sơn là huyện ngoại thành phía Bắc của thủ đô, giáp các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên Sóc Sơn là đầu mối giao thông thuận tiện nối liền Thủ đô Hà Nội với các vùng công nghiệp, các trung tâm dịch vụ lớn trong khu vực tam giác kinh tế phía Bắc nên có rất nhiều lợi thế trong phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lúa chất lượng cao

2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trong nước và trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu gạo trên thế giới

Lúa được trồng ở 125 nước với diện tích 155 triệu ha, lúa được trồng chủ yếu tập trung ở các nước: Châu á chiếm 90% diện tích trồng lúa của thế giới, châu Mỹ 3,6%, châu Phi 3,13%,Trung Mỹ 3,1%, châu Âu 1%,

Trang 17

châu úc 1% Tổng sản lượng đạt 519.869 nghìn tấn Bình quân năng suất đạt khoảng 39 tạ/ha (năm 2000-2001) trong đó Châu á chiếm 139.500 nghìn ha

và sản lượng là 477.267 nghìn tấn, năng suất bình quân 36 tạ/ha Châu Âu có diện tích trồng lúa ít nhất nhưng năng suất bình quân lại cao hơn các Châu lục khác (Nguyễn Thị Lẫm, 2002) [8]

Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là ấn Độ đạt 42,2 triệu ha, sau đó là Trung Quốc 35 triệu ha, Bănglađét 10,2 triệu ha Nước có sản lượng cao nhất

là Trung Quốc 187.450 nghìn tấn Nước có năng suất cao nhất là úc 82 tạ/ha Tiếp đó là Bắc Triều Tiên 75 tạ/ha, Nam Triều Tiên 62 tạ/ha, Mỹ 63 tạ/ha Nhật Bản 59 tạ/ ha, Trung Quốc 57 tạ/ha

Trong năm 2006, mậu dịch gạo thế giới theo dự báo của Tổ chức Nông -Lương Liên hiệp Quốc (FAO) có thể đạt 28,5 triệu tấn, giảm 2,5% so với mức kỷ lục 29,7 triệu tấn năm 2005

Theo FAO, sản lượng lúa năm 2005 của nhiều nước châu Phi tương đối bội thu đã làm giảm nhu cầu nhập khẩu từ lục địa này trong năm nay Theo

đó, nhập khẩu gạo của Nigiêria năm 2006 có khả năng giảm xuống còn 1,6 triệu tấn so với 2 triệu tấn năm 2005 Nhập khẩu gạo của châu Phi năm 2006

ước tính đạt 9,2 triệu tấn (chiếm 32% thị trường nhập khẩu thế giới), giảm 1 triệu tấn so với năm 2005

Về thị trường mậu dịch gạo châu á, FAO cho biết, lượng gạo giao dịch tại thị trường này năm 2006 gần đạt mức 13,4 triệu tấn so với năm 2005 Nhu cầu của Bănglađét, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Philipin giảm xuống do thu hoạch vụ lúa 2005 của các nước này đạt cao Trái lại, sức mua từ các nước Trung Quốc, Irắc, Hàn Quốc, ả Rập Xê út, Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt

là Iran năm nay có khả năng tăng mạnh do nhu cầu gây dựng kho dự trữ cũng như gạo chất lượng cao của thị trường nội địa tăng lên Ngoài ra, nhập khẩu gạo của Indonesia năm 2006 dự kiến vẫn duy trì ở mức 600.000 tấn do chính sách hạn chế mua gạo của chính phủ nước này Hoạt động mậu dịch gạo của

Trang 18

các nước châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê năm 2006 sẽ sôi động hơn năm

2005 khi nhu cầu của các thị trường này tăng nhẹ, đặc biệt là Brazil với sản lượng vụ lúa năm nay có khả năng giảm xuống

Sức mua từ một số thị trường lớn đáng lưu ý trong năm 2006 như Mỹ, theo FAO sẽ tăng lên trong khi giảm tại Nga

Về thị trường xuất khẩu gạo, FAO cho biết, Thái Lan có thể xuất khẩu

được 7,5 triệu tấn gạo trong năm 2006 bất chấp việc đồng Bạt tăng giá so với

đồng USD bởi nhu cầu mua của Iran và Irắc đều tăng mạnh Trong khi đó, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nhiều khả năng sẽ đạt 5,2 triệu tấn theo như mục tiêu của chính phủ Tuy nhiên, xuất khẩu gạo của Ai cập, Pakistan,

Mỹ và Uruguay có thể giảm xuống do nhu cầu nhập hàng từ các nước trên sẽ trở nên hạn hẹp hơn trong năm 2006 Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu gạo Argentina, dự kiến sẽ diễn ra tích cực hơn năm 2005 trước triển vọng nhập khẩu của Brazil và giá gạo tại Mỹ tăng (Thị trường mậu dịch năm, 2006)[37]

Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng gạo thế giới năm 2006/07 sẽ đạt 417,01 triệu tấn, tăng 5,50 triệu tấn (1,34%) so với 411,52 triệu tấn ước tính đạt trong năm 2005/06 nhờ diện tích và năng suất tăng nhẹ Trong đó sản lượng tăng mạnh nhất ở Trung Quốc, tăng 1,6 triệu tấn (1,26%), đạt 23,0 triệu tấn, Việt Nam tăng 440 nghìn tấn (1,96%), đạt 32,0 triệu tấn, Brazil tăng 700 nghìn tấn (8,97%),

đạt 8,97 triệu tấn và Thái Lan tăng 350 nghìn tấn (1,94%), đạt 18,35 triệu tấn Trong khi đó, sản lượng gạo của Mỹ sẽ giảm 580 nghìn tấn (8,17%) xuống còn 6,51 triệu tấn; Pakixtan sẽ giảm 300 nghìn tấn (5,45%) xuống còn 5,2 triệu tấn; Nhật Bản giảm 320 nghìn tấn (3,84%) xuống còn 7,94 triệu tấn (Grain: WM&T, May, 2006)[26]

Tổng mức tiêu dùng gạo toàn cầu năm 2006/07 dự báo tiếp tục vượt mức sản lượng, sẽ tăng 5 triệu tấn, đạt 423,15 triệu tấn Điều này khiến tổng dự trữ gạo thế giới cuối niên vụ 2006/07 tiếp tục quĩ đạo suy giảm,

Trang 19

giảm 6,1 triệu tấn, xuống còn 61,95 triệu tấn, mức thấp nhất trong 5 năm

qua (Grain: WM&T, May, 2006)[26]

Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng mậu

dịch gạo thế giới năm 2007 sẽ đạt 27,860 triệu tấn, tăng nhẹ so với 27,491

triệu tấn dự tính đạt trong năm 2006 Nguồn cung gạo trên thế giới dự báo

sẽ tăng do Thái Lan sẽ đóng vai trò lớn hơn trên thị trường thế giới với dự

báo sẽ tăng xuất khẩu gần 1 triệu tấn Nguồn cung cấp gạo xuất khẩu của

Thái Lan tăng nhanh nhờ các chính sách hỗ trợ trong nước, khiến dự trữ sẽ

tăng lên gần 4,2 triệu tấn Xuất khẩu của Thái Lan có thể làm giảm cơ hội

của Việt Nam Trong khi đó, xuất khẩu gạo của ấn Độ dự báo sẽ tăng lên

4,0 triệu tấn mặc dù tiêu dùng trong nước tăng do sản lượng lúa mì giảm

Dưới đây là số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các nước trong năm 2007 so

với số liệu xuất khẩu ước tính đạt trong năm 2006 (Bảng 2.1):

Bảng 2.1 Số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các nước trong năm 2007

so với số liệu xuất khẩu ước tính đạt trong năm 2006

Trang 20

Mỹ 3,300 3,400

(Grain: WM&T, May 2006)

Tháng 5 năm 2006, với số lượng gạo 425.000 tấn trúng thầu trong tổng

số 500.000 tấn mời thầu của Philippin đã đưa Việt Nam trở thành nước chiến

thắng, vượt qua 3 nước lớn trên thị trường gạo thế giới là Thái Lan, Trung

Quốc và Mỹ

Các nhà phân tích thị trường cho biết, giá gạo Việt Nam cạnh tranh hơn

so với gạo Thái Lan trong khi chất lượng gạo Việt Nam cũng đã được cải thiện

đã trở thành yếu tố chủ yếu đưa gạo Việt Nam dần thu hút được các khách

hàng khó tính và chiếm lĩnh thị trường các nước ASEAN trong thời gian gần

đây Năm nay Philippin dự định sẽ mua khoảng 782.500 tấn gạo của Việt

Nam Điều này cũng đồng nghĩa với việc khoảng cách về xếp hàng vị trí xuất

khẩu gạo lớn trên thế giới giữa Thái Lan và Việt Nam sẽ ngày càng bị thu hẹp

Năm 2006 xuất khẩu gạo Thái Lan dự báo sẽ giảm nhẹ so với mức xuất khẩu

năm 2005 là 7,3 triệu tấn Do vậy mặc dù tính tới thời điểm này, Thái Lan vẫn

giữ vị trí số 1 trong bảng xếp hạng các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới,

nhưng các nhà xuất khẩu Thái Lan e ngại rằng năm nay Việt Nam sẽ không

chỉ thu hẹp được khoảng cách với nước họ mà sẽ còn mở rộng thị trường sang

Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia hiện đang là các khách hàng tiêu thụ gạo

lớn của Thái Lan (AFP, 2006) [25]

Hiện nay, gạo Việt Nam đã có mặt tại nhiều thị trường tiềm năng như

Mỹ Latinh, Trung Đông và các nước Châu Phi Như vậy triển vọng đối với gạo

xuất khẩu của Việt Nam là rất sáng sủa (AFP,2006)

Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng

gạo của Trung Quốc năm 2006/07 sẽ đạt 129,0 triệu tấn tương đương 184,29

triệu tấn thóc, tăng 1,6 triệu tấn (1,26%) so với sản lượng 127,4 triệu tấn ước

Trang 21

tính đạt trong năm 2005/06 nhờ tăng diện tích và năng suất (Grain: WM&T, May 2006) [26]

Sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Trung Quốc cho sản xuất lương thực dạng hạt trong những năm qua, bao gồm giảm thuế, đảm bảo giá thu mua và trợ cấp giống đã khuyến khích nông dân gia tăng diện tích gieo trồng Diện tích gieo trồng lúa năm 2006/07 dự báo đạt 29,20 triệu ha, tăng so với 29,00 triệu ha của năm 2005/06 và 28,38 triệu ha của năm 2004/05 Năng suất bình quân dự báo sẽ đạt 6,31 tấn thóc/ha trong năm 2006/07, tăng so với 6,28

tấn/ha của năm 2005/06 (WAP, May 2006)

Trên thị trường gạo trắng, trong khi Pakistan và Việt Nam tiếp tục cạnh tranh mạnh hơn ấn Độ trên thị trường gạo trắng thế giới thì ấn Độ đang rất hy vọng tình hình sẽ thay đổi Giá gạo trắng đang có chiều hướng tăng Trong hai năm qua, giá đã tăng 35% ấn Độ cho biết họ sẽ có dư gạo trắng để xuất khẩu

và sẽ giành được thị phần trên thị trường thế giới, khi mà Pakistan và Việt Nam cạn kiệt gạo dự trữ và sẽ buộc phải giảm xuất khẩu Hiện nay, giá gạo trắng 25% tấm của Thái Lan chào bán trên thị trường thế giới là 290 USD/tấn trong khi gạo Việt Nam cùng loại chỉ là 245 USD/tấn và của Pakistan là 218

USD/tấn, của ấn Độ là 238 USD/tấn (Xinhua, 2006) [41]

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo của Cămpuchia năm 2006/07 sẽ đạt 3,03 triệu tấn, tăng 190 nghìn tấn (+6,7%) so với sản lượng 2,84 triệu tấn của năm 2005/06 nhờ tăng cả diện tích và năng suất, và tăng so với 2,33 triệu tấn năm 2004/05 (Grain: WM&T, May, 2006) [26]

Tổng diện tích gieo cấy lúa của Cămpuchia năm 2006/07 dự báo đạt 2,20 triệu ha, tăng so với 2,15 triệu ha của năm 2005/06 và 2,07 triệu ha của năm 2004/05 Năng suất lúa bình quân dự báo sẽ đạt 2,18 tấn thóc/ha trong năm 2006/07, tăng so với 2,09 tấn/ha của năm 2005/06 và 1,76 tấn/ha của năm

2004/05 (WAP, May, 2006)

Trang 22

Theo dự báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên Hợp

Quốc (FAO), tổng sản lượng lúa gạo của Châu á năm 2005/06 đạt 562,3 triệu

tấn thóc, tăng 2,8% so với 547,0 triệu tấn thóc của năm 2004/05 Sản lượng

thóc của các nước sản xuất chủ yếu ở Châu á năm 2005/06 được nêu trong

Sản lượng lúa gạo của Trung Quốc (lục địa) năm 2005/06 sẽ đạt 184,3

triệu tấn thóc, tăng 2% so với năm 2004/05, và là mức sản lượng cao nhất kể

từ năm 2000/01 Sản lượng thóc tăng chủ yếu nhờ Chính phủ Trung Quốc

khuyến khích tăng diện tích trồng lúa

Triển vọng sản xuất lúa ở ấn Độ cũng được cải thiện so với báo cáo

trước đây Sản lượng thóc của ấn Độ năm 2005/06 đạt 130,5 triệu tấn, tăng

Trang 23

2,5 triệu tấn so với năm 2004/05 ở Indonexia, theo Bộ Nông nghiệp nước này, sản lượng thóc đạt 54,0 triệu tấn, ngang với mức 54,1 triệu tấn của năm 2004/05 là năm được mùa Sản lượng thóc của Bănglađét tăng 4 triệu tấn, đạt 42,0 triệu tấn trong năm 2005/06 nhờ có mưa thuận lợi gió hoà và giá gạo trong nước ở mức cao trong suốt cả năm đã khuyến khích nông dân tăng gieo cấy lúa ở Cămpuchia, mưa dồi dào trong tháng 9/2005 đã chấm dứt tình trạng hạn hán kéo dài và tạo điều kiện tăng gieo trồng lúa, góp phần làm cho sản xuất lúa gạo phục hồi ở nước này

Triển vọng sản xuất lúa gạo ở Myanmar cũng rất khả quan, sản lượng thóc tăng 800 ngàn tấn, đạt 24,5 triệu tấn trong năm 2005/06 ở Philippin, dự báo sản lượng thóc năm 2005/06 (tháng 7/tháng 6) đạt kỷ lục 14,8 triệu tấn nhờ dự báo bội thu trong thu hoạch trong thời gian từ tháng 11/2005 đến tháng 2/2006 Sản lượng thóc của Nhật Bản được điều chỉnh tăng sau đợt khảo sát hồi tháng 8/2005 với đánh giá điều kiện mùa màng “trên mức trung bìn” Sản lượng thóc của Nhật Bản đạt 11,4 triệu tấn, tăng 4,6% so với năm 2004/05 ở SriLanka, sản lượng thóc tăng 19% so với năm 2004/05

ở Thái Lan, sản xuất lúa gạo được phục hồi nhờ điều kiện canh tác trở lại bình thường Ngày 1-11-2005 Chính phủ Thái Lan mở đợt thu mua can thiệp mới để mua 9 triệu tấn với giá tối thiểu khoảng 7000 Bạt (171 USD)/tấn Chương trình thu mua này là công cụ để ổn định giá trong nước Sản lượng thóc của Thái Lan đạt 27,0 triệu tấn, tăng mạnh so với 23,9 triệu tấn của năm 2004/05

Tuy nhiên, sản lượng giảm ở một số nước trong khu vực, nhất là ở Việt Nam sau khi bị hai cơn bão tàn phá hồi tháng 9 và tháng 11/2005 Sản lượng thóc của Việt Nam năm 2005/06 đạt 35,8 triệu tấn, giảm 300 nghìn tấn so với sản lượng kỷ lục 36,1 triệu tấn của năm 2004/05 ở Hàn Quốc, sản lượng thóc giảm do Chính phủ sẽ ngừng thu mua lúa gạo với giá sản xuất tối thiểu trong niên vụ 2005/06 này Sản lượng thóc ở Lào và Nêpan cũng giảm do hoạt động

Trang 24

sản xuất bị trở ngại vì hạn hán và mưa lũ ("Food Outlook", FAO, No4, Dec 2005).[33]

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đã lai tạo hàng trăm giống lúa tốt

được gieo trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và những giống lúa khác đã tạo sự nhảy vọt về năng suất Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn tạo được nhiều những giống tốt phục vụ sản xuất (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)[9]

Các chuyên gia Đài Loan đã nghiên cứu thành công các giống lúa giàu dinh dưỡng Các giống lúa này không phải là giống biến đổi gen, có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng, màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins - một chất chống oxy hoá Đây

là kết quả nghiên cứu gần 9 năm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học (ICARD, 2003) [27]

ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu thập và làm thuần một số giống lúa

địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và Bắc của nước này

ở Hàn Quốc việc đưa giống lúa Tongin đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa

Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin 20,6%, Hàn Quốc 16,1%, ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7%

Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế lai trong sản xuất lúa Các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ 3 dòng, 2 dòng

và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng và lúa siêu cao sản (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)[9]

2.2.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu và nghiên cứu lúa trong nước

2.2.2.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa trong nước

Trang 25

Nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam từ bước sơ khai “ruộng bạc” đến đất được đắp bờ giữ nước để trồng lúa, từ Lạc Việt đến Việt Nam (Lịch sử nông nghiệp Việt Nam ,1994) [10]

Hiện nay nước ta có 3,95 triệu ha đất trồng lúa nước Diện tích này có thể giảm đi một chút do diện tích trồng lúa không hiệu quả chuyển sang cây trồng khác có hiệu quả hơn hoặc do quá trình đô thị hoá Vì vậy cần tập trung thâm canh cao đạt năng suất bình quân 45-50 tạ/ha vào năm 2010 Riêng đồng bằng sông Cửu Long phải đưa năng suất bình quân trên 50 tạ/ha và chú trọng phát triển một diện tích đáng kể về giống lúa chất lượng cao

Năm 1991 diện tích trồng lúa của Việt Nam chiếm 70% tổng diện tích gieo trồng, đến năm 2001, diện tích này chỉ còn 60% Từ năm 2002, diện tích này ngày càng thu hẹp lại, đặc biệt năm 2005 giảm tới 340.000 ha, nhưng nhờ các tiến bộ khoa học được áp dụng, khả năng thâm canh của nông dân được nâng cao trong 5 năm gần đây, mỗi năm sản lượng lúa vẫn tăng trung bình 700.000 tấn

Từ một đất nước với mức dân số tăng gần 1,5 triệu người/năm, từng phải nhập khẩu 199,5 nghìn tấn lương thực ở năm 1988, thế nhưng sang năm

1989, Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu trong 10 năm tiếp theo Năm 2005, đánh dấu mốc quan trọng khi Việt Nam xuất khẩu đạt kỷ lục 5,2 triệu tấn gạo, với kim ngạch 1,4 tỷ USD, vượt hơn nhiều so với kế hoạch

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, từ đầu năm 2006 tới nay, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nước ta đã ký được các hợp đồng xuất khẩu hơn hai triệu tấn gạo, trong đó đã xuất khẩu hơn 1,5 triệu tấn Ngoài một số thị trường truyền thống như Philippin, Trung Đông, Việt Nam đã xuất khẩu gạo với khối lượng lớn sang thị trường Nhật Bản, Nam Mỹ và Châu Phi

Năm 2005, Việt Nam đã thu hút được nhiều khách hàng truyền thống của Thái Lan Điều đó trở thành mối quan ngại của các nhà xuất khẩu gạo nước này Thái Lan đang theo dõi rất kỹ về tình hình sản xuất và xuất khẩu

Trang 26

gạo Việt Nam Các doanh nghiệp Thái Lan nhận định, nếu không xảy ra mưa bất thường, dự kiến sản xuất gạo Việt Nam sẽ đạt 38 - 39 triệu tấn gạo trong năm 2006, tăng 15,2% - 18,2 % so với năm 2005 và có thể đe doạ tới xuất khẩu gạo của Thái Lan

Kinh nghiệm của các doanh nghiệp Thái Lan cho thấy, việc nâng giá gạo năm 2005 khiến một số khách hàng chính của họ như Iran, Uruguay, Syria và Nigeria đã chuyển hướng sang nhập khẩu gạo Việt Nam với giá rẻ hơn Vì vậy, các doanh nghiệp Thái Lan lo ngại rằng, Việt Nam không những giữ được vị trí khá vững chắc trên thị trường xuất khẩu gạo Quốc tế mà sẽ còn tăng thị phần hơn nữa thông qua việc mở rộng xuất khẩu hàng sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia những nước sẽ từ bỏ nhập khẩu gạo Thái Lan

Trong chiến lược phát triển lúa gạo của Việt Nam thập kỷ 21, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng rất nhiều chương trình, cụ thể là

từ nay đến 2010 đạt 36 triệu tấn Duy trì xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn/năm Xây dựng vùng sản xuất lúa xuất khẩu 1 triệu ha ở Đồng bằng sông Cửu Long

và 300 nghìn ha ở khu vực Đồng bằng sông Hồng để sản xuất gạo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng cao năng lực chế biến và kỹ năng kinh doanh chiếm lĩnh thị trường Quốc tế Thực hiện mục tiêu này, Việt Nam đang đầu tư mạnh vào công nghệ tưới tiêu và khuyến khích nông dân chọn phương thức sản xuất hiện đại, bền vững nhằm nâng cao sản lượng lúa Chính phủ cũng tăng cường cải tiến hầm chứa thóc để có thể bảo đảm dự trữ lâu dài đồng thời hỗ trợ các nhà xuất khẩu quảng bá thương hiệu nhằm tạo niềm tin cho khách hàng trên thị trường Quốc tế về chất lượng và tiêu chuẩn gạo của Việt Nam (Xuất khẩu gạo hướng tới mục tiêu số 1 Thế giới, 2006) [39]

Đến hết tháng 6/2006, Việt Nam đã xuất khẩu được trên 2,7 triệu tấn gạo, thị trường lúa gạo đang biến chuyển thuận lợi, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể xuất khẩu thêm 2,3 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm

2006, đưa tổng lượng gạo xuất khẩu cả năm lên 5 triệu tấn, kim ngạch đạt 1,4 - 1,45 tỷ USD

Trang 27

Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang 16 th trường chính: trong ó, Philipin là nước nhập khẩu gạo Việt Nam nhiều nhất với 896.226 tấn, tr giá 252.875.786 usd (chiếm 38,31% v lượng và 39,81% v kim ngạch của cả nước ) Sau đó đến Malaysia, Nhật Bản, Indonesia, Thổ Nh

K (Xuất khẩu lúa gạo năm, 2006) [40]

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa ở Việt Nam

Trong thực tế sản xuất đã khẳng định giống lúa có vai trò quan trọng trong sản xuất lương thực, nó góp phần tăng năng suất, chất lượng và sản lượng góp phần ổn định an ninh lương thực và xuất khẩu Công tác chọn tạo giống được chú trọng phát triển, cùng với các biện pháp kỹ thuật phù hợp sẽ tạo cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng nông sản phẩm

Theo thống kê của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung

ương, thì trong vụ lúa đông xuân 2000 riêng ở các tỉnh phía Bắc có 192 giống lúa (chưa kể một số giống lúa địa phương không có tên rõ ràng) đã được gieo trồng trong sản xuất, trong đó lúa thuần Việt Nam chiếm 45% diện tích và giống lúa Trung Quốc chiếm 55% diện tích Trong các giống trên thì có 10 giống lúa thâm canh có diện tích gieo trồng lớn nhất là: Khang dân 18, Q5, Sán ưu 63, IR17494, X21, Nhị Ưu 63, Xi 23, C70, DT10 và CR 20312 (Nguyễn Thiên Lương, 2000) [12]

Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam đã chọn lọc, nhập nội một số giống lúa mới như: IR64, IR66, NN9A đây là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam và các chuyên gia Trung Quốc (2005) đã thử nghiệm thành công giống lúa lai thơm LVC2 phục

vụ cho cánh đồng 50 triệu của tỉnh Nam Định Đây là giống lúa cấy được cả 2

vụ xuân và mùa, năng suất trung bình vụ xuân đạt 75-85tạ/ha, vụ mùa đạt

Trang 28

65-75 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 120 tạ/ha, chất lượng gạo rất tốt, hạt gạo trong, cơm dẻo có mùi thơm (TTXVN, 2005) [34]

Công tác chọn tạo giống chất lượng cao đang được chú trọng: Viện Cây lương thực thực phẩm đã chọn tạo ra giống P4 có hàm lượng protein đạt 11%; Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã chọn tạo giống lúa 9810 là giống có chất lượng tốt và năng suất khá

Trong khuôn khổ chương trình lương thực thực phẩm cấp nhà nước, Lê Doãn Diên và các cộng sự ,1999 [11] đã tiến hành nghiên cứu chất lượng tập

đoàn lúa gạo ở Việt Nam Nghiên cứu đã đánh giá tương đối toàn diện chất lượng của các tập đoàn giống lúa Việt Nam theo 4 nhóm chất lượng: chất lượng thương phẩm, chất lượng nấu nướng, chất lượng ăn uống và chất lượng dinh dưỡng

Sau 3 năm thử nghiệm đến năm 2006, giống lúa lai hai dòng VL24 của Viện Nghiên cứu lúa trường ĐHNN I được các nhà chuyên môn đánh giá cao cả về năng suất và khả năng kháng bệnh, chịu hạn tốt

Viện Nghiên cứu lúa trường ĐHNN I (2006) vừa phối hợp với Trung tâm giống cây trồng Thái Nguyên trình diễn giới thiệu 3 giống lúa mới do các nhà khoa học VN lai tạo gồm VL24, TH3 - 4 và TH3 - 5 tại xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên Qua thực tế khảo nghiệm diện tích trồng giống lúa mới của

22 hộ dân cho thấy giống VL24 có nhiều đặc tính nổi trội, đặc biệt thu hút sự chú ý của nhà nông ông Lê Văn Sinh, xóm Y Na II là người trồng thử nghiệm cùng lúc cả 3 giống lúa cho biết, để kiểm chứng khả năng chịu hạn của giống VL24 ông đã chủ động cấy trên nền đất vàn cao, pha cát Kết quả

vụ xuân năm nay mặc dù gặp hạn nhưng vẫn đạt năng suất 180-200 kg/sào

(Việt lai 24 trên đất hạn, 2006) [38]

Sau khi xây dựng thành công mô hình trồng lúa Bắc Thơm số 7 tại 4 xã Hưng Đạo, Hoàng Tung, Bế Triều, huyện Hoà An và xã Ngọc Xuân, thị xã Cao Bằng với diện tích 40 ha vào vụ mùa năm 2005, vụ xuân năm 2006, Trung tâm khuyến nông khuyến lâm tỉnh Cao Bằng tiếp tục nhân rộng thêm

Trang 29

50 ha giống lúa chất lượng cao tại xã Bình Long, huyện Hoà An Kết quả khảo nghiệm cho thấy giống lúa Bắc Thơm số 7 hoàn toàn thích nghi với

điều kiện khí hậu của địa phương, cây chịu hạn tốt và ít sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn nên tăng được hệ số sử dụng đất, cho năng suất cao

và chất lượng gạo thơm ngon nên được thị trường chấp nhận, có giá trị kinh

tế cao Theo đánh giá của người dân tại xã Hưng Đạo, huyện Hoà An:

“Giống lúa Bắc Thơm số 7 có năng suất bình quân đạt 56 tạ/ha, cao hơn giống lúa trước đây địa phương vẫn sử dụng như: Tam Nông, Thanh Hoá

từ 5 đến 6 tạ/ha, do sản phẩm có giá trị kinh tế cao nên trồng lúa Bắc Thơm cho lãi gấp 3 lần và nhất là có thể gieo cấy được cả vụ xuân và vụ mùa” Tại những vùng trồng lúa của huyện Hoà An và thị xã Cao Bằng, người dân đã chủ động mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa Bắc Thơm số 7 trong những vụ tiếp theo Hiện đội ngũ khuyến nông thôn, bản cũng tăng cường tuyên truyền vận động người dân đưa giống lúa chất lượng cao vào sản xuất, tập huấn kỹ thuật trồng trọt tới bà con nhằm đẩy mạnh việc chuyển

đổi cơ cấu cây trồng có chất lượng cao, góp phần xoá đói giảm nghèo tại

địa phương (Cao Bằng mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản, 2006) [36]

Những năm gần đây, nhu cầu gạo chất lượng cao của thị trường trong tỉnh tăng mạnh, do vậy tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện đồng bộ các giải pháp giúp đỡ, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản

Từ năm 2001- 2002, nhiều hộ nông dân xã Hưng Thành (thị xã Tuyên Quang) đã chuyển sang gieo cấy lúa đặc sản Do mới làm, kinh nghiệm chưa

có, việc quảng bá tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm nên kết quả đem lại chưa cao Năm 2004, trung tâm khuyến nông tỉnh đã phối hợp với ban khuyến nông các huyện, thị xã và một số hợp tác xã nông nghiệp xây dựng mô hình sản xuất lúa đặc sản đã đem lại kết quả Năm 2005 và 2006, trung tâm khuyến nông tỉnh tiếp tục mở rộng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao ra nhiều xã trong tỉnh với tổng diện tích trên 200 ha Thấy được hiệu quả của mô hình

Trang 30

gieo cấy lúa đặc sản, nhiều hộ nông dân đã tự liên hệ mua giống để mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản Vụ xuân 2006, tổng diện tích lúa đặc sản của tỉnh đã lên tới hơn 500 ha, tuy nhiên do chỉ đạo chưa kịp thời nên diện tích còn phân tán, khó tạo thành vùng sản xuất hàng hoá lúa gạo chất lượng cao Toàn bộ sản lượng lúa đặc sản sản xuất ra trong vụ xuân 2006 chưa đủ phục

vụ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh Phấn đấu từ nay đến năm 2010 mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản lên 10.000 ha, trong những năm đầu 2.000 đến 3.000

ha (Tuyên Quang mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản, 2006) [36]

Hợp tác xã nông nghiệp Vũ Xuân (xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) vừa thu hoạch 13 ha lúa vụ xuân 2006, do 100 hộ nông dân được khoán gieo cấy Điều thuyết phục nông dân là năng suất lúa đạt rất cao, nơi thấp nhất 9,5 tấn/ha, nơi cao 12 tấn /ha, bình quân 10 tấn /ha Như vậy, nếu tính ra sào thì mỗi sào cho năng suất 370 kg đến 380 kg, gấp đôi các loại giống hiện có vẫn đang sử dụng phổ thông trên địa bàn Đây là giống lúa lai Nghi Hương 2308 có nguồn gốc từ Trung Quốc Việc ứng dụng thành công giống lúa này ở Vĩnh Phúc là kết quả quá trình thử nghiệm của Trung tâm Khuyến nông tỉnh với sự hợp tác, hỗ trợ của Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp TrungTín - Hà Nội và các chuyên gia Trung Quốc Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đang mở rộng diện tích gieo cấy loại lúa này trên các vùng thổ nhưỡng, địa hình, sinh thái khác nhau trong tỉnh (Sản xuất & thị truờng số

25, 2006) [31]

Vụ xuân năm 2006, tỉnh Thái Bình gieo trồng giống lúa lai CNR36 với diện tích hơn 2.000 ha, tại 184 xã trong tỉnh CNR36 là giống lúa lai ba dòng do trường Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên (Trung Quốc) lai tạo Kết quả, sau 4 tháng gieo trồng, giống lúa lai CNR36 cho thu hoạch bình quân

đạt 8 tấn /ha, đặt biệt có những thửa ruộng đạt 9,5 tấn/ha, cao hơn các giống lúa lai đang trồng tại địa phương hơn 1 tấn /ha (Sản xuất & thị truờng

số 25, 2006) [30]

Trang 31

Tại các tỉnh phía Nam, mấy năm gần đây khi các giống lúa đặc sản

có giá trị cao hơn nhiều so với các giống lúa thông thường, thì rất nhiều nông dân đã chuyển sang trồng lúa chất lượng cao: tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long vụ Đông xuân 2003-2004 cả huyện gieo cấy được gần 2.000 ha lúa thơm trên diện tích 12.500 ha Tại An Giang, toàn tỉnh gieo cấy được 52.000 ha lúa thơm trên tổng diện tích 220.000 ha (TTXVN, 2006) [35]

Vụ hè thu năm 2006, thành phố Cần Thơ đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy gần 86.000 ha lúa, trong đó, có 90% diện tích được sử dụng lúa giống chất lượng cao như 0M 1490, VND 95-20, OMCS 2000, 0M 2517, OM 3536, OM 2717…(Sản xuất & thị truờng số 25, 2006) [32]

Năm 2005 huyện Sóc Sơn có tổng diện tích 22.185 ha đất sản xuất cây lương thực, trong đó 16.281 ha sản xuất lúa hai vụ, các giống lúa chủ

đạo trong sản xuất nông nghiệp (Khang Dân, Bồi Tạp 49, Bao Thai, Bắc Thơm số 7 ) Lúa thơm chiếm 10% diện tích lúa của cả huyện (1.625 ha), trong khi đó diện tích lúa thơm năm 2001 chỉ đạt khoảng 3% (420 ha) tổng diện tích trồng lúa Trong các năm tiếp theo, diện tích lúa thơm sẽ được mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng gạo của người tiêu dùng

Như vậy trong sản xuất lúa của ta hiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng các giống lúa chất lượng cao vào sản xuất nhất là các giống lúa thơm

đang dần thay thế các giống lúa bình thường, đó là xu thế của nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao

2.3 Vai trò của vi sinh vật đất với dinh dưỡng cây trồng trong hệ sinh

thái nông nghiệp bền vững

Hàng loạt công trình nghiên cứu đã khẳng định: đất là môi trường thuận lợi nhất cho sinh trưởng và phát triển của các loài vi sinh vật Trong thành phần sinh vật đất, vi khuẩn chiếm tới 90%, trong thành phần các bon hữu cơ của đất vi sinh vật chiếm khoảng 2% Số lượng vi sinh vật trong mỗi gam đất

Trang 32

có tới hàng triệu, hàng tỷ và thậm chí lên tới vài chục tỷ tế bào Vi khuẩn là nhóm chiếm số lượng lớn nhất trong đất (106 - 1010 tế bào/g đất) nhưng vì kích thước quá nhỏ (vào khoảng 1àm ) nên chúng chỉ chiếm không quá 20% trọng lượng của vi sinh vật trong đất Sau đó đến xạ khuẩn với số lượng khoảng 107, vi nấm 104- 106 tế bào/g đất và hàng loạt các nhóm khác với số lượng ít hơn (Dilly.O and Blume H.P,1998; Powlson D.S, 1975; Sonani L.L, 1989; Subba Rao N.S, 1965) [48], [64], [65], [66]

Vi sinh vật đất tham gia trực tiếp vào quá trình phân giải xác động vật… Các nhà nghiên cứu mùn theo quan điểm sinh học đều khẳng định vai trò không thể thiếu được của vi sinh vật trong quá trình tạo thành mùn Tất cả các phản ứng sinh hoá được thực hiện nhờ các enzim do vi sinh vật sinh ra (Kononova M.M, and Alexandrova I.V.,1971, 1984) [55], [56]

Vi khuẩn Rhizobium, Azotobacter… có thể sinh ra chất keo gắn kết lại

các hạt đất với nhau (Ahmad N and Jha K.K,1968) [42] Các niêm dịch chất

nhầy của vi khuẩn Pseudomonas có tác dụng rất lớn trong việc kết gắn tạo ra

cấu trúc bền của đất (Katznelson h, 1959; Katoh K and Itoh K,1983) [51], [53] Sự kết gắn của các chất nhầy trong vi khuẩn liên quan đến sự có mặt của các chất polisacarit, aminosaccarit

Khu hệ vi sinh vật trong đất lúa nước, đặc biệt là vi sinh vật vùng rễ lúa

có khả năng hoà tan phốt phát vô cơ khó tan để làm giàu lân dễ tiêu cho đất (Gerrtsen F.C,1948; Guyer G E,1970; Pareek R.P A.C.1973) [49], [50], [62]

Sử dụng Bacillus firmus và Azotobacter nhiễm vào cây lúa sẽ tăng năng suất

lúa 10-70% (trung bình là 28%) (Murakami,1990; Pikovskaya, 1948; Vasantharajan V.N, 1996) [61], [63], [67]

* Vi sinh vật cố định đạm

Khí nitơ chiếm khoảng 78,16% thể tích không khí bao quanh chúng ta Con người, động vật, thực vật đều cần đạm Song sống giữa bầu không khí mênh mông đạm như vậy tuyệt đại đa số sinh vật đều không sử dụng trực tiếp

khí nitơ, chỉ có nhóm vi sinh vật cố định nitơ là có khả năng này

Trang 33

Hàng năm, nhu cầu về nitơ đối với cây trồng trên toàn thế giới là hàng trăm triệu tấn Tuy nhiên, phân bón hoá học chỉ mới đáp ứng được khoảng 30%, lượng còn lại là do quá trình cố định nitơ phân tử cung cấp (Lê Văn

Khoa và cộng sự ,1998) [7]

Khả năng cố định đạm của vi khuẩn cố định đạm hội sinh Azospirillum

được Beijerinck phát hiện từ năm 1922, nhưng vai trò của nó trong hoạt động

cố định đạm vùng rễ của cây hòa thảo chỉ được biết đến vào những năm của thập kỷ 70 nhờ việc tìm ra nơi trú ngụ của chúng Năm 1976 đã phát hiện thấy

Azospirillum bên trong bề mặt của mô rễ, tạo ra mối quan hệ hội sinh với cây,

chúng có thể tồn tại trong đất vùng rễ, trên bề mặt rễ Đây là loài vi khuẩn có khả năng cố định đạm khá lớn, chúng nhận các chất hữu cơ như Pectin, Axit hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng để phát triển và cố định đạm, đồng thời cung cấp các hợp chất chứa nitơ cho cây chủ Hiện nay, người ta đã sản xuất ra các phân vi sinh vật cố định đạm cho cây hoà thảo, đặc biệt là cây lúa mang tên là Azogin và đã được triển khai cho các cây trồng khác nhau ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, có thể tăng năng suất cây trồng từ 5 - 15% (Lê Văn Tri,

2002)[19]

Chế phẩm vi khuẩn nốt sần đã được sản xuất từ rất lâu trên thế giới Năm 1896 ở Đức lần đầu tiên chế ra loại chế phẩm gọi là Nitrazin, ở Mỹ sản xuất chế phẩm Nitroculture, ở Anh sản xuất loại phân Nitrobacterin (Nguyễn

Đường, 1999) [4] Tới nay hầu hết các nước đều sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần cho cây bộ đậu đặc biệt là cây đậu tương Tuy nhiên khả năng làm

giàu đạm cho đất tuỳ thuộc vào các loại cây trồng (Lê Văn Tri, 2002) [19]

- Đậu đũa, đậu răng ngựa (Vicia faba) cố định được 45 – 55 kgN/ha/năm

- Đậu Hà Lan (Pirum rativum) cố định được 52 – 77 kgN/ha/năm

- Đậu xanh (Phaseolas aureus) cố định được 63 – 342 kgN/ha/năm

- Đậu tương (Glycine max) cố định được 179kgN/ha/năm

Vi sinh vật cố định đạm tự do trong không khí đã được biết đến từ lâu

Người ta đã sử dụng chúng để làm phân vi sinh vật Azotobactrin, dùng để xử

Trang 34

lý cho hạt giống hoặc chế khô nuôi cấy trong đất hoặc trộn với than bùn để bón vào đất Tuy nhiên hiệu lực của chúng không ổn định, năng suất chỉ tăng

từ 5 - 10% 20 (Lê Văn Tri, 2004) [20]

Ngoài ra, vi khuẩn Lam (Cyanobacteria) cộng sinh với Bèo hoa dâu

(Azolia) có khả năng cố định được 20 - 30 kg N/ha/vụ trên ruộng ngập

nước Có tất cả 1400 loài vi khuẩn Lam, trong đó có rất nhiều loài có khả năng cố định đạm ở các nước như: Nhật Bản, ấn Độ, Senegan, Trung Quốc, ý, Ai Cập, chúng được sử dụng như một nguồn đạm sinh học (Lê Văn Tri, 2002) [19]

* Vi sinh vật phân giải lân

Vi sinh vật phân giải lân là nhóm các vi sinh vật (vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm sợi), có khả năng phân hủy các hợp chất Photpho khó tan đã có sẵn trong

đất hoặc bón vào đất thành dạng dễ tan mà cây trồng có thể hấp thụ được Các

loài vi sinh vật phân giải lân có thể kể đến: Pseudomonas, Flavobacterium,

Pennicilium (Hoàng Hải, 2000) [5]

Vai trò của vi sinh vật phân giải lân được nhiều nhà khoa học trên thế giới biết đến từ năm 1910, với các cây ngũ cốc như kiều mạch, đại mạch và ngô (NXBNN Hà Nội, 2000)[17] Vi sinh vật phân giải lân không chỉ làm tăng năng suất mà còn làm tăng hiệu quả của phân lân vô cơ từ 15 - 30% Tuy nhiên, tùy từng loại đất mà phản ứng của cây trồng đối với vi sinh vật phân giải lân có khác nhau Năng suất cây trồng tăng hơn đối chứng ở vùng đất chua khoảng 9 - 27% Một số thử nghiệm khi bón quặng photphat cho thấy sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể tiết kiệm được 50kg P2O5/ha/vụ Chúng

có thể làm tăng năng suất rau quả từ 5 - 30%, ngoài ra còn làm tăng chất

lượng nông sản (Hoàng Hải, 2000) [5]

Bón phân vi sinh vật phân giải lân nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình phân giải hợp chất Phospho khó tiêu thành dễ tiêu đối với cây trồng, qua đó làm giảm các tổn thất to lớn cho quá trình bay hơi rửa trôi gây ra Nó là một biện pháp cải tạo đất và nâng cao độ phì nhiêu của đất, nâng cao năng suất cây

Trang 35

trồng, bảo vệ môi trường sinh thái và giảm được rất nhiều chi phí so với sử dụng phân hóa học

* Vi sinh vật phân giải xenluloza

Xenluloza là thành phần chủ yếu của màng tế bào thực vật ở cây bông, xenluloza chiếm tới 90%, ở các cây gỗ nói chung xeluloza chiếm 40 – 50% Hàng ngày, hàng giờ, một lượng lớn xenluloza được tích lũy trong đất do các sản phẩm tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết đi, cành lá rụng xuống, rễ

cây đã thu hoạch ở trong đất (Hoàng Hải, 2000) [5] Số lượng xác thực vật đưa

vào đất hàng năm trên mỗi ha đối với rừng là 5 - 9 tấn, đối với cánh đồng nhiệt

đới là 10 - 15 tấn, đồng cỏ ôn đới là 6 - 10 tấn, thảo nguyên là 1,5 tấn 20 (Lê Văn Tri, 2004) [20] Trong tự nhiên có nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân hủy xenluloza nhờ có hệ enzim xenluloza ngoại bào Trong đó vi nấm là nhóm có khả năng phân giải mạnh nhất vì nó tiết ra môi trường một lượng lớn enzim đầy đủ các thành phần Các nấm mốc cũng có hoạt tính phân giải xeluloza đáng chú ý là tricoderma (Phạm Văn Toản, 2005) [16] Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ xeluloza

- Nhóm vi khuẩn hiếu khí bao gồm: Pseudomonas, Cellulororio,

Achromobacter

- Nhóm vi khuẩn kỵ khí bao gồm Clostridium

Ngoài vi nấm và vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm cũng có khả năng phân

hủy xenluloza Người ta thường dùng xạ khuẩn Streptomyces trong việc phân

hủy rác thải sinh hoạt, những xạ khuẩn này thường thuộc nhóm ưa nóng, sinh trưởng, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45 - 500C rất thích hợp với quá trình ủ rác thải (Lê Văn Tri, 2002) [19]

Trong sản xuất phân bón vi sinh, ngoài các chủng vi sinh vật cố định

đạm, phân giải lân thì việc phối trộn thêm các loại vi sinh vật phân giải Xelluloza sẽ làm tăng thêm hiệu quả sử dụng phân phức hợp hữu cơ vi sinh Sử dụng vi sinh vật phân giải Xelluloza sẽ làm tăng khả năng phân giải Xelluloza

để tạo ra chất mùn, tăng độ phì nhiêu của đất, duy trì sự cân bằng và ổn định

Trang 36

trong chu kỳ chuyển hóa Cacbon của tự nhiên góp phần cải tạo môi trường sinh thái

* Vai trò của xạ khuẩn

- Xạ khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất và tạo ra

độ phì nhiêu của đất, chúng đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau trong việc

làm màu mỡ thêm cho đất

- Xạ khuẩn tham gia tích cực vào các quá trình chuyển hoá và phân giảI nhiều hợp chất hữu cơ phức tạp và bền vững như xenluloza, chất mùn kitin, kerati, lignin…

- Hầu hết xạ khuẩn thuộc giống Actinomyces, có khả năng hình thành

chất kháng sinh như streptomixin, oreomyxin, tetraxyclin, teramyxin… đây là một đặc điểm quan trọng nhất của xạ khuẩn, nên được sử dụng rộng rãi trong

y học, thú y và bảo vệ thực vật

- Trong quá trình trao đổi chất, xạ khuẩn còn có thể sinh ra các chất hữu cơ như các loại vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12) một số axit hữu cơ như axit lactic, axit acetic và nhiều axit amin như glutamic, metionin, tryptophan, lyzin

- Một số khác còn có khả năng tạo thành chất kích thích sinh trưởng của

thực vật (Hoàng Hải, 2000) [5]

* Vai trò của nấm

Chúng thường sống hỗ sinh với vi khuẩn phân giải tinh bột và xellulo trong đất, sử dụng sản phẩm của quá trình phân giải xellulo của vi khuẩn, tạo thành các mắt xích phân giải chất hữu cơ trong đất Chúng tồn tại trong đất quan hệ với thực vật và sinh vật khác tạo thành hệ sinh thái đất, góp phần quan trọng cho các quá trình chuyển hoá trong đất , tạo nên kết cấu và độ phì

nhiêu của đất, nhất là nhiều loài thuộc các chi Trichoderma, Mucor… có tác

dụng cải thiện kết cấu đất Tuy nhiên cũng có một số loại nấm gây bệnh cho cây trồng (Hoàng Lương Việt, 1978, Kjoller A and Struwe S, 1982; Hội khoa học đất Việt nam (2000) [23], [54], [6]

Trang 37

Trong tất cả các hệ sinh thái thì đất đai là cơ chất đặc biệt, nó là cầu nối cho sự tác động tương hỗ qua lại giữa động vật thực vật và vi sinh vật trên trái

đất, là kho chứa vô tận nguồn dinh dưỡng cho việc phát triển cây trồng, cho mọi hoạt động sống của vi sinh vật và các quá trình chuyển hoá vật chất, nó

đóng góp vào sự thành công của nền nông nghiệp bền vững (Pimental etal…

1992, Smith 1974) Chất lượng của đất bao gồm thành phần hoá học, vật lý, sinh học cùng với mối quan hệ của chúng Trong đó vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mùn, tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất tạo nên độ phì của đất (Arshad and Coen 1992) Thực chất là tạo nên dinh dưỡng cho cây trồng

Trong thiên nhiên, vi sinh vật giữ những mắt xích trọng yếu trong sự chu chuyển liên tục và bất diệt của vật chất Nếu không có vi sinh vật hay một

lý do nào đó mà hoạt động vi sinh vật trong tự nhiên ngừng lại thì dù chỉ một thời gian ngắn cũng có thể làm ngừng mọi hoạt động sống khác trên trái đất Thật vậy, người ta đã tính toán nếu không có hoạt động sống của vi sinh vật

để cung cấp CO2 cho khí quyển thì lượng CO2 đến một lúc nào đó sẽ cạn hết Lúc bấy giờ cây xanh không thể quang hợp được, sự sống của các loài sinh vật khác không tiến hành bình thường được, bề mặt trái đất sẽ biến thành lạnh lẽo

Đối với sản xuất nông nghiệp, vi sinh vật có vai trò rất lớn Thực tiễn

đồng ruộng, đồi núi, sông ngòi là những hệ sinh thái thường xuyên chịu tác

động của con người và vi sinh vật Vi sinh vật tham gia tích cực vào sự phân giải các hợp chất hữu cơ, chuyển hoá các chất khoáng, cố định nitơ phân tử để làm giàu thêm dự trữ nitơ của đất Trong hoạt động sống, vi sinh vật còn sản sinh ra nhiều chất hoạt động sinh học có tác dụng trực tiếp đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Các chất hoạt động sinh học này (axit amin, vitamin, enzym, chất kháng sinh, độc tố…) tích luỹ trong vùng rễ cây trồng, làm tăng cường sự phát triển của loài cây phù hợp với khu hệ sinh vật này và làm hạn chế sự phát triển của các loài cây khác Người ta còn nhận

Trang 38

thấy nếu không có vi sinh vật giúp cây trồng tiêu thụ các sản phẩm trao đổi chất do cây trồng tiết ra quanh bộ rễ thì một số các sản phẩm này sẽ đầu độc trở lại cây trồng ( Katznelson h,1959; Jones P.T.C,1984; Mishustin E.N, 1956) [51], [52], [60]

Trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, ở mỗi khâu vai trò của vi sinh vật đều nổi lên khá rõ rệt Vì vậy, để có thể đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông lâm nghiệp không thể không chú ý đến hoạt

động của vi sinh vật

Mỗi loại cây trồng đều có liên quan trên nhiều mặt với một tập đoàn các loại vi sinh vật nhất định, bao gồm cả những loại có ích và có hại Vì vậy ngay

từ khi quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, bố trí cây trồng cần chú ý đến vấn

đề này để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Xuân Thành, 2000) [15]

Vi sinh vật vùng rễ làm tăng khả năng hút ion khoáng của cây, nhất là

sự hút và vận chuyển P trong cây Vi khuẩn Rhizobium tập trung nhiều ở vùng

rễ cây họ đậu, vi nấm và xạ khuẩn phát triển mạnh ở vùng rễ cây rừng Vi

khuẩn cố định nitơ tự do Azotobacter gặp nhiều ở vùng rễ lúa, bèo hoa dâu

Những vi sinh vật hoại sinh phân bố ít trong vùng rễ nhưng lại tập trung nhiều trong lông hút mô rễ ( Mishra P.C, 1989; Pareek R.P, and Gaur A.C, 1973; Vidoc C, 1982; Vicent J.M, 1982) [59], [62], [68], [69]

Trong đất lúa nước có mặt tất cả các nhóm vi khuẩn cố định nitơ: hiếu khí, kỵ khí không bắt buộc, kỵ khí bắt buộc, vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn sống tự do và cộng sinh Các nhóm vi khuẩn này làm giàu nitơ sinh học cho

đất lúa hàng năm khoảng 15-50kg N/ha (Brewbacker J.L, 1996; Brockwell J.A, 1982; Lie T.A, 1974; Kostov O.N,1990) [46],[47],[57],[58]

Trang 39

Như vậy vi sinh vật có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp:

- Chế phẩm vi sinh vật không gây hại đến sức khỏe của người, vật nuôi

và cây trồng Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái

- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật trong môi trường sinh thái

- Chế phẩm vi sinh vật không làm chai đất, mà làm tăng độ phì nhiêu của đất

- Chế phẩm vi sinh vật đồng hóa các chất dinh dưỡng cho cây trồng, tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm

- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng tiêu diệt sâu hại và côn trùng gây hại

- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cây trồng

- Chế phẩm vi sinh vật phân huỷ chuyển hoá các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh hoạt, phế thải nông công nghiệp làm sạch môi trường

2.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh vật trong nước

và ngoài nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ngoài nước

Đến nay nhiều nước trên thế giới đã sản xuất chế phẩm vi sinh vật theo nhiều hướng khác nhau, nhiều dạng khác nhau Bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, trình độ dân trí và điều kiện tự nhiên của mỗi nước Nhưng tất cả đều sản xuất theo hướng đó là: tiện cho người sử dụng và cho hiệu quả kinh tế cao nhất

Các kết quả nghiên cứu từ các nước Mỹ, Canada, Nga, ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản Cho thấy sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh vật có

Trang 40

thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 đến 60kg N/ha/năm hoặc thay thế 1/2

đến 1/3 lượng lân vô cơ bằng quặng phốt phát Ngoài ra, thông qua các hoạt

động sống của vi sinh vật, cây trồng được nâng cao khả năng trao đổi chất, khả năng chống chịu bệnh và qua đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản

ở ấn Độ do sử dụng phân bón vi sinh vật cho các cây bộ đậu (lạc đậu tương), lúa, cao lương đã mang lại lợi nhuận tương ứng là: 1204, 1015, 1149,

và 343 rupi/ha tương đươngvới sự tăng năng suất lạc, đậu tương là 13,9%, lúa 11,4%, cao lương: 18,2% và bông 6,8% (Juwarka, 1994) [21]

Bảng 2.3 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở ấn độ Cây trồng/phân bón VSV Tỷ lệ tăng năng suất (%) Lợi nhuận (R/ha)

1240

1015

1149

343

Tại Thái Lan lợi nhuận đem lại do nhiễm vi khuẩn cho đậu tương 126,7

- 144 USD/ha, lạc 36,2 - 91,5 USD/ha, hay một gói chế phẩm/200g có thể thay thế cho 28,6 kg ure

Tại Trung Quốc phân bón vi sinh vật cố định đạm làm tăng năng suất cây trồng từ 7-15% tiết kiệm 20% phân khoáng, phân vi sinh vật phân giải lân tăng năng suất cây trồng 5 - 30%, phân hỗn hợp vi sinh tăng năng suất cây lương thực 10 - 30% cây ăn quả trên 40% (Limin P.J.2001- Bảng 2.4) [21]

Bảng 2.4 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Trung Quốc

Hiệu quả sử dụng Chủng loại phân vi sinh vật

% tăng năng suất % tiết kiệm phân vô cơ

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các n−ớc trong năm 2007 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 2.1. Số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các n−ớc trong năm 2007 (Trang 19)
Bảng 2.5 . Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 2.5 Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan (Trang 41)
Bảng 2.7. Tình hình sản xuất phân bón vi sinh vật của Trung Quốc - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 2.7. Tình hình sản xuất phân bón vi sinh vật của Trung Quốc (Trang 42)
Sơ đồ 2.1. Qui trình tóm tắt sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Sơ đồ 2.1. Qui trình tóm tắt sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật (Trang 45)
Bảng 4.1. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và cơ cấu kinh tế của huyện - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.1. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và cơ cấu kinh tế của huyện (Trang 64)
Bảng 4.2.  Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây l−ơng thực - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây l−ơng thực (Trang 65)
Bảng 4.3.  Diễn biến thời tiết khí hậu Thành phố Hà Nội năm 2005 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.3. Diễn biến thời tiết khí hậu Thành phố Hà Nội năm 2005 (Trang 67)
Bảng 4.4. ảnh h−ởng của phân hữu cơ vi sinh tới thời gian sinh tr−ởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.4. ảnh h−ởng của phân hữu cơ vi sinh tới thời gian sinh tr−ởng (Trang 69)
Bảng 4.5. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chiều cao cây lúa - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.5. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến chiều cao cây lúa (Trang 71)
Bảng 4.6. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến khả năng đẻ nhánh - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.6. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến khả năng đẻ nhánh (Trang 74)
Bảng 4.9. ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.9. ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình (Trang 85)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.10. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu (Trang 88)
Bảng 4.11. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.11. ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu (Trang 90)
Bảng 4.14. Hiệu quả kinh tế - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa bắc thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất ở sóc sơn   hà nội năm 2005
Bảng 4.14. Hiệu quả kinh tế (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w