Đã có một số bài viết, nghiên cứu khoa học, một số cuốn sách viết đề cập đến tập đoàn kinh tế nhà nước như: Một vài suy nghĩ về Tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam của Th.s Huỳnh Tuấn Cư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ THỊ CHÂU
HÀ NỘI - 2011
Trang 31.2.1 Tập đoàn kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam
1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với mô hình tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
34
42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TẬP ĐOÀN KINH
TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Quy định pháp luật về địa vị pháp lý của TĐKT Nhà nước
2.1.1 Hệ thống các quy định pháp luật về tập đoàn kinh tế Nhà nước
2.1.2 Địa vị pháp lý của Tập đoàn kinh tế nhà nước theo Nghị định số
101/2009/NĐ- CP
2.2 Một số bất cập pháp lý về quá trình thành lập, hoạt động của tập đoàn
kinh tế Nhà nước ở Việt Nam
2.2.1 Về thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước
2.2.2 Cơ chế giám sát hoạt động bộ máy quản lý TĐKT Nhà nước
45
45
45
48
54
54
65
Trang 42.2.3 .Quy định pháp luật quản lý tài chính trong TĐKT Nhà nước
2.3 Bài học kinh nghiệm từ hoạt động của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ
Việt Nam
67
70
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ
KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
3.1 Quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước về Tập đoàn kinh
tế Nhà nước hiện nay
3.2 Một số giải pháp về quá trình hoạt động của Tập đoàn kinh tế Nhà
nước
3.3 Một số kiến nghị về quy định của pháp luật và cách thức tổ chức của
tập đoàn kinh tế Nhà nước
3.2 1 Về tăng cường địa vị pháp lý của TĐKT nhà nước ở nước ta hiện
nay
3.2 2 Về quy định giám sát chặt chẽ bộ máy quản trị trong tập đoàn kinh
tế nhà nước
3.2.3 Về quy định quản lý vốn và sử dụng vốn trong TĐKT nhà nước
3.2.4 Về quy định đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
kinh doanh của các công ty con trong tập đoàn kinh tế nhà nước
3.2.5 Xây dựng các quy định về thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước
3.2.6 Hoàn thiện cơ chế quản lý, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà
nước với quy chế nội bộ của tập đoàn kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực,
cấp độ khác nhau
3.2.7 Các chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với tập đoàn
kinh tế Nhà nước hiện nay
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TĐKT: Tập đoàn kinh tế
TCT: Tổng công ty
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
WTO: Tổ chức thương mại quốc tế
TVN: Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam
VNPT: Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
PVN: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
VINASHIN: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
DMC: Công ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí
HĐQT: Hội đồng quản trị
IMCA: Xí nghiệp liên doanh giữa viện ứng dụng vật liệu của Ucaraina
và công ty Lionnes Consulting Ldt của Mỹ
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
KTNN: Kiểm toán nhà nước
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tập đoàn kinh tế là mô hình tổ chức kinh doanh phát triển ở nhiều nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam lại khá mới mẻ Pháp luật điều chỉnh về tập đoàn kinh tế Việt Nam thực sự mới chỉ đang ở những bước khởi động đầu tiên của sự vận hành với chủ trương nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ làm thay đổi bản chất của quá trình cạnh tranh cùng với xu thế mở cửa hội nhập nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu đã có nhưng tác động to lớn đối với nền kinh tế nước ta Đây vừa là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức rất lớn đối với một nước có đến trên 80 triệu dân
và có thu nhập bình quân đầu người thấp như nước ta Xu thế mở cửa nền kinh tế đã và đang có những tác động nhất định đến các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mà gần nhất là việc
ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam Do đó để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ở nước ta, cũng như phát huy các ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tạo thế và lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước thì việc từng bước hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết mà bước đầu là thành lập thí điểm các tập đoàn kinh tế từ các Tổng công
ty nhà nước
Hội nhập kinh tế với nền kinh tế toàn cầu cần phải tổ chức sắp xếp các doanh nghiệp nhỏ, manh mún thành những doanh nghiệp có quy mô lớn đủ khả năng hợp tác cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Ngoài ra việc tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước còn nhằm tăng cường vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tập đoàn hoạt động có hiệu quả sẽ là những mô hình nòng cốt trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Do nền kinh tế hội nhập sẽ phải chấp nhận
Trang 7cạnh tranh, là một tất yếu dẫn đến tích tụ và tập trung vốn, là điều kiện hình thành tập đoàn kinh tế
Khác với các tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ, các tập đoàn kinh tế Việt Nam được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, quen dựa vào bao cấp đã vừa độc quyền lại thích có thêm quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được
bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh nên sự tác hại của tập đoàn kinh tế khi làm ăn thiếu hiệu quả có thể gây hậu quả lớn cho nền kinh tế, vì vậy cần thận trọng trong việc thành lập
Ngày 1-7-2010, thời điểm Luật Doanh nghiệp Nhà nước hết hiệu lực, cả nước đã hình thành 12 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm dưới mô hình công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, ngoại trừ tập đoàn Bảo Việt được cổ phần hóa vào năm 2007:
- Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
-Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam
-Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam,
- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
- Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
- Tập đoàn Dệt- May Việt Nam
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam
- Tập đoàn Bảo Việt
- Tập đoàn Viễn thông quân đội
- Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
- Tập đoàn phát triển nhà và đô thị Việt Nam
Trang 8- Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam
Ngược lại với sự phát triển nhanh chóng của các Tập đoàn kinh tế nhà nước thì cơ chế pháp lý điều chỉnh mô hình này còn lỏng lẻo chồng chéo, mâu thuẫn, tính pháp lý thấp và rất ít Để tập đoàn kinh tế nhà nước phát triển một cách toàn diện, cần thiết phải có một khung pháp lý hoàn chỉnh giúp cho tập đoàn kinh tế nhà nước đi đúng hướng mà Đảng và Nhà nước đã vạch ra
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh
tế nhà nước” với mong muốn nghiên cứu để nâng cao nhận thức về địa vị pháp lý của Tập đoàn kinh tế nhà nước ta hiện nay phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và tốt nghiệp chương trình cao học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Hiện nay, Tập đoàn kinh tế nhà nước là mô hình kinh doanh được khá nhiều các chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật… quan tâm Đã có một số bài viết, nghiên cứu khoa học, một số cuốn sách viết
đề cập đến tập đoàn kinh tế nhà nước như: Một vài suy nghĩ về Tập đoàn kinh
tế nhà nước Việt Nam của Th.s Huỳnh Tuấn Cường giảng viên khoa quản trị kinhh doanh ĐH Tôn Đức Thắng; mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2005 PGS.TSKH
Vũ Huy Từ (chủ biên); những rủi ro tiềm ẩn của tập đoàn kinh tế nhà nước của T.S Trần Văn Hùng; Mô hình các tập đoàn kinh tế được thành lập theo nghị định 101/2009/NĐ-CP của Phạm Viết Đào; Tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam sau 5 năm thí điểm hoạt động của TS Đinh La Thăng; “Địa vị pháp
lý của Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan - luận văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội; “Tập đoàn kinh
tế nhà nước tại Việt Nam bản chất pháp lý và vấn đề xây dựng khung pháp lý điều chỉnh” của Nguyễn Hương Ly - luận văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội ; “Những vấn đề bất cập về tập đoàn kinh tế theo Luật doanh nghiệp 2005” Đoàn Trung Kiên , Vũ Phương Đông - tạp chí luật
Trang 9học số 9-2010; “Bất cập trong các quy định liên quan tập đoàn kinh tế và việc
sử dụng tên gọi “tập đoàn” ở Việt Nam hiện nay – kiến nghị sửa đổi” Ngô Hồng Quang – tạp chí khoa học pháp lý số 1- 2010; “Về địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế nhà nước” PGS.TS Trần Văn Nam – PGS.TS.Nguyễn Thế Quyền- kỷ yếu hội thảo về Tập đoàn kinh tế nhà nước, Đại học kinh tế quốc dân ngày 19/7/2011; “Những vấn đề rút ra từ thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế” Trần Thị Lan Hương – tạp chí tổ chức nhà nước số 8 -2010; “Hoàn thiện pháp luật về tập đoàn kinh tế nhà nước” PGS.TS Nguyễn Thế Quyền – Tạp
chí nghiên cứu lập pháp số 13/2011…và một số bài viết khác có đề cập đền thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
Tuy nhiên, theo chúng tôi chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về pháp luật tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay, cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tập đoàn kinh tế nhà nước một cách cụ thể
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi tiềm năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật trong điều kiện cơ chế kinh tế mới Trong đó, luận văn đặc biệt chú ý vận dụng phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử để phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp trong quá trình giải quyết những vấn
đề mà đề tài đặt ra
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, nâng cao sức mạnh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước trong môi
Trang 10trường kinh doanh Từ thực tiễn xây dựng pháp luật trong thời gian qua, mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ quan niệm về khung pháp luật, vai trò của khung pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước, để Tập đoàn kinh tế nhà nước vận hành một cách đồng bộ và hợp lý.Trên cơ sở đó, tìm ra những phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị về Tập đoàn kinh tế nhà nước
Xuất phát từ yêu cầu của đề tài là nghiên cứu pháp luật và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TĐKT nhà nước nên luận văn đưa
ra cơ cấu cơ bản của pháp luật về TĐKT nhà nước nói chung, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh mô hình kinh doanh này ở nước ta hiện này, tìm ra những những nội dung còn thiếu hoặc chưa đạt yêu cầu so với tiêu chuẩn đã chọn Những nội dung chưa có, chưa hoàn chỉnh, cần phải xây dựng mới hoặc tiếp tục xây dựng cho hoàn chỉnh thêm Những nội dung đã đạt yêu cầu bước đầu, cần phải tiếp tục giữ vững và hoàn thiện cùng với yêu cầu thực tế
Để thực hiện mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về Tập đoàn kinh tế nhà nước như là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước
- Nghiên cứu, lý giải khái niệm pháp luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước;
từ đó xác định vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước Đây cũng chính là những thành tựu
đã đạt được cũng như một số vấn đề còn tồn tại của quá trình xây dựng pháp luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước ở nước ta trong thời gian qua
- Đề ra những định hướng, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 11Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay là mô hình kinh doanh mới được thành lập khoảng 6 năm trở lại đây Từ khi được thành lập tới nay,
đã có một số vụ bê bối lớn của các Tập đoàn kinh tế nhà nước xảy ra nên đây
là mô hình kinh doanh được coi là nhạy cảm trong thời gian này Mô hình này
có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật Pháp luật đươc coi là phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho Tập đoàn kinh
tế vận hành bình thường và phát huy tác dụng Luận văn tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ những quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới Tập đoàn kinh tế nhà nước mà không nghiên cứu toàn bộ vấn đề liên quan tới cơ chế kinh tế và cũng không nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới Tập đoàn kinh tế nhà nước Khái niệm pháp luật Tập đoàn kinh tế nhà nước được đề cập trong luận văn là khái niệm tổng hợp chỉ tổng thể các nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước cùng tổng thể các qui phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau có quan hệ trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của Tập đoàn kinh tế nhà nước
Khi nghiên cứu pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước, luận văn cũng tập trung nghiên cứu những nội dung có liên quan trực tiếp nhất đến
sự hình thành và hoạt động của Tập đoàn kinh tế nhà nước Vì vậy, hướng nghiên cứu của luận văn luôn bám sát những yêu cầu của Tập đoàn kinh tế nhà nước mà pháp luật cần phải thể chế hoá và đảm bảo thực hiện
Tác giả luận văn cũng nhận thức được, để hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về tập đoàn kinh tế nhà nước, cần phải giải quyết nhiều vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như cải cách bộ máy hành chính, nâng cao năng lực quản
lý của đội ngũ cán bộ, cải cách thủ tục hành chính Đó là những vấn đề rất phức tạp cần phải được tiếp tục nghiên cứu ở các công trình khoa học pháp lý tiếp theo
6 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12- Khẳng định vai trò to lớn của mô hình tập đoàn kinh tế trong quá trình hội nhập nền kinh tế của Việt Nam hiện nay
- Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động, thực trạng về pháp luật điều chỉnh mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế này
- Kết quả nghiên cứu đề tài này, có thể là liệu tham khảo cho những nhà lập pháp để đưa ra các quy định pháp luật mang tính tối ưu điều chỉnh hoạt động của mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
7 Điểm mới và kết quả mong muốn:
Luận văn có những điểm mới sau:
- Luận văn là công trình nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ luật học một cách tương đối có hệ thống lý luận pháp luật Việt Nam về tập đoàn kinh tế Nhà nước Cụ thể là:
+ Luận văn đã hệ thống các nguyên tắc pháp lý cơ bản chi phối toàn bộ pháp luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước
+ Luận văn đã khái quát, hệ thống các văn bản pháp luật trong việc điều chỉnh mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước
- Luận văn phân tích và đánh giá về việc làm ăn thua lỗ của Tập đoàn Vinashin vừa qua, và rút ra bài học kinh nghiệm chung cho cách quản lý và hoạt động của các Tập đoàn kinh tế nhà nước
- Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những nội dung pháp luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến việc vận hành và phát triển Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
8 Kết cấu của đề tài
Trang 13Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế nhà nước
Chương 2: Thực trạng về pháp luật Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 1.1 Khái quát chung về tập đoàn kinh tế nhà nước
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam
Vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước tại các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã bắt đầu có phong trào hình thành các Liên hiệp xí nghiệp theo ngành nghề trong mọi ngành kinh tế Những ngành nghề này, được thúc đẩy để tạo điều kiện tích lũy tài sản, công cụ sản xuất, vốn sản xuất Đây là quy trình chuyển biến tất yếu của sự tích tụ vật chất để tăng hơn nữa hiệu quả kinh tế, trình độ kĩ thuật, tập trung nguồn lực đầu tư vào nhiều mục đích hợp lý khác trong xã hội
Vì sự hợp lý của các mục tiêu và hiệu quả mà nó mang lại nên các Liên hiệp xí nghiệp hay các tổng công ty ở Đông Âu và Liên Xô cũ phát triển rất nhanh và không thể cưỡng lại, hình thành các tổ chức kinh tế siêu lớn nhiều tầng lớp lên đến các bộ ngành, đối trọng lại với các tập đoàn kinh tế quốc gia
và siêu quốc gia của các nước Tư bản chủ nghĩa trong môi trường của chiến tranh lạnh
Có thể nói, ở mỗi thời kỳ phát triển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúng ta có các cách gọi tên mô hình kinh tế khác nhau, nhưng xét về bản chất kinh tế của doanh nghiệp thì mô hình sơ khai của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước được hình thành từ Nghị quyết Trung ương 3, khoá IV của Đảng với tên gọi: "Liên hiệp các xí nghiệp", là "trong công nghiệp, ở những nơi có điều kiện cần tổ chức các liên hiệp xí nghiệp có đủ quyền hạn và trách nhiệm là những đơn vị kế hoạch, đơn vị kinh doanh của ngành "
Như vậy, ngay từ đầu chúng ta đã khẳng định sự tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, bước đầu hình thành ý tưởng tách quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh, xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu mới của mô hình sản xuất mới trong các doanh nghiệp Sau một thời gian ngắn tổ chức thực hiện,
Trang 15Hội nghị Trung Ương 6, khoá IV tiếp tục cụ thể hoá quá trình tổ chức liên hiệp xí nghiệp ,tổ chức sản xuất phải theo hướng từng bước thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá và liên hiệp hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Các liên hiệp xí nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế Việc tổ chức liên hiệp các xí nghiệp phải được tiến hành chu đáo, vững chắc, đạt hiệu quả kinh tế thiết thực, không để trở thành cấp trung gian hình thức
Lần đầu tiên cụm từ "Tập đoàn kinh tế" được xuất hiện trong Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII: "Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng
tổ chức các tập đoàn kinh tế, khắc phục tính chất hành chính trung gian" [7] Việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình hình thành, sử dụng cụm từ "Tập đoàn kinh tế" trong các nghiên cứu, văn kiện của Đảng chính là cơ sở để có thể đưa ra những nhận xét, những đánh giá khách quan về mô hình tổ chức sản xuất này Như một số đoạn trích đã nêu trên, chứng tỏ tư duy về mô hình
tổ chức sản xuất của nhóm doanh nghiệp cũng phát triển với quá trình đổi mới
tư duy kinh tế phù hợp với thực tế phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đời sống xã hội và bối cảnh kinh tế quốc tế Muốn thực hiện công nghiệp hoá theo hướng hiện đại đất nước thì phải đẩy mạnh quá trình tích tụ, tích lũy và tập trung nguồn lực, nguồn vốn lớn Tương ứng với quá trình này là những doanh nghiệp có quy mô ngày một lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 91/TTg - ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập Tập đoàn kinh tế kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ Ý tưởng thành lập các tổng công ty lớn để từ đó pháp triển thành các Tập đoàn kinh tế là của nguyên Thủ tướng chính phủ Võ Văn Kiệt
Trang 16Trên cơ sở quyết định này, 18 Tổng công ty thường được gọi là TCT91 được thành lập Các tổng công ty (TCT) được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các tổng công ty chiếm toàn ngành Tuy nhiên, hoạt động của nhiều tổng công ty nhà nước còn thiếu năng động, linh hoạt trong kinh doanh, vẫn với cung cách làm ăn cũ, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể so với chất lượng của các sản phẩm cùng loại trên thị trường, sản lượng thấp Ý tưởng về tập đoàn kinh tế được Thủ tướng Chính phủ đưa ra ngay từ khi quyết định thành lập TCT 91
Nhưng phải gần 10 năm sau, đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001) về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề thành lập Tập đoàn kinh
tế nhà nước mới được đề cập một cách cụ thể Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ:
"Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong
đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước
và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…” [8]
Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu:
1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty
có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế;
Trang 172 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác;
3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn;
4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế
Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương tháng 01 năm 2004 đã đưa ra định hướng xác định: “Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty nhà nước; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công ty làm nòng cốt, có sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nước và đầu tư của nước ngoài”
Triển khai Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa
IX (tháng 9-2001) và định hướng của Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương tháng 01 năm 2004, tháng 11-2005, Tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TVN) đã ra đời và đi vào hoạt động, theo Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg, ngày 8-8-2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thành lập công ty mẹ Cùng năm đó, Tổng công ty Dệt may Việt Nam cũng được chuyển thành Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt Tiếp theo đó năm 2006, tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), tổng công
ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)
Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để tổng công ty Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam; và Tập đoàn
Trang 18Chế tạo cơ khí nặng (do TCT Lắp máy Việt Nam làm nòng cốt); TCT Cao su Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam; đầu năm
2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam, hoạt động theo hình thức công ty mẹ -công ty con với đơn vị nòng cốt là Tổng công ty Sông Đà và nhiều doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực tương đồng thuộc Bộ Xây dựng.Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam sẽ kinh doanh đa ngành, trong đó xây dựng và tổng thầu xây dựng các công trình, chế tạo và sản xuất vật liệu xây dựng là ngành mũi nhọn, làm nòng cốt để ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh, hoạt động hiệu quả.Về cơ cấu, công ty
mẹ -Tổng công ty Sông Đà là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, sẽ trực tiếp tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư tài chính vào công ty con, công ty liên kết Đồng thời, giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài sản được Nhà nước giao quản lý Để dần hình thành một tổ chức kinh tế mạnh đa sở hữu, nhưng trong đó sở hữu Nhà nước chiếm
tỷ lệ chi phối Thủ tướng chỉ đạo Bộ trưởng Bộ Xây dựng phải có quyết định chuyển giao quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại 5 tổng công ty gồm: Lắp máy Việt Nam, Xây dựng và phát triển hạ tầng, Cơ khí xây dựng, Cổ phần Sông Hồng, Cổ phần Đầu tư phát triển xây dựng cho Hội đồng quản trị công ty mẹ - Tập đoàn Sông Đà Cho đến thời điểm thành lập (12/1/2010), đã có 29 công ty con do Tập đoàn Sông Đà nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 16 công ty con do Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ và 4 tổng công ty do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ
Nhìn chung, các Tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập ở Việt Nam hiện nay đều là tổ chức lại các tổng công ty nhà nước (các tổng công ty 90 và 91): gồm 10 tập đoàn: Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam,
Trang 19Tập đoàn Bảo Việt, Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam Tổ hợp các doanh nghiệp độc lập có cùng lĩnh vực hoạt động: gồm 2 tập đoàn là Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam được thành lập trên cơ sở
tổ hợp các doanh nghiệp độc lập hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng
và cơ khí chế tạo, bao gồm: Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Sông Hồng, Tổng công ty Cơ khí Xây dựng, Tổng công ty Đầu tư phát triển xây dựng, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam và Tổng công ty Xây dựng và Phát triển hạ tầng Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam thành lập trên cơ sở tổ hợp từ: Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng, Tổng công ty Đầu tư xây dựng cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam
Sự phát triển của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trải qua một số giai đoạn, được đánh dấu bởi một số quyết định của Thủ tường chính phủ và văn bản pháp lý của nhà nước Như đã nói ở phần trên, mô hình tập đoàn kinh tế được manh nha từ quyết định 91/TTg ban hành năm 1994 Thế nhưng theo đánh giá của một nhóm nhà nghiên cứu của viện quản lý kinh tế trung ương (CIEM) thì mặc dù đây là “văn bản đầu tiên xác lập các tiêu chí về tập đoàn nhưng chưa đề cập đúng bản chất và đặc thù về mô hình, tổ chức quản lý và hoạt động của Tập đoàn kinh tế, dẫn đến hoạt động của các tổng công ty chưa thể phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế” Vì lý do này nên cho đến năm
2003 – tức là sau gần 10 năm khi ý tưởng về mô hình tập đoàn kinh tế được tuyên bố chính thức – kết quả hoạt động và tổ chức của các tổng công ty vẫn chưa đủ mạnh để là cơ sở cho sự hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước
Theo báo cáo của ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp ngày 15.2.2011, quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được xác định là 540.701 tỉ đồng, tăng 11,75% so với năm 2009 Trong khi
đó, tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỉ đồng Như vậy, chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại trong năm vừa qua [12]
Trang 20Đặc biệt, báo cáo cũng cho biết có đến 80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ bốn tập đoàn là Dầu khí, Viễn thông quân đội, Bưu chính viễn thông và Cao su Như vậy, ở các tập đoàn, tổng công ty còn lại, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu kể trên còn thấp hơn nữa
1.1.2 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế Nhà nước:
Hiện nay trên thế giới khái niệm Tập đoàn kinh tế vẫn chưa được thống nhất Mỗi khu vực trên thế giới có cách sử dụng các thuật ngữ, khái niệm về tập đoàn kinh tế khác nhau, nhưng chưa có một khái niệm hay thuật ngữ nào được coi là chuẩn mực Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến Tập đoàn kinh tế người ta thường sử dụng các cụm từ như: “Consortium”,
“Conglomerate”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay “Group” Ở một số nước châu Á, người Nhật thường gọi Tập đoàn kinh tế là “Keiretsu” hoặc
“Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; các Tập đoàn kinh tế ở Đài Loan được gọi là “Guanxiquiye”, còn ở Trung Quốc, cụm từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này
Mặc dù về mặt ngôn ngữ, tùy theo từng nước, người ta có thể dùng nhiều
từ khác nhau để nói về khái niệm TĐKT, song trên thực tế, việc sử dụng từ ngữ lại phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại Tập đoàn kinh tế
Thuật ngữ chỉ về sự liên kết như:
- Group, Business group, Corporate group, Alliance:
Thường ám chỉ hình thức Tập đoàn kinh tế được tổ chức trên cơ sở kết hợp tính đặc thù của tổ chức kinh tế với cơ chế thị trường: về đặc trưng, đó là một nhóm công ty có tư cách pháp nhân riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ liên kết về phương diện quản lý Mối quan hệ giữa các công ty trong một Tập đoàn kinh tế có thể là chính thức hoặc không chính thức
Trang 21- Consortium:
Xét về phương diện ngôn ngữ, “Consortium” là một từ gốc Latin có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội”, được sử dụng để chỉ sự tập hợp của 2 hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham gia vào một hoạt động chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung Khi tham gia vào một Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân độc lập của mình
Thông thường, vai trò kiểm soát của Consortium đối với các công ty thành viên chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cả tập đoàn, đặc biệt là việc phân phối lợi nhuận Sự ra đời của một Consortium được xác lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của từng công ty thành viên tham gia Consortium;
Tập đoàn kinh doanh chuyên sâu như:
Tập đoàn dầu khí, tập đoàn tài chính - ngân hàng, tập đoàn truyền thông, tập đoàn xây dựng, tập đoàn dịch vụ du lịch, tập đoàn nhà hàng – khách sạn… Đây là những tập đoàn kinh tế chuyên kinh doanh trong một lĩnh vực, ngành nghề nhất định
Theo phạm vi hoạt động:
Là các tập đoàn đa quốc gia nếu tập đoàn đó có cơ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau; hoặc các doanh nghiệp có thể dựa trên sự liên kết kiểu gia đình như dạng Family Business (như của Ford, Motorola, Cargill…)
Tuy có sự khác nhau về thuật ngữ và nội dung chuyển tải, nhưng các khái niệm “Tập đoàn kinh tế” trên thế giới đều được hiểu là một cơ cấu, hoặc một
tổ hợp, một nhóm các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về vốn, quản trị, công nghệ, thương hiệu, thị trường, ngành nghề, phân phối lợi ích… mối quan
Trang 22hệ này dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nhưng chủ yếu trên ba nền tảng của quan hệ:
- Sở hữu vốn của công ty mẹ đối với công ty con, công ty “cháu”, hoặc
sở hữu vốn của các công ty với nhau trong cùng một tập đoàn nhưng theo các mức độ khác nhau, có thể như kiểm soát, chi phối hoặc góp vốn đầu tư vào các công ty này một cách đơn thuần
- Quản trị công ty mẹ đối với các công ty con thông qua việc cử người
đại diện cho phần vốn góp và xây dựng hệ quản trị chung cho các tập đoàn Theo đó các công ty trong tập đoàn kinh tế (dù bị chi phối hay không bị chi phối về vốn) cam kết chấp thuận hệ quả quản trị tập đoàn và tuân thủ theo hệ quản trị tập đoàn để xây dựng giá trị cốt lõi, mục tiêu dài hạn và sứ mệnh của tập đoàn
- Quan hệ thương hiệu thể hiện khá rõ nét khi các công ty liên kết trong
tập đoàn sử dụng hoặc được phép sử dụng chung thương hiệu của công ty mẹ
Do đó các quyết định của công ty mẹ đối với các công ty con cũng như các công ty thành viên trong tập đoàn (thường ám chỉ chung là quyết định của tập đoàn) không chỉ đơn thuần dựa vào “lá phiếu” biểu quyết mà còn thông qua các hình thức khác như các nguyên tắc quản trị tập đoàn, các kế hoạch, định hướng, sứ mệnh, giá trị cốt lõi và quy định nội bộ khác của tập đoàn bao quát toàn bộ cấu trúc hoạt động chung của cả tập đoàn
Các nhà kinh tế học trên thế giới cũng đưa ra nhiều định nghĩa về TĐKT:
“Tập đoàn kinh tế là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị trường khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung, trong đó các thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ
tin cậy lẫn nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại”(Leff, 1978);
Trang 23“Tập đoàn kinh tế là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với
nhau trong một thời gian dài” (Powell & Smith- Doesrr, 1934);
“Tập đoàn kinh tế dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông qua mối ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sát
nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất” (Granovette, 1994)
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, việc cơ cấu sắp xếp lại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé, hoạt động manh mún thành những doanh nghiệp lớn không chỉ có đủ khả năng trở thành đối tác mà còn có thể cạnh tranh với các Tập đoàn kinh tế của nước ngoài trở thành một yêu cầu hết sức cấp thiết và phù hợp với quy luật phát triển
Tại nhiều nước trên thế giới, Tập đoàn kinh tế đã có bề dày lịch sử phát triển từ hàng trăm năm nay và trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế quốc dân
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm Tập đoàn kinh tế mới chỉ được nhắc đến nhiều trong thập niên cuối của thế kỷ trước Có lẽ vì thế mà những nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế ở nước ta cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn vẫn còn rất hạn chế Ở Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có khái niệm chính xác về tập đoàn kinh tế, mà thực chất xung quanh vấn đề này còn rất nhiều tranh cãi và chưa được thống nhất, nhiều quan điểm đã được đưa ra
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì Tập đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
Điều 146 quy định: "Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan
hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch
Trang 24vụ kinh doanh khác Thành phần của nhóm công ty gồm có: Công ty mẹ, công
ty con, tập đoàn kinh tế, các hình thức khác."
Điều 149 quy định: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn, chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”
Ngoài các quy định trong Luật và nghị định còn có các quan điểm khác
về Tập đoàn kinh tế:
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở: Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu
là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển [34]
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở: Mô hình tập đoàn là một hình thái tổ chức giữa các doanh nghiệp Còn nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập.[34]
Tuy nhiên để đưa ra khái niệm về tập đoàn kinh tế, chúng ta nên dựa vào quy định chính thức của pháp luật do nhà nước ban hành Theo điều 38 Nghị định 102/ 2010/NĐ - CP hướng dẫn thi hành một số điều luật doanh nghiệp đã hướng dẫn bổ sung về khái niệm tập đoàn kinh tế như sau:
“ Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại, hoặc các hình thức gắn bó liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường
Trang 25và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên, dưới hình thức công ty mẹ công ty con
Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của luật doanh nghiệp, việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty thành lập tập đoàn tự nguyện thoả thuận quyết định”
Công ty mẹ trong Tập đoàn kinh tế được tổ chức dưới hình thức công ty
cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện nêu tại khoản
15 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp (một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp: Sở hữu trên 50% vốn điều
lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó; có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó)
Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty
Cụm từ "tập đoàn" có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành nên tên riêng của công ty mẹ, phù hợp với những quy định từ Điều 31 đến Điều 34 của Luật Doanh nghiệp sửa đổi bổ sung năm 2009 về các yêu cầu đặt tên doanh nghiệp
Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính hợp nhất, giám sát hoạt động tài chính của Tập đoàn kinh tế, của nhóm công ty mẹ - công ty con thuộc Tập đoàn kinh tế
Bộ Công Thương hướng dẫn việc giám sát các tập đoàn kinh tế, nhóm công ty mẹ - công ty con thuộc tập đoàn kinh tế thực hiện các quy định về hạn
Trang 26chế cạnh tranh, chống lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009, và nghị định 102/2010/NĐ- CP thì cơ cấu tổ chức của các Tập đoàn vẫn chưa được làm rõ, quy định rất chung chung, điều này có thể làm cho các công ty, các doanh nghiệp hiểu sai về bản chất, cấu trúc của Tập đoàn kinh tế
Ở Việt Nam cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đã có rất nhiều doanh nghiệp ra đời và phát triển không ngừng Số lượng các công ty tăng lên, quy
mô các công ty ngày càng lớn, và đã xuất hiện các tập đoàn thuộc sở hữu tư
nhân và của nhà nước
Các tập đoàn “tự phong” này được hình thành thông qua việc thành lập một số công ty con, chủ yếu có quan hệ về vốn sở hữu với công ty mẹ hoặc với nhóm chủ sở hữu lớn của công ty mẹ Do Luật Doanh nghiệp quy định tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không được đăng ký kinh doanh, nên nhiều công ty đưa luôn cụm từ “tập đoàn” vào trong tên đăng ký chính thức của công ty mẹ như một cách để khẳng định tầm cỡ và vị thế hùng mạnh của mình Ngày càng nhiều công ty có tên “Công ty cổ phần tập đoàn…” ra đời cùng với sự ra đời của các nhóm công ty có mối liên kết với nhau theo nhiều hình thức, nhưng đa số vẫn là hình thức đầu tư, góp vốn từ công ty mẹ hoặc các chủ sở hữu lớn của công ty mẹ
Tên gọi tâp đoàn đã quá quen thuộc, thậm chí còn bị lạm dụng, nhưng một mô hình Tập đoàn kinh tế hoàn chỉnh, phù hợp cho một nhóm công ty, một nhóm doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết, gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế với nhau thì dường như vẫn còn khá xa lạ với các công ty, các doanh nghiệp ở Việt Nam Khi nói đến mô hình tập đoàn, nhiều người nghĩ ngay đến cấu trúc tổ chức tổng thể của tập đoàn, mà cụ thể là cách thức bố trí các công
ty thành viên trên sơ đồ tổ chức của tập đoàn Xa hơn chút nữa, trên cơ cấu tổ
Trang 27chức có thể kèm theo các mũi tên thể hiện chiều đầu tư vốn từ công ty này sang công ty khác Cách hiểu đơn giản này tạo nên một thực trạng không tốt là nhiều công ty lớn muốn nhanh chóng có được danh hiệu tập đoàn, muốn thể hiện quy mô của mình bằng cách bung ra thành lập một số công ty con mà không có sự chuẩn bị kỹ càng trong việc lựa chọn mô hình, cũng như ngành nghề kinh doanh phù hợp để đem lại sức mạnh cộng hưởng tốt nhất cho nhóm công ty trong tập đoàn
Trên thế giới, mô hình tập đoàn thông thường được phân loại theo ba yếu tố: cơ chế đầu tư vốn, cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế (hay phương thức) quản lý
Theo cơ chế đầu tư vốn: Tập đoàn có thể có lựa chọn một trong các mô
hình đầu tư: đơn cấp, đồng cấp, đa cấp, hoặc hỗn hợp (phối hợp nhiều hình thức đầu tư) Trong mô hình đầu tư đơn cấp, công ty mẹ lẫn công ty con đều chỉ đầu tư xuống một cấp trực tiếp, không đầu tư xuống cấp xa hơn Trong đầu tư đồng cấp, các công ty trong cùng một cấp đầu tư qua lại Trong mô hình đa cấp, các công ty, đặc biệt là công ty mẹ, vừa đầu tư trực tiếp vào các công ty con, không thông qua công ty trung gian nào Cuối cùng, mô hình hỗn hợp là mô hình phối hợp nhiều hình thức đầu tư (đơn cấp, đồng cấp, đa cấp) giữa các công ty trong tập đoàn
Theo cơ chế liên kết kinh doanh: Tập đoàn có thể có các mô hình: liên
kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang, và liên kết hỗn hợp Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành (ví dụ các công ty cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, vận tải, bán hàng, tiếp thị, dịch vụ hậu mãi…) Liên kết theo chiều dọc có thể là tích
hợp ngược (backward integration) – hướng về bên trái chuỗi giá trị, (ví dụ
công ty sản xuất mua lại hoặc đầu tư vốn vào các công ty cung ứng nguyên
liệu cho mình) hoặc tích hợp xuôi (forward integration) – hướng về bên phải
chuỗi giá trị, (ví dụ công ty sản xuất mua lại hoặc đầu tư vốn vào một công ty
Trang 28thương mại/tiếp thị/vận tải để tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất) hoặc cả hai Mối liên kết này đem lại nhiều lợi thế về chi phí, về sự chủ động nguồn nguyên liệu, chủ động trong việc sản xuất và đưa hàng ra thị trường, khả năng kiểm soát các dịch vụ…, nhưng cũng có khó khăn là sẽ bị phân tán nguồn lực, khó tập trung vào hoạt động chủ yếu tạo giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị Liên kết theo chiều ngang là sự kết hợp giữa các công ty có các sản phẩm, dịch vụ liên quan với nhau và có thể sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả (ví dụ công ty sản xuất máy ảnh với công ty sản xuất phim và giấy ảnh, công ty sản xuất sữa đậu nành với công ty sản xuất nước tăng lực, nước suối đóng chai…) Mối liên kết này tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro Tuy nhiên cũng có trở ngại là thiếu sự chủ động ở một số khâu như cung ứng nguyên liệu, sản xuất, kho vận… so với liên kết dọc Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc và ngang
Theo cơ chế quản lý: Tập đoàn có thể lựa chọn một trong các mô hình:
tập trung, phân tán, hay hỗn hợp Trong mô hình tập trung, quyền lực được tập trung ở cơ quan quản lý đầu não (thường là công ty mẹ) Trong mô hình phân tán, công ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (ví dụ chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, đầu tư, nhân sự…), giao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty con Trong mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con, vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu, quan trọng Tuy nhiên, một mô hình tập đoàn không chỉ dừng lại ở cấu trúc tổ chức tổng thể với các cơ chế liên kết, quản lý tổng quát như
mô tả ở trên Để xây dựng một mô hình tập đoàn hoàn chỉnh, các công ty còn phải thiết kế rất nhiều cơ cấu, cơ chế, nguyên tắc quản lý, điều hành và lựa chọn cơ cấu, cơ chế, nguyên tắc tối ưu cho tập đoàn Trong số các cơ cấu, cơ chế, nguyên tắc quản lý, điều hành quan trọng cần có cho tập đoàn, có thể kể đến cơ cấu tổ chức của công ty mẹ, điều lệ công ty mẹ, bộ nguyên tắc quản trị công ty của tập đoàn, các nguyên tắc quản lý điều hành của tập đoàn (trong đó
Trang 29nêu rõ các nguyên tắc chính về quản lý tài chính, vốn, nhân sự, thương hiệu, công nghệ, giao dịch nội bộ…), quy chế tổ chức hoạt động của hội đồng quản trị, ban kiểm soát công ty mẹ, mô tả chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban công ty mẹ… và còn nhiều tài liệu khác thể hiện mối tương tác giữa công ty
mẹ với các công ty thành viên cũng như giữa các công ty thành viên với nhau trong tập đoàn…[32]
Như vậy, một mô hình tập đoàn hoàn chỉnh không chỉ có phần “cứng” là
số lượng các công ty thành viên, cơ cấu góp vốn, đặc điểm hoạt động của mỗi công ty thành viên mà còn bao gồm phần “mềm” là mối quan hệ tương tác giữa các công ty thành viên, sự phân chia quyền lực, bộ nguyên tắc quản trị công ty, các nguyên tắc quản lý điều hành tập đoàn… Sự thiếu chuẩn bị hoặc chuẩn bị quá sơ sài phần “mềm” này là nguyên nhân gây nên những bất cập, xung đột dẫn đến sự tan rã hoặc hoạt động kém hiệu quả của tập đoàn Không
có một mô hình tập đoàn tối ưu chung cho mọi nhóm công ty Mô hình tập đoàn phụ thuộc vào mục tiêu và định hướng chiến lược chung của tập đoàn, đặc điểm, tính chất, mục tiêu và chiến lược các công ty thành viên trong tập đoàn; môi trường kinh doanh và hệ thống pháp luật ở các quốc gia nơi công ty
mẹ và các công ty thành viên khác hoạt động Điều oái oăm là các công ty hiện nay hầu hết xây dựng tập đoàn trong hoàn cảnh chưa có mục tiêu và định hướng chiến lược cụ thể Nhiều công ty con được thành lập chỉ để giải quyết một vấn đề hay để hỗ trợ một hoạt động kinh doanh cụ thể, ngắn hạn của công
ty mẹ Cũng có trường hợp các công ty con được thành lập chỉ để cho có số lượng và thêm phần thuyết phục khi công ty mẹ muốn tự phong là tập đoàn
Thiết kế mô hình tập đoàn một cách chuyên nghiệp, bài bản là nhu cầu có thật và bức thiết của nhiều nhóm công ty dù đã, đang hay sẽ “tự phong” là tập đoàn Để một tập đoàn thật sự có cả “tên” lẫn “tuổi”, việc lựa chọn một mô hình phù hợp là điều không thể bỏ sót Một mô hình tập đoàn tối ưu sẽ tạo sức
Trang 30mạnh tổng hợp và cộng hưởng, giúp các công ty thành viên trong nhóm lớn mạnh thực sự, từ đó làm nên sự lớn mạnh của cả tập đoàn
TĐKT nhà nước được quy định tại Điều 4 của nghị định
101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà
nước:“Tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm thành lập theo Nghị định này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ – công ty con
và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”
Tập đoàn kinh tế nhà nước có những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các
tổng công ty nhà nước theo quyết định của Chính phủ
Thứ hai, hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác khó có thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý; là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ
Thứ ba, hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con (chuyển từ
quan hệ hành chính trong tổng công ty nhà nước trước đây sang quan hệ về đầu tư vốn); quy mô và khả năng tích tụ vốn có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các tổng công ty trước đây (trước khi chuyển đổi sang mô hình tập đoàn); phạm vi hoạt động được mở rộng không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài
Thứ tư, hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong tập đoàn
kinh tế được nâng cao; quan hệ chặt chẽ giữa các đơn vị thành viên về đầu tư vốn và tài chính, thị trường, phân công chuyên môn hóa, nghiên cứu và phát
Trang 31triển, thể hiện rõ nét đặc trưng quan hệ giữa các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn kinh tế
Thứ năm, quan hệ nội tại của tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm:
- Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ – công ty con, công
ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp), công ty con ở nước ngoài
- Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
- Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết, có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn
- Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp nhân; có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung của Tập đoàn Nhà nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ Công ty
mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết
Trang 32Thứ sáu, quan hệ giữa tập đoàn với bộ, ngành và Chính phủ: Nhà nước là
chủ sở hữu của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Chính phủ thống nhất thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ và đối với phần vốn nhà nước tại tập đoàn kinh tế nhà nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập công ty mẹ, quyết định tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công
ty mẹ theo đề nghị của bộ quản lý ngành và ý kiến của các bộ, ngành có liên quan; Thủ tướng Chính phủ giao bộ quản lý ngành, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ và hội đồng quản trị tập đoàn thực hiện một số quyền của chủ sở hữu theo pháp luật hiện hành, theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của từng tập đoàn
Thứ bảy, quản lý, giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước được thực
hiện theo các phương thức: Thông qua chế độ báo cáo của hội đồng quản trị công ty mẹ; thông qua thực hiện kiểm toán tại công ty mẹ và các đơn vị thành viên; thông qua thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của công ty mẹ; thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá của các cơ quan theo quy định của pháp luật
Dựa vào quy định chung tập đoàn kinh tế và quy định tập đoàn kinh tế Nhà nước, có thể thấy với quy đinh chung vẫn chưa rõ ràng cụ thể, những quy định còn khá chung chung, và những quy định giải thích kèm theo không có nhiều Đối với tập đoàn kinh tế Nhà nước thì được quy định và giải thích rõ ràng trong Nghị định 101/NĐ- CP/2009, giúp chúng ta có thể hiểu rõ và phân biệt được bản chất của Tập đoàn kinh tế nhà nước và Tập đoàn kinh tế tư nhân
ở Việt Nam về cách quản lý và chủ thể là chủ sở hữu của Tập đoàn Ngoài ra
có một sự khác biệt, Tập đoàn kinh tế tư nhân được thành lập dựa trên ý chí tự thỏa thuận của các công ty tự nguyện liên kết với nhau và có mong muốn đạt được lợi ích chung về kinh tế mà không cần đăng ký kinh doanh ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền, còn Tập đoàn kinh tế nhà nước được thành lập bằng một quyết định hành chính của Thủ tướng chính phủ
Trang 33Với những phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty có quy mô lớn, Nhà nước sở hữu nguồn vốn lớn chi phối, liên kêt dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, hay các hình thức liên kết khác được pháp luật thừa nhận, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn kinh tế Nhà nước:
Tại Điều 2 trong quyết định số 91/TTG ngày 7-3-1994 của Thủ Tướng chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh, nguyên tắc hoạt động của tập đoàn được quy định:
- Tập đoàn là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về tài chính và các dịch vụ liên quan
và có qui mô tương đối lớn;
- Việc thành lập tập đoàn phải đảm bảo vừa hạn chế độc quyền vừa hạn chế cạnh tranh bừa bãi Có thể tổ chức theo 3 loại: Tập đoàn toàn quốc; tập đoàn khu vực; tập đoàn vùng (ở những thành phố lớn)
- Tập đoàn phải có 7 doanh nghiệp thành viên trở lên và có vốn pháp định ít nhất là 1.000 tỷ đồng;
- Về nguyên tắc, tập đoàn có thể hoạt động kinh doanh đa ngành song nhất thiết phải có định hướng ngành chủ đạo, mỗi tập đoàn được tổ chức công
ty tài chính để huy động vốn, điều hoà vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển của nội bộ tập đoàn hoặc liên doanh với các đơn vị kinh tế khác;
- Hội đồng quản lý của tập đoàn gồm 7-9 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, có trách nhiệm: Thực hiện quyền sử dụng và quản lý của các nguồn vốn của Nhà nước, phân giao và điều hoà vốn chung trong nội bộ tập
Trang 34đoàn; quyết định chiến lược phát triển và các phương án kinh doanh của tập đoàn; quyết định phương án tổ chức bộ máy điều hành tập đoàn và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc và kế toán trưởng của tập đoàn;
- Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của tập đoàn trong quan hệ kinh doanh trước bạn hàng và trước pháp luật; tổ chức xây dựng kế hoạch và điều hành toàn bộ hoạt động của tập đoàn theo quyết định của Hội đồng quản lý;
- Ban kiểm soát được thành lập theo qui chế tổ chức của hệ thống kiểm tra, kiểm soát Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của Hội đồng quản lý, bộ máy điều hành tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên;
- Nhiệm vụ và quyền hạn các doanh nghiệp thành viên:
Thực hiện quyền hạn và trách nhiệm theo điều lệ của tập đoàn; Chấp hành luật pháp, chính sách theo qui định của Nhà nước và chịu sự kiểm tra của các cơ quan chức năng có thẩm quyền
Theo điều 12 của Nghị định 101/2009/NĐ-CP quản lý, điều hành tập đoàn kinh tế nhà nước thực hiện theo một hoặc một số phương thức sau đây:
- Quản lý, điều hành thông qua công ty mẹ;
- Quản lý, điều hành thông qua các hình thức đầu tư, liên kết;
- Quản lý, điều hành thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng dịch vụ chung trong toàn tập đoàn; thực hiện các quy chế, tiêu chuẩn, định mức chung trong toàn tập đoàn không trái với quy định pháp luật; sử dụng sản phẩm, dịch vụ của nhau theo nguyên tắc thị trường;
- Phương thức khác theo quy định của pháp luật và phù hợp với Điều lệ của các doanh nghiệp thành viên
Trang 35Sang đến nghị định 101/2009/NĐ- CP các nguyên tắc hoạt động không còn quy định chi tiết cụ thể giống quyết định 91 nữa, những quy định pháp luật mang tính mở hơn và tôn trọng quy định trong điều lệ của các tập đoàn (tuy nhiên các điều lệ của tập đoàn không được vi phạm điều cấm của luật)
1.2 Vai trò của pháp luật đối với tập đoàn kinh tế nhà nước
1.2.1 Tập đoàn kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam:
Mô hình “Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước” xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 (khoảng từ năm 1830) tại một số nước châu Âu (chủ yếu là ở Tây Âu) trong giai đoạn công nghiệp hóa phát triển bùng nổ ban đầu Nguyên nhân chính của sự xuất hiện này là một số sản phẩm hay ngành kinh tế tự nó đã mang tính chất độc quyền rất cao, nếu để nằm trong khu vực tư nhân mà mục đích hàng đầu của nó là lợi nhuận sẽ có nguy cơ dẫn tới những chiều hướng phát triển thiên lệch có hại cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế trong cả nước, đồng thời sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của đất nước với các nước trong khu vực chung quanh và trên thế giới Vì những lẽ này, các thế lực kinh tế và chính trị của những quốc gia này - thể hiện tập trung trong vai trò Nhà nước - đã đi tới quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, tập trung vào các ngành cung cấp than, điện, hàng không, bưu chính viễn thông, một số sản phẩm trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng khác như cung cấp nước, giao thông vận tải thủy và bộ (ví dụ đường sắt) Ngoài ra một số đòi hỏi nhất định về an ninh và quốc phòng khiến cho Nhà nước cần trực tiếp nắm lấy, ví dụ như trong ngành hàng không, ngành bưu chính viễn thông Thực tế vừa trình bày cho thấy ngay tính đặc
thù của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, thể hiện trong 3 chức năng chính của nó:
(a) Chống nguy cơ độc quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển chung kinh tế cả nước
Trang 36(b) Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả nước đối với các quốc gia khác trên thị trường thế giới
(c) Đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh và quốc phòng
Giai đoạn phát triển bùng nổ thứ hai các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu ở các nước Tây Âu, là những thập kỷ đầu tiên trong thời kỳ tái thiết và phát triển kinh tế sau chiến tranh thế giới II, từ 1950 – 1960 Trong thời kỳ này nét nổi bật là các yếu tố chi phối mới: Những đòi hỏi cấp bách của tái thiết sau chiến tranh, sự phát triển bùng nổ của công nghệ mới, việc chuyển
từ năng lượng than là chủ yếu sang năng lượng dầu được cung ứng từ bên ngoài
Trong giai đoạn hai này, các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước tăng nhiều về số lượng, nhưng chủ yếu vẫn giữ nguyên 3 chức năng (a,b,c) đã khai sinh ra nó, mở rộng vào các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, công nghệ tin học, bảo hiểm, nhà ở
Cả trong hai giai đoạn, các tập đoàn kinh tế này có 4 tiêu chí:
(1) Chịu sự quản lý theo luật pháp,
(2) Hoạt động trong thể chế tài chính công khai minh bạch,
(3) Có thể huy động vốn từ khu vực tư nhân hoặc khu vực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo những quy định chặt chẽ của luật pháp
và của thể chế tài chính của quốc gia - song không được phép có ngân hàng riêng,
(4) Phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thế giới
Trong giai đoạn hai, sự xuất hiện của phong trào cánh tả - tiêu biểu là của các lực lượng theo khuynh hướng xã hội dân chủ (social democracy), góp
Trang 37phần nhất định thúc đẩy sự phát triển các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước Khuynh hướng hoạt động của phong trào cánh tả trong thời kỳ này chủ yếu nhằm vào mục đích tăng cường các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong quá trình phát triển kinh tế
Sự phát triển bột phá của công nghệ và khoa học kỹ thuật và quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng trong các thập kỷ 1960 - 1980 đã mang lại 2
hệ quả:
(1) Khả năng cạnh tranh của các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ngày càng giảm sút so với khu vực kinh tế tư nhân, và nhìn chung tính hiệu quả của chúng đối với toàn bộ nền kinh tế ngày càng thấp, ngày càng trở thành hiệu quả âm tới mức cản trở sự phát triển của nền kinh tế;
(2) Sự phát triển năng động của công nghệ và dịch vụ thời kỳ đi vào kinh
tế trí thức và toàn cầu hóa cho phép chuyển ngày càng nhiều sản phẩm kinh tế
và dịch vụ vào khu vực tư nhân
Tình hình trên đã khiến cho các quốc gia Tây Âu phải loại bỏ phần lớn các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu bằng hai bước gắn với nhau:
(a) Bãi bỏ những quy định có liên quan
(b) Tư nhân hóa hầu hết những tập đoàn này
Nguyên nhân chủ yếu của việc loại bỏ ở Tây Âu là do bản chất sở hữu nhà nước của những tập đoàn kinh tế này đã khiến chúng chậm thích nghi hoặc không thể thích nghi với sự biến động năng động, linh hoạt của môi trường kinh tế - thể hiện tập trung ở sự giảm sút khả năng cạnh tranh của nhóm tập đoàn này; đồng thời trong kinh tế và trong quản trị quốc gia ngày càng xuất hiện những công cụ hay phương thức điều tiết vĩ mô mới Nói một
Trang 38cách khác, trong bối cảnh kinh tế mới và quá trình toàn cầu hóa sâu rộng, mô hình tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước ngày càng trở nên lỗi thời
Rất tiếc rằng các nước phát triển không có yêu cầu điều tra số liệu thống
kê tỷ trọng tham gia của những tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước vào toàn bộ nền kinh tế quốc dân mỗi nước, bởi lẽ hiện nay các tập đoàn này chỉ còn rất ít, hoặc hầu như không có ở Mỹ và Canada Ở cả trong hai thời kỳ phát triển mạnh (1830 và 1950-1960), nếu nhìn nhận các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước phát triển châu Âu dưới góc độ tỷ trọng vốn (tài sản), tỷ trọng vốn đầu tư hàng năm, tỷ trọng sản phẩm của nhóm này làm ra trong tổng thể nền kinh tế cả nước có thể phán đoán đấy là các tỷ trọng rất nhỏ Nếu căn cứ vào khối lượng sản phẩm của nhóm tập đoàn này làm ra rồi ước đoán các số liệu, thì tại cả hai thời kỳ phát triển cao nhất nói trên các chỉ
số tỷ trọng % này (tài sản, vốn đầu tư hàng năm) trong tổng thể nền kinh tế mỗi nước có lẽ không thể lên tới 2 con số (nghĩa là dưới 10%); tuy nhiên tầm quan trọng và tính hiệu quả của nhóm này vào những thời đoạn phát triển ấy
là khẳng định.[29]
Như vậy, toàn bộ lịch sử phát triển các tập đoàn kinh thế thuộc sở hữu nhà nước tại các nước công nghiệp phát triển cho thấy nó chỉ có vai trò nhất định vào những thời điểm và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đòi hỏi cần tạo lập một
sự độc quyền nhà nước nhất định để đảm bảo sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nước trong bối cảnh ấy Nhưng một khi bối cảnh phát triển như vậy qua đi, đặc biệt từ thập kỷ 1980 đến nay, các nhược điểm cố hữu của nhóm tập đoàn này xuất phát từ tính chất quyền sở hữu của Nhà nước ngày càng trở nên khó khắc phục, và tới một thời điểm nhất định là trở thành trở ngại kìm hãm sự phát triển
Từ thực tế này các nước phát triển hầu như đi tới kết luận giống nhau: Dưới góc nhìn lợi ích tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, chỉ nên duy trì
Trang 39các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cho những sản phẩm mà khu vực kinh tế tư nhân làm không hiệu quả bằng hoặc không làm được
Đối với nước ta, đang trong quá trình sắp xếp và đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước thì việc áp dụng thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế, sau đó tiến tới hình thành các tập đoàn kinh tế lớn mạnh trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn là cách làm thích hợp và là hướng đi đúng.Với những kinh nghiệm nêu trên của các nước đi trước thì trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, nếu chúng ta học tập bài học kinh nghiệm của họ thì việc lập nên những tập đoàn kinh tế nhà nước là hợp lý và cần thiết Bởi nó có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế, có khả năng chống độc quyền tư nhân, có sức mạnh lớn để cạnh tranh trên thương trường trong nước
và quốc tế, cũng như bảo đảm an ninh, bí mật quốc gia với những ngành nghề
mà các tập đoàn kinh tế Việt Nam đang độc quyền như viễn thông
Tuy nhiên, mục đích vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước của chúng ta lại khác Trong khi các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước
phát triển phải thực hiện 3 chức năng và tuân thủ 4 tiêu chí như đã trình bầy ở
phần trên, các tập đoàn kinh tế quốc doanh ở nước ta chỉ được giao cho một
nhiệm vụ chung chung là thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, và một nhiệm vụ riêng là quả đấm thép Cho đến nay, trong các nghị quyết của
Đảng cũng như trong các văn bản luật pháp của Nhà nước còn thiếu những định nghĩa và những quy định thực rõ ràng để thực hiện về “vai trò chủ đạo”
và về “quả đấm thép” Đi xa nhất là văn kiện Đại hội IX, phần nói về Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 cũng chỉ ghi: “Tiếp tục đổi mới và
phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vững những vị trí then chốt, chủ đạo trong nền kinh tế; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và xã hội và chấp hành pháp luật” [32] Trong các quyết định thành lập các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lâu nay, nhiệm vụ được giao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thường
Trang 40không chỉ là những yêu cầu về hiệu quả kinh tế mà kèm theo nhiều nhiệm vụ khác Ví dụ như EVN, hay Vinashin hay PVN (tập đoàn Dầu khí Việt Nam)… thì yêu cầu đặt ra với các tập đoàn này không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực điện lực, đóng tàu và sửa chữa tàu biển, thăm dò, khai thác dầu khí…mà còn phải đảm bảo hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác mà nhà nước mong muốn, gọi là kinh doanh đa ngành (gồm có tài chính, chứng khoán, bảo hiểm, xuất khẩu lao động…), và một loạt các yêu cầu đảm bảo trình độ công nghệ, quản lý hiện đại, trình độ cán bộ, khả năng cạnh tranh, hội nhập cao…Còn trong các cuộc họp, hội nghị thường niên hoặc đột xuất với khối các tập đoàn, tổng công ty, trong những buổi làm việc của lãnh đạo nhà nước tại từng tập đoàn, tổng công ty…những năm gần đây, nhiều yêu cầu, nhiệm vụ khác cũng được đặt ra cho các doanh nghiệp lớn của nhà nước là phải tham gia bình ổn giá cả thị trường, tránh lạm phát tăng cao, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo Một số tập đoàn, tổng công ty còn được yêu cầu
cụ thể là đỡ đầu, giải quyết khó khăn cho một huyện nghèo nào đó trong danh sách các huyện nghèo nhất nước…
Có thể vì Nhà nước đã rất tin tưởng nên giao cho các tập đoàn, tổng công
ty quá nhiều nhiệm vụ và để chúng hoàn thành những nhiệm vụ đó thì ưu ái, cho chúng hưởng nhiều đặc quyền như cấp đất tràn lan, cho thuê đất giá rẻ; bảo lãnh cho vay vốn, phát hành trái phiếu về cho vay lại, được độc quyền khai thác nhiều loại tài nguyên, khoáng sản, độc quyền trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh…trong khi phạm vi đầu tư quá rộng dẫn đến nhiều tập đoàn, tổng công ty đầu tư dàn trải, ỷ lại, thiếu trách nhiệm để dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp, đồng thời lại không làm tròn vai trò “chủ đạo” trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính của mình Tập đoàn Vinashin đã trở thành một ví dụ đau đớn, điển hình nhất trong khối tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong câu chuyện này
Ở các nước phát triển, chức năng hàng đầu của loại tập đoàn này là chống nguy cơ độc quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết