Như vậy, sau một loạt các cuộc đàm phán đa phương nhằm xem xét chế độ ngoại thương của Việt Nam và căn cứ vào những giải thích, cam kết và nhượng bộ mà đại diện Việt Nam đưa ra, Đại hội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUYẾN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 6
6 Kết quả mới đạt được của luận văn 7
7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn 7
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu hàng hóa và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO 8
1.1 Nhu cầu về xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của thị trường Việt Nam sau khi gia nhập WTO 8
1.1.1 Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 8
1.1.2 Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trường Việt Nam 11
1.2 Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa và thuế xuất nhập khẩu 16
1.2.1 Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa 16
1.2.2 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 18
1.3 Những cam kết quốc tế của Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới 23
1.3.1 Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO 24
1.3.2 Các cam kết cụ thể về thuế quan của Việt Nam 26
1.4 Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 28
1.4.1 Khái niệm pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO 28
1.4.2 Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam đối với thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO 30
1.5 Xu hướng phát triển của thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập toàn cầu 36
1.5.1 Xu hướng chung của các nước trên thế giới 36
1.5.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 37
Trang 4Chương 2 Thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của
Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO và phương
hướng, giải pháp hoàn thiện 40
2.1 Thực trạng pháp luật về xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều
kiện thực thi cam kết WTO 40
2.1.1 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới ……… 40 2.1.2 Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của
Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 43
2.1.2.1 Nội dung quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu của
Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 43
2.1.2.2 Đánh giá các quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu của
Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 57
2.1.2.3 Cơ sở điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu của Việt
Nam trong điều kiện thực thi cam kết gia nhập WTO 73
2.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 76
2.2.1 Các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong
điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO 77
2.2.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế xuất nhập
khẩu ở Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 80
2.2.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu ở Việt
Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO 80
2.2.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 82
Kết luận chung 87
Danh mục tài liệu tham khảo 89
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
ASEAN: Tổ chức các quốc gia Đông Nam Á
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
MFN: Chế độ đối xử tối huệ quốc
NT: Chế độ đối xử quốc gia
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
CEPT: Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung GATT: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, là tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thu hẹp dần khoảng cách với các nước trên thế giới Đó cũng chính là lý do mà WTO (Tổ chức thương mại thế giới) có được số lượng thành viên đông đảo, đặc biệt số lượng các nước đang phát triển chiếm một tỷ lệ lớn mà các tổ chức quốc tế mới ra đời không thể có được Bởi vì, khi gia nhập WTO mỗi quốc gia phải có những nghĩa vụ nhất định, nhưng đổi lại các quốc gia sẽ được hưởng những lợi ích mà WTO mang lại cho thành viên của mình
Nhận thức được tính tất yếu về quy luật phát triển của nền kinh tế của thế giới rằng Việt Nam muốn phát triển được nền kinh tế của nước mình thì không thể đứng ngoài sân chơi chung WTO mà phải nắm bắt cơ hội để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập với thế giới một cách chủ động, tích cực, đạt hiệu quả cao Đồng thời, để đảm bảo cho việc gia nhập WTO đạt được hiệu quả cao nhất, Việt Nam đã xem xét những vấn đề đặt ra đối với quá trình gia nhập của Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và pháp luật Tuy nhiên, Việt Nam đã xem xét các lĩnh vực này trong mỗi quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau Vì vậy, Việt Nam đã đàm phán gia nhập WTO với tư cách là một quốc gia đang phát triển, có thu nhập thấp
Với chủ trương hội nhập, Việt Nam đã có nhiều biến chuyển về mặt chính sách, pháp luật kinh tế-thương mại phù hợp với các quy định của WTO Đây cũng là yêu cầu chung đối với hầu hết các nước, để được công nhận là thành viên của WTO Chính vì vậy, liên quan đến pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu – một vấn đề quan trọng có tính chất quyết định đối với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã phải có những sửa đổi, điều chỉnh nhất định để tạo
cơ sở thuận lợi cho quá trình đàm phán để gia nhập Quá trình phát triển về
Trang 7đánh thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch ngày 29/12/1987 Năm 1991, Việt Nam đã ban hành Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu thay thế cho Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch năm 1987 Đến năm 1991, Việt Nam đã ban hành Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 1991, sau đó luật thuế này được sửa đổi, bổ sung năm vào các năm
1993, 1998 Tiếp theo đó, để chuẩn bị cho quá trình gia nhập WTO, bên cạnh việc ban hành mới một loạt các văn bản pháp luật, ngày 27/6/2005, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 của Quốc hội đã được ban hành, thay thế cho toàn bộ các quy định về luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu trước đó Tiếp sau đó, từ năm 2005 đến năm 2007 một loạt các văn bản hướng dẫn về thuế xuất nhập khẩu cũng được ban hành Mặc dù các văn bản này mới xây dựng khung pháp lý ban đầu nhưng đã tạo ra động lực thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh tiếp cận thị trường đầu tư quốc tế và khu vực và đặc biệt tạo được một cơ sở pháp lý về thuế xuất nhập khẩu ban đầu phù hợp với quy định của WTO nhằm tạo điều kiện cho quá trình gia nhập đạt được hiệu quả
Ngày 7/11/2006, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Như vậy, sau một loạt các cuộc đàm phán đa phương nhằm xem xét chế độ ngoại thương của Việt Nam và căn cứ vào những giải thích, cam kết và nhượng bộ mà đại diện Việt Nam đưa ra, Đại hội đồng đã thông qua các cam kết chung mang tính nguyên tắc về điều kiện và Quy chế thành viên của Việt Nam tại WTO, bao gồm các quy định liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu (nằm trong phần “Báo cáo của Ban công tác”) và cam kết ràng buộc về mức thuế suất MFN đối với từng dòng thuế (Biểu cam kết hàng hóa của Việt Nam, là một phần không tách rời của Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam), cam kết tham gia các Hiệp định ngành (Hiệp định về Công nghệ thông tin, Dệt may, thiết bị y tế…) Tuy nhiên, khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, nhưng một số chính sách và quy định pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn chưa
Trang 8tương thích với các quy định của WTO Nếu Việt Nam vẫn duy trì chính sách khác với quy định của WTO thì sẽ bị các nước thành viên đưa vụ việc ra giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Nếu cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DBS) khẳng định chính sách của hay biện pháp của Việt Nam trái với các quy định của WTO thì Việt Nam phải loại bỏ, nếu không sẽ phải bồi thường hoặc bị áp dụng cơ chế trả đũa Do đó, Việt Nam phải điều chỉnh chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO cũng như nhằm thực thi đầy đủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
Như vậy, với sự gia nhập WTO, trước áp lực mạnh mẽ của việc cam kết
và thực thi lĩnh vực thuế quan trong hoạt động xuất nhập khẩu, đã đến lúc thuế xuất nhập khẩu không thể tiếp tục mang tính thử nghiệm mà phải nhanh chóng bắt nhịp với sự phát triển của dòng thuế quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Trên phương diện pháp luật, đã và đang đặt ra những yêu cầu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu và một trong những yêu cầu đó, cũng được xác định là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất tại thời điểm hiện nay khi Việt Nam vừa gia nhập và đang bước những bước đầu tiên thực hiện cam kết về thuế quan của WTO là cần điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong nước cho phù hợp với các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập
WTO Nghiên cứu đề tài “Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO” với tính chất là một hướng tiếp cận vấn
đề còn khá mới mẻ trong gian đoạn này, nhằm phân tích thực trạng pháp luật
về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu là hoạt động cần thiết trong bối cảnh hiện nay cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO mới được triển khai trong thời gian gần 03 năm (từ năm 2007 đến 2010) và còn mang tính chất thử nghiệm với nhiều giới hạn trong chính sách thuế xuất nhập khẩu Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực cải cách chính sách, sửa đổi pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam cho phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, việc sửa đổi pháp luật, chính sách về thuế suất nhập khẩu hiện nay mới chỉ dừng ở tính chất lẻ tẻ, giải pháp tạm thời của Nhà nước Việt Nam nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu thực thi theo cam kết WTO, chưa thực sự có sự tham gia của giới chuyên môn và giới nghiên cứu kinh tế và pháp lý Trong bối cảnh đó, hoạt động về thuế xuất nhập khẩu nói chung và thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO nói riêng chưa thực sự nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu
Cho đến nay, hầu như chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO Việc nghiên cứu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ được đề cập dưới dạng các bài viết được đăng tải rải rác trên tạp chí chuyên ngành hoặc dưới hình thức các ý kiến tản mạn của các chuyên gia, các đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thuế xuất nhập khẩu trong các cuộc trả lời phỏng vấn của các cơ quan báo chí Cụ thể, đề cấp đến
hệ thống pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam có bài viết của Tiến
sĩ Đinh Ngọc Thịnh - Học viện Tài chính với tiêu đề: Hoàn thiện chính sách
thuế trong quá trình hội nhập WTO, đăng tải trên báo điện tử VNN ngày
17/8/2007; hoặc đề cập đến chính sách chung về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO có các bài viết được đăng tải trên các
website báo điện tử hoặc tạp chí như: Luật thuế xuất nhập khẩu phải minh
bạch hơn để gia nhập WTO của Nguyễn Sa (Vietnamnet) hoặc Gia nhập WTO: Thuế xuất nhập khẩu chịu tác động trực tiếp (Vnmedia) và Việt Nam với WTO (chuyên đề số 01/2007 được xuất bản bởi Nhà xuất bản Tư pháp)…
Trang 10Nhìn chung, nội dung nghiên cứu về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO của các tác giả, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng ở việc nhận diện và phân tích những khó khăn, trở ngại, một số hạn chế về pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam và đề xuất các yêu cầu về cải thiện môi trường chính sách chung cho hoạt động xuất nhập khẩu như cải cách thủ tục hành chính, thay đổi quy trình quản lý thuế, xây dựng và điều chỉnh hệ thống thuế xuất nhập khẩu, mà không đi sâu vào phân tích trên bình diện lý luận và thực tiễn bản chất của hoạt động thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO Vì vậy, có thể nói đề tài
Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO là một đề tài độc lập và không trùng lặp với các đề tài đã được nghiên
cứu từ trước đến nay Tuy nhiên, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, các bài viết, và các ý kiến của các chuyên gia cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài trong quá trình thực hiện đề tài
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tên gọi của đề tài nghiên cứu là “Pháp luật thuế xuất nhập khẩu
trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO” được xác định trong bối
cảnh thực tiễn pháp lý của Việt Nam (các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về thuế xuất nhập khẩu, với điều kiện: được ban hành sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và có liên quan trực tiếp đến cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO) chỉ điều chỉnh hoạt động thuế xuất nhập khẩu nhằm thực thi cam kết của Việt Nam với WTO, đặc biệt quan tâm đến yêu cầu nổi trội buộc Việt Nam phải thực thi khi
gia nhập WTO là phải cắt giảm thuế nhập khẩu (không bao gồm toàn bộ
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu theo hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu
của Việt Nam) Bởi vì, cắt giảm thuế nhập khẩu là vấn đề quan trọng được
toàn bộ các nước trong quá trình đàm phán quan tâm nhiều nhất vì pháp luật
Trang 11thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam còn nhiều bất cập, cần phải sửa đổi
để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu hoá Vì vậy, trong phạm vi bài này, bên cạnh thuế xuất khẩu là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam thì tác giả có tập trung nhiều hơn
về thuế nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Việc nghiên cứu các quy định pháp lý và thực tiễn triển khai hoạt động thuế xuất nhập khẩu của một số quốc gia khác trong quá trình thực thi cam kết WTO được đề cập trong Luận văn này chỉ mang tính chất tham khảo, đối chiếu và mang tính chất minh hoạ cho những luận điểm nghiên cứu
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế xuất nhập khẩu và cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đề tài đánh giá khái quát thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Bên cạnh việc đánh giá thực trạng và các quy định pháp luật hiện hành
về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO,
đề tài nêu và phân tích một số vấn đề liên quan đến thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa được đề cập hoặc được điều chỉnh bởi pháp luật về thuế xuất nhập khẩu hoặc vẫn còn những bất cập cần phải xem xét để sửa đổi, bổ sung
và điều chỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp nghiên cứu đề tài được sử dụng trong quá trình thực hiện Luận văn bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp duy vật lịch sử;
- Các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát
Trang 126 Kết quả mới đạt được của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận thuế xuất nhập khẩu nói chung và thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO;
- Phân tích thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO, đánh giá mức độ phù hợp của các quy định pháp luật đó với thực tiễn hoạt động thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam, mức độ tương thích và phù hợp với các cam kết WTO từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị một số sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật của Việt Nam hiện nay
7 Bố cục và nội dung cơ bản của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xuất nhập khẩu và pháp luật
về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO Phương hướng và giải pháp hoàn thiện
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT WTO
1.1 NHU CẦU VỀ XUẤT KHẨU VÀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
1.1.1 Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
WTO là tên viết tắt của Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization), được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994 WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995, có trụ sở tại Genava, Thụy Sỹ, là thể chế pháp
lý nhằm điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế mang tính toàn cầu hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “toàn cầu hoá kinh tế là một xu hướng khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia ”, Việt Nam cũng như các nước khác đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung vì sự tồn tại và phát triển của chính mình để khỏi bị gạt bỏ ra ngoài lề của sự phát triển Chính vì vậy, Việt Nam lựa chọn gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vừa là một tất yếu khách quan, đồng thời là một xu hướng cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận và hội nhập vào chu trình sản xuất và kinh doanh toàn cầu nhằm phát triển nền sản xuất trong nước, thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển trên thế giới và trong khu vực Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng tạo ra thách thức đối với Việt Nam bởi vì khi gia nhập WTO, bên cạnh việc hưởng các ưu đãi khi xuất khẩu vào thị trường các nước thành viên thì Việt Nam cũng phải cam kết dành những quyền ưu đãi nhất định đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam từ các
Trang 14nước thành viên WTO, dẫn đến hàng hóa và sản phẩm của các nước khác sẽ
có nhiều cơ hội và thuận lợi để tràn vào thị trường Việt Nam, cạnh tranh với hàng hóa nội địa Có thể cho rằng những cam kết về hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO là nguyên nhân chính thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu sau gia nhập WTO có tốc độ tăng trưởng đáng kể so với năm 2006
Thứ nhất, ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), lần đầu tiên Việt Nam mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa “cho phép các doanh nghiệp và cá nhân nước
ngoài được kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp” (trừ một số mặt hàng nhạy
cảm do nhà nước độc quyền) và “Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quyền
kinh doanh xuất nhập khẩu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình
tương tự như nhà đầu tư Việt Nam” Cam kết này đánh dấu một bước tiến
quan trọng trong quá trình phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu cũng như
nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài
Thứ hai, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh so với trước khi
gia nhập WTO bởi các thuận lợi sau:
- Rào cản ở các nước nhập khẩu ít hơn (thuế nhập khẩu giảm, các hàng rào phi thuế dần được bãi bỏ cho các nước thành viên WTO…);
- Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được đối xử công bằng hơn trên thị trường thế giới (được hưởng Quy chế Tối huệ quốc MFN và Quy chế NT tại nước nhập khẩu);
- Các nước thuộc WTO không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường các nước này;
- Doanh nghiệp dễ dàng định hướng hoạt động xuất khẩu của mình hơn do được tiếp cận với thông tin về thị trường nhập khẩu (WTO yêu cầu mỗi nước thành viên phải công khai và minh bạch chính sách ngoại thương của mình)
Thứ ba, theo cam kết WTO của Việt Nam thì Việt Nam buộc phải cắt
Trang 15giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo hộ và trợ cấp xuất khẩu, bởi vậy hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhiều hơn trước Trong đó, chủ yếu là các nguyên chính sau:
- Giảm thuế nhập khẩu: Mặc dù WTO thừa nhận thuế quan là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước (hàng rào phi thuế quan bị bãi bỏ) Tuy nhiên gia nhập WTO có nghĩa là được quyền tiếp cận tới thị trường của tất cả các thành viên khác trên cơ sở đối xử MFN, nhưng để được hưởng lợi nhuận này buộc các nước mới gia nhập cũng phải cam kết chấp nhận giảm mức bảo hộ của mình Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của 3800 dòng thuế (chiếm 35,5% tỷ trọng), phải dừng ở mức thuế tại thời điểm gia nhập là 3700 dòng thuế (chiếm 34,5%
tỷ trọng; mức thuế trần cao hơn mức thuế khi gia nhập WTO là 3170 dòng thuế (chiếm 30% tỷ trọng) Trong đó nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện - điện tử, thịt (lợn, bò), phụ phẩm Như vậy, thuế nhập khẩu giảm là một lợi thế cơ bản cho hàng nhập khẩu tràn vào thị trường Việt Nam và cạnh tranh gay gắt với hàng trong nước
- Thay đổi các biện pháp hạn chế nhập khẩu: Khi gia nhập WTO, Việt Nam buộc phải cho phép nhập khẩu một số mặt hàng mà trước đây Việt Nam không cho phép nhập khẩu do tính chất nhạy cảm của mặt hàng cũng như nhằm thực hiện chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước Tuy nhiên, khi nhập khẩu các mặt hàng này các doanh nghiệp cũng buộc phải tuân theo các quy định về có hạn chế nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện, bao gồm:
Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 phù hợp với quy định của Việt Nam;
Bỏ biện pháp cấm nhập khẩu ngay từ thời điểm gia nhập WTO đối với mặt hàng thuốc lá điếu và xì gà Việt Nam cho phép một doanh nghiệp thương mại Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điều và xì gà;
Trang 16 Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế suất được xác định trong Biểu cam kết về thuế
và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Việt Nam;
Việt Nam đảm bảo cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm mục đích kiểm duyệt sẽ tuân thủ theo quy định về minh bạch hóa WTO
Việt Nam cam kết từ ngày 01/01/2009 sẽ mở cửa thị trường dịch vụ phân phối (trừ một số mặt hàng nhạy cảm)
Những ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu được thiết lập dành cho các quốc gia thành viên trong tổ chức thương mại thế giới có sức hấp dẫn nhất định đối với các doanh nghiệp khi xuất nhập khẩu hàng hóa để hưởng những ưu đãi từ các quốc gia thành viên WTO, đồng thời làm tăng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của thị trường Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1.1.2 Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trường Việt Nam
Từ tháng 1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu một giai đoạn mới của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt
là hoạt động xuất nhập khẩu của thị trường Việt Nam Trong giai đoạn
2007-2010, thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nước và nhập khẩu từ 151 nước, 165 nước cho Việt Nam hưởng Quy chế tối huệ quốc, trong đó có 151 nước là thành viên của WTO
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 48,38 tỷ USD, ước tính
bằng USD thì tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu Á và thế giới, tăng 21,5% so với năm 2006 Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt khoảng 568 USD, cao nhất từ trước tới nay Trong năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng chung, chứng tỏ khu vực này đã tận dụng được cơ hội do vị thế mới của thành viên WTO Nếu
Trang 17không kể dầu thô bị sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tăng cao hơn khu vực kinh tế trong nước, khu vực FDI đã tận dụng tốt hơn cơ hội WTO Xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có những mặt hàng có kim ngạch tăng khá cao: dệt may, điện tử máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, gỗ, cà phê, hạt tiêu, hạt điều Đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê, gạo và cao su với kim ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm
68,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tổng kim ngạch nhập khẩu
ước đạt 60,83 tỷ USD, cũng là mức kỷ lục từ trước tới nay, tăng tới 35,5% so với năm trước, có 13 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt trên 10 tỷ USD, xăng dầu đạt trên 7 tỷ USD, sắt thép đạt gần 5 tỷ USD, vải 4 tỷ USD, điện tử máy tính và linh kiện đạt gần
3 tỷ USD Do tốc độ tăng nhập khẩu cao gấp rưỡi tốc độ tăng xuất khẩu, nên nhập siêu đã gia tăng so với cùng kỳ năm trước cả về kim ngạch tuyệt đối (12,45 tỷ USD so với gần 5,1 tỷ USD) và cả về tỷ lệ so với xuất khẩu (25,6%
so với 12,7%)
Mặc dù nhập siêu tăng chủ yếu so nhập thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu tăng cao, một phần do giá nhập tăng: xăng dầu, sắt thép, phân bón,
chất dẻo, giấy sợi, dệt, bông, nhưng có ba vấn đề đáng lưu ý: Một là, mức
nhập siêu như thế là rất cao, vượt xa so với năm trước và cao gấp hơn hai lần
so với kế hoạch, có những lĩnh vực không thể coi là hợp lý hay cần thiết, bởi
có nhiều loại mà trong nước có thể sản xuất được; hai là, do hiệu quả và sức
cạnh tranh của sản xuất trong nước, nên nhiều mặt hàng đã thua ngay trên sân
nhà; Ba là, trong khi xuất siêu với Mỹ, EU nhưng lại nhập siêu lớn đối với
các nước trong khu vực, nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đều tăng, chủ
yếu do giá trên thị trường thế giới tăng, ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5%
Trang 18so với năm 2007 Trong đó, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3% Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 13,9 triệu tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tăng 23,1% về kim ngạch so với năm trước Hàng dệt may đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm 2007 với các nước xuất khẩu chủ yếu: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Xuất khẩu giày dép năm 2008 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm trước, trong đó hai thị trường EU và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng trên 74% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép Thủy sản ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm 2007 với thị trường EU vẫn là thị trường chính; tiếp theo là Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc Năm 2008 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8
tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2008, Hoa Kỳ là đối tác lớn nhất, ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 14,5%
so với năm 2007 với 5 mặt hàng chủ yếu (chiếm tỷ trọng 76% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này) gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép, thủy sản Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2007 với các mặt hàng chính là: Dầu thô, gạo, thủy sản, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền thống như: Hàng dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2007, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô, giày dép, thủy sản, máy tính và linh
kiện, dây và cáp điện Tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ
USD, tăng 28,3% so với năm 2007 Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là:
Trang 1990,4%; 7,5%; 2,1%) Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2007, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm
2008 Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó
ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD) Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và máy tính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 2007 Nhập khẩu xăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm trước, tương ứng với kim ngạch 10,9 tỷ USD, tăng 41,2% Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5% Vải và nguyên phụ liệu dệt may là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu vẫn đạt kim ngạch cao với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2007 Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm trước, đây là nhóm hàng không chỉ gắn với tiêu dùng trong nước mà còn liên quan tới gia công, lắp ráp để xuất khẩu Trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu từ khu vực ASEAN, ước tính 19,5 tỷ USD, tăng 22,5%
so với năm 2007; Trung Quốc 15,4 tỷ USD, tăng 23,2%; thị trường EU 5,2 tỷ USD, tăng 1,7%; Đài Loan 8,4 tỷ USD, tăng 21,8 %; Nhật Bản 8,3 tỷ USD, tăng 37,7%
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cả năm là 57,1 tỷ USD, giảm 8,9%so với năm 2008 và nhập khẩu là 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2009 là 127,05 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm 2008, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD, bằng 22,6% xuất khẩu Năm 2009, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 24,18 tỷ USD, chiếm 42,3% kim ngạch xuất khẩu của
cả nước và nhập khẩu là 26,07 tỷ USD, giảm 6,5% so với năm 2008 Trong
đó, một số mặt hàng xuất khẩu chính là: Dầu thô: lượng dầu thô xuất khẩu đạt 13,4 triệu tấn, giảm 2,8% so với năm 2008, chủ yếu xuất khẩu sang Ôxtrâylia; Singapore, Malaysia; Cà phê: lượng xuất khẩu cà phê là 1,18 triệu tấn, tăng
Trang 2011,7% so với năm 2008 với thị trường nhập khẩu chính là Đức, Bỉ, Hoa Kỳ, Italia…; Hạt điều: lượng xuất khẩu hạt điều là 177 nghìn tấn, đạt kim ngạch là
847 triệu USD, giảm 7,2% so với năm 2008 và thị trường xuất khẩu chủ yếu là: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hà Lan Ngoài ra còn có một số mặt hàng xuất khẩu chính như: Than đá, Gạo, Cao su, Hàng dệt may, Giày dép các loại, Hàng thuỷ sản, Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện, Máy móc thiết bị, dụng
cụ & phụ tùng Bên cạnh đó, một số mặt hàng nhập khẩu chính là: Máy móc,
thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: là 12,67 tỷ USD, giảm 3,3% so với năm 2008, chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Hoa Kỳ; Xăng dầu: nhập khẩu 12,7 triệu tấn xăng dầu các loại, giảm 2% so với năm trước, chủ yếu có xuất xứ từ Singapore, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malayxia, Nga Ngoài ra còn một số mặt hàng nhập khẩu chính khác trong năm 2009 như: Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày, sắt thép các loại, kim loại thường, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc và nguyên liệu, phân bón, dược phẩm, ôtô nguyên chiếc các loại và linh kiện, phụ tùng ôtô, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam xuất phát từ chính nhu cầu nội tại của bản thân doanh nghiệp và trên thực tế, hoạt động này cũng không nằm ngoài quy luật của hoạt động thương mại quốc tế Điều này đã và đang đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam trong việc xây dựng một chiến lược xuất nhập khẩu phù hợp để khuyến khích và thúc đẩy hơn nữa các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với thị trường quốc tế trên cơ sở Việt Nam tuân thủ các cam kết WTO Chính phủ Việt Nam đã nhận thức và có những động thái nhất định trong việc tạo nền móng cơ sở pháp lý vững chắc cho Việt Nam và đảm bảo hoạt động xuất nhập khẩu phù hợp với cam kết gia nhập WTO khi tiến hành hoàn thiện và bổ sung hành lang pháp lý về thuế xuất nhập khẩu của
Trang 211.2 KHÁI NIỆM XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
1.2.1 Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa
Xuất nhập khẩu hàng hóa được xem là một trong nhiều cách tiếp cận mà doanh nghiệp tại một quốc gia có thể sử dụng để tiếp cận thị trường nước ngoài Trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, một quốc gia nhập khẩu từ nước ngoài cũng đồng thời là quốc gia xuất khẩu ra nước ngoài, hoạt động xuất khẩu
và hoạt động nhập khẩu là hai mặt của hoạt động thương mại quốc tế
Khái niệm về xuất nhập khẩu hàng hóa xuất hiện trong lý luận thương mại quốc tế, trong đó xuất khẩu đóng vai trò là một trong hai lĩnh vực của hoạt động ngoại thương, được định nghĩa “là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài” và nhập khẩu “là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ
từ quốc gia khác” Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF thì chỉ việc mua bán hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại, còn việc mua dịch vụ thì được tính vào mục cán cân phi thương mại Còn xuất khẩu hàng hóa vẫn được duy trì bởi khái niệm là việc bán hàng hoặc dịch vụ cho nước ngoài
Luật thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như sau:
“1 Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
2 Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Điều 28)
Từ khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa này, Luật thương mại cũng đưa ra cách hiểu về hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu, theo đó:
Trang 22 Hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hóa có xuất xứ trong nước và hàng tái xuất, được xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài hoặc gửi vào kho ngoại quan, trong đó:
- Hàng có xuất xứ trong nước là hàng hóa được khai thác, sản xuất, chế biến trong nước theo quy tắc xuất xứ của Việt Nam, kể cả sản phẩm hoàn trả cho nước ngoài sau khi gia công, chế biến, lắp ráp trong nước
- Hàng tái xuất là những hàng hóa nước ta đã nhập khẩu, sau đó lại xuất nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, đóng gói lại, không làm thay đổi tính chất cơ bản của hàng hóa đó
Hàng nhập khẩu là toàn bộ hàng hóa của nước ngoài và hàng tái nhập được đưa từ nước ngoài hoặc từ kho ngoại quan vào trong nước, trong đó:
- Hàng hóa nước ngoài là những hàng hóa có xuất xứ nước ngoài, kể cả sản phẩm nhận hoàn trả sau khi gia công, chế biến, lắp ráp ở nước ngoài
- Hàng tái nhập là những hàng hóa đã xuất khẩu ra nước ngoài, sau đó được nhập khẩu trở lại nguyên dạng hoặc chỉ qua sơ chế, đóng gói lại, tính chất cơ bản của hàng hóa không thay đổi
Bên cạnh đó, Luật thuế giá trị gia tăng 2009 cũng đưa ra khái niệm về
hàng hóa xuất khẩu, bao gồm “hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả ủy
thác xuất khẩu; hàng hóa bán vào khu phi thuế quan; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hóa gia công chuyển tiếp theo quy định của pháp luật thương mại; hàng hóa gia công xuất khẩu tại chỗ; hàng hóa xuất để bán tại hội chợ triển lãm nước ngoài”
Trên cơ sở các khái niệm về xuất nhập khẩu hàng hóa nêu trên, có thể thấy hoạt động xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu kinh tế của nước ta với các nước trên thế giới Do đó, chính sách ngoại thương hiện tại của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Chính phủ đề ra
Trang 23cho giai đoạn 2001- 2010 và trên cơ sở các cam kết hội nhập của Việt Nam như: Hiệp định thương mại Việt Mỹ, Hiệp định thương mại VN - EU…, đặc biệt là cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
1.2.2 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực và tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để đạt được phát triển bền vững tại Việt Nam Đây là một hình thức nhà nước có thể động viên nguồn tiền tệ cần thiết để chi tiêu cho các hoạt động của mình, đồng thời tạo ra những tiền
đề để Nhà nước tiến hành tái phân phối sản phẩm xã hội theo mục tiêu quản
lý đặt ra Mặt khác, trong điều kiện cơ chế thị trường, Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương thì thuế còn là một biện pháp điều chỉnh vĩ mô mang lại hiệu quả cao, giúp nhà nước điều tiết được nền kinh tế và thể hiện được định định hướng phát triển của Đảng và Chính phủ tại mỗi thời kỳ Ra đời và tồn tại cùng với nhà nước, từ khi ra đời đến nay thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện
Theo từ điển tiếng Việt (www.informatik.uni-leipzip.de), thuế được định nghĩa là “một khoản tiền hoặc hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định”
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế Theo tác giả, “thuế
là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp
do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực
Trang 24nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”
Hiện nay, với sự phát triển và thay đổi nhanh chóng trong môi trường đầu tư toàn cầu, định nghĩa về thuế đã được mở rộng, bao quát hơn và cũng
có nhiều quan niệm khác nhau về thuế tuỳ cách thức tiếp cận nghiên cứu:
Trên giác độ kinh tế học, người ta cho rằng thuế là một biện pháp đặc
biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Như vậy, các quan niệm trên đều đề cập đến các nội dung cơ bản như: nguồn lực chuyển giao, quyền lực Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội” [11]
Bản chất thuế là một vấn đề hết sức phức tạp, nên có nhiều quan điểm khác nhau Có lẽ chính vì vậy mà không có định nghĩa về thuế trong các văn bản pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam
Với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tự do hóa
Trang 25thương mại, dịch vụ, đầu tư… đang trở thành một trào lưu chung của thế giới Tuy nhiên, do nhiều lý do về kinh tế, chính trị, xã hội riêng có ở mỗi quốc gia
mà việc tự do hóa thương mại vẫn bị ngăn chặn ở những mức độ khác nhau Một trong những công cụ có tính chất cổ điển trong chính sách ngoại thương của các Chính phủ là công cụ thuế quan
Cho đến nay, khái niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chưa được quy định tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch 1987 không đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà trực tiếp quy định đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Điều 1, theo đó “tất cả hàng hóa mua bán, trao đổi với nước ngoài, khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu”
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998 mặc dù có sửa đổi, bổ sung làm đầy đủ hơn khái niệm về xuất nhập khẩu hàng hóa, nhưng cũng
không đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: “Hàng hóa được
phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hóa
từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước, đều thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”
(Điều 1)
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 cũng không đưa ra định nghĩa khái quát về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà quy định cụ thể đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:
“Trừ hàng hóa quy định tại Điều 3 của Luật này, hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1 Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
2 Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan
Trang 26và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước” (Điều 2)
Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh - Học viện tài chính: “thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ tại các cửa khẩu biên giới khi các hàng hóa và dịch vụ di chuyển vào hoặc ra khỏi một quốc gia” Như vậy, đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải thỏa mãn hai điều kiện: là các hàng hóa được cơ quan chức năng của Nhà nước cho phép xuất khẩu, nhập khẩu và những hàng hóa này thực tế có xuất khẩu, nhập khẩu
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia (http://vi.wikipedia.org/), thuế nhập khẩu được định nghĩa là: “một loại thuế mà một quốc gia đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ quốc gia khác trong quá trình xuất khẩu, nhập khẩu Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường
bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan, đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước Về mặt nguyên tắc, thuế nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để nhà nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế nhập khẩu là khá nhỏ”
Theo tài liệu “Quan hệ kinh tế quốc tế” của GS.TS Võ Thanh Thu:
“Thuế quan là một khoản tiền tệ mà người chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ nhà” Định nghĩa thuế quan này có thể xuất phát từ quy định về đối tượng nộp thuế
tại Điều 4 - Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005: “Tổ chức, cá nhân có hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”
Giáo trình thuế của Học viện tài chính định nghĩa “Thuế xuất khẩu, nhập
Trang 27khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế” Theo đó, thuế xuất khẩu, nhập khẩu được hiểu là thuế đánh vào hàng hóa tại các cửa khẩu biên giới khi các hàng hóa di chuyển vào hoặc ra khỏi một quốc gia Là công cụ quan trọng của Nhà nước trong chính sách ngoại thương, thuế xuất khẩu, nhập khẩu có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu Nhà nước sử
dụng thuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa xuất, nhập khẩu Vì vậy, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một yếu tố cấu thành trong giá của hàng hóa xuất, nhập khẩu Việc tăng, giảm thuế suất xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp tới giá cả hàng hóa xuất, nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu và việc lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất và nhập khẩu hàng hóa phải điều chỉnh sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp
Thứ hai, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động
ngoại thương Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một công cụ quan trọng của Nhà nước để kiểm soát hoạt động ngoại thương, thông quan việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu Việc đánh thuế xuất khẩu, nhập khẩu thường căn cứ vào giá trị và chủng loại hàng hóa xuất, nhập khẩu Giá trị của hàng hóa được xác định làm căn cứ tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu là giá trị cuối cùng của hàng hóa tại cửa khẩu xuất (đối với thuế xuất khẩu) và giá trị của hàng hóa tại cửa khẩu nhập đầu tiên (đối với thuế nhập khẩu)
Thứ ba, thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố
quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế… Thuế xuất khẩu, nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa nhập khẩu của các quốc gia, nhất là xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa và hội nhập kinh tế như hiện nay Để đạt được những mục tiêu đặt ra, đòi hỏi chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi phù hợp
Trang 28tùy theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế Ngoài ra, chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp với các hiệp định, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết hoặc tham gia
Với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động kinh doanh, thương mại toàn cầu, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu rất phong phú và đa dạng, mang tính mở, theo đó, trong những giai đoạn nhất định, một số biện pháp quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hoặc thuế suất sẽ không được sử dụng hoặc phải thay đổi và một số biện pháp, thuế suất mới sẽ ra đời Do vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất khẩu, nhập khẩu cần lưu ý những đặc điểm trên để đảm bảo việc điều chỉnh pháp luật phù hợp với quy luật phát triển nội tại của thuế xuất khẩu, nhập khẩu và đảm bảo tính hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thương mại quốc tế
1.3 NHỮNG CAM KẾT QUỐC TÊ CỦA VIỆT NAM VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) Sau hơn 11 năm kiên trì, chủ động đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này Đó là một dấu mốc quan trọng trong quá tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm Việt Nam là đối tác tin cậy của tất cả các nước Để đạt được điều này, Việt Nam đã phải ký kết những cam kết về thuế xuất nhập khẩu theo quy định của WTO Tuy nhiên, trong suốt quá trình gia nhập WTO, bên cạnh những nhượng bộ và cam kết tuân thủ các quy định khi trở thành thành viên, Việt
Nam luôn giữ vững nguyên tắc cơ bản trong đàm phán thuế quan là “không
gây biến động lớn đối với sản xuất trong nước, bảo hộ có chọn lọc, có thời gian và xem xét việc giảm thuế trong bối cảnh đã có các cam kết cắt giảm thuế cho các nước ASEAN (theo CEPT/AFTA” và các Hiệp định mậu dịch tự
do với các nước như Trung Quốc, Anh quốc…) và nỗ lực duy trì mức độ bảo
Trang 29nền kinh tế, những mặt hàng nhạy cảm đối với sản xuất trong nước
Các cam kết này được chia thành hai nhóm, bao gồm các cam kết chung
và các cam kết cụ thể
1.3.1 Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO
Các cam kết chung được giải trình khá cụ thể trong Báo cáo của Ban công tác về điều kiện gia nhập của Việt Nam Báo cáo này do Ban thư ký tổng hợp, dựa trên các bản trả lời câu hỏi, các chương trình hành động và các bản thông báo về chế độ, chính sách, pháp luật mà nước xin gia nhập gửi cho Ban công tác Các nội dung chủ yếu của báo cáo liên quan đến thuế xuất nhập khẩu là:
- Thuế nhập khẩu và các khoản thu khác: Thuế suất thuế nhập khẩu là
đối tượng của đàm phán song phương Vì vậy, Việt Nam chỉ cam kết sẽ áp dụng thuế nhập khẩu trên cơ sở các kết quả đàm phán song phương và phương án tổng hợp theo Quy chế chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN) cho tất
cả các thành viên có quan hệ WTO với Việt Nam (trừ những trường hợp ngoại lệ được WTO cho phép) Ngoài thuế nhập khẩu, Việt Nam sẽ không áp dụng các khoản phụ thu đối với hàng nhập khẩu (phụ thu nhập khẩu trên thực
tế đã được Việt Nam bãi bỏ)
- Hạn ngạch thuế quan: Cam kết cụ thể về hạn ngạch thuế quan (mức
hạn ngạch, mức thuế…) được thể hiện ở Biểu cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa Tại mục này, Việt Nam chỉ cam kết sẽ áp dụng, phân bổ và quản lý hạn ngạch thuế quan một cách minh bạch, không phân biệt đối xử và tuân theo đúng các quy định của WTO
- Miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Việc miễn, giảm thuế
xuất khẩu và thuế nhập khẩu, nếu dựa trên thành tích xuất khẩu hoặc tỷ lệ nội địa hóa sẽ bị coi là trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO Vì vậy, để tuân thủ quy định của WTO, Việt Nam cam kết sẽ miễn, giảm thuế trên cơ sở MFN và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế với các yêu cầu về xuất khẩu hay
Trang 30nội địa hóa Một số ưu đãi đầu tư dưới dạng miễn, giảm thuế nhập khẩu cũng
sẽ không được áp dụng nữa Tuy nhiên, với các dự án đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước khi vào WTO, Việt Nam sẽ có khoảng thời gian 05 năm để bãi bỏ hẳn
- Biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu (cấm nhập
khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu): Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn (trước ngày 31/5/2007) Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa
ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt Với thuốc lá điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý
bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên, sẽ chỉ định một doanh nghiệp được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán đối với 2 mặt hàng này được cho là khá cao Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 05 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và các biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ
Việt Nam khẳng định biện pháp cấm nhập khẩu thiết bị và phần mềm mã hóa thuộc diện bí mật quốc gia không ảnh hưởng tới các sản phẩm thương mại thông thường phục vụ tiêu dùng đại chúng Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu sản phẩm và phần mềm mã hóa, nếu có, cũng sẽ tuân theo các quy định của WTO, Việt Nam không chấp nhận bãi bỏ biện pháp cấm nhập khẩu một số mặt hàng tiêu dùng đã qua sử dụng
Về cấp phép nhập khẩu, Việt Nam cam kết sẽ chuyển việc quản lý nhập khẩu mặt hàng đường từ “giấy phép tùy ý” sang hạn ngạch thuế quan Việt Nam bảo lưu quyền cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm, chủ yếu để kiểm duyệt nội dung nhưng bảo đảm cơ chế cấp phép nhằm mục đích kiểm duyệt này sẽ tuân theo các quy định về minh bạch hóa của WTO
- Xác định trị giá tính thuế hải quan (trị giá tính thuế nhập khẩu): Việt
Nam cam kết tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan của
Trang 31WTO ngay từ khi gia nhập, cụ thể Việt Nam sẽ không áp dụng giá tính thuế tối thiểu (thực tế đã được bãi bỏ) và sẽ tuân thủ hoàn toàn các quy định của WTO về nguyên tắc, trình tự xác định trị giá tính thuế nhập khẩu Việt Nam
đã cam kết sửa đổi một số văn bản về xác định trị giá tính thuế chưa hoàn toàn phù hợp với WTO
- Các quy định về thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối với
hàng xuất khẩu và hạn chế xuất khẩu: WTO không có quy định điều chỉnh
về thuế xuất khẩu Tuy nhiên, một số thành viên, đặc biệt là các nước đã phát triển như Hoa Kỳ, EU, Canada, Australia yêu cầu Việt Nam phải cắt giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng và cam kết ràng buộc cả biểu thuế xuất khẩu (không mở rộng phạm vi mặt hàng và không tăng thuế so với Danh mục biểu thuế hiện tại của Việt Nam) Một số nước đang phát triển cho rằng thuế xuất khẩu không thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO, không tán thành các yêu cầu do các nước đang phát triểu nêu ra Đây cũng là vấn đề đang được đàm phán và chưa được giải quyết trong vòng đàm phán Doha
Vì vậy, đến phiên đàm phán cuối cùng Việt Nam mới đạt được thỏa thuận với các thành viên Theo đó, Việt Nam cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu cho các loại phế liệu kim loại đen và kim loại màu nhưng không phải ràng buộc toàn bộ biểu thuế xuất khẩu và cũng không xem việc giảm thuế xuất khẩu là một phần của sự cân bằng nhân nhượng trong đàm phán gia nhập WTO Ngoài ra, Việt Nam chấp nhận áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, phí và lệ phí cũng như thuế nội địa hóa đối với hàng xuất khẩu theo đúng Hiệp định GATT của WTO
1.3.2 Các cam kết cụ thể về thuế quan của Việt Nam
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức thuế trần cho toàn bộ biểu thuế quan (gồm 10.600 dòng thuế) Mức thuế quan bình quân toàn bộ biểu thuế được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm Mức thuế quan bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức mức hiện
Trang 32hành 23,5% xuống 20,9% thực hiện trong khoảng 5 năm Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng từ 5 - 7 năm
Về mức thuế cam kết cụ thể, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu cam kết thuế quan sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%; một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20% - 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập; nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất gồm dệt may, cá
và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện, điện tử) Việt Nam bị ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng và ràng buộc theo mức thuế trần - cao hơn mức thuế suất hiện hành với khoảng 3.700 dòng thuế (chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hóa chất, một số phương tiện vận tải)
Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy… vẫn được duy trì mức bảo
hộ nhất định Như tất cả các nước mới gia nhập, Việt Nam cũng cam kết tham gia một số hiệp định tự do theo ngành Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may, thiết bị y tế
và những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất
và thiết bị xây dựng thời gian để thực hiện cam kết giảm thuế sẽ được áp dụng sau 3 đến 5 năm
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng đối với 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, thuốc lá, muối (mặc dù muối trong WTO không được coi là mặt hàng nông sản, do vậy thường không được áp dụng hạn ngạch thuế quan, nhưng Việt Nam kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của người dân sống bằng nghề làm muối) Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương với mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50 - 60%, thuốc lá: 30%, muối ăn: 30%), thấp hơn nhiều so
Trang 33Như vậy, thuế quan là một phần quan trọng trong quá trình gia nhập WTO được hầu hết các nước quan tâm nhằm tiến tới cắt giảm thuế quan để tự
do thương mại toàn cầu Vì vâỵ, trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến thỏa thuận về thuế quan nhằm không tạo ra sự biến đổi lớn của sản xuất trong nước nhưng cũng đạt được sự đồng thuận của đa số các nước
1.4 PHÁP LUẬT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT WTO
1.4.1 Khái niệm pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Thực tiễn pháp lý cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế (cam kết song phương,
đa phương), của hệ thống pháp luật của quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu, nhằm đảm bảo quyền lợi quốc gia cũng như quyền lợi của các nhà kinh doanh khác Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ khăng khít với nhau, khi nói đến xuất khẩu đồng thời sẽ phải nói đến nhập khẩu, vì vậy thường được gọi chung là xuất nhập khẩu, do một mặt hàng có thể là đối tượng điều chỉnh của cả thuế xuất khẩu (tại quốc gia xuất khẩu) và thuế nhập khẩu (tại quốc gia nhập khẩu) Vì vậy, quốc gia xuất khẩu (khi tiến hành hoạt động xuất khẩu) cũng đồng thời là quốc gia nhập khẩu (khi tiến hành hoạt động nhập khẩu), nên pháp luật thuế xuất khẩu và nhập khẩu của các quốc gia thường điều chỉnh chung hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gọi chung là pháp luật thuế xuất nhập khẩu Pháp luật thuế xuất, nhập khẩu quốc gia thường hướng tới điều chỉnh và quản lý đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế suất thuế xuất khẩu và nhập khẩu cũng như quy định về trình tự, thủ tục
kê khai và nộp thuế…
Bên cạnh pháp luật quốc gia, do tính chất của hoạt động xuất nhập khẩu
là một quá trình có sự luân chuyển hàng hóa từ nước ngoài (nước xuất khẩu)
Trang 34vào thị trường khác để tiêu thụ (nước nhập khẩu) nên tùy vào quan điểm, chủ trương của từng quốc gia mà thuế suất đối với cùng một mặt hàng ở các nước khác nhau là có sự khác nhau Vì vậy, xuất nhập khẩu còn chịu sự điều chỉnh của các Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động nhập khẩu mà quốc gia ký kết và tham gia, bao gồm các Điều ước quốc tế đa phương (WTO), Hiệp định cam kết thuế quan trong khu vực và các Điều ước song phương Các Điều ước quốc tế đa phương, song phương này thường bao gồm các quy định đảm bảo cho hàng hóa xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của quốc gia thành viên chế độ công bằng và hợp lý, loại trừ mọi hình thức và biện pháp phân biệt đối xử về hàng hóa hay các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, trình tự giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động xuất nhập khẩu
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến thuế xuất nhập khẩu là đối tượng cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
Có ý kiến cho rằng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật khác là mâu thuẫn với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia Tuy nhiên, quan điểm này hoàn toàn không có
cơ sở vì: Thứ nhất, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa có bao gồm hoạt động
được tiến hành trên lãnh thổ của một nước khác, do đó, nước này hoàn toàn
có chủ quyền quốc gia khi điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động hàng hóa
thâm nhập vào thị trường của nước mình; Thứ hai, trong trường hợp các quốc
gia đã ký kết hoặc gia nhập các Điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động nhập khẩu thì trong một chừng mực nào đó, các Điều ước quốc tế này trở thành nguồn của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhập khẩu của mỗi quốc gia Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO được hiểu là sự điều chỉnh (quy định) của pháp luật Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong phạm vi Việt Nam đã đàm phán và ký kết khi tham gia WTO Như vậy, pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong phạm vi thực thi cam kết WTO sẽ
Trang 35khẩu, thuế suất xuất nhập khẩu của hàng hóa, hạn ngạch thuế quan, biện hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu, miễn giảm thuế xuất khẩu và nhập khẩu… hay còn gọi là những quy định pháp luật về thuế xuất nhập khẩu liên quan trực tiếp đến việc Việt Nam có hoàn thành nghĩa vụ theo cam kết WTO hay không
Có thể thấy, mặc dù pháp luật thuế Việt Nam cùng hướng tới điều chỉnh thuế suất của hàng hóa xuất nhập khẩu và các quy định khác có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu nhưng tại mỗi cam kết khác nhau (song phương, đa phương) đều có sự điều chỉnh riêng biệt nhằm thực thi theo đúng cam kết đó
1.4.2 Điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam bắt nguồn từ chính sự phát triển nội tại, khi phát triển đến giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước sẽ đặt ra yêu cầu buộc Việt Nam phải có những bước đột phá mới có thể đạt được những gì mà đất nước đang chờ đợi Bên cạnh đó cũng có những yêu cầu tác động từ bên ngoài, đáng chú ý là yêu cầu của việc gia nhập WTO buộc Việt Nam phải có những bước nhảy vọt trong thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực thi các cam kết với WTO
Theo quy định tại Khoản 4 Điều XVI Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, “mỗi thành viên phải đảm bảo sự thống nhất của các luật, các quy định dưới luật và những quy tắc hành chính với các nghĩa vụ của mình được quy định trong các Hiệp định của WTO” nên việc rà soát, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (rà soát WTO) là yêu cầu không thể thiếu Vì vậy, năm 2005 - 2006 Việt Nam đã có bước nhảy vọt lớn trong hoạt động lập pháp nhằm phục vụ đàm phán gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế Riêng năm 2005, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản luật, pháp lệnh, trong đó có hơn 20 văn bản luật, pháp lệnh là những văn bản mới có liên quan
Trang 36trực tiếp đến nghĩa vụ thành viên của Việt Nam với WTO đã được thông báo cho Ban thư ký WTO Việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi tháng 6/2005) nằm trong chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm
2010 đã được Chính phủ phê duyệt và Chương trình hoàn thiện pháp luật khi gia nhập WTO
Xây dựng pháp luật bảo đảm thực hiện các cam kết của Việt Nam gia nhập WTO là một nhiệm vụ quan trọng, vừa khẩn trương, vừa lâu dài đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Đó là
“phát huy cao độ nội lực, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy
đủ các cam kết quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa” Ngay sau khi kết thúc đàm phán ngày
26/10/2006 về điều kiện và quy chế thành viên WTO của Việt Nam, các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan các cam kết cụ thể của Việt Nam trong Bộ hồ sơ cam kết về điều kiện và quy chế thành viên WTO của Việt Nam Bộ hồ sơ cam kết của Việt Nam với WTO cho thấy có thể sẽ phải có những thay đổi đáng kể trong một số quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định của các bộ, ngành hướng dẫn thực thi các cam kết của Việt Nam với WTO theo các cam kết về cắt giảm thuế quan, loại bỏ các biện pháp phi thuế quan trong thương mại hàng hóa Sau khi rà soát sơ bộ, Bộ Tư pháp cũng nhận thấy một trong những vấn đề cần phải xem xét điều chỉnh chính là Biểu thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam chưa tương thích với các quy định của WTO để có giải pháp thích hợp trong hoàn cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO
Tuy nhiên, cũng cần phải đặt lại vấn đề để thấy rằng việc điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO chỉ thực sự có hiệu quả nếu như việc điều chỉnh pháp luật đó phù hợp với quy luật phát triển nội tại của hoạt động kinh tế thương
Trang 37trình hội nhập kinh tế, là nhu cầu mang tính tất yếu trong quá trình phát triển nền kinh tế toàn cầu hóa Tuy nhiên, trong quá trình thực thi cam kết WTO liên quan đến thuế xuất nhập khẩu thì mức độ điều chỉnh và can thiệp của pháp luật của các quốc gia còn phụ thuộc vào quan điểm và chính sách của quốc gia trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu cũng như định hướng phát triển kinh tế trong nước Bởi vậy, trên thực tế pháp luật của các quốc gia đều điều chỉnh ở những mức độ khác nhau đối với hoạt động xuất nhập khẩu sau khi gia nhập WTO Ví dụ: Sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi vấn đề đãi ngộ quốc dân, với hàng hóa nhập khẩu, thuế quan , mức đãi ngộ dành cho các sản phẩm của nước ngoài không thấp hơn các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước, tiến hành sửa đổi
và điều chỉnh những chính sách chưa phù hợp với các nguyên tắc đãi ngộ quốc dân Bên cạnh đó, vấn đề về thuế và các biện pháp phi thuế quan cũng
đã được xem xét với nội dung: Đến năm 2005, thuế suất hải quan của Trung Quốc sẽ giảm xuống đạt mức trung bình của các nước đang phát triển, thuế xuất nhập khẩu bình quân hàng công nghiệp sẽ giảm xuống còn khoảng trên dưới 10% Hiện tại có hơn 400 sản phẩm thực hiện biện pháp phi thuế quan (hạn ngạch, giấp phép ) từ ngày 1/1/2005, ngoài những biện pháp phù hợp với quy tắc của WTO, không được tăng thêm bất cứ biện pháp phi thuế quan mới nào nữa Đối với Việt Nam, Luật thuế xuất nhập khẩu 2005 (sửa đổi, bổ sung) là một bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình gia nhập WTO, theo đó Việt Nam đã xem xét và sửa đổi các quy định về thuế xuất nhập khẩu trên cơ
sở bước đầu phù hợp với các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO Theo định hướng của Chính phủ, sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam sẽ từng bước điều chỉnh pháp luật cho phù hợp với
lộ trình cam kết và nguyên tắc hoạt động của WTO Những cơ sở để pháp luật Việt Nam điều chỉnh về thuế xuất, nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO bao gồm:
- Nguyên tắc của WTO: căn cứ vào việc hiểu đúng và chấp hành nghiêm
Trang 38các luật lệ của WTO, Việt Nam phải thừa nhận các nguyên tắc của hệ thống thương mại toàn cầu, chuyển hóa các quy định, nguyên tắc pháp luật đó vào các văn bản pháp luật Việt Nam, dành đãi ngộ tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia
và các ưu đãi về thuế quan, phi thuế quan cho các nước thành viên WTO, mở cửa thị trường cho các nước trên những lĩnh vực có thể được trên cơ sở cùng nhau đàm phán, thỏa thuận cụ thể song phương, đa phương phù hợp với thông
lệ quốc tế, quy định của WTO Tuy nhiên, hệ thống luật lệ của WTO khá đồ
sộ và phức tạp, hội tụ các tư tưởng, trường phái pháp luật khác nhau, được thiết kế để quản trị một cơ chế đa biên, vận hành theo nguyên tắc kinh tế thị trường Do đó khi sửa đổi pháp luật về thuế xuất nhập khẩu cho phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO thì bên cạnh việc áp dụng, chuyển hóa các nguyên tắc của WTO vào các quy định pháp luật cũng cần phải chú ý đến việc hoạch định chính sách xây dựng pháp luật cụ thể, tìm hiểu và học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước trong quá trình thực hiện cam kết của WTO
- Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO: căn cứ vào các
cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa của Việt Nam cho các thành viên WTO, đặc biệt là cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu, bên cạnh việc kế thừa những quy định của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn, Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp với điều kiện hội nhập, chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành nhằm phù hợp với lộ trình cam kết cắt giảm thuế quan ở từng giai đoạn, từng thời kỳ; đồng thời loại bỏ mạnh các biện pháp phi thuế quan trong thương mại hàng hóa Như vậy, Việt Nam cần chuyển hóa các cam kết gia nhập WTO vào pháp luật Việt Nam để chứng tỏ sự minh bạch trong việc thực thi các cam kết của Việt Nam cho các đối tác là thành viên WTO, đồng thời cũng đem lại sự
rõ ràng, minh bạch cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan tới việc thi hành các cam kết ấy
- Năng lực của các doanh nghiệp trong nước: để việc sửa đổi, bổ sung
Trang 39năng lực cạnh tranh, kiến thức và kinh nghiệp về kinh doanh thương mại trong môi trường hội nhập kinh tế thế giới Các quốc gia sẽ căn cứ vào trình
độ, năng lực và khả năng thích ứng hiện tại của doanh nghiệp trong nước để điều chỉnh những cam kết gia nhập WTO của mình phù hợp để vừa đảm bảo tuân thủ thực thi các cam kết WTO và đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều hạn chế về năng lực, kiến thức và kinh nghiệm thương mại quốc tế, chưa đủ sức cạnh tranh bình đẳng trên sân nhà với các công ty đa quốc gia hùng mạnh nếu không có sự hỗ trợ của một hàng rào thuế quan trong nước Vì vậy, khi sửa đổi pháp luật để thực thi cam kết của Việt Nam, Nhà nước sẽ có những cân nhắc, tính toán để đảm bảo rằng hàng rào thuế quan là hàng rào bảo hộ cuối cùng được pháp cho các doanh nghiệp trong nước, theo đúng quy định của WTO; tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước có đủ thời gian chuẩn bị thích ứng với những thay đổi trong chính sách cũng như trong cạnh tranh
- Phạm vi bảo hộ nền kinh tế trong nước: việc xây dựng hoàn chỉnh
chính sách thuế xuất nhập khẩu trên nguyên tắc khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ có trọng điểm có một ý nghĩa hết sức quan trọng vì mục tiêu gia nhập WTO nhằm không ngừng mở rộng thị trường đồng thời phải bảo hộ cho các ngành kinh tế trong nước phát triển nhưng phải phù hợp với luật lệ WTO Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ nền kinh tế trong nước phụ thuộc vào mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia thông qua việc ký kết và tham gia các điều ước quốc tế đa phương và song phương về cam kết cắt giảm thuế quan Do
đó, căn cứ vào phạm vi và khả năng áp dụng các biện pháp bảo hộ kinh tế mà WTO cho phép, Việt Nam có thể quy định mức thuế suất nhập khẩu hợp lý tại mỗi thời điểm hay cơ chế chống bán phá giá, chống trợ cấp và chống các biện pháp phân biệt đối xử trong thương mại và các biện pháp thương mại không lành mạnh khác để đảm bảo mục tiêu cuối cùng là sản xuất trong nước có thể đứng vững, phát triển khi thực hiện hội nhập WTO, mở cửa thị trường, tự do
Trang 40hóa thương mại
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn cả là việc Việt Nam thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu nhằm thực thi cam kết gia nhập WTO như thế nào với việc vận dụng các cơ sở nêu trên Từ phân tích nêu trên, có thể kết luận rằng việc điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO là cần thiết nhưng giới hạn của việc điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu như thế nào là hợp lý? Có nên hiểu rằng việc thực thi cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO là việc Việt Nam phải ngay một lúc điều chỉnh cắt giảm thuế quan hoặc cắt giảm càng nhanh càng tốt cho đúng với mức thuế suất cuối cùng Việt Nam cam kết Hay
là, việc điều chỉnh cắt giảm thuế quan của Việt Nam có thể trên cơ sở xem xét
lộ trình cam kết để từ từ điều chỉnh cho phù hợp với cam kết của Việt Nam
khi gia nhập WTO Việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO thực chất là đặt ra bài toán cần
phải giải quyết, đó là mối quan hệ giữa việc làm thế nào để vừa tuân thủ các cam kết về mở cửa thị trường khi gia nhập WTO vừa bảo hộ nền kinh tế trong
nước khi còn non trẻ
Như vậy, qua phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rằng, việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trên thực tế nhằm tuân thủ cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO Tuy nhiên, để đảm bảo việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu đạt được hiệu quả, quan điểm về điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu cần thống nhất như sau:
Thứ nhất, trong tuân thủ cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong điều kiện thực thi cam kết WTO, cần tôn trọng nguyên tắc của tổ chức thương mại quốc tế, bao gồm ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation), nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT - National Treatment), nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair Competition)