1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam

119 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

điểm rất lớn và khác biệt của thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số với các loại hình thương mại điện tử hàng hóa khác là ở chỗ: dịch vụ nội dung số đó là loại hàng hóa ảo, phi

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

nguyễn thị tố lan

pháp luật về th-ơng mại điện tử

trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở việt nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2008

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

nguyễn thị tố lan

pháp luật về th-ơng mại điện tử

trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở việt nam

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NỘI DUNG

SỐ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

6

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 6 1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử 10

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ Ở VIỆT NAM

32

2.1 Pháp luật về quảng cáo/chào bán dịch vụ nội dung số và trách

nhiệm của người bán hàng đối với dịch vụ nội dung số đăng

tải trên mạng

32

2.2 Pháp luật về Hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử

cung cấp dịch vụ nội dung số

36

Trang 4

2.2.3 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 59 2.3 Các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng điện

tử cung cấp dịch vụ nội dung số

Chương 3: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN MÔI

TRƯỜNG PHÁP LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG

SỐ TẠI VIỆT NAM

90

3.1 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực vực thương mại

điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số

tử trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam

97

3.3.1 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý cho lĩnh

vực thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số

97

3.2.2 Nhóm các giải pháp khác 104

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Thế kỷ hai mươi, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển và bùng nổ của công nghệ thông tin Từ các phương thức giao dịch điện tử thô sơ và hạn chế như điện tín (telex), các công nghệ và dịch vụ thông tin hiện đại ra đời như máy fax, điện thoại cố định, điện thoại di động, máy tính cá nhân, e-mail, mạng LAN, mạng WAN và đặc biệt là Internet - mạng kết nối toàn cầu Công nghệ thông tin đã đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu đến tư duy thương mại và các phương thức giao kết thương mại Thương mại điện tử ra đời

Thế kỷ hai mươi mốt, chúng ta đã và đang chứng kiến những thành quả mới mà tin học và công nghệ thông tin đem lại - sự ra đời và phát triển của công nghiệp nội dung số (digital content industry - DCI) Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của con người như phim ảnh, âm nhạc, sách, báo, truyện, phần mềm máy tính, các chương trình tin học

đã hội tụ với công nghệ số (digital technology) để tạo nên một loại sản phẩm mới của thời đại - sản phẩm/dịch vụ nội dung số Giờ đây, chúng ta có thể bắt gặp nội dung số ở khắp nơi: mở báo là thấy các trò chơi SMS, bật tivi cũng thấy pop-up quảng cáo game SMS; nghe nhạc, radio, xem phim, tải phim online, viết blog, chia sẻ ảnh, video…; người dùng di động có thể xem truyền hình kỹ thuật số, tải game, phim, nhạc, duyệt web…; tra cứu thư viện số, sách số Thị trường công nghiệp nội dung số được coi là một trong các ngành kinh tế mới mẻ và hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển trong thời gian tới

Các sản phẩm/ dịch vụ nội dung số đem đến những cơ hội mới cũng như các thách thức mới trong kinh doanh và pháp luật Người ta có thể tự do giao dịch các dịch vụ nội dung số trên môi trường Internet mà không cần quan tâm đến yếu tố địa lý, biên giới quốc gia, đến thuế và hải quan Bởi lẽ, đặc

Trang 6

điểm rất lớn và khác biệt của thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung

số với các loại hình thương mại điện tử hàng hóa khác là ở chỗ: dịch vụ nội dung số đó là loại hàng hóa ảo, phi vật thể và giao dịch thương mại điện tử loại hình sản phẩm và dịch vụ đặc biệt này được thực hiện toàn trình trên mạng điện tử và có thể thực hiện ngay lập tức Từ đặc tính nhạy cảm của thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số đã đặt ra vấn đề là làm thế nào để quản lý các hoạt động thương mại điện tử trong lĩnh vực này vừa để khuyến khích phát triển vừa đảm bảo được các lợi ích của những người tham gia giao dịch thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số cũng như của toàn xã hội Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình một khung pháp lý đầy đủ, tiến tiến, phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế và phù hợp với khả năng dự báo các vấn đề sẽ nảy sinh trong kinh doanh trên một môi trường ảo Đây cũng là nhu cầu cấp thiết đặt ra đối với Việt Nam

Trong một vài năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã tích cực xây dựng khung pháp lý cho các giao dịch thương mại điện tử và đã bước đầu xây dựng khung pháp lý cho nội dung số Cụ thể là: Luật Giao dịch điện tử được ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2005, Nghị định 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ

về thương mại điện tử ngày 09 tháng 6 năm 2006, Luật Công nghệ thông tin ngày 29/06/2006 và Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin Tuy nhiên, các văn bản pháp luật này chưa chú trọng đầy đủ đến các khía cạnh đặc biệt của việc cung cấp dịch vụ nội dung số trực tuyến Một trong các lý do chính là nội dung số còn quá mới mẻ đối với Việt Nam và Việt Nam cũng đang ở giai đoạn đầu tiên của phát triển thương mại điện tử Do đó, các chế định pháp lý của Nhà nước về vấn đề này còn hạn chế và còn cần phải tiếp tục hoàn thiện Trong kế hoạch phát triển thương mại điện tử và công nghiệp thông tin của nước ta trong giai đoạn 2006-2020, Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu là tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý về thương mại điện tử và nội dung số để đưa

Trang 7

pháp luật vào thực tiễn đời sống Việc hiểu rõ được các quy định pháp luật về thương mại điện tử và nội dung số cũng như dự báo xu hướng vận động của các quy định pháp luật đó sẽ tạo ra một cơ sở để thúc đẩy thương mại điện tử

và công nghiệp nội dung số của nước ta phát triển Chính vì vậy, đề tài "Pháp

luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam"

được lựa chọn nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp bậc học thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thương mại điện tử và công nghiệp nội dung số là một trong các lĩnh vực mới mẻ tại Việt Nam Các lĩnh vực này mới phát triển ở một mức độ sơ khai và đang dần được hoàn thiện Đa phần các đề tài nghiên cứu đều xem xét các vấn đề về thương mại điện tử độc lập với công nghiệp nội dung số và chưa có bất kỳ đề tài nghiên cứu nào đề cập đến tính chất đặc biệt của các giao dịch thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số Các đề tài nghiên cứu về thương mại điện tử mới tiếp cận nhiều dưới góc độ kinh tế và chỉ một

số ít đề tài, bài báo tiếp cận vấn đề dưới giác độ pháp luật về thương mại điện

tử Lĩnh vực nội dung số cũng chỉ mới được nghiên cứu trong phạm vi hẹp ở mức độ ngành tại các hội thảo chuyên đề hoặc các bài báo đăng trên tạp chí của ngành thông tin và truyền thông Do đó, việc tiếp tục tìm hiểu dịch vụ nội dung số từ đó đề xuất mô hình vận động cho pháp luật trong lĩnh vực thương mại điện tử phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế, phù hợp với sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội trong môi trường kinh doanh mạng, cũng như đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của công nghệ thông tin và viễn thông là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa to lớn

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

* Mục đích

- Phân tích các quy định pháp luật hiện tại của pháp luật về thương mại điện tử và dịch vụ nội dung số ở Việt Nam

Trang 8

- Dự báo xu hướng vận động của các quy định pháp luật về thương mại

điện tử cung cấp nội dung số ở Việt Nam Nhận định được xu hướng vận động của công nghiệp nội dung số tác động đến phát triển và biến đổi của pháp luật

về thương mại điện tử

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện cho thương mại điện tử cung cấp nội dung số tại Việt Nam phát triển ổn định và lành mạnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp

so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích Đặc biệt, phương pháp so sánh có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài này Xuất phát từ thực tiễn điều chỉnh thương mại điện tử bằng pháp luật tại nước ta là khá mới mẻ nên việc so sánh các chế định pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực này góp phần tạo ra cái nhìn bao quát và tổng thể, từ đó giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật

về thương mại điện tử và nội dung số tại Việt Nam phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật quốc tế và thông lệ thương mại quốc tế, giảm thiểu các vấn đề bất cập chưa hợp lý Bên cạnh đó, phương pháp phân tích và tổng hợp cũng tạo nên một góc nhìn tổng thể và chi tiết trong quá trình nghiên cứu đề tài

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 9

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ nội dung số và pháp luật

về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số

Chương 2: Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực thương mại

điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số

Chương 3: Đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển thương mại điện tử

trong cung cấp dịch vụ nội dung số

Trang 10

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

VÀ PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CUNG CẤP

DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

1.1 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử còn được sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau như thương mại trực tuyến (Online - Trade), thương mại điều khiển học (Cyber Trade), kinh doanh điện tử (Electronic Business), thương mại không giấy tờ (paperless trade), thương mại số hóa (digital commerce), thương mại internet (internet commerce) nhưng phổ biến nhất vẫn là thuật ngữ thương mại điện tử (e-commerce) Khi nói đến thương mại điện tử, người ta nghĩ ngay đến Internet và cho rằng thương mại điện tử gắn liền với Internet Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm đề cập đến vấn đề này, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về thương mại điện tử Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà người ta hiểu thương mại điện tử theo những góc độ khác nhau

Dưới góc độ công nghệ thông tin, thương mại điện tử được hiểu là việc cung cấp, phân phối thông tin, các sản phẩm/ dịch vụ, các phương tiện thanh toán qua đường dây điện thoại, các mạng truyền thông hoặc qua các phương tiện điện tử khác

Dưới góc độ kinh doanh, thương mại điện tử là việc ứng dụng công nghệ (chủ yếu là công nghệ thông tin) để tự động hóa các giao dịch kinh doanh và các kênh thông tin kinh doanh

Dưới góc độ dịch vụ, thương mại điện tử là công cụ để các doanh nghiệp, người tiêu dùng, các nhà quản lý cắt giảm các chi phí dịch vụ, đồng thời nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ và tăng tốc độ cung cấp dịch vụ cho khách hàng

Trang 11

Dưới góc độ trực tuyến, thương mại điện tử cung cấp khả năng tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin trực tiếp trên internet cùng nhiều dịch vụ trực tuyến khác

Thương mại điện tử có thể được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các giao dịch mang tính thương mại được các bên tham gia thực hiện thông qua các phương tiện điện tử từ điện thoại, telex, facimile, hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử… tới các máy tính kết nối với nhau trong một mạng lưới kín hay một mạng lưới mở như Internet

Đạo luật về thương mại điện tử do Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL - CNUDCI) được thông qua trong phiên họp toàn thể thứ 85 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 16-12-1996, quy định phạm vi điều chỉnh của văn bản này như sau: "Đạo luật này có hiệu lực

áp dụng đối với mọi loại thông tin thể hiện dưới hình thức thông tin số hóa được sử dụng trong khuôn khổ các hoạt động thương mại" Thông tin số hóa

là thông tin được tạo ra, chuyển đi, tiếp nhận, lưu trữ bằng phương tiện điện

tử, quang điện hoặc các phương tiện tương tự, đặc biệt là dưới hình thức trao đổi số liệu được tin học hóa, thư điện tử, điện tín, telex và telefax Hoạt động

"thương mại" cũng được UNCITRAL khuyến nghị là cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, chỉ mối quan hệ mang tính thương mại bao hàm hầu hết các hình thái của hoạt động kinh tế, không chỉ đơn thuần chỉ có mua bán hàng hóa và dịch vụ Theo Luật Mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL thì "thương mại" trong khái niệm thương mại điện tử được hiểu là mọi vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa dịch vụ, thỏa thuận về phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, thiết kế, chuyển nhượng quyền sử dụng (li-xăng), đầu

tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng, liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh hay sản xuất, vận

Trang 12

chuyển hành khách hay hàng hóa bằng đường biển, đường không, đường sắt hay đường bộ… Như vậy, phạm vi của thương mại điện tử là rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động kinh tế mà không chỉ bao gồm mua bán hàng hóa và dịch vụ, vì mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của thương mại điện tử

Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa như sau: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền số liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật

số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng, và các dịch vụ sau bán hàng (hậu mãi) Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví

dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về thương mại điện tử, theo đó hiểu một cách đơn giản nhất: thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet nhưng được giao nhận một cách hữu hình và cả các sản phẩm được giao nhận như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet

Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD): Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet

Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng, nếu hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử gồm tất cả các hoạt động mang tính thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc điện tử từ điện thoại, telex, fax,

Trang 13

hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử, Internet… Còn hiểu theo nghĩa hẹp nhất, hay nói một cách chặt chẽ hơn cả thì thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet

Tại Việt Nam, khái niệm "thương mại điện tử" chưa được định nghĩa

cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này được đề cập đến trong một số luật liên quan và được dùng dưới các thuật ngữ như "giao dịch điện tử" hoặc "hoạt động thương mại trên môi trường mạng"

Theo Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, thương mại điện tử là quá trình mua, bán hoặc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và những dịch vụ hỗ trợ các quá trình trên có sử dụng các phương tiện điện tử, các mạng máy tính, Internet, và có sử dụng các tiêu chuẩn truyền thông chung: "Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử" [35, Điều 4.6] Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử kỹ thuật số từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự

Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 quy định nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại là: (i) tổ chức, cá nhân có quyền ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại; (ii) hoạt động thương mại trên môi trường mạng phải tuân thủ quy định của luật này, pháp luật về thương mại và pháp luật về giao dịch điện tử

Từ các quy định trên, có thể hiểu nội hàm khái niệm thương mại điện

tử tại Việt Nam là các hoạt động (giao dịch) thương mại sử dụng phương tiện điện tử Theo đó khái niệm hoạt động thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Luật Thương mại năm 2005) Phương tiện điện tử được luật quy định là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật

số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự

Trang 14

(Luật Giao dịch điện tử năm 2005) Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng đưa

ra nguyên tắc: không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử Điều đó có nghĩa là thương mại điện tử không chỉ giới hạn là thương mại thông qua mạng Internet mà còn là các loại hình thương mại sử dụng các phương tiện khác như: điện thoại, hệ thống thiết bị thanh toán điện

tử, telex, facimile, các mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet) và các ứng dụng khác như videotext, truyền thông (mua hàng từ xa) và môi trường ngoài mạng (catolo bán hàng trên đĩa CD-ROM) cũng như các mạng lưới nội

bộ của các công ty (đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng)

1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử

Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng thương mại điện tử các các đặc điểm sau:

- Thương mại điện tử là một phương thức thương mại sử dụng các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi thương mại Nói chính xác hơn, thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch

- Hoạt động thương mại điện tử được thực hiện trên cơ sở các nguồn thông tin dưới dạng số hóa của các mạng điện tử Đó là các thông điệp dữ liệu Nó cho phép hình thành những dạng thức kinh doanh mới và những cách thức mới để tiến hành hoạt động kinh doanh

- Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không nhất thiết phải gặp gỡ nhau trực tiếp và không phải biết nhau trước Việc sử dụng các phương tiện điện tử, các thông tin thương mại được số hóa cho phép giao dịch Người - Máy - Máy - Người giữa các bên được tiến hành

- Thương mại điện tử là một hệ thống bao gồm nhiều giao dịch thương mại Các giao dịch này không chỉ tập trung vào việc mua - bán hàng hóa và dịch vụ để trực tiếp tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp, mà còn bao gồm nhiều

Trang 15

giao dịch hỗ trợ tạo ra lợi nhuận (ví dụ: hệ thống hỗ trợ việc chào bán, cung cấp các dịch vụ khách hàng hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thông tin, liên lạc giữa các đối tác kinh doanh…

Sơ đồ 1.1: Quy trình thương mại điện tử

So với các hoạt động thương mại truyền thống thì thương mại điện tử

có rất nhiều điểm khác nhau cơ bản Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là những người đã quen biết nhau từ trước Còn trong thương mại điện tử, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Các giao dịch mang tính thương mại truyền thông được thực hiện với sự phân định rõ về gianh giới quốc gia trong khi đó thương mại điện tử lại được thực hiện trong một môi trường hay có thể gọi là thị trường phi biên giới Một điểm khác nữa

là hầu hết các hoạt động hay giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng

Ngay giữa thương mại điện tử truyền thống với thương mại điện tử trên mạng mở Internet cũng có nhiều điểm khác biệt Đối với thương mại điện

Trang 16

tử truyền thống thì mạng lưới là một phương tiện để trao đổi dữ liệu; còn đối với thương mại điện tử trên mạng Internet thì mạng lưới chính là thị trường

Do vậy, vấn đề pháp lý đặt ra là phải xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong một thị trường ảo dựa trên các mạng lưới máy tính

và thiết bị điện tử Các giao dịch thương mại điện tử truyền thống được điều chỉnh bởi các quy định trong các ngành luật riêng biệt và đã được ghi nhận một phần trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế

Đến nay, thương mại điện tử không còn là hiện tượng mới nữa Trong nhiều năm vừa qua, các công ty đã trao đổi với nhau số liệu kinh doanh qua rất nhiều mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu là qua các phương tiện viễn thông Cung với sự phát triển của Internet, thương mại điện tử đã có một sự thay đổi đáng kể và mở rộng nhanh chóng Nếu như cách đây khoảng năm, bẩy năm việc trao đổi thông tin qua các phương tiện điện tử chỉ giới hạn trong các quan hệ giữa các doanh nghiệp, công ty với nhau thì ngày nay thương mại điện tử đang mở rộng nhanh chóng sang các trang web và phát triển đa dạng trên phạm vi toàn cầu với số lượng người tham gia tăng nhanh chưa từng có Những người tham gia có thể là các cá nhân, các doanh nghiệp, những người

đã biết và những người chưa biết nhau bao giờ trên các mạng lưới mở toàn cầu như là Internet Hai năm gần nay, thế giới đã bắt đầu xuất hiện các khái niệm "cộng đồng mạng", "cư dân mạng" và khái niệm web 2.0 - mạng xã hội và bắt đầu nhìn nhận sự tồn tại, phát triển của các quan hệ xã hội mang tính chất "ảo" này và nhu cầu cần thiết phải quản lý và điều chỉnh các quan hệ

Trang 17

bị cho một cuộc chiến ngầm Có thể thấy rằng, hiện nay người tiêu dùng Việt Nam bắt gặp nội dung số ở khắp nơi: mở báo là thấy các trò chơi SMS, bật tivi cũng thấy pop-up quảng cáo game SMS; dân mạng có thể nghe nhạc, radio, xem phim, tải phim online, tham gia viết nhật ký trực tuyến, chia sẻ ảnh, video ; người dùng di động có thể xem truyền hình kỹ thuật số, tải game, phim, nhạc, duyệt web… Vậy, nội dung số là gì?

Công nghiệp nội dung số bao gồm việc sáng chế, thiết kế, quản lý và phân bổ sản phẩm và dịch vụ nội dung số cũng như các công nghệ hỗ trợ cho phát triển nội dung số Công nghiệp nội dung số là sản phẩm của sự hội tụ giữa các nhà sản xuất nội dung truyền thống, giải trí và truyền thông, phần mềm và đa phương tiện, phần cứng điện tử với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, của viễn thông và truyền dẫn băng rộng, Internet với các thiết bị truy cập hữu tuyến và vô tuyến Sự hội tụ này đã tạo ra nhu cầu cho việc phân phối các sản phẩm nội dung theo phương thức điện tử Đó chính là các sản phẩm và dịch vụ nội dung số Ngành công nghiệp mới mẻ này đã đã đem lại nguồn doanh thu khổng lồ cho thị trường các nước trên thế giới trong thời gian chỉ vài năm và đang hứa hẹn một tiềm năng phát triển tốt Tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ nội dung số toàn thế giới năm 2001 mới đạt 178 triệu đô-la Mỹ nhưng đến năm 2006 đã đạt 434 triệu đô-la Mỹ với mức tăng trưởng hàng năm khoảng 29%

Do công nghiệp và dịch vụ nội dung số là một ngành mới mẻ mới chỉ phát triển trên thế giới vào đầu thế kỷ 21 và mới chỉ xuất hiện tại Việt Nam khoảng 3 năm trở lại đây nên cho đến nay trên thế giới chưa có định nghĩa chuẩn và thống nhất về khái niệm "nội dung số", mỗi quốc gia có cách hiểu về lĩnh vực này khác nhau Trên thế giới, người ta sử dụng một số thuật ngữ để chỉ

về loại hình công nghiệp và dịch vụ số như: nội dung số (digital contents), công nghiệp nội dung số (digital content industry - DCI) hoặc phân phối nội dung số (digital content distribution) Phần lớn các quốc gia đều giới hạn khái niệm công nghiệp nội dung số trong những lĩnh vực mà nước đó có thế mạnh hoặc tiềm năng lớn để phát triển

Trang 18

Thuật ngữ "nội dung số" luôn luôn bao hàm hai khía cạnh là thông tin

và truyền tải, phân phối thông tin đó bằng phương tiện điện tử

Ở Hàn Quốc, ngành công nghiệp nội dung số được xác định bao gồm: giải pháp (solution), trò chơi (games), hình ảnh số (digital image), thông tin web (web information), giáo dục điện tử (e-learning) và phân phối điện tử (distribution) Ông Leo Hwa Chiang - chuyên gia về công nghệ thông tin của Hàn Quốc, đã đưa ra một khái niệm đơn giản về nội dung số là "nội dung cộng với công nghệ số"

Ở Nhật Bản, ngành nội dung số được xác định bao gồm: nội dung video (video content), nội dung nhạc (music content), nội dung trò chơi (games content), nội dung sách (book content) và nội dung truyền thông số (digital broascasting)

Ở Đài Loan, ngành công nghiệp nội dung số được xác định gồm: hoạt hình computer (computer animation), trò chơi (games), giáo dục điện tử (e-learning), dịch vụ và ứng dụng di động (mobile application and services), truyền tải dữ liệu và họp số (data streaming and video conferencing), truyền hình tương tác (interative TV), kho dữ liệu số (digital archiving), xuất bản số (digital publishing), truyền thông số (digital broascating), nhạc số (digital music) và sản phẩm, dịch vụ phần mềm đa phương tiện (multimedia sofwares and services)

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đưa ra một khái niệm liên quan đến nội dung số là "Digital Products" (tạm dịch là "các sản phẩm số") Theo đó, "các sản phẩm số là một trong các loại hình của hàng hóa và dịch vụ công nghệ thông tin, bao gồm phần mềm, phim ảnh, nhạc, sách dưới dạng băng đĩa, trò chơi đã được số hóa, có thể trao đổi thương mại qua các phương vật chất tiện trung gian như đĩa, băng VHS, CD hoặc sách hoặc được bán thông qua các phương tiện điện tử như Internet" Khái niệm "sản phẩm" ở đây không được dùng để phân biệt nó là hàng hóa hay dịch vụ mà nó bao hàm cả hàng hóa và dịch vụ nội dung số

Theo nghĩa hẹp, "công nghiệp nội dung số" là chỉ kể đến việc thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số

Trang 19

Cách hiểu này chưa đúng và không đầy đủ vì nó đã phủ nhận sự tồn tại dịch

vụ nội dung số Đồng thời, cách hiểu theo nghĩa hẹp này cũng không phù hợp với tinh thần của định nghĩa của WTO về "các sản phẩm số"

Theo nghĩa rộng, "công nghiệp nội dung số" bao gồm hai chu trình sản xuất và thương mại: (1) chu trình sản xuất và số hóa ra các sản phẩm nội dung số; và (2) chu trình cung cấp, phân phối thương mại các sản phẩm nội dung số đó (quy trình này được gọi là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nội dung số)

Thuật ngữ "công nghiệp nội dung số" hiện đại cần phải được hiểu theo nghĩa rộng bởi lẽ thuật ngữ "công nghiệp nội dung số" xuất phát từ thuật ngữ của nước ngoài là "digital content industry" Điều này có nghĩa là công nghiệp nội dung số là một ngành, một lĩnh vực công nghệ thông tin Với cách hiểu này, khái niệm "công nghiệp nội dung số" không chỉ đề cập đến việc sản xuất

ra một sản phẩm nội dung số mà nó đề cập đến cả một quy trình từ việc sản xuất các sản phẩm nội dung số đến việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nội dung số Hiểu khái niệm công nghiệp nội dung số theo nghĩa rộng mới thể hiện được đúng và đầy đủ bản chất của sản xuất và cung cấp phẩm và dịch vụ nội dung số, đồng thời cũng phản ánh được "công nghiệp nội dung số" là một khái niệm mở và có thể luôn được cập nhật và mở rộng bởi sự thay đổi của công nghiệp và công nghệ thông tin

Ở Việt Nam, thuật ngữ về "Công nghiệp nội dung số"cũng đã bắt đầu được đề cập đến tại một số văn bản như: Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg ngày 03 tháng 05 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010, Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 03 tháng 05 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin Theo đó, công nghiệp nội dung số là ngành thiết

kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số

và dịch vụ liên quan Nó bao gồm nhiều lĩnh vực như: tra cứu thông tin, dữ

Trang 20

liệu số, giải trí số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tập điện tử, thư viện và bảo tàng số, phát triển nội dung cho mạng băng rộng, mạng di động 3G Công nghiệp nội dung số không bao hàm việc cung cấp dịch vụ công và các trang thông tin miễn phí Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/05/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin lần đầu tiên đưa ra khái niệm và phân biệt rõ "sản phẩm nội dung số" và "dịch vụ nội dung số" như sau:

- "Sản phẩm nội dung thông tin số là sản phẩm nội dung, thông tin bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng" [36] Đó là giáo trình, bài giảng, tài liệu học tập dưới dạng điện tử; sách, báo, tài liệu dưới dạng số; các loại trò chơi điện

tử bao gồm trò chơi trên máy tính đơn, trò chơi trực tuyến, trò chơi trên điện thoại di động; trò chơi tương tác qua truyền hình; sản phẩm giải trí trên mạng viễn thông di động và cố định; thư viện số, kho dữ liệu số, từ điển điện tử; phim

số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số; các sản phẩm nội dung thông tin số khác

- "Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, khai thác, phát hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số" [36] Các dịch vụ nội dung thông tin số bao gồm: dịch vụ phân phối, phát hành sản phẩm nội dung thông tin số; dịch vụ nhập, cập nhật, tìm kiếm, lưu trữ và xử lý dữ liệu số; dịch vụ quản trị, duy trì, bảo dưỡng, bảo hành các sản phẩm nội dung thông tin số; dịch vụ chỉnh sửa, bổ sung tính năng, bản địa hóa các sản phẩm nội dung thông tin số; dịch vụ đào tạo từ xa; dịch vụ khám, chữa bệnh từ xa; trò chơi điện tử (games), phát triển nội dung cho Internet, phát triển nội dung cho mạng điện thoại di động, dịch vụ tin nhắn đa phương tiện, dịch vụ tin nhắn cung cấp nội dung, phim số và dịch vụ đa phương tiện số

Sơ đồ dưới đây thể hiện rõ quy trình, định nghĩa về nội dung số và dịch vụ nội dung số cũng như gianh giới để xác định sản phẩm nội dung số và

Trang 21

dịch vụ nội dung số cũng như các nhân tố hội tụ để tạo ra sản phẩm và dịch

vụ nội dung số

Sơ đồ 1.2: Định nghĩa về nội dung số

Định nghĩa của Việt Nam đã được xây dựng trên tiêu chí phân biệt khái niệm giữa hàng hóa và dịch vụ Trong đó, sản phẩm nội dung số được coi là "hàng hóa" và các dịch vụ nội dung số được coi là "dịch vụ" Điều này phù hợp với đa số quan điểm về việc phân biệt hàng hóa và dịch vụ trong WTO Thực tế vấn đề coi nội dung số nên được xét vào loại hình hàng hóa hay dịch vụ theo cách đánh mã vạch của WTO đang được thảo luận tại Vòng đàm phán Urugoay và Doha Vấn đề này sẽ được tiếp tục thảo luận trong thời gian tới để có thể xác định được phạm vi mở của thị trường đối với các hành hóa và dịch vụ đặc biệt này Khuyến nghị Việt Nam nên quan tâm đến vấn đề này trong các phiên họp đa phương của WTO

Có thể thấy, nội dung số là sự hội tụ của nghệ thuật, kinh doanh và công nghệ, bao gồm các lĩnh vực: phát triển nội dung cho Internet (báo chí điện tử, website, tra cứu thông tin ); phát triển nội dung cho di động (tin

Trang 22

nhắn tra cứu thông tin, tải nhạc chuông, bầu chọn, dự đoán kết quả, tải logo ); thương mại điện tử (thiết kế, quảng cáo, tiếp thị, mua bán trên mạng ); trò chơi điện tử; giáo dục điện tử; chăm sóc y tế điện tử; thư viện điện tử; các dịch vụ đa phương tiện (nhạc số, phim số, truyền hình số…) Dịch vụ nội dung số chính là một trong các chu trình sản xuất và thương mại công nghiệp nội dung số Dịch vụ nội dung số chính là thương mại trực tuyến các sản phẩm nội dung số

Tuy nhiên, các định nghĩa về "sản phẩm nội dung số" và "dịch vụ nội dung số" ở nước ta chưa được luật hóa Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005, Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Công nghệ thông tin ngày 12 tháng 7 năm 2006 và các luật hiện hành của Việt Nam chưa đề cập đến khái niệm "nội dung số" và "dịch vụ nội dung số"

1.3 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

Nếu như một sản phẩm nội dung số được cung cấp tới người tiêu dùng bằng con đường phân phối, thương mại mang tính vật chất hữu hình như một hàng hóa thông thường mà ta có thể cầm giữ được thì đó không phải là quá trình cung cấp dịch vụ nội dung số Khi một sản phẩm nội dung số được bán / cung cấp trực tuyến (on-line) qua mạng, tức là ứng dụng công nghệ thông tin vào phân phối sản phẩm nội dung số thì được coi là quy trình cung cấp dịch

vụ nội dung số bằng thương mại điện tử

Vậy, "dịch vụ nội dung số" là một trong hai phân đoạn của ngành công nghiệp nội dung số Nó phản ánh quá trình cung cấp, phân phối các sản phẩm nội dung số tới người sử dụng thông qua phương tiện điện tử truyền dẫn (Internet) với sự hỗ trợ của các thiết bị đầu cuối như máy tính cá nhân, PDA, TV Quy trình này được gọi là cung cấp dịch nội dung số bằng thương mại điện tử

1.3.1 Đặc điểm của thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số

Xuất phát từ đặc tính kỹ thuật của các sản phẩm nội dung số và đặc tính của thương mại điện tử, ngoài các đặc điểm của thương mại điện tử nêu

Trang 23

tại phần trên, việc cung cấp dịch vụ nội dung số trực tuyến có các đặc điểm đặc thù như sau:

- Dịch vụ nội dung số là việc cung cấp các sản phẩm nội dung số cho người sử dụng Đây là các sản phẩm công nghệ thông tin "phi vật thể" (hay còn gọi là "ảo") được hình thành từ các lĩnh vực kinh doanh của đời sống xã hội như văn học, sách báo, trò chơi, chương trình đào tạo, chương trình phần mềm trong quản lý đã được số hóa và lưu trữ dưới các hình thức đĩa, băng, đĩa VSH, CD, ổ lưu trữ, USB dễ dàng chuyển tải từ người này sang người khác trong môi trường điện tử

- Việc kích hoạt và sử dụng dịch vụ nội dung số rất đơn giản: người ta tải về một dịch vụ nội dung số và chỉ cần mà (key) là có thể kích hoạt dịch vụ

để sử dụng

- Cung cấp các dịch vụ nội dung số trực tuyến là giao dịch thương mại phi biên giới Các sản phẩm / dịch vụ nội dung số dễ dàng sao chép, gửi / nhận hoặc tải lên mạng (upload) hay tải về (download) từ bất cớ nơi nào có thể kết nối mạng mà không phụ thuộc vào vị trí địa lý Ranh giới quốc gia khó xác định trong các giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số trên mạng Bởi lẽ, tất cả các chu trình của giao dịch thương mại, từ đặt hàng đến thanh toán tiền

và giao nhận hàng hóa đều được tiến hành trên mạng và thông qua môi trường Internet toàn cầu Ở đây, không tồn tại việc giao nhận hàng hóa một cách vật chất cụ thể nên không có các thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa Các sản phẩm nội dung số là những hành hóa đã được số hóa tức là có thể gọi các sản phẩm / dịch vụ nội dung số là hàng hóa "ảo" Các hàng hóa này được người mua và người bán chuyển nhượng thông qua các phương tiện điện tử và trong môi trường điện từ truyền đi qua biên giới mà không cần qua cửa khẩu hải quan truyền thống

- Thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số là loại hình thương mại điện tử gắn liền và phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của công nghệ thông tin vì loại hình thương mại đặc biệt này luôn được thực hiện trên môi

Trang 24

trường điện tử (Internet, inttranet, mạng WAN, mạng LAN, các PC kết nối wifi, wimax, điện thoại di động GSM và thiết bị đầu cuối CDMA ) và luôn cung cấp các dịch vụ gắn liền với các sản phẩm nội dung số

- Cung cấp dịch vụ nội dung số là quy trình thương mại điện tử trực tiếp Một giao dịch thương mại điện tử sẽ được tiến hành qua ba giai đoạn chính như sau: giai đoạn tìm kiếm (đối tác, khách hàng, hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ…) và chào hàng; giai đoạn đặt mua hàng - giao kết hợp đồng điện tử; giai đoạn thanh toán và giao nhận dịch vụ Thương mại điện tử hàng hóa và dịch vụ thông thường là việc đặt hàng hoặc thực hiện một số khâu trong giao dịch thương mại trên các phương tiện điện tử hoặc qua các phương thức điện

tử và bên cạnh đó là một số khâu còn lại của giao dịch vẫn phải thực hiện theo phương thức truyền thống như việc giao nhận qua các kênh phân phối hoặc qua các dịch vụ bưu chính hay các nhà vận chuyển thương mại Ví dụ: khi mua kính qua mạng, người mua sẽ đặt lệnh qua mạng, thanh toán tiền qua mạng và bên bán ghi nhận trên trang bán hàng điện tử của mình là đã thực hiện các giao dịch đó Sau đó, chiếc kính sẽ được chuyến phát tới người mua thông qua người giao hàng hoặc qua các công ty phân phối trung gian Lúc đó giao dịch mua bán mới được hoàn tất Quy trình thương mại điện tử này được gọi là thương mại điện tử gián tiếp và thường được thực hiện với các hàng hóa hữu hình Thương mại điện tử gián tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài khác như hiệu quả của hệ thống phương tiện giao thông vận tải Trong cung cấp dịch vụ và sản phẩm nội dung số theo hình thức thương mại điện tử, các sản phẩm và dịch vụ nội dung số sẽ được cung cấp trực tuyến ngay trên trang web điện tử và ngay khi người mua đồng ý thanh toán cho giao dịch Toàn bộ các giai đoạn từ khâu tìm kiếm cho tới khi giao nhận và thanh toán đều được thực hiện trên mạng máy tính Việc cung cấp hàng hóa đặc biệt này không cần thiết phải sử dụng đến phương tiện vận chuyển trung gian Ví dụ: mua một phần mềm quản lý văn phòng qua mạng, khi mua sách điện tử qua mạng, tham gia khóa đào tạo trực tuyến, mua nhạc số, tải nhạc chuông (ring back tone) Đây được gọi là thương mại điện tử trực tiếp Thương mại điện

Trang 25

tử trực tiếp cho phép bất kỳ ai cũng có thể đặt mua qua mạng mà không cần qua nhà phân phối, việc mua bán thực hiện trong môi trường "ảo", thời gian thực hiện nhanh và không phụ thuộc vào thời gian và khoảng cách địa lý

1.3.2 Phân loại thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số

Dựa trên yếu tố chủ thể tham gia vào giao dịch thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số có thể phân chia thành ba nhóm giao dịch chính sau đây:

- Cung cấp dịch vụ nội dung số trong khu vực kinh doanh (Business to Business - B2B): đây là các giao dịch giữa các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh với nhau thông qua các phương tiện điện tử Đặc thù của các giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số trong khu vực này có giá trị rất cao, như cung cấp giải pháp quản lý tổng thể cho công ty, cung cấp phần mềm quản lý tài chính, quản lý nhân sự trong doanh nghiệp, cung cấp các phần mềm mở trong quản lý kinh doanh Hiện nay khối lượng các sản phẩm nội dung số được giao dịch trực tuyến trong khu vực này phát triển mạnh mẽ nhất Lý do để các doanh nghiệp lựa chọn phương thức giao dịch này không gì khác ngoài các lợi ích mà thương mại điện tử đem lại được Tính đến cuối năm 2006, có khoảng 30 sàn giao dịch thương mại điện tử B2B của Việt Nam đang hoạt động với số cơ hội kinh doanh và số lượng thành viên tương đối lớn Khảo sát

ở các doanh nghiệp này cho thấy doanh nghiệp thương mại điện tử B2B trong năm 2006 đa có những bước tiến bộ rõ rệt và thu được nhiều thành công trong hoạt động Bên cạnh việc cố gắng cải tiến website, thay đổi giao diện với các hình ảnh đẹp hơn, tốc độ truy cập nhanh hơn, các ban quản lý sàn cũng đa chú

ý đến việc tuyên truyền đào tạo cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, nỗ lực nâng cao chất lượng phục vụ và thu hút được lượng thành viên tham gia đông đảo hơn Điểm đáng lưu ý đầu tiên khi khảo sát các sàn B2B là các ban quản lý sàn đã có chiến lược kinh doanh rõ nét và đầu tư mạnh hơn cho phát triển sàn cả về công nghệ như phần mềm, máy chủ, mạng cũng như kinh doanh như nguồn lực, quảng bá, hỗ trợ thông tin, tư vấn Ngoài đăng tải

cơ hội kinh doanh mua bán hàng hóa và dịch vụ, các sàn giao dịch đa cung

Trang 26

cấp các hỗ trợ khác như đấu giá, đấu thầu trực tuyến, hỗ trợ thành viên trực tuyến, các bản tin điện tử, tìm kiếm thông tin Tuy nhiên, tiện ích lớn nhất của phần lớn các sàn TMĐT B2B mới giới hạn ở đăng tải nhu cầu mua bán Hầu như chưa sàn nào có tiện ích hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành đàm phán tiến tới giao kết hợp đồng, thực hiện hợp động và trợ giúp sau bán hàng Mặc dù số sàn giao dịch B2B tương đối nhiều, một vấn đề đặt ra chất lượng các sàn chưa thật sự đồng đều Ngoài một số sàn thu hút được khá đông doanh nghiệp tham gia với số lượng cơ hội kinh doanh tăng lên nhanh chóng, nhiều sàn giao dịch phát triển tương đối chậm Một điều quan trọng để thể hiện mức

độ tin cậy và chữ tín của một sàn giao dịch là sự thẩm định các doanh nghiệp thành viên và các cơ hội kinh doanh Trong khi có một số sàn tập trung vào thẩm định thông tin của doanh nghiệp và của các cơ hội chào bán, chào mua, nhiều sàn đăng tải thông tin có độ tin cậy chưa cao

- Thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số giữa khu vực doanh nghiệp kinh doanh và người tiêu dùng (Business to Customer - B2C): Các hoạt động thương mại điện tử thuộc loại này thường tập trung vào việc mua bán lẻ sản phẩm, dịch vụ nội dung số tới người tiêu dùng Các sản phẩm nội dung số được cung cấp nhiều nhất hiện nay theo hình thức thương mại điện tử trong khu vực này là: game on-line, ring back tone, đào tạo trực tuyến, tin tức trực tuyến và các ứng dụng khác trên máy điện thoại di động Việc cung cấp các dịch vụ nội dung số có thể là mua bán hàng trực tiếp giữa người tiêu dùng với các nhà sản xuất những cũng có thể thông qua các nhà trung gian như các siêu thị ảo Tính đến cuối năm 2006, Việt Nam có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn thương mại điện tử B2C Theo kết quả đánh giá xếp hạng website thương mại điện tử của Bộ Thương mại, các sàn B2C tiêu biểu trong năm 2006 là: www.khonhacso.com, www.nhacso.net, media.vtc.vn

và www.vinagames.com

- Thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số giữa cá nhân với

cá nhân (Customer to Customer): đây là các hoạt động thương mại mạng tính

Trang 27

nhỏ lẻ để đáp ứng nhu cầu giao dịch của từng cá thể và hỗ trợ các giao dịch giữa những người tiêu dùng với nhau Năm 2004 và 2005 rầm rộ xuất hiện các sàn thương mại điện tử C2C, nhưng năm 2006 số lượng sàn loại này tăng chậm Thay vì tăng về số lượng, chất lượng các sàn đa có sự thay đổi tích cực Các sàn C2C trong năm qua đa sôi động hơn, nhiều người mua và bán, số lượng giao dịch tăng Theo xếp hạng của Bộ Thương mại, 5 website C2C tiêu biểu năm

2006 là: www.1001shoppings.com, www.chodientu.vn, www.heya.com.vn, www.vietco.com, www.sieuthihangchatluong.com Có những sàn rao bán những sản phẩm còn mập mờ về tính hợp pháp như tên miền Internet, các sản phẩm ảo trong trò chơi trực tuyến, chẳng hạn các sàn sau: www.1001shoppings.com, www.raobandomain.com, www.chodoao.com Các sàn giao dịch cũng đa có nhiều hình thức hỗ trợ các doanh nghiệp, thay đổi giao diện thân thiện với người dùng, các dịch vụ hỏi đáp trực tuyến, đánh giá của người sử dụng và đánh giá của chuyên gia, mục diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm

1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của công nghiệp nội dung số trong nền kinh

tế của quốc gia và kinh tế toàn cầu

Công nghiệp nội dung số thực sự là một thị trường đang phát triển Trong môi trường chuyển động và thay đổi nhanh chóng, có thể thấy rõ sự tác động của nó tới cuộc sống của con người, tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và của toàn thế giới Vai trò, ý nghĩa của công nghiệp nội dung số trong nền kinh tế của quốc gia và kinh tế toàn cầu là:

- Góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế: Công nghiệp nội dung số có

thể góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, rút ngắn khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Công nghiệp nội dung số là đầu vào quan trọng của các giao dịch thương mại điện tử, có ý nghĩa cải tiến cách thức quản lý các hoạt động và giao dịch thương mại cũng như sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế Sự phát triển và đa dạng hóa của các sản phẩm và dịch vụ nội dung số sẽ làm tăng trưởng thương mại điện tử, dẫn tới những thay đổi cơ bản về mặt cơ cấu

Trang 28

nền kinh tế Xét dưới khía cạnh pháp lý, những thay đổi về cơ cấu kinh tế cũng sẽ dẫn đến những thay đổi về hệ thống pháp luật

- Không giới hạn về khả năng tham gia: Việc cung cấp các sản phẩm

và dịch vụ nội dung số thông qua hình thức thương mại điện tử cho phép tất

cả mọi người cùng tham gia, từ các cá nhân tới các tập đoàn đa quốc gia, từ khu vực đô thị tới những vùng xa xôi hẻo lánh, từ những nước phát triển tới những quốc gia đang phát triển, cho phép phát triển các hình thức thương mại giữa các cá nhân, những người sử dụng có thể tự có được những thu nhập nho nhỏ từ các nội dung mà họ đưa lên các trang chủ Thương mại điện tử tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp nơi tham gia vào thị trường

- Giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh: Quan hệ giữa khách

hàng/người tiêu dùng với người bán/nhà cung cấp cũng đã được cải thiện thông qua các hình thức của thương mại điện tử Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi khi họ có được nhiều lựa chọn hơn qua việc so sánh về giá cả, về phương thức giao hàng, thanh toán…

Về bản chất, việc cung cấp dịch vụ nội dung số thông qua các phương tiện điện tử mang tính xuyên quốc gia và nó khuyến khích việc đặt hàng cũng như giao nhận hàng hóa và dịch vụ qua biên giới Như vậy, nó sẽ trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu Ngược lại, thị trường toàn cầu cũng tạo điều kiện cho công nghiệp nội dung số phát triển ở nhiều lĩnh vực kinh doanh mới với hàng tỷ người tiêu dùng

Tại Việt Nam, công nghiệp nội dung số mới chỉ bắt đầu được để ý tới trong thời gian gần đây Tuy nhiên, công nghiệp nội dung số đã và đang mang tới những khích lệ đáng kể cho những người đã tham gia và những người mới tham gia vào thị trường này Các doanh nghiệp của Việt Nam đang ngày càng biết tận dụng các cơ hội kinh doanh trên mạng để mở rộng hoạt động và tăng doanh thu Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là những đơn vị biết tự huy động các nguồn vốn cho mình thông qua các cơ hội do những trang chủ trên mạng Internet mang đến mà trước đây chưa từng có để xâm nhập vào thị trường toàn cầu

Trang 29

1.4 CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN

TỬ CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

Sự ra đời của công nghiệp nội dung số gắn với nó là các giao dịch thương mại điện tử trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ nội dung số là một bước phát triển mới và một thực tế khách quan trong hoạt động kinh tế và thương mại của các quốc gia Nó đòi hỏi phải có những điều chỉnh hợp lý từ các cơ quan nhà nước nhằm mục đích định hướng cho ngành công nghiệp nội dung số phát triển lành mạnh và phù hợp với tình hình thực tế của quốc gia

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy thương mại điện tử điện tử phát triển Đặc biệt từ năm 2003, với sự xuất hiện của ngành kinh tế mới là dịch vụ nội dung số - sản phẩm hội tụ giữa thương mại điện tử, công nghệ thông tin và công nghệ số hóa - có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại giá trị gia tăng cao, thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông tin và kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đặc biệt khuyến khích, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp này thành một ngành kinh tế trọng điểm, coi phát triển thương mại điện tử và nội dung số như một phương thức quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước và hội nhập với thế giới Đặc biệt phải kể đến ba chính sách quan trọng là Chương trình phát triển nội dung số đến năm 2010, Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010 và Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Bên cạnh đó, một loạt các chính sách khác của Đảng và Nhà nước cũng đã hỗ trợ và tạo điều kiện để thúc đẩy dịch vụ nội dung số phát triển như: Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010; Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển giáo dục từ

xa giai đoạn 2005 - 2010 Tất cả các văn bản nói trên đã hình thành nên chính sách khung, tạo điều kiện hỗ trợ cho việc cung cấp dịch vụ nội dung số phát triển

Trang 30

Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số cũng có nhiều phát triển rõ rệt, từng bước tạo ra hành lang pháp lý cơ bản cho các giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số trực tuyến phát triển Trước năm 2004, thương mại điện tử còn là thuật ngữ pháp lý mới

mẻ Hệ thống pháp luật Việt Nam có quy định nhưng chưa thể hiện được bản chất và tầm quan trọng của thương mại điện tử cũng như chưa quy định một cách đầy đủ để thương mại điện tử Việt Nam phát triển Đặc biệt, dịch vụ nội dung số ở Việt Nam còn quá mới mẻ và trên thực tế người ta mới biết đến khía cạnh kinh tế của loại hình dịch vụ này mà chưa được đề cập đến khía cạnh pháp lý Luật Thương mại năm 1997 nhắc tới hình thức hợp đồng bằng phương tiện điện tử như fax, telex, thư điện tử và coi chúng là văn bản (Điều 49) nhưng quy định này chỉ mang tính hình thức và chưa cụ thể hóa các khía cạnh

kỹ thuật đủ cho việc áp dụng một cách có hiệu quả Một số văn bản pháp lý chuyên ngành khác cũng đã có những quy định khá cụ thể hơn về giao dịch điện tử như Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Hải quan năm 2001, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 và một số văn bản dưới luật trong lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên, do nhận thức chưa toàn diện về thương mại điện tử, các chế định pháp lý trên còn thiếu cơ sở cụ thể, vì vậy dẫn tới việc khó áp dụng trên thực tế

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay, nhà nước đã ban hành nhiều luật nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử nói chung như: Luật Thương mại sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2005, Bộ luật Dân sự sửa đổi ngày 14/6/2005, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 15/6/2004, Luật Hải quan sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp lệnh Bưu chính viễn thông, Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng Bên cạnh đó, một số văn bản dưới luật cũng đang dần được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn các hoạt động trong lĩnh vực này Đặc biệt khái niệm nội dung số và thương mại nội dung số cũng đã được các văn bản pháp luật đề cập đến và điều chỉnh như Nghị định số 71/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông

Trang 31

tin; Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử; Nghị định của Chính phủ số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Quyết định của Bộ Thương mại số 25/2006/QĐ-BTM ngày 25/7/2006 về việc ban hành quy chế sử dụng chữ ký số; Quyết định của Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) số 20/2007/QĐ-BBCVT ngày 19/6/2007 về việc ban hành Mẫu Quy chế chứng thực chữ ký số Trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước ta, Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số 71/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin và Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ

về thương mại điện tử đã đặt nền móng quan trọng cho cung cấp dịch vụ nội dung số Việt Nam phát triển Lần đầu tiên khái niệm công nghiệp nội dung số

và dịch vụ nội dung số được đề cập và công nhận trong các văn bản pháp luật

Ngoài ra, các văn bản pháp luật điều chỉnh từng lĩnh vực dịch vụ nội dung số cũng đã được Nhà nước ta ban hành như Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/06/2006 về quản lý trò chơi trực tuyến của Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Bưu chính Viễn thông và Bộ Công

an được ban hành nhằm điều chỉnh việc sản xuất, cung cấp và sử dụng dịch

vụ trò chơi trực tuyến tại Việt Nam Thông tư đưa ra quy định về điều kiện cung cấp cũng như trách nhiệm của từng đối tượng tham gia trò chơi trực tuyến khá cụ thể Đây được coi là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho khung pháp lý về trò chơi trực tuyến

Tuy nhiên, để xây dựng được một khung pháp luật điều chỉnh các giao dịch thương mại điện tử trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ nội dung số tại Việt Nam thì cần phải giải quyết được các vấn đề pháp lý đặt ra đối với các giao dịch nội dung số trực tuyến Nghiên cứu một quy trình cung cấp dịch vụ nội dung số trực tuyến điển hình, ta thấy có ba bước cơ bản như sau:

- Lựa chọn sản phẩm: Sản phẩm và dịch vụ nội dung số được người

bán đưa lên Internet thông qua một nhà cung cấp dịch vụ Internet (1) Người

Trang 32

mua truy nhập vào Internet và thăm trang web giới thiệu về hàng hóa, sản phẩm của người bán để lựa chọn (2)

- Giao kết hợp đồng: Sau khi quyết định mua hàng, người mua điền

các thông tin vào phiếu mua hàng như chủng loại, số lượng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận, các thông tin về người mua (nếu có yêu cầu) theo mẫu đã tạo sẵn trên trang web của người bán Khi đã điền hết các thông tin theo yêu cầu (nói cách khác là hoàn thành đơn đặt hàng), Người mua nhấn nút chấp nhận gửi đơn đặt hàng đi Thông thường các trang web được thiết kế với một số các thủ tục xác nhận lại các thông tin và đơn đặt hàng của người bán (3)

- Thực hiện hợp đồng thương mại - thanh toán và giao hàng: Thông

tin trên được chia làm hai phần Phần đặt hàng được chuyển tới người bán để mua hàng Phần thông tin thanh toán được gửi tới Ngân hàng người mua qua cổng thanh toán chung để thực hiện thủ tục thanh toán (4) Ngân hàng người mua chấp nhận hoặc từ chối thanh toán và gửi mã cấp phép cho ngân hàng người bán, và tiếp theo là thông tin được gửi tới người bán (5) Sau khi thanh toán được chấp nhận, người bán chuyển hàng cho người mua và đồng thời gửi hóa đơn điện tử cho người mua (6)

Sơ đồ 1.3: Biểu thị giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số

INTERNET

Ng-êi mua

Ng-êi b¸n

M¸y chñ thanh to¸n

3

6

Trang 33

Đặc điểm nổi bật nhất của thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số là toàn bộ quy trình giao dịch từ lựa chọn sản phẩm dịch vụ, chấp nhận giao dịch và giao hành hóa dịch vụ đều được tiến hành trên mạng và được tiến hành nhanh chóng, ngay lập tức Từ đặc tính nhạy cảm này đã đặt ra một số vấn đề mà pháp luật Việt Nam cần phải điều chỉnh để các giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số được diễn ra thuận lợi và hợp pháp Cụ thể các vấn đề sau:

- Pháp luật về quảng cáo và chào bán sản phẩm nội dung số trên mạng

và trách nhiệm của người bán hàng đối với dịch vụ nội dung số đăng tải trên mạng Trong quy trình thương mại, xem xét hàng hóa và dịch vụ để từ đó quyết định việc giao dịch là một khâu quan trọng và cần sự trung thực của các bên Nếu như một sản phẩm hàng hóa bình thường, trước khi mua người bán

có thể xem xét, cầm, nắm và cân nhắc một cách hữu hình để quyết định việc giao dịch cũng như lý giải được các lý do cho quyết định của mình thì trong thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số, người mua không thể và không có điều kiện để xem xét thấu đáo hàng hóa đang được chào bán bởi lẽ

đó là loại hàng hóa "ảo" Người mua rất có thể không có đủ các thông tin về hàng hóa và dịch vụ nội dung số mà mình muốn mua cũng như rất có thể gặp phải các gian lận thương mại Điều này đòi hỏi pháp luật phải có các quy định

cụ thể về việc quảng cáo và chào bán các sản phẩm nội dung số trên mạng (quảng cáo thương mại) để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Trên thực tế đã có nhiều trường hợp các khách hàng tham gia giao dịch nội dung số gặp phải những bất lợi hoặc các tổn thất không mong muốn do việc người cung cấp dịch vụ nội dung số không thông tin đầy đủ hoặc cố tình lập lờ các thông tin

để bán dịch vụ

- Pháp luật về Hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số Luật hợp đồng là một trong những chế định pháp lý quan trọng trong thương mại nói chung cũng như trong thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số tại Việt Nam nói riêng Xét về bản chất các giao

Trang 34

dịch giữa các chủ thể trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nội dung số trên mạng điện tử là các giao dịch dân sự, thương mại Các giao dịch này được thể hiện dưới hình thức là các hợp đồng điện tử Với đặc điểm của các giao dịch thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số là các giao dịch được ký kết, thực hiện và hoàn tất ngay trên mạng điện tử và trong khoảng thời gian rất ngắn nên nhiều vấn đề đặt ra liên quan tới các hợp đồng điện tử nhằm đảm bảo và bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch

- Những vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số Đó là các vấn đề liên quan đến quy định xuất nhập khẩu các dịch vụ nội dung số, quy định về hải quan, thuế và thanh toán trực tuyến Bởi lẽ, thanh toán điện tử còn rất mới mẻ tại Việt Nam Hơn nữa chính sách quản lý ngoại hối và hạn mức thẻ tín dụng hiện nay của nước ta chưa thực sự tạo điều kiện cho thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số phát triển Nhiều trường hợp các bên tham gia giao dịch phải thực hiện một số hoạt động phi điện tử trong giao dịch để có thể hoàn tất thủ tục chuyển tiền thanh toán Lĩnh vực thuế cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như dịch vụ nội dung số có phải là đối tượng chịu thuế hay không? loại thuế nào sẽ đánh vào các giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số hay quy định về chứng từ để có thể khấu trừ thuế cho doanh nghiệp, xu hướng vận động của các nước trong chính sách thuế đối với các sản phẩm / dịch vụ nội dung số

- Các vấn đề về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng điện tử, đặc biệt

là việc xác định hệ thống pháp luật ở nước nào, cơ quan tố tụng nào sẽ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử, đặc biệt

là các hợp đồng có yếu tố nước ngoài vì đặc thù của thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số là một chu trình giao dịch thương mại điện tử toàn phần phi biên giới với sự tham gia của nhất nhiều loại chủ thể trong quan hệ hợp đồng

Trang 35

31

- Vấn đề quyền tác giả, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin mạng lưới trong thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số luôn luôn là vấn đề nóng bỏng được đặt ra đặc biệt là ở các nước đang phát triển như ở Việt Nam Làm thể nào để có thể khuyến khích các hoạt động thương mại điện tử cung cấp nội dung số phát triển nhưng vẫn phải đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các tác giả, các chủ sở hữu hợp pháp của các sản phẩm

và dịch vụ nội dung số Đây là các vấn đề cần được pháp luật quan tâm và có các điều chỉnh hợp lý

Nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật để từ đó chỉ ra các điểm còn hạn chế và các vấn đề cần điều chỉnh bổ sung trong hệ thống pháp luật nước ta điều chỉnh lĩnh vực thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số, từ đó góp phần hoàn thiện các chế định pháp lý về vấn đề này

Trang 36

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ Ở VIỆT NAM

2.1 PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO/ CHÀO BÁN DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÁN HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ ĐĂNG TẢI TRÊN MẠNG

Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình Luật Thương mại năm 2005 quy định: thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình Luật Thương mại năm 2005 quy định các phương tiện quảng cáo - công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại - bao gồm cả phương tiện truyền tin Đồng thời, sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại Luật Thương mại đã thừa nhận quảng cáo thương mại trực tuyến trên các phương tiện truyền dẫn điện tử

Pháp lệnh Quảng cáo ngày 16-11-2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề cập phương tiện quảng cáo báo điện tử và mạng thông tin máy tính Pháp lệnh đưa ra yêu cầu đối với việc quảng cáo trên mạng thông tin máy tính phải được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về quảng cáo, dịch

vụ truy nhập, dịch vụ kết nối và việc cung cấp các loại hình dịch vụ quảng cáo trên mạng thông tin máy tính; thực hiện các quy định về kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm bảo đảm bí mật nhà nước Điều này có nghĩa là Pháp lệnh Quảng cáo đã

Trang 37

thừa nhận giá trị của quảng cáo điện tử như là một quảng cáo thông thường Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 31-3-2003 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Quảng cáo có những quy định tạo cơ sở cấp giấy phép quảng cáo trên mạng thông tin máy tính

Trong quảng cáo để chào bán các dịch vụ nội dung số có sự tham gia của các chủ thể là người cung cấp dịch vụ nội dung số và người cho thuê phương tiện để quảng cáo Để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia giao dịch điện tử cũng như để đảm bảo các hoạt động thương mại tuân thủ theo các quy định của pháp luật, pháp luật đã quy định trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia quảng cáo trực tuyến

+ Cá nhân hoặc pháp nhân tham gia cung cấp dịch vụ nội dung số có quyền quảng cáo để chào bán về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình; có quyền lựa chọn người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, phương tiện và hình thức quảng cáo; được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo của mình và có các quyền khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Pháp lệnh Quảng cáo cũng quy định các nghĩa vụ của người quảng cáo là: quảng cáo phù hợp với nội dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; đảm bảo nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác; thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

+ Trong cung cấp dịch vụ nội dung số người cho thuê phương tiện để quảng cáo chính là người sở hữu các trang web hoặc là người cung cấp hạ tầng công nghệ thông tin Sản phẩm quảng cáo thực hiện trên mạng thông tin máy tính do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ Internet chịu trách nhiệm Pháp lệnh Quảng cáo quy định các nghĩa vụ đối với người cho thuê phương tiện để quảng cáo như sau: thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng cho thuê phương tiện để quảng cáo đã ký kết; bồi thường thiệt hại do mình gây ra; thực hiện các nghĩa vụ khác trong việc cho thuê phương tiện để quảng cáo theo quy định của pháp luật

Trang 38

Pháp luật cũng quy định quảng cáo trên mạng thông tin máy tính phải gửi sản phẩm quảng cáo đến Bộ Văn hóa Thông tin trước khi thực hiện quảng cáo ít nhất mười ngày làm việc Bộ Văn hóa Thông tin cũng đã ban hành Quyết định số 28/2002/QĐ-BVHTT ngày 21-11-2002 về quy chế xuất bản bản tin, tài liệu, tờ rơi; phát hành thông cáo báo chí; đăng, phát bản tin trên màn hình điện tử của các cơ quan, tổ chức nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Tuy nhiên, quảng cáo thương mại trực tuyến với ý nghĩa là một khâu trong hoạt động thương mại điện tử trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ trực tuyến (như cung cấp dịch vụ nội dung số) chưa có quy định pháp lý điều chỉnh đầy đủ và cụ thể Hoạt động này hiện nay chỉ được căn cứ và điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005, pháp luật quảng cáo và các quy định pháp luật khác về hoạt động quảng cáo thương mại khác Các quy định pháp luật hiện hành chưa khái quát được các đặc thù của việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến như là cung cấp dịch vụ nội dung số Trên thực tế do các hạn chế pháp lý nêu trên trong quảng cáo và chào hàng thương mại đối với thương mại điện tử nội dung số mà trong thời gian qua nhiều vụ lừa đảo trong lĩnh vực nội dung số đã xảy ra Đơn cử là các vụ thông báo nhắn tin để nhận được tiền khuyến mại của các mạng điện thoại di động

Báo An ninh Thủ đô ngày 15/10/2007 có bài viết:

Vinaphone vừa đưa ra cảnh báo về tin nhắn không chính xác liên quan đến dịch vụ khuyến mại của nhà cung cấp dịch vụ này Theo phản ánh, thời gian qua, nhiều khách hàng nhận được tin nhắn SMS từ các đầu số 8xxx hoặc từ các số điện thoại di động khác với nội dung: "Nạp 900: soạn tin nhắn nạp vinaphone145 gửi 8730 để được khẳng định thuê bao còn hoạt động và nhận được 100.000 đồng khuyến mại nhân dịp Vinaphone trong 10 năm hoạt động" Tuy nhiên, Vinaphone đã khẳng định nhà cung cấp dịch vụ này không có chương trình khuyến mại nào như vậy Vinaphone cũng

Trang 39

cho biết, hiện cũng đang phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ thông qua đầu số tin nhắn 8xxx để tìm biện pháp ngăn chặn hiện tượng này

Đối với sự vụ nêu trên, nhà cung cấp phương tiện truyền dẫn đã có các thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, hành động này chỉ xảy ra khi đã có các khiếu nại và đơn tố cáo của khách hàng Ngoài mạng Vinaphone, sự việc này vẫn đang diễn ra tại các mạng điện thoại di động khác như Viettel, Mobiphone

Rõ ràng trong thương mại điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số, các

cơ quan cung cấp phương tiện truyền dẫn điện tử trong nhiều trường hợp là các cơ quan trung gian và họ đóng vai trò quan trọng trọng sự thành công của một giao dịch thương mại điện tử vì họ chính là người chuyển đi hoặc lưu giữ các thông tin, các tệp dữ liệu đồng thời họ có thể cấp các chứng thực xác nhận

độ tin cậy và chính xác của người gửi cũng như của tệp dữ liệu Câu hỏi đặt ra

là trách nhiệm của họ được quy định như thế nào và được giới hạn tới đâu đối với các thông tin mà họ nhận và gửi cũng như thông tin họ lưu giữ trong máy chủ…? Do đó, pháp luật về quảng cáo chào bán sản phẩm nội dung số cần phải được tiếp tục nghiên cứu và bổ sung vấn đề này để dần dần hình thành nên nguyên tắc chung cho việc phân bổ trách nhiệm cho các nhà cung cấp dịch vụ cung cấp hạ tầng thông tin cho các giao dịch nội dung số trực tuyến

Bên cạnh vấn đề nêu trên, việc chưa có các pháp lý cụ thể về việc xác định trách nhiệm cung cấp minh bạch các thông tin về hàng hóa, dịch vụ nội dung số khi chào bán trên mạng đã tạo ra mốt thế bất đối xứng trong minh bạch hóa thông tin Ta có thể gặp nhiều dịch vụ nhắn tin trúng thưởng (như đoán kết quả trận đấu bóng, đoán chữ trúng thưởng ) trên tivi hoặc trên điện thoại di động Điều kiện mà các dịch vụ này đưa ra là nếu khách hàng nhắn tin nhắn trúng kết quả trận đấu hoặc nhắn trúng vào một kí tự đặc biệt thì khách hàng sẽ được thưởng một số tiền lớn, điều này đánh vào lòng tham và ý muốn khao khát trúng thưởng của khách hàng khiến họ nhắn rất nhiều tin

Trang 40

nhắn Do công ty cung cấp dịch vụ nội dung số không thông tin đầy đủ về giá tin nhắn nên khách hàng ngầm hiểu rằng mỗi tin nhắn là 500 đồng (theo như quy định của nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động) nhưng trên thực tế, mỗi tin nhắn bị thu với giá 15.000 đồng (gấp 30 lần giá một tin nhắn bình thường) Cuối tháng khi thanh toán hóa đơn điện thoại, khách hàng mới biết mình phải trả hàng triệu đồng cho các trò chơi đoán chữ trúng thưởng đó Về phía lợi ích của khách hàng, có thể coi các giao dịch này là vô hiệu vì chưa có sự thỏa thuận

về giá cả giữa người mua và người bán nhưng nếu đứng trên vị trí bảo vệ lợi ích của người cung cấp dịch vụ nội dung số, có thể biện luận cho việc này bằng việc nhà cung cấp đã thông tin về giá tin nhắn dịch vụ trên các trang web của công ty hoặc tại một thời điểm nào đó của chương trình Chính sự quy định không rõ ràng về các nghĩa vụ cần khai báo đầy đủ của việc chào bán hàng hóa dịch vụ là sản phẩm nội dung số đã tạo ra những bất ổn trong các giao dịch này Để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia giao dịch, pháp luật nước ta cần phải bổ sung thêm các quy định cụ thể về vấn đề công khai và minh bạch thông tin về sản phẩm, đặc biệt là các thông tin giá cả để tránh được các tình trạng bất bình đẳng về thông tin và tính minh bạch giữa các bên tham gia giao dịch điện tử cung cấp dịch vụ nội dung số

Tóm lại, để định hướng, khuyến khích quảng cáo thương mại trực tuyến cũng như bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, nhà nước ta cần phải ban hành những quy định pháp luật cụ thể hơn về lĩnh vực này, như quy định về việc phải công bố các thông số kỹ thuật công nghệ thông tin của sản phẩm dịch vụ, công bố các nội dung tóm lược, các yêu cầu về kỹ thuật khi sử dụng dịch vụ nội dung số, trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ nội dung cũng như của các nhà quản lý mạng

2.2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG SỐ

Tuy nước ta đã có Luật Giao dịch điện tử năm 2005 để điều chỉnh các quan hệ dân sự, thương mại và thậm chí là hành chính công sử dụng môi trường điện tử là phương tiện truyền dẫn, nhưng Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ

Ngày đăng: 10/07/2015, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 58CT/TW của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội.CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 58CT/TW của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
2. Bộ Bưu chính Viễn thông (2007), Quyết định số 20/2007/QĐ-BBCVT ngày 19/6 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) về việc ban hành Mẫu Quy chế chứng thực chữ ký số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2007/QĐ-BBCVT ngày 19/6 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) về việc ban hành Mẫu Quy chế chứng thực chữ ký số
Tác giả: Bộ Bưu chính Viễn thông
Năm: 2007
3. Bộ Bưu chính Viễn thông (2007), Quyết định số 792/QĐ-BBCVT ngày 01/8 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện Công nghiệp phần mềm và nội dung số ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 792/QĐ-BBCVT ngày 01/8 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện Công nghiệp phần mềm và nội dung số ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Bưu chính Viễn thông
Năm: 2007
4. Bộ Tài chính (2008), Quyết định số 01/2008/QĐ-BTC ngày 4/01 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong hoạt động Hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 01/2008/QĐ-BTC ngày 4/01 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong hoạt động Hải quan
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
5. Bộ Thương mại (2006), Quyết định số 25/2006/QĐ-BTM ngày 25/7 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ban hành quy chế sử dụng chữ ký số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 25/2006/QĐ-BTM ngày 25/7 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ban hành quy chế sử dụng chữ ký số
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2006
6. Bộ Văn hóa - Thông tin (2002), Quyết định số 28/2002/QĐ-BVHTT ngày 21/11 về quy chế xuất bản bản tin, tài liệu, tờ rơi; phát hành thông cáo báo chí; đăng, phát bản tin trên màn hình điện tử của các cơ quan, tổ chức nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 28/2002/QĐ-BVHTT
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
7. Chính phủ (1998), Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
8. Chính phủ (2001), Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8 về Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8 về Internet
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
9. Chính phủ (2001), Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg tháng 5 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg tháng 5 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
10. Chính phủ (2002), Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg ngày 21/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg ngày 21/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
11. Chính phủ (2002), Quyết định 95/2002/QĐ-TTg ngày 25/7 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 95/2002/QĐ-TTg ngày 25/7 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
12. Chính phủ (2003), Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 31/3 hướng dẫn Pháp lệnh Quảng cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 31/3 hướng dẫn Pháp lệnh Quảng cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
13. Chính phủ (2005), Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04/7 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04/7 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005 - 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. Chính phủ (2005), Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/9 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
15. Chính phủ (2005), Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
16. Chính phủ (2005), Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 06/12 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 06/12 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
17. Chính phủ (2006), Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
18. Chính phủ (2006), Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02 quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02 quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
19. Chính phủ (2006), Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06 về thương mại điện tử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06 về thương mại điện tử
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
20. Chính phủ (2007), Nghị định số 25/2007/NĐ-CP ngày 15/02 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/2007/NĐ-CP ngày 15/02 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình thương mại điện tử - Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Quy trình thương mại điện tử (Trang 15)
Sơ đồ 1.2: Định nghĩa về nội dung số - Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Định nghĩa về nội dung số (Trang 21)
Sơ đồ 1.3: Biểu thị giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số - Pháp luật về thương mại điện tử trong cung cấp dịch vụ nội dung số ở Việt Nam
Sơ đồ 1.3 Biểu thị giao dịch cung cấp dịch vụ nội dung số (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm