1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện

135 571 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài học rút ra cho Việt Nam trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết 54 Chương 2: THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG

Trang 1

MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ

THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT

7

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT

7

1.1.1 Niêm yết chứng khoán và tình hình phát triển công ty

niêm yết trên thị trường chứng khoán

7

1.1.2 Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên

thị trường chứng khoán

16

1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG

TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

24

1.2.1 Sự cấn thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với

hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết

24

1.2.2 Các yêu cầu đối với pháp luật về công bố thông tin

của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

29

1.2.3 Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động

công bố thông tin của công ty niêm yết

33

1.2.4 Khái quát sự phát triển pháp luật về công bố thông

tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam

44

1.3 KINH NGHIỆM ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI

VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THỂ GIỚI VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM

47

1.3.1 Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng

khoán Mỹ

48

Trang 2

khoán Trung Quốc 1.3.3 Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng

khoán Nhật Bản

52

1.3.4 Bài học rút ra cho Việt Nam trong việc điều chỉnh

bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết

54

Chương 2: THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

58

2.1 THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

58

2.1.1 Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về công bố

thông tin

58

2.1.2 Đánh giá thực trạng hoạt động công bố thông tin của

công ty niêm yết

78

2.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT

Trang 3

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước

VBQQPL Văn bản qui phạm pháp luật

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 14

Bảng 2.1 Số công ty có điều chỉnh số liệu BCTT năm 2010 81

Bảng 2.2 Tốp 5 điều chỉnh tăng lợi nhuận cổ đông năm 2010 81

Bảng 2.3 Tốp 5 điều chỉnh giảm lợi nhuận cổ đông năm 2010 81

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu 1.1 Qui mô công ty niêm yết giai đoạn 2000 – 2010 14

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời (năm 2000) và phát triển đến nay đã 10 năm, nhân tố chính tham gia thị trường là các công ty niêm yết và nhà đầu tư…Các công ty niêm yết cũng từng bước lớn mạnh và phần lớn có được kết quả kinh doanh khả quan Nhà đầu tư ngày càng phát triển về số lượng, đa dạng về thành phần và tính chuyên nghiệp ngày càng cao hơn Có rất nhiều yếu tố giúp nhà đầu tư và các công ty niêm yết gặp nhau Song thông tin được xem như sợi dây xuyên suốt liên kết giữa họ

Minh bạch thông tin là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng giúp thị trường chứng khoán phát triển bền vững, lành mạnh Với tư cách là người chủ sở hữu của doanh nghiệp, cổ đông của công ty hoàn toàn có thể được quyền biết rõ tình trạng doanh nghiệp của mình, nhất là khi các doanh nghiệp này đã được niêm yết thì mức độ ảnh hưởng không chỉ đối với những người chủ sở hữu mà còn là nhà đầu tư, cơ quan quản lý và các định chế trung gian tham gia thị trường Doanh nghiệp niêm yết phải có trách nhiệm công bố thông tin một cách rõ ràng, minh bạch theo đúng pháp luật

Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết được pháp luật quy định

và thực hiện trên thực tế ngay từ những ngày đầu, khi thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động Tuy nhiên, qua thực tiễn có thể đánh giá tổng quan rằng: Các quy định của pháp luật, việc thực thi pháp luật, việc thanh tra xử lý vi phạm pháp luật về công bố thông tin, nhất là việc công bố thông tin của các công

ty niêm yết trên thị trường chứng khoán chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin, chưa phù hợp với sự phát triển của thị trường chứng khoán Gần đây, một thực trạng diễn ra khá phổ biến của các công ty niêm yết đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh, đó là hiện tượng chậm công bố hoặc công bố thông tin sai lệch, thông tin không đầy đủ, chưa kịp thời, chất lượng thông tin còn nhiều bất cập, tình trạng thông tin bất cân xứng

Trang 6

còn phổ biến…gây bức xúc cho nhà đầu tư và làm đau đầu những nhà quản lý Thông tin không làm được chức năng hướng dẫn dư luận và định hướng thị trường, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích và tâm lý nhà đầu tư, cũng như công tác quản lý và điều hành thị trường chứng khoán

Pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam không ngừng được xây dựng, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động này song vẫn chưa đạt được mục tiêu công khai minh bạch thị trường Do đó việc nghiên cứu, tìm kiếm đề xuất các giải pháp xây dựng và thực thi pháp luật công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán hiện nay là yêu cầu khách quan và cấp bách

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Công bố thông tin là trên thị trường chứng khoán là lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề pháp luật về công bố thông tin của tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam, chưa có công trình nào được công bố ở phạm vi nước ngoài

Ở phạm vi trong nước, Trên bình diện chung, vấn đề công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt nam đã được rất nhiều người quan tâm, đã

có công trình nghiên cứu và được công bố Cụ thể:

+ Dưới góc độ kinh tế, có một số công trình đã được công bố dưới dạng luận văn thạc sỹ kinh tế (Đại học Ngoại Thương, Học viện Tài Chính) Các tác giả chủ yếu đi vào xem xét trực trạng hoạt động công bố thông tin và đánh giá chất lượng công bố thông tin ở phạm vi chung trên toàn thị trường chứng khoán kể cả thị trường tập trung và thị trường phi tập chung

+ Dưới góc độ khoa học pháp lý, vấn đề pháp luật công bố thông tin trên thị trường chứng khoán nói chung đã được nghiên cứu và công bố, dưới dạng luận văn thạc sỹ luật học (Khoa Luật – ĐHQG)

Trang 7

Tuy nhiên, vấn đề công bố thông tin của công ty niêm yết với tư cách là chủ thể chính cung cấp nguồn hàng hóa trên thị trường chứng khoán trong thời gian qua và hiện nay đang tồn tại nhiều vướng mắc và hạn chế và là chủ

đề “nóng” luôn được đề cập trong các diễn đàn chứng khoán Nhiều chuyên gia kinh tế, nhà nghiên cứu, những người có chức trách trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền…đang cùng nhau tìm đáp số cho bài toán “Minh bạch hoá thông tin trên thị tường chứng khoán” bằng nhiều bài viết được công bố

và chưa có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết Vì lý do đó, Tác giả mạnh

dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện” Làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật là một đề tài có ý nghĩa lý

luận và thực tiễn sấu sắc Hy vọng với sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc, kết quả sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích

3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Là luận văn chuyên ngành luật học, luận văn tập trung nghiên cứu cơ

sở lý luận và thực trạng quy định pháp luật hiện hành về công bố thông tin của công ty niêm yết trong mối tương quan với quá trình xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Đánh giá khả năng và thực tế vận dụng, chỉ ra những bất cập, hạn chế của các qui định pháp luật khi áp dụng trên thực tế, đánh giá thực trạng hoạt động công

bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay Đồng thời, tham khảo các quy định pháp luật và kinh nghiệm về công bố thông tin của một số thị trường chứng khoán đặc trưng trên thế giới Qua đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế cho việc áp dụng chúng một cách phù hợp với pháp luật, tập quán quốc tế và chuẩn mực về quản lý TTCK của Tổ chức quốc tế các UBCKNN

Trang 8

Luận văn không nghiên cứu pháp luật về công bố thông tin của các chủ thể khác như các quỹ đại chúng, các tổ chức phát hành, cũng như các tổ chức niêm yết khác mà không phải là công ty cổ phần đại chúng

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng lý luận cơ bản của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –Lênin, Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, khảo sát thực tiễn, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam

và thực tế áp dụng, tham khảo luật pháp và thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số thị trường chứng khoán điển hình trong việc công bố thông tin của công ty niêm yết để giải quyết các yêu cầu đề tài đặt ra Ngoài ra, tác giả còn

sử dụng các số liệu thống kê, một số vụ việc thực tế để minh chứng cho những vấn đề được đề cập

5 Nội dung nghiên cứu chính của đề tài

Luận văn nghiên cứu xây dựng hệ thống lý luận về thông tin của CTNY, công bố thông tin và khái quát tình hình phát triển các công ty niêm yết Trên

cơ sở đó phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động CBTT, những đặc trưng, yêu cầu củ pháp luật về CBTT của CTNY Tham khảo luật pháp và kinh nghiệm về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán của một số quốc gia điển hình, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng, thực thi pháp luật về công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Luận văn khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về CBTT của CTNY, phân tích đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo phù hợp với định hướng phát triển thị trường và tình hình mới

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được từ việc đánh giá tổng quan thực tiễn pháp lý về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị

Trang 9

trường chứng khoán Việt Nam Đề xuất các giải pháp và phương hướng hoàn thiện các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về vấn đề đã nêu

6 Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận khoa học, luận văn đã hệ thống hoá được những lý

luận về thông tin, hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam Chỉ ra vai trò của thông tin đối với quyết định của nhà đầu tư, cũng như việc tổ chức vận hành TTCK của cơ quan quản lý, tạo lập thị trường Đồng thời phân tích

sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động CBTT của công

ty niên yết, chủ thể chính cung cấp nguồn hàng hoá cho thị trường giao dịch chứng khoán tập trung

Luận văn khái quát được quá trình hình thành phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, phân tích những kết quả đạt được, những bất cập trong việc thực thi pháp luật về CBTT của công ty niêm yết, trên cơ sở đó luận văn xây dựng được hệ thống quan điểm lý luận và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Về mặt thực tiễn, tác giả đã vận dụng nhiều phương pháp từ khảo sát

thực tiễn, tham gia các buổi hội thảo, trao đổi, phỏng vấn một số nhà quản lý TTCK, quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư… để thu thập các bằng chứng về việc thực thi pháp luật công bố thông tin của công ty niêm yết Qua đó đánh giá những ưu điểm đạt được cũng như những hạn chế tồn tại của các qui định pháp luật và việc thực thi pháp luật về vấn đề nghiên cứu Đồng thời Luận văn đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp mang tính tức thời cũng như dài hạn đối với việc sửa đổi, bổ sung khung pháp luật về công bố thông tin của công

ty niêm yết; các giải pháp nhằm ngăn chặn, hạn chế sự vi phạm pháp luật về công bố thông tin đang là điểm “nóng” và là vấn đề gây bức xúc trong dư luận

xã hội trong thời gian vừa qua

Trang 10

Các kết luận, đề xuất giải pháp được đề cập trong luận văn hy vọng sẽ

là những gợi ý, đóng góp cho việc sửa đổi xây dựng mới các qui định pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà Bộ tài Chính đang chủ trì thực hiện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm hai chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công bố thông tin và pháp luật công bố thông tin của công ty niêm yết

Chương 2: Thực tiễn pháp lý về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phương hướng hoàn thiện

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT

1.1.1 Niêm yết chứng khoán và tình hình phát triển công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

1.1.1.1 Niêm yết chứng khoán

a) Khái niệm niêm yết chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế Đồng thời TTCK còn là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những tổ chức phát hành, sau đó họ có thể mua

đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành ở thị trường thứ cấp Khi chứng khoán được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp làm hình thành thị trường giao dịch chứng khoán

Thị trường giao dịch chứng khoán là thị trường diễn ra việc mua, bán chứng khoán sau phát hành theo các qui định của pháp luật về chứng khoán[32]

Các giao dịch chứng khoán ở thị trường thứ cấp rất đa dạng Xét dưới góc độ này, thị trường giao dịch chứng khoán có thể là thị trường giao dịch có

tổ chức (thị trường tập trung), thực hiện việc giao dịch các chứng khoán niêm yết và thị trường giao dịch phi tổ chức (thị trường OTC) thực hiện giao dịch các chứng khoán chưa niêm yết Để có chứng khoán giao dịch trên thị trường

Trang 12

tập trung phải thông qua hoạt động niêm yết chứng khoán của các chủ thể nhất định

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán)

Nói cách khác, để có thể được niêm yết tại một Sở giao dịch chứng khoán nào đó thì chủ thể xin niêm yết phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn do Sở

đó đặt ra Việc niêm yết chứng khoán đối với Sở giao dịch, chủ yếu là nhằm lựa chọn các chứng khoán có chất lượng cao đưa vào giao dịch để bảo đảm cho hoạt động giao dịch của Sở giao dịch đó diễn ra một cách có tổ chức, ổn định, đồng thời nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và tạo lòng tin cho công chúng đầu tư

b) Điều kiện niêm yết cổ phiếu

Thông thường ở mỗi quốc gia, điều kiện niêm yết chứng khoán do mỗi

Sở GDCK tự đặt ra dựa trên qui định chung của pháp luật, trên cơ sở thực trạng của nền kinh tế và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Nhìn chung việc đề ra các tiêu chuẩn niêm yết là nhằm lựa chọn chứng khoán của các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và tình hình tài chính lành mạnh để đưa vào giao dịch tại Sở GDCK Khi đề ra các điều kiện niêm yết các Sở GDCK luôn chú ý cân nhắc trên hai mặt: Một mặt là bảo vệ lợi ích nhà đầu

tư, mặt khác cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện việc niêm yết chứng khoán ở Sở GDCK đó

Nhìn chung, điều kiện niêm yết chứng khoán ở các nước dựa trên cơ sở xem xét các yêu cầu chủ yếu sau:

- Thời gian hoạt động của công ty: Yêu cầu công ty phải có thời gian

hoạt động liên tục một số năm nhất định tính tới thời điểm xin niêm yết, ở nhiều nước qui định thời gian hoạt động tối thiểu 3-5 năm, hoặc cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường phi tập trung

Trang 13

- Qui mô vốn: Yêu cầu đặt ra đối với công ty niêm yết phải có số vốn

góp của cổ đông ở mức độ nhất định đủ lớn, để tạo ra cơ sở tiềm lực tài chính

đủ mạnh của công ty, Ví dụ ở Sở giao dịch TOKYO yêu cầu công ty niêm yết phải có số vốn cổ đông tối thiểu là 1 tỷ Yên

- Phân phối quyền sở hữu cổ phần: Nhiều Sở giao dịch quy định công

ty niêm yết phải có một số lượng cổ đông ở mức tối thiểu nhát định, hoặc số lượng cổ phần tối thiểu do công chúng nắm giữ, Ví dụ ở Sở giao dịch TOKYO qui định nếu công ty niêm yết có dưới 10 triệu cổ phần thì phải có

số cổ đông tối thiểu là 800, nếu có trên 10 triệu đến 20 triệu cổ phần thì phải

có số cổ đông ít nhất là 1.200 và nếu có trên 30 triệu cổ phần thì phải có số cổ đông tối thiểu là 3000

- Hiệu quả hoạt động của công ty: Một số Sở GDCK yêu cầu công ty

muốn được niêm yết phải đạt được số lợi nhuận trước thuế ở mức độ nhất định

ở năm gần nhất hoặc một số năm nhất định tính đến thời điểm xin niêm yết

Thông thường những Sở GDCK lớn thì điều kiện niêm yết càng cao và chặt chẽ Ví dụ, để một công ty được niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) phải thoả mãn các yêu cầu sau [29]

1 Ít nhất phải có 1.100.000 cổ phiếu được công chúng nắm giữ với giá trị trường ít nhất là 18 triệu USD

2 Tối thiểu phải có 2.200 cổ đông

3 Khối lượng giao dịch hàng tháng ít nhất phải đạt 100.000 cổ phiếu trong

Trang 14

Ở Việt Nam hiện nay, TTCK có 2 sở GDCK đặt ở 2 thành phố lớn, phù hợp với quy định của pháp luật và mục đích hoạt động của mình, mỗi sở GDCK Việt Nam cũng đặt ra các điều kiện niêm yết khác nhau, cụ thể:

Một là, Sở GDCK tp Hồ Chí Minh (Tên tiếng Anh là Hochiminh

Stock Exchange – HOSE), tiền thân là Trung tâm giao dịch chứng khoán tp

Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998, khai trương và đi vào vận hành từ ngày 20/07/2000 Phiên giao dịch đầu tiên được tổ chức vào ngày 28/07/2000 với 2 loại cổ phiếu niêm yết Sau gần 7 năm hoạt động đến ngày 11/05/2007 trung tâm này được chuyển đổi thành Sở GDCK tp Hồ Chí Minh theo quyết định 599/2007/QĐ-TTg, chính thức khai trương vào ngày 08/08/2007 Sở GDCK tp Hồ Chí Minh được

tổ chức theo mô hình công ty TNHH 1 thành viên thuộc sở hữu nhà nước hoạt động theo quy định của luật Doanh Nghiệp, luật Chứng Khoán, điều lệ của Sở GDCK và qui định pháp luật khác [49]

Để niêm yết cổ phiếu tại sở GDCK tp Hồ Chí Minh, Công ty đại chúng phải thoả mãn những điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP Cụ thể:

- Là Công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ Kế toán;

- Hoạt động kinh doanh 02 năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải

có lãi và không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết;

- Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp Luật; công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người

có liên quan;

- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất

100 cổ đông nắm giữ;

Trang 15

- Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của Công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ;

- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP

Hai là, Sở GDCK Hà Nội (Tên tiếng Anh là Hanoi Stock Exchange – HNX), tiền thân là Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành

lập theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998, khai trương và

đi vào vận hành từ ngày 08/03/2005 Sau gần 4 năm hoạt động đến ngày 02/01/2009 trung tâm này được chuyển đổi thành Sở GDCK Hà Nội theo quyết định 01/2009/QĐ-TTG Sở GDCK Hà Nội được tổ chức theo mô hình công ty TNHH 1 thành viên thuộc sở hữu nhà nước hoạt động theo quy định của luật Doanh nghiệp, luật Chứng khoán, điều lệ của Sở GDCK

và qui định pháp luật khác [49]

Điều kiện niêm yết cổ phiếu trên Sở GDCK Hà Nội:

- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải

có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước;

- Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ;

- Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu

Trang 16

trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các

cá nhân trên đại diện nắm giữ;

- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định này;

- Việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần không phải đáp ứng điều kiện quy định riêng

Như vậy, các điều kiện niêm yết do mỗi Sở GDCK đặt ra được coi như

bộ lọc để lọc những chứng khoán kém chất lượng, thông qua đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, và bảo đảm hoạt động của thị trường diễn ra bình thường, hiệu quả và phát triển bền vững

1.1.1.2 Tình hình phát triển công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Công ty cổ phần đại chúng, đặc biệt là công ty niêm yết là loại hình doanh nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường trong phạm vi mỗi quốc gia và trên quy mô toàn thế giới Phù hợp với xu hướng chung, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, loại hình Công ty cổ phần đại chúng niêm yết ngày càng phát triển mạnh mẽ Luật pháp đã tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển công ty đại chúng (trong đó có công ty niêm yết) Luật Doanh nghiệp (năm 2005) tuy chưa đề cập đến khái niệm công ty đại chúng Khái niệm

về công ty đại chúng và các quy định về công ty đại chúng phải “chờ” đến Luật Chứng khoán (năm 2006) mới có quy định Tuy nhiên công ty đại chúng cũng chỉ là một dạng của công ty cổ phần nên có thể vận dụng các quy định về công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp đã được ban hành trước Luật Chứng khoán Trong tổng số 172 điều của Luật Doanh nghiệp,

Trang 17

có tới 53 điều dành để quy định khuôn khổ pháp lý về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Luật Chứng khoán dành một chương (chương III) gồm 8 điều (từ Điều 25 đến điều 32) quy định về công ty đại chúng Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp (năm 2005) và Luật chứng khoán năm (2006) có thể nói, môi trường pháp lý cho sự hình thành và phát triển của công ty đại chúng ở nước ta về cơ bản đã được xác lập đầy

đủ Nhờ vậy, số lượng công ty cổ phần trong đó có công ty đại chúng phát triển khá nhanh Theo số liệu từ UBCK Nhà nước, chỉ tính riêng

số công ty đủ điều kiện là công ty đại chúng đã đăng ký với UBCKNN tính đến ngày 31/7/2009 là 1006 công ty - Trong đó năm 2007 có 637 công ty (chiếm 63,12%), năm 2008 có 8 công ty (chiếm 0,79%) và 7 tháng đầu năm 2009 là 361 công ty (chiếm 35,88%) Sở dĩ năm 2008

số lượng đăng ký ít chủ yếu là do lạm phát cao ở trong nước và do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới tác động tới nền kinh tế Việt Nam Quy mô công ty đại chúng (xét theo vốn đăng ký) ở nước ta còn nhỏ Trong tổng số 1006 công ty đại chúng chỉ có

174 công ty (chiếm 17,30%) có vốn đăng ký từ 100 tỷ VNĐ trở lên, 47 công ty (chiếm 4,67%) có vốn từ 200 tỷ VNĐ đến dưới 500 tỷ đồng,

35 công ty (chiếm 3,48%) có vốn từ 500 tỷ VNĐ đến dưới 1000 tỷ VNĐ và chỉ có 20 công ty (2%) có vốn trên 1000 tỷ VNĐ Công ty đại chúng có vốn đăng ký lớn nhất là 6413 tỷ VNĐ, công ty có vốn đăng

ký thấp nhất chỉ có 5 tỷ VNĐ [30]

So với các nước trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời muộn, nhưng đã có sự tăng trưởng vượt bậc Trên thực tế sự phát triển của TTCK Việt Nam những năm qua đã cho thấy các số lượng các CTNY ngày càng gia tăng một cách nhanh chóng, không ngừng lớn mạnh về qui

mô vốn và cung cấp lượng hàng hoá đủ lớn cho thị trường Biểu đồ dưới đây cho thấy rõ điều đó:

Trang 18

Biểu 1.1: Qui mô công ty niêm yết giai đoạn 2000 - 2010

Bảng 1.1: Thống kê công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

Năm Số lượng công ty

niêm yết trên HOSE

Số lượng công ty niêm yết trên HAX Toàn thị trường

Trang 19

Bên cạnh việc gia tăng về số lượng và qui mô vốn của CTNY, giao dịch chứng khoán niêm yết trên các sở giao dịch diễn ra theo xu thế ngày càng gia tăng mạnh mẽ Bằng những kỷ lục về số lượng và giá trị giao dịch cho thấy rõ đà phát triển nhanh của TTCK niêm yết trong những năm gần đây Tính thanh khoản của TTNY được cải thiện rõ rệt Chỉ so sánh trong một năm, năm 2009 khối lượng và giá trị giao dịch bình quân tăng hơn 200% so với năm 2008 Cùng với việc SGDCK tp.HCM chính thức triển khai giao dịch trực tuyến vào ngày 12/01/2009 là một điều kiện quan trọng góp phần vào việc tăng tính thanh khoản của thị trường Theo đó, lệnh giao dịch của nhà đầu tư được công ty chứng khoán chuyển thẳng vào hệ thống của SGDCK mà không cần qua đại diện tại sàn, tốc độ truyền lệnh từ Công

ty chứng khoán vào lệnh của SGDCK tp HCM đạt 220 lệnh/giây so với

8-10 giây/lệnh trước đó và không quá một giây để nhà đầu tư biết được lệnh

đã khớp Đây được coi là một bước tiến lớn thức đẩy TTCK niêm yết Việt nam phát triển mạnh mẽ Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007 Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18% Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công

ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,7% GDP Ước tính đến

cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP [30]

Trang 20

1.1.2 Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

1.1.2.1 Thông tin trên thị trường chứng khoán niêm yết

Từ những con số được nêu ra trong phần tình hình phát triển của công

ty niêm yết trên TTCK Việt Nam đã nêu ở trên Cho thấy qui mô và mức tăng trưởng của thị trường chứng khoán niêm yết ở Việt Nam hiện nay phát triển khá nhanh và mạnh mẽ Tham gia vào thị trường này đòi hỏi các thành viên thị trường, các tổ chức hoặc các cá nhân nhà đầu tư đều phải dựa trên cơ sở là lòng tin, chủ yếu dựa vào những đánh giá, nhận định về sự phát triển, triển vọng của các chứng khoán trong tương lai dựa trên những thông tin về thị trường Bí quyết đầu tư là “Lấy thông tin trước chứ không phải sau khi đầu tư Sẽ tốn thời gian khi tự tìm kiếm thông tin, nhưng sẽ tốn tiền khi không nắm được thông tin Thông tin không rõ ràng làm nên rủi ro lớn cho một chứng khoán” [27]

Như vậy, thông tin chính là cơ sở cho hoạt động và sự phát triển của thị trường chứng khoán, với một nhà đầu tư khi tham gia thị trường này, họ phải

có hai “vũ khí” là thông tin và kỹ năng đầu tư Thiếu một trong hai, nhà đầu

tư sẽ thất bại

Trong khi đó, thông tin trên thị trường chứng khoán rất đa dạng, phong phú Các thông tin phản ánh tình hình thị trường và tình hình doanh nghiệp niêm yết dưới nhiều góc độ khác nhau Không những thế, thông tin được phổ biến trên thị trường có thể đến từ rất nhiều nguồn, được nhiều chủ thể khác nhau công bố từ chính các công ty niêm yết, các công ty chứng khoán thành viên, các sở GDCK và từ Uỷ ban chứng khoán nhà nước

Khái niệm thông tin trên trị trường chứng khoán niêm yết cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Dưới góc độ kinh tế, dưới góc độ xã hội, dưới góc độ pháp lý Ở mỗi góc độ tiếp cận này, khái niệm thông tin được hiểu theo nội hàm rộng, hẹp khác nhau Song nhìn chung đa số các quan

Trang 21

điểm nghiên cứu đều thống nhất rằng: Thông tin trên thị trường niêm yết là

hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm yết do các chủ thể có thẩm quyền cung cấp theo một trình tự, phương thức do pháp luật quy định

Về mặt pháp lý, để bảo đảm tính hiệu quả, chính xác, công khai minh bạch trong hoạt động công bố thông tin, cũng như việc bảo đảm thông tin đến được với đông đảo công chúng đầu tư Pháp luật có những quy định cụ thể với mỗi chủ thể khi thực hiện công bố thông tin phải tuân thủ những qui định về: điều kiện, đối tượng, thời hạn, hình thức, phương tiện CBTT Những thông tin được cung cấp trên thị trường phản ánh mức độ tuân thủ các qui định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng loạt các quan hệ pháp luật đa dạng phức tạp trong nội bộ công ty niêm yết, cũng như các quan hệ trong kinh doanh của công ty niêm yết với các đối tác Qua đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ xem xét quyết định cho phép công ty được phát hành chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn Đồng thời, Từ những thông tin được cung cấp nhà đầu tư đưa ra quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình

Đặc điểm của thông tin trên thị trường niêm yết

- Thông tin trên thị trường niêm yết là cơ sở để các công chúng đầu

tư phân tích đánh giá, thương lượng với nhau và đưa ra quyết định mua - bán chứng khoán Với ưu thế là các chứng khoán được niêm yết công khai

các thông tin về nó là thước đo phản ánh giá trị doanh nghiệp Thông qua hệ thống các chỉ số về vốn, lợi nhuận, chiến lược kinh doanh, nhà đầu tư thấy được tiềm năng phát triển của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết để đưa ra quyết định đầu tư

Thực tiễn đã chứng minh rằng, không phải ngẫu nhiên mà mỗi lần đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hay những lần phát hành thêm đều rất thu hút sự quan tâm của giới đầu tư, họ đua nhau tìm kiếm các thông tin, không chỉ từ các báo cáo có liên quan được công khai mà còn thông qua báo

Trang 22

chí, các mối quan hệ cá nhân của những người quen biết có liên quan đến tổ chức phát hành Mỗi lần chứng khoán của một công ty chào sàn cũng là thời điểm giới đầu tư xôn sao cho việc đặt giá Vì vậy có thể khẳng định thông tin liên quan đến tổ chức niêm yết là cơ sở không thể thiếu để nhà đầu tư ra quyết định mua bán chứng khoán

- Thông tin trên thị trường niêm yết là một trong những biểu hiện làm gia tăng giá trị của công ty niêm yết Một công ty có tình hình tài chính

lành mạnh, làm ăn có lãi, chiến lược kinh doanh khả thi, tất yếu sẽ được các nhà đầu tư chú ý và giá cổ phiếu của công ty sẽ cao Đây là điều tất yếu Thực

tế cho thấy một công ty với bề dày thành tích hoặc thường là nhà tài trợ cho các chương trình được báo giới nhắc đến nhiều thì càng được công chúng biết đến nhiều và điều đó đã làm gia tăng đáng kể giá trị của công ty Việc niêm yết trên TTCK là một lợi thế không thể phủ nhận được của các công ty, nó xem như một kênh quản cáo rất hữu hiệu, tạo thêm lợi thế cạnh tranh rên thương trường cho công ty vì thông qua số lượng cổ phiếu của công ty được giao dịch hàng ngày, công ty sẽ thu hút thên được các đối tác mới cũng như những nhà đầu tư tiềm năng

Tuy nhiên, các thông tin trên thị trường niêm yết cũng có thể gây bất lợi cho công ty nếu các thông tin về tổ chức niêm yết bị đưa tin sai lệch hoặc

bị bóp méo thì đó lại là điều hết sức tai hại và có thể “khai tử” công ty niêm yết Các công ty niêm yết càng có uy tín, càng được sự quan tâm của công chúng bao nhiêu, khi có những thông tin ngược chiều thì càng nguy hiểm cho công ty bấy nhiêu

- Thông tin trên thị trường niêm yết làm tăng tính thanh khoản cho chứng khoán và tạo điều kiện để doanh nghiệp niêm yết huy động vốn với chi phí thấp

Chứng khoán được niêm yết ở Sở GDCK phải đạt được những điều kiện nhất định, thường là các loại chứng khoán có chất lượng cao tạo ra sự

Trang 23

hấp dẫn với các nhà đầu tư, từ đó việc mua bán chứng khoán của doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi hơn, người đầu tư dễ dàng chuyển đổi thành tiền Các thông tin về công ty niêm yết là yếu tố quan trọng quyết định đến việc xác định và hình thành giá thị trường của chứng khoán do công ty phát hành Việc xác định giá trị trường của một chứng khoán có ý nghĩa quan trọng đối với công ty niêm yết khi muốn phát hành chứng khoán bổ sung, bởi lẽ giá bán chứng khoán trong đợt phát hành bổ sung dựa trên giá thị trường tại thời điểm đó Đồng thời các thông tin công khai về công ty niêm yết sẽ làm tăng

sự tin tưởng của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, khi doanh nghiệp cần thêm vốn có thể dễ dàng phát hành chứng khoán mới ra công chúng bởi có rất nhiều người muốn mua chúng Đồng thời có thể giúp công ty có thể hạn chế các chi phí phát hành như chi phí quản cáo, hoa hồng cho người bảo lãnh sẽ được tiết kiệm đến mức tối đa [29]

- Thông tin trên thị trường niêm yết có thể làm công ty đối mặt nhiều hơn với những rủi ro từ những hành vi phi pháp, một doanh nghiệp có

chứng khoán được niêm yết dễ trở thành đối tượng tấn công của các hành vi trái pháp luật trên thị trường như các hành vi tung tin đồn nhảm sai sự thật, các hoạt động đầu cơ phi pháp lũng đoạn thị trường, hoặc các công ty niêm yết làm ăn hiệu quả dễ trở thành mục tiêu của hoạt động thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp

1.1.2.2 Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết

Là thị trường của thông tin, vì vậy bất cứ thị trường chứng khoán nào cũng cần được tổ chức khoa học và hoạt động theo nguyên tắc công khai thông tin Trong bộ 30 nguyên tắc quản lý TTCK của IOSCO tại nguyên tắc

11, 12 đã quy định rõ: Cơ quan quản lý TTCK cần có thẩm quyền chia sẻ thông tin công khai và không công khai với các đối tác trong ngoài nước Cơ quan quản lý TTCK cần xác lập cơ chế chia sẻ thông tin công khai và không công khai với các đối tác trong và ngoài nước

Trang 24

Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các tổ chức niêm yết, các chủ thể liên quan khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết Đối với các công ty niêm yết thường có qui mô và tính đại chúng cao thì yêu cầu công khai và minh bạch hoá thông tin càng lớn Bởi lẽ hoạt động của công ty gắn liền với thị trường và cần có sự giám sát của thị trường bên cạnh sự giám sát của cổ đông công ty Thông qua sự giám sát từ bên ngoài, từ thị trường, công ty buộc phải điều chỉnh hành vi của mình, của người quản trị công ty và của các cổ đông lớn, để hoạt động của công ty luôn đi đúng định hướng và đảm bảo vì lợi ích chung

Thông qua các thông tin được công bố, chúng ta có được một bức tranh phản ánh TTCK trong một giai đoạn nhất định Thông tin được cung cấp bởi các công ty niêm yết như: Thực trạng tài chính; mục tiêu hoạt động; cơ cấu sở hữu; hợp đồng, sản phẩm mới cùng với các thông tin thị trường được cung cấp bởi các cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền, hoạt động công bố thông tin đó được cộng hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng giúp cho thông tin nhanh chóng đến với công chúng đầu tư, đồng thời cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về TTCK

Như vậy, công bố thông tin là hoạt dộng của các chủ thể có thẩm quyền nhằm công khai những thông tin về doanh nghiệp niêm yết và thông tin thị trường tới các nhà đầu tư thông qua hệ thống thông tin được quy định (của UBCKNN; Sở giao dịch chứng khoán và của chính chủ thể niêm yết)

Nói tóm lại, thông tin đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của thị trường chứng khoán và công bố thông tin là nghĩa

vụ của các bên đóng góp vào sự phát triển đó của thị trường

Các nguyên tắc trong công bố thông tin

Cho dù chủ thể chính trong các hoạt động công bố thông tin là các

Trang 25

doanh nghiệp niêm yết, nhưng họ không thể thực hiện công bố thông tin một cách tùy tiện về hình thức, thời gian cũng như phương tiện công bố, mà hoạt động công bố thông tin khi đã trở thành nghĩa vụ và tập quán trong kinh doanh cần phải tuân thủ theo một số nguyên tắc và tiêu chí nhất định Việc đề

ra các nguyên tắc và tiêu chí mang tính pháp lý trong hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, kể cả đối với thông tin của doanh nghiệp niêm yết lẫn thông tin thị trường nhằm đảm bảo duy trì lòng tin của nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường chứng khoán Đồng thời nó cũng cho thấy một thị trường chứng khoán được tổ chức vận hành có trật tự dựa trên những căn cứ luật định, có thể bảo đảm các quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường và tạo căn cứ để cơ quan quản lý thực hiện chức năng của mình Một khi thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình Việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán niêm yết phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

Một là, Nguyên tắc chính xác, trung thực, đầy đủ

Nguyên tắc chính xác, trung thực, đầy đủ là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Điều này đòi hỏi các tổ chức và công ty niêm yết thực hiện công bố thông tin phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố, hoặc có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin

Để đảm bảo nguyên tắc này, doanh nghiệp niêm yết có nghĩa vụ cung cấp tất cả các thông tin được xem là có thể ảnh hưởng đến nhận định, đánh giá của nhà đầu tư đối với giá trị và triển vọng của doanh nghiệp niêm yết Các thông tin được công bố, đặc biệt thông tin từ doanh nghiệp niêm yết là căn cứ của hành vi mua, bán chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường, là một trong những vấn đề cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá cổ phiếu Vì vậy, các thông tin quan trọng cung cấp định kỳ dưới hình

Trang 26

thức tài liệu phải được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi công bố để đảm bảo tính xác thực Những thông tin này bao gồm thông tin về các khoản mục trên báo cáo tài chính, đặc biệt các khoản mục nằm ngoài bảng cân đối kế toán, những thay đổi trong định giá các hợp đồng giao dịch trên thị trường và những dự án đầu tư…

Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác, trung thực, thông tin công bố còn phải được trình bày rõ ràng, không được gây hiểu nhầm hoặc đánh lừa người đọc và nhất là không được thiếu sót Do đó, thông thường các thông tin về đăng ký niêm yết hoặc báo cáo tài chính đã được kiểm toán được sử dụng trong việc công bố để đảm bảo tính chính xác của thông tin

Hai là, Nguyên tắc kịp thời, liên tục

Mục tiêu của công bố thông tin thị trường là nhằm thúc đẩy hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra trôi chảy và có trật tự, đảm bảo tính công bằng của quá trình hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc cung cấp những thông tin quan trọng trên thị trường một cách tức thời trên một hệ thống phương tiện cung cấp thông tin hiện đại Nhờ những thông tin thị trường được công bố tức thời và chính xác này, giá cả cổ phiếu có thể được xác định một cách có hiệu quả nhất, đảm bảo tính công khai của thị trường

Trong hoạt động CBTT, nguyên tắc công bố thông tin liên tục được đặc biệt chú trọng Điều này có nghĩa là thông tin phải được công bố trên cơ sở thời gian một cách liên tục, không ngừng, bao hàm cả những thông tin tức thời và thông tin định kỳ liên quan đến doanh nghiệp niêm yết và tình hình thị trường Nghĩa là, công bố thông tin phải đảm bảo được tính kịp thời của thông tin được công bố, cụ thể:

- Công bố thông tin ngay lập tức khi có các tài liệu được công bố, tức là công bố thông tin càng sớm càng tốt

- Công bố thông tin phải tuân thủ tính liên tục, thường xuyên về mặt thời gian theo quy định, không được để gián đoạn

Trang 27

Việc công bố thông tin kịp thời góp phần tránh gây hiểu lầm cho nhà đầu tư Nếu các thông tin không được công bố kịp thời, thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi “tin đồn” làm sai lệch sự hình thành giá cổ phiếu và gây ra những thiệt hại không thể lường được đối với nhà đầu tư Ngoài ra, việc công bố thông tin ngay lập tức còn nhằm mục đích giảm bớt các vi phạm về giao dịch nội gián có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc công bố thông tin đúng thời hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự khách quan trong công bố thông tin Vì vậy, thông thường các Sở GDCK quy định bắt buộc các doanh nghiệp niêm yết phải công bố những thông tin về công ty trong một thời hạn nhất định và khuyến khích việc công bố thông tin càng sớm càng tốt

Ba là, Nguyên tắc bảo đảm tính công bằng

Bảo vệ cổ đông, nhà đầu tư trên TTCK là nhiệm vụ và điều kiện tiên quyết để TTCK tồn tại và phát triển bền vững Do vậy, khi thực hiện việc công bố thông tin phải bảo đảm thông tin được công bố rộng rãi cho công chúng đầu tư Trong những điều kiện chung, nhà đầu tư cần được tiếp cận như nhau về các thông tin của TTCK Tổ chức cung cấp thông tin phải đảm bảo và tạo điều kiện dễ dàng cho các chủ thể có nhu cầu có được khả năng cao nhất

về mức độ tiếp cận đồng thời và như nhau đối với thông tin công bố Tổ chức công bố thông tin không được cung cấp thông tin cho một số nhà đầu tư riêng biệt hoặc những bên có lợi ích khác trước khi công bố rộng rãi ra công chúng Các trường hợp ngoại lệ chỉ được áp dụng khi cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý, các công ty định mức tín nhiệm hoặc khi cung cấp thông tin cho bên đối tác mà doanh nghiệp niêm yết đang có ý định hợp tác trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình, trong những trường hợp này, bên nhận thông tin phải có trách nhiệm bảo mật các thông tin đó

Để thực hiện nguyên tắc công bằng trong công bố thông tin, thông thường, những bên cung cấp thông tin phải sử dụng nhiều loại phương tiện công bố thông tin trên TTCK như báo chí, phát thanh, mạng lưới thông tin

Trang 28

của sở giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán nhằm giúp cho người sử dụng thông tin có thể tiếp cận nhanh chóng và dễ dàng

1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG

TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết

Tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán nói chung, với đặc trưng là một thị trường giao dịch có tổ chức, việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường này, nhất là các công ty niêm yết là vấn đề cần được đề cao Do vậy, hoạt động công bố thông tin của các chủ thể tham gia TTCK nói chung

và của công ty niêm yết nói riêng, cần thiết phải có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật là cần thiết, khách quan, xuất phát từ những lý do sau đây:

Một là, Để tổ chức và vận hành thị trường TTCK Về mặt lý luận

cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng, bất kỳ thị trường chứng khoán nào trên thế giới, kể cả thị trường tập trung hay thị trường phi tập trung đều hoạt động dựa trên sự kết nối của các thông tin giữa tổ chức phát hành và người nắm giữ bằng chứng xác nhận về quyền sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được xem như là loại “Tư bản giả” trong tay người nắm giữ chúng Vì vậy chứng khoán chỉ có thể lưu thông trên thị trường khi đi kèm với các thông tin về lượng tư bản thật đang được tổ chức nào nắm giữ? đầu tư kinh doanh như thế nào? Người đầu tư mua cổ phiếu của một công ty không phải chỉ mua tài sản thanh lý của công ty, mà là mua tiềm năng tạo ra lợi nhuận của công ty, đây là hàng hoá vô hình luôn chứa đựng nhiều rủi ro Hàng hoá này được định giá thông qua những thông tin đánh giá tiềm năng tạo lợi nhuận và thông tin xác định những rủi ro có thể gặp phải Thực tế là người đầu tư phải bỏ ra một tài sản có thực là tiền, để đổi lấy những tờ giấy cam kết mà giá trị của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố rủi ro,

Trang 29

có thể làm nó trở thành con số không, nhưng cũng có thể có giá trị rất lớn Cũng chính vì vậy, bên cạnh những rủi ro khách quan liên quan đến những vận động ngoài chủ ý của người tham gia thị trường, nhà đầu tư thường gặp nhiều rủi ro chủ quan khác, đặc biệt là những rủi ro mang tính chủ định, cố ý xâm hại lợi ích của người đầu tư, có nguồn gốc từ những xung đột lợi ích với các đối tượng khác tham gia thị trường, chẳng hạn như thiếu thông tin hay mất lợi thế do không có thông tin sớm, thông tin quan trọng để xác định giá trị chứng khoán khi mua bán; rủi ro gặp phải từ những hoạt động lừa đảo trên thị trường; rủi ro khi bị người khác lợi dụng lợi thế, vị thế để chiếm đoạt lợi ích, rủi ro khi bị lỗi do dịch vụ thị trường không hoàn thiện Khi gặp phải những rủi ro này, lợi ích của người đầu tư có thể bị xâm hại nghiêm trọng Chính vì vậy, một thị trường vốn sẽ không thể phát triển hay sẽ không có người đầu tư trên thị trường, nếu không được tạo ra những luật chơi và phương tiện giảm thiểu rủi ro kể trên, có thể làm tiêu huỷ lòng tin của người đầu tư Người đầu tư chỉ có thể bỏ tiền vào thị trường khi anh ta thấy rằng anh

ấy đang tham gia một cuộc chơi công bằng, minh bạch và lợi ích anh ta xứng đáng được hưởng phải được bảo đảm

Hai là, Để phục vụ hoạt động đầu tư chứng khoán Giá trị của

thông tin trong hoạt động đầu tư chứng khoán là rất lớn Do đó, nếu hoạt động CBTT không được kiểm soát bằng các quy định pháp luật thì việc chiếm dụng thông tin, tước đoạt cơ hội kinh doanh của nhà đầu tư, làm nhiễu loạn thông tin: tung tin đồn; bán thông tin nội bộ của người quản trị công ty sẽ diễn ra vì lợi ích tư của họ … sẽ trở thành ngòi nổ cho sự thao túng và khủng hoảng TTCK

Mặc dù không thể phủ nhận giá trị của to lớn của thông tin trong hoạt động đầu tư chứng khoán, nhưng việc định giá giá trị của thông tin là rất khó khăn Vì vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động CBTT là tính kịp thời của thông tin Việc điều chỉnh bằng pháp luật đối

Trang 30

với hoạt động CBTT của CTNY sẽ góp phần rất lớn vào việc phát hiện và ngăn chặn tình trạng chiếm dụng thông tin, chiếm đoạt các cơ hội kinh doanh của các nhà đầu tư khác đồng thời cũng sẽ khắc phục được tình trạng thông tin hạn chế, thông tin bất cân xứng trên TTCK Khi thông tin

đã được công bố đầy đủ, chính xác nhanh chóng và công bằng trên thị trường, nhà đầu tư phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định của họ [28]

Ba là, Để bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của nhà đầu tư Trên thị

trường chứng khoán tập trung, các hoạt động diễn ra đa dạng như: Chào bán, môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, lưu ký, quản lý quỹ đầu

tư chứng khoán Do vậy, kéo theo sự tham gia nhiều nhóm chủ thể khác nhau và ở mỗi hoạt động đó luôn có sự tham gia của các nhà đầu tư, họ luôn cần được bảo vệ khỏi những hành vi lừa dối, thiếu trung thực của các chủ thể khác Mặt khác, cổ phiếu của công ty niêm yết là một loại hàng hoá đặc biệt, khác với hàng hoá thông thường là người mua có thể đánh giá, kiểm tra được ngay khi sử dụng, chất lượng của hàng hoá khi mua thông qua việc có ngay sản phẩm để kiểm tra chất lượng Còn đối với hàng hoá là chứng khoán, nhất

là cổ phiếu, muốn đánh giá chất lượng của nó, người ta phải có được rất nhiều thông tin chính xác, và phải có khả năng phân tích, xử lý thông tin qua những phương pháp chuyên nghiệp Bằng các quy định của pháp luật Nhà nước thể hiện sự can thiệp cần thiết để bảo vệ các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin của chủ thể niêm yết được quy định ngay ở những khâu đầu tiên như việc đặt ra những điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng với chế độ công bố thông tin rất chặt chẽ, nhằm bảo đảm chứng khoán giao dịch tại thị trường phải là hàng hoá có chất lượng, tạo niềm tin cho công chúng đầu tư

Trang 31

Bốn là, Để hạn chế nguy cơ lạm quyền của người quản trị công ty

và giám sát hoạt động của công ty Hoạt động hàng ngày của công ty

được điều hành bởi những nhà quản trị công ty Họ chính là những người

thay mặt các cổ đông (chủ sở hữu công ty) để triển khai chiến lược kinh doanh và trực tiếp thực hiện các giao dịch kinh doanh Khi đó, người quản trị công ty có thể lạm dụng vị trí của mình để thực hiện các giao dịch ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông Các biểu hiện của việc lạm quyền

trong quản trị công ty là: Không tuân thủ các quy tắc đạo đức của người

quản trị; Dẫn dắt công ty xa rời mục tiêu hoạt động của công ty; Thông đồng với cổ đông/nhóm cổ đông lớn trong Hội đồng quản trị để trục lợi; Không thường xuyên báo cáo công tác cho Ban kiểm soát công ty; Cố tình che giấu thông tin để trục lợi hoặc tiếp tay cho các giao dịch nội gián [18] Nếu công ty tuân thủ đầy đủ các quy định về CBTT sẽ góp phần kiểm soát và ngăn chặn sự lạm quyền của người quản trị

Hoạt động của công cũng được giám sát bởi nhiều thiết chế khác nhau, như Điều lệ công ty (quy định về cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị Tổng giám đốc/giám đốc, Ban Kiểm soát); các thiết chế quyền lực trong nội bộ công ty giám sát lẫn nhau; giám sát của cổ đông thông qua việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu; giám sát của thị trường và giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Công cụ hữu hiệu để các thiết chế giám sát hoạt động của công ty chính là việc minh bạch và rõ ràng trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết Việc thanh tra, giám sát của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cũng phải dựa trên các thông tin mà mình thu thập được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Nói một cách khác đi, công khai, minh bạch thông tin sẽ tạo được động lực cho công ty thực hiện tốt các

Trang 32

mục tiêu mà mình đã đề ra thông qua sự nỗ lực của người quản trị và các thiết chế giám sát công ty

Năm là, Để TTCK phát triển bền vững, lành mạnh đáp ứng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và triển khai các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO TTCK chỉ có thể phát triển an toàn, bền vững khi bảo đảm

tính minh bạch trên thị trường Một thị trường hoạt động mà có nhiều thiết chế ngầm chi phối thì độ an toàn không cao và dễ xảy ra khủng hoảng Việc tạo lập một cơ chế đồng bộ cho việc phát triển TTCK là yêu cầu cần thiết đối với một thị trường non trẻ như Việt Nam Trong mỗi giai đoạn phát triển, pháp luật về CBTT của CTNY phải cụ thể hoá được các yêu cầu phát triển của TTCK, đặt ra các qui định cụ thể nhằm thực hiện việc minh bạch và công khai hoá thông tin đối với các chủ thể tham gia thị trường Các mục tiêu, chính sách phát triển TTCK cần phải được công

bố rộng rãi, kịp thời cho công chúng và nhà đầu tư biết, tránh tình trạng nhà đầu tư không thể thực hiện được mục tiêu đầu tư của mình do không thể dự liệu được chính sách phát triển mà Nhà nước định hướng trong tương lai

Việt Nam đã là thành viên của WTO và những cam kết trong lĩnh vực chứng khoán cũng đã có hiệu lực thi hành Việc thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán làm cho TTCK sôi động hơn qua việc tham gia của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời cũng tạo được môi trường thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán trong nước Tuy nhiên, các công ty chứng khoán trong nước cũng phải đối mặt với những khó khăn do tiềm lực tài chính, quy mô và khả năng cạnh tranh còn hạn chế Việc thực hiện các dịch vụ chứng khoán còn yếu, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý và kinh doanh chứng khoán còn thấp Tuy là ngành dịch vụ mới ở

Trang 33

nước ta, song trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, lĩnh vực chứng khoán cũng thu hút được sự quan tâm của khá nhiều thành viên WTO, nhất là các thành viên có nền tài chính phát triển

Nhìn chung các cam kết trong lĩnh vực chứng khoán đã được quy định khá đầy đủ trong LCK 2006 như việc tham gia của bên nước ngoài như thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, tăng cường chức năng kiểm soát, hoàn thiện quy chế xử lý tranh chấp Ngoài ra, để đảm bảo thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động kinh doanh dịch vụ chứng khoán nói riêng phát triển bền vững, các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK cần phải tập trung vào thúc đẩy nguồn cung hàng hóa cho thị trường (cổ phiếu, trái phiếu và các sản phẩm phái sinh); hoàn thiện cơ cấu và tổ chức của thị trường, bao gồm thị trư-ờng sơ cấp và thứ cấp, thị trường tập trung và phi tập trung; và tạo điều kiện, cơ sở cho sự phát triển các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán Nhà nước cần có kế hoạch phát triển hạ tầng thị trường vốn như hệ

thống thông tin thanh toán, giao dịch … Như vậy, bảo đảm môi trường

thuận lợi cho việc cung ứng dịch vụ chứng khoán của nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, thì kênh CBTT vẫn là quan

trọng hàng đầu đối với nhà quản lý [18]

1.2.2 Các yêu cầu đối với pháp luật về công bố thông của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Là bề nổi của TTCK, thị trường chứng khoán niêm yết đòi hỏi được

tổ chức, vận hành một cách qui chuẩn Pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường nói chung, hoạt động CBTT của công ty niêm yết nói riêng phải bảo đảm các yêu cầu sau:

Thứ nhất, pháp luật về CBTT phải được xây dựng thống nhất với các quy định pháp luật về: kế toán, kiểm toán, quản trị công ty…và các qui định pháp luật khác trong lĩnh vực kinh tế tài chính Nghiên cứu hệ

Trang 34

thống quy định pháp luật về CBTT cho thấy, để tiếp cận được với các thông tin của các chủ thể tham gia thị trường, nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư phải có những hiểu biết nhất định về tài chính, kế toán, kiểm toán, quản trị doanh nghiệp

Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết dành phần lớn các quy định liên quan đến tài chính như: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán và Báo cáo kiểm toán;

các thông tin về cổ đông lớn, nhỏ… Do đó, khi xây dựng pháp luật về

CBTT trên TTCK cần xem xét đến tính thống nhất, sự phù hợp của pháp luật về CBTT với các quy định pháp luật về kế toán, kiểm toán, pháp luật

về quản trị công ty để tạo sự thống nhất đồng bộ trong quá trình áp dụng

Ngoài ra, các qui định pháp luật về CBTT cần được xây dựng phù hợp với khung pháp luật kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh, thông qua việc ban hành hàng loạt các đạo luật mới trong thời gian gần đây, như: Luật Cạnh tranh 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, Luật Phá sản 2004, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật chứng khoán sửa đổi 2010… có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi pháp luật về CBTT của công ty niêm yết, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống pháp luật này phải bảo đảm được tính thống nhất trong hệ thống pháp luật kinh tế Yêu cầu này nhằm giải quyết được tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong nội tại các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK; đồng thời bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật

Thứ hai, pháp luật về CBTT của công ty niêm yết phải là công cụ chủ yếu tạo lập TTCK minh bạch và phát triển bền vững

Để điều chỉnh TTCK Nhà nước sử dụng đồng bộ các công cụ từ cơ chế, chính sách đến pháp luật Song pháp luật là công cụ hữu hiệu cơ bản

Trang 35

nhất bởi những ưu thế vốn có, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật

về CBTT, nhà lập pháp đưa ra được các loại thông tin cụ thể mà tổ chức niêm yết phải công bố trong từng giai đoạn nhất định Từ đó tạo cơ sở để

tổ chức niêm yết chủ động trong việc CBTT Pháp luật về CBTT còn quy định các “chế tài” xử lý đối với các chủ thể vi phạm nghĩa vụ CBTT Đây được coi như chiếc “áo choàng” để bảo vệ thị trường phát triển bền vững

Thứ ba, pháp luật về CBTT của công ty niêm yết phải bảo đảm phân định rõ ràng thông tin phải công bố và những thông tin không phải công

bố Yêu cầu về minh bạch thông tin là yêu cầu số một đối với các công ty

niêm yết trên TTCK Hoạt động của công ty có hiệu quả hay không, người quản trị có thực thi đầy đủ nghĩa vụ trung thực và mẫn cán hay không, khả năng sinh lợi của công ty, chiến lược kinh doanh của công ty thế nào, nguồn vốn của công ty được đầu tư kinh doanh ra làm sao…Tất cả chúng đều có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư Tuy nhiên, để bảo đảm công

ty có thể vững vàng trước các đối thủ cạnh tranh, cũng như mục tiêu thâu tóm sáp nhập của những công ty lớn Các qui định pháp luật về CBTT phải bảo đảm việc xác định đâu là các thông tin bắt buộc phải công bố, đâu là các thông tin nội bộ cần được giữ kín lại là vấn đề không đơn giản chút nào

Việc phải bảo đảm phân định rõ ràng quy định thông tin phải công

bố và những thông tin không phải công bố là vấn đề không dễ dàng đối với các nhà lập pháp, vì việc phân định này dễ dẫn đến tình trạng Nhà nư-

ớc can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường Trước mắt cần phải có các giải pháp buộc các công ty niêm yết, các chủ thể tham gia thị trường thực hiện tốt các quy định hiện hành

về CBTT Về lâu dài, UBCKNN phối hợp với các SGDCK xây dựng hệ thống thông tin không cần thiết phải công bố phù hợp với sự phát triển

Trang 36

của thị trường cũng như các yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK

Thứ tư, phải có cơ chế để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông, nhà đầu tư và các thiết chế đủ mạnh để quản lý giám sát thực thi Bảo vệ

quyền lợi của cổ đông, nhà đầu tư là mục tiêu sống còn của TTCK Các qui định pháp luật trước hết phải bảo đảm được quyền tiếp cận thông tin của cổ đông Cổ đông tham gia vào Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết

về chiến lược phát triển của công ty bằng các nghị quyết, còn triển khai nội dung Nghị quyết thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc/giám đốc và Ban kiểm soát công ty [25] Như đã phân tích, khi thực thi Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, người quản trị dễ sử dụng quyền hành của mình dẫn dắt công ty đi vợt quá mục tiêu, tôn chỉ hoạt động của công

ty, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông là chủ sở hữu công ty Do đó, bảo đảm quyền được tiếp cận các thông tin về công ty là nhân tố quan trọng nhất giúp cổ đông giám sát hoạt động của người quản trị công ty

Như đã phân tích, các thông tin trên TTCK rất đa dạng, đến từ nhiều nguồn khác nhau, vì nhiều mục đích khác nhau trong đó không loại trừ những mục đích bất hợp pháp, như: tung tin đồn giả, sử dụng thông tin nội gián, mua bán thông tin… kiếm lời bất chính Do vậy, khi xây dựng các qui định pháp luật về CBTT cần thiết phải chú trọng vai trò quản lý, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền

Thứ năm, pháp luật về CBTT của công ty niêm yết cần có cơ chế thực thi hiệu quả Hiệu quả pháp luật luôn là vấn đề cần phải được quan

tâm và giải quyết thích đáng, vì suy cho cùng, đây mới là “cái đích” của hoạt động lập pháp Với đặc thù của TTCK Việt Nam đang ở giai đoạn mới phát triển, quá trình ban hành luật cần hạn chế tình trạng ban hành

"luật khung", chờ văn bản hướng dẫn thi hành, hoặc văn bản pháp luật đã được ban hành nhưng không có khả năng áp dụng do không phù hợp với

Trang 37

thực tiễn Cũng cần tránh tình trạng “vay mượn” pháp luật nước ngoài Bên cạnh đó cũng cần tăng cường các kênh hỗ trợ cho việc thực thi pháp luật như phổ biến tuyên truyền pháp luật về CBTT, công tác giải thích, hỗ trợ pháp lý đối với các công ty niêm yết Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra giám sát đối với việc thực hiện pháp luật về CBTT của công ty niêm yết trên cơ sở đó phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm

pháp luật về CBTT để răn đe và phòng ngừa vi phạm

1.2.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết

1.2.3.1 Qui định nghĩa vụ công bố thông tin của công ty niêm yết

Dưới góc độ pháp lý, hoạt động CBTT trên TTCK nói chung và CBTT của công ty niêm yết nói riêng được coi là một nghĩa vụ pháp lý, khác với phạm trù quyền pháp lý các chủ thể mang quyền hoàn toàn được tự quyết có hoặc không thực hiện theo ý chí của mình, còn nghĩa vụ pháp lý mang tính bắt buộc đối với chủ thể có nghĩa vụ Như vậy, CBTT được coi là nghĩa vụ của công ty niêm yết

Nghiên cứu luật pháp của một số quốc gia trên thế giới cho thấy, cơ quan ban hành luật thường dựa vào một trong hai biện pháp sau đây hoặc kết hợp cả hai biện pháp để bảo đảm doanh nghiệp niêm yết phải thực hiện nghĩa

vụ công bố thông tin một cách phù hợp với quyền lợi của nhà đầu tư:

- Thứ nhất, đó là biện pháp công bố thông tin theo "nghĩa vụ chung"

- Thứ hai, là biện pháp công bố thông tin "theo quy định của pháp luật" Mặc dù, mỗi biện pháp công bố thông tin nêu trên có những khác biệt nhất định về yêu cầu, nội dung, phạm vi, Thế nhưng hầu hết các luật chứng khoán của các nước đều qui định các tổ chức và doanh nghiệp niêm yết phải cung cấp các thông tin cần thiết một cách đầy đủ, liên tục và đảm bảo công bằng cho nhà đầu tư Theo đó, CBTT trên TTCK được coi là nghĩa vụ của công ty niêm yết và các chủ thể liên quan

Trang 38

Nghĩa vụ công bố thông tin được hiểu là việc tuân thủ quy định công

bố thông tin của tổ chức và doanh nghiệp cung cấp thông tin Khi đó, các tổ chức và doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin phải đảm bảo tôn trọng những nguyên tắc về công bố thông tin như công bố thông tin chính xác, liên tục, có khả năng giải thích về các thông tin công bố và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về thông tin do mình công bố Trong trường hợp, một tổ chức cụ thể (công ty chứng khoán, sở GDCK, Uỷ ban CKNN ) được định rõ có thể

sẽ cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với các thông tin công bố mà các tổ chức phát hành và doanh nghiệp niêm yết đưa ra

Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006; Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán qui định các chủ thể tham gia hoạt động trên TTCK có nghĩa vụ công bố thông tin một cách chính xác, đầy đủ, liên tục, kịp thời theo qui định của pháp luật Theo đó, CBTT được hiểu là nghĩa vụ của công ty niêm yết và các chủ thể tham gia thị trường niêm yết

1.2.3.2 Nội dung và phạm vi công bố thông tin

Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006; thông tư số 09/2010/ TT-BTC ngày 15/01/2010 quy định phạm vi và nội dung công bố thông tin của các tổ chức và công ty niêm yết, như sau:

- Công bố thông tin định kỳ: là việc cung cấp mọi thông tin về hoạt

động của công ty niêm yết nhằm phục vụ cho việc đánh giá tình hình hoạt động và tương lai phát triển của chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo định kì Gồm các kỳ hạn nhất định như hàng quý, 6 tháng hoặc hàng năm

Nội dung công bố thông tin định kỳ bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán và Báo cáo kiểm toán Thuyết minh báo cáo tài chính phải trình bày đầy đủ tất cả nội

Trang 39

dung theo quy định của pháp luật về kế toán Báo cáo tài chính hàng năm thường phải được lập kèm theo báo cáo kiểm toán của một tổ chức kiểm toán độc lập được chấp thuận

Ngoài ra, định kỳ công ty niêm yết phải công bố đầy đủ toàn bộ tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên: thông báo mời họp, mẫu chỉ định đại diện theo uỷ quyền dự họp, chương trình họp, phiếu biểu quyết, các tài liệu thảo luận làm cơ sở thông qua quyết định và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp trên trang thông tin điện tử đồng thời với việc gửi thông báo cho các cổ đông trước khi khai mạc họp đại hội cổ đông chậm nhất là bảy (07) ngày làm việc

- Công bố thông tin bất thường: Công ty niêm yết phải công bố thông

tin bất thường trong những trường hợp xảy ra theo luật định, như: Tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch bị tổn thất tài sản có giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên; Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị liên quan đến vấn đề tăng, giảm vốn điều lệ; góp vốn có giá trị từ mười phần trăm (10%) trở lên tổng tài sản của tổ chức niêm yết vào một tổ chức khác; góp vốn có giá trị từ năm mươi phần trăm (50%) trở lên tổng vốn của công ty nhận vốn góp; Khi có các sự kiện có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của tổ chức niêm yết; Quyết định đóng mở công ty trực thuộc, chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện; Quyết định thay đổi tên, địa chỉ trụ sở chính công ty; Khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn năm (05) phiên liên tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường hoặc giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ mười (10) phiên liên tiếp trở lên, tổ chức niêm yết phải công bố các sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu; Trường hợp họp Đại hội đồng cổ đông bất thường

Việc công bố thông tin bất thường nhằm phản ánh kịp thời tình hình thực tế của công ty, tài liệu công bố thông tin này sẽ được đệ trình lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và sở Giao dịch Chứng khoán phục vụ cho yêu cầu

Trang 40

quản lý và đạt được mục đích trong công bố thông tin là phải đưa thông tin đến được với công chúng đầu tư một cách chính xác kịp thời để bảo vệ chính

họ Mặt khác, việc công bố thông tin bất thường còn nhằm bảo vệ chính bản thân các công ty niêm yết công bố thông tin trước các “tin đồn” không trung thực về những sự kiện xảy ra có thể ảnh hưởng bất lợi cho công ty

- Công bố thông tin theo yêu cầu: Công ty niêm yết phải công bố

thông tin theo yêu cầu của UBCKNN, SGDCK trong những trường hợp xảy

ra theo luật định, như: Có thông tin liên quan đến công ty niêm yết ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; Có thông tin liên quan đến công ty niêm yết ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó

Công ty niêm yết phải công bố thông tin theo yêu cầu của UBCKNN, SGDCK thông qua các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết, qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương tiện công bố thông tin của UBCKNN, SGDCK Nội dung công bố thông tin phải nêu rõ sự kiện được UBCKNN, SGDCK yêu cầu công bố; nguyên nhân; mức độ xác thực của sự kiện đó

- Công bố thông tin khác:

+ Công bố thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ, người được ủy quyền công bố thông tin và cổ đông lớn

Cổ đông nội bộ là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc/Giám đốc, Phó Tổng giám đốc/Phó Giám đốc và Kế toán trưởng;

Cổ đông lớn của công ty; Người được ủy quyền công bố thông tin của công ty niêm yết và người có liên quan của các đối tượng này theo quy định tại khoản

34 Điều 6 Luật Chứng khoán

Các đối tượng nêu trên khi dự kiến giao dịch cổ phiếu của công ty niêm yết hoặc cổ phiếu của tổ chức giao dịch trên thị trường đại chúng chưa niêm yết, kể cả trường hợp chuyển nhượng không thông qua hệ thống giao

Ngày đăng: 10/07/2015, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Giám sát - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2009) “Công tác giám sát trên thị trường chứng khoán Việt Nam chặng đường nhiều thách thức” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 7/2009 tr 24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giám sát trên thị trường chứng khoán Việt Nam chặng đường nhiều thách thức” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
2. Ban Giám sát - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2010) “Xây dựng hệ thống giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 7/2010 tr 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
3. Ban Pháp chế - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2009) “Sửa đổi, bổ sung luật chứng khoán những vấn đề được đặ ra và thời gian thực hiện” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 1+2/2009 tr 28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung luật chứng khoán những vấn đề được đặ ra và thời gian thực hiện” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
4. Ban phát triển thị trường –UBCKNN (2010), “Quy chế công bố thông tin của một số Thị trường chứng khoán thế giới”, tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế công bố thông tin của một số Thị trường chứng khoán thế giới
Tác giả: Ban phát triển thị trường –UBCKNN
Năm: 2010
5. Ban Quản lý phát hành - Uỷ chứng khoán Nhà nước (2008) “Quản lý hoạt động phát hành, công bố thông tin của công ty đại chúng” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 7/2008 tr 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động phát hành, công bố thông tin của công ty đại chúng” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
6. Ban Thanh tra - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2009) “Đảm bảo thị trường chứng khoán ngày càng công khai, minh bạch và an toàn” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 7/2009 tr 21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo thị trường chứng khoán ngày càng công khai, minh bạch và an toàn” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
7. Ban Thanh tra - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2010) “Công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và các biện pháp hạn chế, phòng ngừa vi phạm” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 7/2010 tr 38-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và các biện pháp hạn chế, phòng ngừa vi phạm” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
8. Ban Thanh tra - Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (2009) “Công tác thanh tra, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán năm 2008” Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 1+2/2009 tr 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thanh tra, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán năm 2008” "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
9. Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (2004), Hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK
Tác giả: Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
10. Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (2007), Cẩm nang thị trường chứng khoán Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
11. Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (2008,2009,2010), Báo cáo thường niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (2008,2009,2010), "Báo cáo thường niên
12. Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (2010), xây dựng chiến lược phát triển thị trường và tăng cường khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán Việt Nam, Tài liệu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: xây dựng chiến lược phát triển thị trường và tăng cường khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bộ tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Năm: 2010
13. Các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14. Nguyễn Ngọc Cảnh (2010) “Hội nghị APRC của IOSCO cập nhật tình hình phát triển Thị trường chứng khoán khu vực”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số tháng 12/2010 tr 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị APRC của IOSCO cập nhật tình hình phát triển Thị trường chứng khoán khu vực”, "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
15. Trần Đình Cung (2007) “Công khai hoá và minh Abạch thông tin - cơ sở để thị trường và bên ngoài công ty thực hiện giám sát công ty”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số tháng 9/2007 tr 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công khai hoá và minh Abạch thông tin - cơ sở để thị trường và bên ngoài công ty thực hiện giám sát công ty”, "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
16. Trần Chí Dũng và Nguyễn Thị Hồng (2008) “Báo chí và Truyền thông đối tác quan trọng của Thị trường chứng khoán”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số tháng 06/2008 tr 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và Truyền thông đối tác quan trọng của Thị trường chứng khoán”, "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
17. Nguyễn Minh Đức (2006), Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2006
18. Viên Thế Giang (2008) “Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 1+2/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng
19. Viên Thế Giang (2008), Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt nam, Luận Văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, trang 34-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt nam
Tác giả: Viên Thế Giang
Năm: 2008
49. Các trang Website http://www.ssc.gov.vn http://www.hnx.vn http://www.hsx.vn http://www.ssi.com.vnhttp://www.tinnhanhchungkhoan.vn http://www.vafi.org.vnTiếng Anh Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:  Thống kê công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam - Pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện
Bảng 1.1 Thống kê công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam (Trang 18)
Bảng 2.2: Tốp 5 điều chỉnh tăng lợi nhuận cổ đông  năm 2010 - Pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện
Bảng 2.2 Tốp 5 điều chỉnh tăng lợi nhuận cổ đông năm 2010 (Trang 85)
Bảng 2.3 : Tốp 5 điều chỉnh giảm lợi nhuận cổ đông  năm 2010 - Pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện
Bảng 2.3 Tốp 5 điều chỉnh giảm lợi nhuận cổ đông năm 2010 (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm