1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan Luận văn ThS. Luật

97 736 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 772,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN MẠNH HẢI

Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi

trong lĩnh vực hải quan

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thời gian qua, thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập sâu kinh tế quốc

tế, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến các sắc thuế đã được ban hành tương đối đồng bộ, phạm vi điều chỉnh toàn diện, quy định về thủ tục theo hướng đơn giản, minh bạch Trong quá trình thực thi, vướng mắc phát sinh thường xuyên được xem xét tháo gỡ, nội dung không phù hợp, còn thiếu được chú trọng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cho nên, ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế ngày càng được nâng cao; vai trò của cơ quan quản lý thuế, công chức quản

lý thuế và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan cũng từng bước được tăng cường

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, pháp luật quản lý thuế, trong đó có quản lý các loại thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, còn bộc lộ những hạn chế

và chưa đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh một cách hữu hiệu nhất mọi quan hệ phát sinh như: các quy định được ghi nhận một cách dàn trải, tản mạn trong từng Luật thuế và chủ yếu ở văn bản dưới luật; cùng một vấn đề thủ tục nhưng giữa các văn bản lại có sự khác nhau, do đó gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng thống nhất; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể và cơ chế đảm bảo thực hiện chưa đầy đủ, rõ ràng…

Sự ra đời của Luật Quản lý thuế năm 2006, với các điểm mới căn bản đã khắc phục được những hạn chế này Cụ thể: Luật Quản lý thuế tạo lập được khung pháp lý chung để thực thi hiệu quả công tác quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; xóa bỏ tình trạng chia cắt, tách biệt phương thức quản lý giữa các loại thuế, phí, lệ phí; làm nền tảng cho việc áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến; đề cao quyền, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, cũng như cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế

Trong lĩnh vực hải quan, Luật Quản lý thuế còn có tác động tích cực là

Trang 3

thống pháp luật quản lý thuế liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu; làm thay đổi diện mạo công tác quản lý thuế của ngành hải quan theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và thông lệ quốc tế

Tuy nhiên, cũng chính từ sự ra đời của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành mà hàng loạt quy định về trình tự, thủ tục, cơ chế, thẩm quyền, thời hiệu… ngành Hải quan đang áp dụng phải được sửa đổi hoặc ban hành mới; cần một khoảng thời gian nhất định cho sự chuyển biến thực sự trong nhận thức và tác nghiệp của người nộp thuế cũng như cơ quan hải quan, công chức hải quan; nhanh chóng trang bị đầy đủ, đồng bộ cơ sở vật chất kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu xây dựng dữ liệu thông tin tổng hợp và vận hành một cách hiệu quả kỹ thuật quản lý rủi ro

Hiện đang công tác trong ngành Hải quan, đồng thời là học viên của Lớp cao học Luật Khóa 12, chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,

khi lựa chọn đề tài luận văn: “Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong

lĩnh vực hải quan”, tôi muốn sử dụng kiến thức đã được học và kinh nghiệm

của bản thân để góp phần nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo, dưới cả giác

độ lý luận cũng như thực tiễn về thực trạng pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay

Trước tiên, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xác định tính đồng bộ giữa luật thủ tục và luật nội dung liên quan đến các loại thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Thứ hai, kết quả nghiên cứu sẽ làm rõ việc đổi mới hiệu quả phương thức quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan từ chuyên quản, người nộp thuế thụ động thực hiện nghĩa vụ, sang cơ chế người nộp thuế chủ động tính thuế, nộp thuế đủ, đúng thời hạn, cũng như có thể tự xác định các ưu đãi, quyền lợi về thuế Cơ quan hải quan, công chức hải quan tập trung vào việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế, kiểm tra, thanh tra, quản lý sự tuân thủ Qua đó, cơ quan hải quan và công chức hải quan sẽ tiệm cận được một cách tối đa phương

châm “Thuận lợi - Tận Tuỵ - Chính xác” mà Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)

đưa ra

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trước ngày 22/11/2006 - thời điểm Luật Quản lý thuế năm 2006 được ban hành, quy định về trình tự, thủ tục thu, nộp các loại thuế, phí và lệ phí được ghi nhận trong cùng luật nội dung, và ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Bên cạnh đó, liên quan đến việc thu, nộp thuế trong lĩnh vực hải quan, cơ quan hải quan và doanh nghiệp khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu căn cứ vào pháp luật hải quan và dẫn chiếu quy định của luật thuế

Có thể vì những lý do đó, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu mang tính chuyên khảo nào thực sự sâu sắc và toàn diện về pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan ở nước ta

Trong chương trình đào tạo bậc đại học chuyên ngành luật, một số vấn đề của pháp luật quản lý thuế được đề cập ở nội dung giảng dạy chung về pháp luật thuế Gần đây, một số khoá luận tốt nghiệp đề cập đến lĩnh vực này, nhưng là quản lý một sắc thuế cụ thể nào đó, với mô tả sơ sài và giản đơn về mặt khoa học pháp lý

Ở chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành luật, pháp luật quản lý thuế được đề cập trong chuyên đề Luật Tài chính - Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Có một số luận văn và luận án đề cập đến vấn đề này dưới giác độ nghiên cứu về từng vấn đề riêng lẻ trong toàn bộ quá trình quản lý thuế nói

chung, chẳng hạn như luận án tiến sỹ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp”của nghiên cứu sinh Vũ Văn Cương; đề tài khoa học “Xây dựng mô hình quản lý thuế theo cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế” của phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Phạm Duy

Khương và nhóm tác giả Tuy nhiên, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan, dù ở mức độ

cụ thể hay khái quát

Trên các phương tiện truyền thông có những nhận định, đánh giá về một

phần nội dung của công tác quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan Ví dụ: “Áp dụng Luật Quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan: giảm phiền hà, tăng nguồn thu” đăng trên Báo Bà Rịa Vũng Tàu; “Luật Quản lý thuế có tác dụng tích cực

Trang 5

một năm thực hiện Luật Quản lý thuế: giảm đáng kể tỉ lệ vi phạm pháp luật thuế” của tác giả Kim Oanh đăng trên Báo Hải quan; “Luật Quản lý thuế sau một năm thực hiện: chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện” đăng trên Tạp chí Tài chính; “Luật Quản lý thuế sau một năm thực hiện: vẫn còn vướng mắc” của tác

giả Mai Hằng đăng trên Thời báo Diễn đàn doanh nghiệp…

Các tài liệu nước ngoài bằng tiếng nước ngoài liên quan có thể tìm thấy được cũng chỉ đơn giản là việc giới thiệu nội dung quy định quản lý thuế ở nước

sở tại, với những nguyên tắc áp dụng

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm những quy định của pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam, xác định theo các giới hạn sau đây:

- Thứ nhất, đối với vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế, luận văn chỉ

nghiên cứu khái niệm thuế, quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế và mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế với một số văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

- Thứ hai, về vấn đề thực thi pháp luật quản lý thuế trong lĩnh vực hải

quan, luận văn chỉ nghiên cứu quy định của pháp luật quản lý thuế liên quan đến các loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, lệ phí mà ngành Hải quan được giao quản lý thu và thực trạng áp dụng

- Thứ ba, về phương hướng và giải pháp, luận văn chỉ tập trung đề xuất

một số nội dung cụ thể, nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật quản lý thuế và vấn

đề thực thi trong lĩnh vực hải quan trong thời gian sắp tới

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là: xác định những lý luận cơ bản của pháp luật quản lý thuế; quy định của pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan Qua đó, chỉ ra những bất cập còn tồn tại, đồng thời đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế, để công tác này trong lĩnh vực hải quan thực sự có hiệu lực và hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, khuyến khích doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ

Với mục đích như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

Trang 6

- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế: khái niệm thuế, quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế và mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế với một số văn bản pháp luật khác có liên quan

- Phân tích, đánh giá khái quát quy định của pháp luật quản lý thuế và vấn

đề thực thi trong lĩnh vực hải quan, bao gồm: quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng; thủ tục hành chính thuế cơ bản như khai thuế, ấn định thuế, nộp thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; khiếu nại,

tố cáo về thuế

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể, như sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật, xây dựng cơ chế thực hiện, nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện được những mục đích và nhiệm vụ nêu trên, ngoài phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử làm cơ sở, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải; phương pháp quy nạp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê

6 Kết cấu của luận văn

Với những yêu cầu nêu trên, luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu, ba chương nội dung và kết luận Cụ thể:

Phần mở đầu

Chương 1: Pháp luật quản lý thuế - Những vấn đề lý luận cơ bản

Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan

Kết luận

Trang 7

CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế

1.1.1 Khái niệm thuế

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của Nhà nước

Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có nhằm huy động một bộ phận của cải xã hội Công việc đó có thể được Nhà nước thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như yêu cầu người dân đóng góp bắt buộc, vận động người dân đóng góp tự nguyện, vay nợ hoặc bán tài sản là tài nguyên quốc gia Trong đó, biện pháp huy động tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế

Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước” Ăng Ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má” Còn theo Lê Nin, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và

“thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”[15 tr.10]

Trong cuốn “Tài chính công”, nhà kinh tế học Gaston Jeze đã đưa ra khái

niệm được cho là cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp, do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” [14 tr.23]

Để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm thuế cần chú ý các đặc điểm sau [15 tr.11-14]:

Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước

Trang 8

Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E Stiglitz cho rằng, thuế khác với đa số các khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc [24 tr.456].

Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, thuế được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước [13 tr.101-102] Đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện Đối với cơ quan quản lý thuế, trong quá trình thực thi công vụ cũng không được phép lựa chọn việc tiến hành hay không tiến hành các hoạt động quản lý thuế

Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thuế và các khoản đóng góp tự nguyện khác, đồng thời có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc ban hành pháp luật về thuế, chi phối phương pháp quản lý của cơ quan quản lý thuế

Thứ hai, thuế không mang tính đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp

Thuế không phải là khoản phải trả khi đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía Nhà nước Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự hoàn trả trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công

Đây là một trong số những nội dung để phân biệt thuế với khoản vay của Nhà nước, phân biệt thuế với phí, lệ phí

Tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng

Thuế được thu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không

có đối khoản cụ thể Nói cách khác, nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu riêng nào, mà được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

1.1.2 Khái niệm quản lý thuế

Quản lý thuế là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện hệ thống chính sách thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước của cơ quan quản lý

Trang 9

thuế, người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực thi pháp luật về thuế

Cơ quan quản lý thuế ở Việt Nam bao gồm:

- Cơ quan thuế: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế;

- Cơ quan hải quan: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Chi cục Hải quan

và tương đương

SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ VIỆT NAM HIỆN NAY

Ghi chú: Thể hiện quan hệ cơ quan hành chính cấp trên - cấp dưới;

Thể hiện quan hệ phối hợp

Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 07/08/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hệ thống Thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho ngân sách trong nội địa Bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương Cơ quan thuế đặt tại địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp

Ngày 28/10/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính Theo đó, bộ máy quản lý thuế nội địa được đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, thực hiện việc cung cấp thông

Trang 10

tin và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế

Hệ thống Hải quan trước đây trực thuộc Chính phủ, được tổ chức thành 3 cấp: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục Hải quan và tương đương Cơ quan hải quan đảm nhiệm việc quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, lệ phí hải quan

Kể từ ngày 04/09/2002, theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống cơ quan hải quan được chuyển vào trực thuộc Bộ Tài chính

Việc tổ chức bộ máy, phân định chức năng cho cơ quan thuế quản lý thuế nội địa, cơ quan hải quan quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu như ở Việt Nam hiện nay là mô hình phổ biến đang được áp dụng trên thế giới Mô hình này có ưu điểm là sự chuyên môn hoá sâu sắc, tránh sự chuyên quyền của

cơ quan nhà nước được giao quản lý thuế và bảo đảm sự giám sát lẫn nhau Nhưng cũng có luận điểm cho rằng, nên sát nhập hai cơ quan quản lý thuế như

mô hình Tổng cục Hải quan và Thuế gián thu Nhật Bản hay Cơ quan Hải quan

và Thuế Hoàng gia Anh, để tạo điều kiện thuận lợi trực tiếp nhiều hơn cho doanh nghiệp, đơn giản hoá một cách tối đa thủ tục hành chính, nhất là tránh được sự trùng lắp trong công tác quản lý thuế [19]

Đối tượng thứ hai tham gia quản lý thuế là người nộp thuế, bao gồm:

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật

Với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, đối tượng nộp thuế này là chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, tổ chức nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu, cá nhân

có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh, gửi hoặc nhận hàng hoá qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam

- Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước

- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế

Trang 11

+ Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu

tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam;

+ Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;

+ Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng tàu biển từ cảng biển Việt Nam ra nước ngoài hoặc giữa các cảng biển Việt Nam;

+ Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế;

+ Đại lý làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; + Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thay thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế;

+ Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh nộp thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế

Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế là Bộ tài chính; các cơ quan khác của Nhà nước; Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp; Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; cơ quan thông tin, báo chí; hay tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm trong việc tham gia quản lý thuế

Nội dung chủ yếu của quản lý thuế gồm:

- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế;

- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế;

- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;

- Quản lý thông tin về người nộp thuế;

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế;

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

Trang 12

1.2 Khái niệm pháp luật quản lý thuế

Để có một cơ cấu thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế, luật quản lý thuế phải được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản Đó là nguyên tắc trình tự thời gian, nguyên tắc chức năng hay nguyên tắc phạm trù pháp lý

[23]

Nếu theo nguyên tắc trình tự thời gian, luật quản lý thuế được xây dựng bắt đầu bằng việc giải thích luật, xác định quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế, sau đó đi sâu vào từng nghĩa

vụ, trách nhiệm, quyền hạn cụ thể

Nếu theo nguyên tắc chức năng, luật quản lý thuế được xây dựng trên cơ

sở chức năng của cơ quan quản lý thuế như cung cấp thông tin, kiểm tra, thanh tra thuế, xử lý nợ thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế, cưỡng chế thuế… Cơ cấu,

tổ chức của cơ quan quản lý thuế cũng được thiết kế trong luật, chẳng hạn, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý thuế, cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý thuế…

Nếu theo nguyên tắc phạm trù pháp lý, luật quản lý thuế được thiết kế bắt

Trang 13

thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế, xử lý vi phạm đối với người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế…

Dù được xây dựng, thiết kế theo nguyên tắc nào, luật quản lý thuế bao giờ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý điều hành chính sách thuế

Ở Việt Nam, ngoài Luật Quản lý thuế năm 2006, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế còn chịu sự điều chỉnh của một số văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật như Hiến pháp, luật chuyên ngành, văn bản dưới luật và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia, ký kết Tất cả các quy định đó được gọi là pháp luật quản lý thuế

Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế, nhằm tổ chức thực hiện các luật thuế và văn bản pháp luật quy định các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật quản lý thuế

Pháp luật quản lý thuế có các đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế quy định việc

quản lý thuế đối với các loại thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan thuế và cơ quan hải quan quản lý thu theo quy định của pháp luật Đó là quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng; thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra cho người nộp thuế

Thứ hai, đối tượng điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế là các quan hệ xã

hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế giữa các đối tượng áp dụng là người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế

Có thể nói, quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng, không thể tách rời hoạt động quản lý nhà nước Quản lý thuế gồm nhiều nội dung khác nhau, nhưng bao giờ cũng gắn liền với sự tham gia của Nhà nước Đó có thể là

Trang 14

sự tham gia nhân danh chính mình khi Nhà nước ban hành pháp luật quản lý thuế, tham gia, ký kết điều ước quốc tế có liên quan, hay tham gia thông qua việc

uỷ quyền cho cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế

Thứ ba, phương pháp điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế là phương

pháp mệnh lệnh quyền uy và phương pháp bình đẳng thỏa thuận

Xuất phát từ tính chất của các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình quản lý thuế, để sự tác động của pháp luật có hiệu quả, pháp luật quản lý thuế sử dụng phương pháp mệnh lệnh quyền uy là chủ yếu, nhất là với quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế

Như đã đề cập, tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế và các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước Việc chuyển giao một phần thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích

cụ thể của người nộp thuế Thêm nữa, bản chất của quản lý thuế xét đến cùng là quản lý việc thu thuế - nộp thuế Cho nên, không thể sử dụng phương pháp bình đẳng, tự nguyện trong quan hệ pháp luật quản lý thuế giữa cơ quan quản lý thuế

và người nộp thuế

Cơ quan quản lý thuế có quyền ấn định thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế… [1 Điều 9] và yêu cầu người nộp thuế phải thực hiện Ngay cả khi người nộp thuế sử dụng quyền của mình như tự xác định ưu đãi về thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế [1 Điều 6], tính chất quyền uy cũng không bị mất đi Bởi lẽ, các quyền này người nộp thuế

có được là do Nhà nước cho phép hay thừa nhận Nếu khai báo sai căn cứ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, người nộp thuế sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, pháp luật quản lý thuế cũng sử dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận trong quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý thuế với nhau, giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan nhà nước khác, mặt trận tổ quốc, hay quan hệ giữa tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế với người nộp thuế… [13 tr.42]

Trang 15

1.2.3 Nguyên tắc quản lý thuế

Điều 4 Luật quản lý thuế năm 2006 quy định:

“1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế

2 Việc quản lý thuế thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

3 Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế”

Trước khi Luật Quản lý thuế ra đời, trong các luật về chính sách thuế không có quy định cụ thể về nguyên tắc quản lý thuế Ngay cả dự thảo Luật Quản lý thuế ngày 09/01/2006, trước bản dự thảo trình Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 (từ ngày 17/10/2006 đến ngày 29/11/2006) thông qua Luật Quản lý thuế, cũng vẫn chưa có nội dung này

Nguyên tắc quản lý thuế là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong các quy định cũng như quá trình thực thi pháp luật quản lý thuế

Nguyên tắc quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được xác định cụ thể: bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế; trên cơ sở đánh giá quá trình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế có ưu tiên và tạo thuận lợi đối với người nộp thuế thuộc đối tượng chấp hành tốt pháp luật về thuế

Người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật về thuế là chủ hàng chấp hành tốt pháp luật hải quan và không còn nợ tiền thuế quá hạn, không còn nợ tiền phạt chậm nộp thuế tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan

Các nguyên tắc quản lý thuế bao gồm:

1.2.3.1 Nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế

Nguyên tắc này được xây dựng xuất phát từ vai trò, chức năng của thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia và được sử dụng để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cho toàn xã hội

Trang 16

Tham gia quản lý thuế, các đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế có thể đóng vai trò của người nộp thuế, của cơ quan quản lý thuế, công chức quản

lý thuế, hay của tổ chức, cá nhân khác có liên quan Trong từng mối quan hệ quản lý thuế cụ thể, các chủ thể được xác định có quyền và nghĩa vụ nhất định Chính vì vậy, họ đều trực tiếp hoặc gián tiếp nhận được lợi ích từ hoạt động quản lý thuế, cho nên phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế Chẳng hạn, Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định nhiệm vụ thu ngân sách hàng năm và giám sát thực hiện pháp luật thuế; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan có liên quan phối hợp với cơ quan quản lý thuế lập dự toán thu ngân sách nhà nước, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; cơ quan thông tin, báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế, phản ánh và phê phán các hành vi vi phạm pháp luật về thuế; tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, phối hợp thực hiện các quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế

1.2.3.2 Nguyên tắc nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ

và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân

Quản lý thuế trước tiên phải dựa trên nguyên tắc đề cao vai trò của người nộp thuế trong việc tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ quan quản lý thuế chủ yếu thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra, thanh tra thuế

Thực hiện nguyên tắc này, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tuyên truyền sâu rộng, liên tục về chính sách thuế, các quy định về quản lý thuế để khuyến khích, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, nhằm đạt được sự tự giác thực hiện nghĩa vụ Chẳng hạn, phát hiện hồ sơ khai thuế có sai sót trước khi cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra, thanh tra tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn nhất định và không bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này Đồng thời, thực hiện quản lý rủi ro theo nghĩa xác định được rủi ro để quản lý, cơ quan quản lý thuế

Trang 17

Vì nộp thuế là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi tham gia quan hệ pháp luật quản lý thuế với vai trò là người nộp thuế, cho nên, nếu không tự giác thực hiện một cách đầy đủ, đúng hạn theo quy định của pháp luật, người nộp thuế sẽ

Quy định rõ các loại giấy tờ của từng loại hồ sơ thuế: hồ sơ khai thuế, hồ

sơ miễn thuế, hồ sơ hoàn thuế không chỉ giúp người nộp thuế tự xác định quyền và nghĩa vụ của mình, mà còn tránh được sự tuỳ tiện của công chức thuế, công chức hải quan khi thực thi công vụ Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế phải được thống nhất trong sự phù hợp với từng loại thuế và tình hình thực tế của đời sống kinh tế - xã hội Thời hạn nộp thuế được quy định gắn với thời hạn khai thuế, vừa bảo đảm phù hợp với tính chất của từng sắc thuế, vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế dễ nhớ, dễ thực hiện Quy định về xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quản lý thuế, vấn đề trách nhiệm vật chất của cán bộ công chức quản lý thuế cũng phải được công khai hoá

Đơn giản, minh bạch nội dung của công tác quản lý thuế giúp người nộp thuế có cơ sở thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ, đồng thời, tạo điều kiện để tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Nhà nước, cộng đồng xã hội đối với việc thực thi của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế,

Trang 18

theo yêu cầu cải cách thủ tục hành chính thuế, phải phân công, phân nhiệm một cách cụ thể, bảo đảm giải quyết công việc trong mối quan hệ với người nộp thuế trên cơ sở thấu hiểu, chia sẻ Thực tế cho thấy, sự không minh bạch trong quản

lý thuế là nguyên nhân căn bản tạo ra sự bất bình đẳng, tham nhũng, lạm thu, đồng thời làm suy yếu tính pháp định của của các sắc thuế, dẫn đến tình trạng trốn thuế, gian lận thuế

Quản lý thuế phải được thực thi trên cơ sở thể hiện sự công bằng, bình đẳng, có nghĩa là không phân biệt đối xử giữa các đối tượng nộp thuế về địa vị pháp lý cũng như quyền và nghĩa vụ Sự công bằng, bình đẳng còn thể hiện ở một chính sách thuế ổn định, thống nhất Để làm được điều này, nhà hoạch định chính sách cần có dự liệu chính xác về những vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh gắn với phạm vi quản lý thuế Qua đó, người nộp thuế có thể xây dựng phương

án kinh doanh không chỉ trong ngắn hạn, còn cơ quan quản lý thuế cũng thiết kế được phương pháp quản lý thuế hiệu lực và hiệu quả [25]

1.2.4 Mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế và một số văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1.2.4.1 Mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế với các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí

Trong mối quan hệ hình thức - nội dung, pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm tổ chức thực hiện các luật thuế, cũng như pháp lệnh phí và lệ phí Vì vậy, vấn đề hiệu quả của luật về chính sách thuế phụ thuộc khá lớn vào pháp luật quản lý thuế Cho dù luật về chính sách thuế phản ánh chuẩn xác, khoa học chính sách thuế nhưng nếu pháp luật quản lý thuế - quản lý cách thức vận hành của chính sách thuế - không phù hợp, có thể làm vô hiệu hoá các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí

Pháp luật quản lý thuế và các luật về chính sách thuế có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau Sự thay đổi nội dung của luật thuế tất yếu kéo theo sự thay đổi của pháp luật quản lý thuế, nhất là khi pháp luật quản lý thuế có quy định những vấn đề quản lý mang tính chất đặc thù của từng sắc thuế Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa sự thay đổi của pháp luật quản lý thuế hoàn toàn

Trang 19

lập tương đối của nó Sự thay đổi cơ bản của pháp luật quản lý thuế phần lớn phụ thuộc vào cơ chế, phương thức quản lý thuế của một quốc gia, phụ thuộc vào ý thức tuân thủ luật pháp của các thành viên trong xã hội

Luật Quản lý thuế năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thực hiện không chỉ quy định những vấn đề chung về tổ chức thực hiện các luật thuế, mà còn quy định cả những nội dung tổ chức thực hiện riêng của từng luật thuế Hơn nữa, số lượng điều luật quy định nội dung quản lý đặc thù chiếm tỷ lệ khá nhiều, đặc biệt

là quy định quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Vì vậy, khi các luật về chính sách thuế được ban hành, sửa đổi, bổ sung (theo kế hoạch, dự kiến năm 2010 Quốc hội sẽ ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu…), đương nhiên kéo theo sự sửa đổi,

bổ sung Luật Quản lý thuế Vô hình chung, các luật mới về chính sách thuế có thể phá vỡ tính ổn định của Luật Quản lý thuế

Bên cạnh đó, pháp luật quản lý thuế vẫn còn đảm nhiệm sứ mệnh “giải quyết tình thế” cho các luật về chính sách thuế Chẳng hạn, Điều 65 Luật Quản

lý thuế quy định trường hợp được xoá nợ tiền thuế, tiền phạt:

“1 Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt;

2 Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ”

Đây là nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của luật về chính sách thuế, song các luật thuế hiện hành chưa quy định Vì vậy, nhà làm luật đã đưa vào Luật Quản lý thuế để phù hợp với thực tiễn quản lý thuế

Thậm chí, pháp luật quản lý thuế còn “lấn sân” phạm vi điều chỉnh của luật về chính sách thuế Ví dụ: khoản 3, khoản 4, Điều 42 Luật Quản lý thuế quy định thời hạn nộp thuế và điều kiện để được áp dụng thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:

“a) Đối với hàng hoá xuất khẩu là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

Trang 20

b) Đối với hàng hoá nhập khẩu là hàng tiêu dùng phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng; trường hợp có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế không quá ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

c) Đối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu là hai trăm bảy lăm ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; trường hợp đặc biệt thì thời hạn nộp thuế có thể dài hơn hai trăm bảy lăm ngày phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ;

d) Đối với hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập là mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập;

đ) Đối với hàng hoá khác là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

4 Để được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định tại các điểm c, d, và

đ khoản 3 Điều này, người nộp thuế phải đáp ứng một trong hai điều kiện sau đây:

a) Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ít nhất là ba trăm sáu lăm ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, không nợ tiền thuế quá hạn, tiền phạt, chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Được tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

Trường hợp không đáp ứng một trong hai điều kiện trên thì người nộp thuế phải nộp thuế trước khi nhận hàng”

Những quy định này thực chất thể hiện chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam và đáng lẽ phải đƣợc ghi nhận ở Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu

1.2.4.2 Mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế với pháp luật hải quan

Trong mối quan hệ với pháp luật hải quan, pháp luật quản lý thuế đóng

Trang 21

trọng của mình là quản lý thu các loại thuế liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, cũng như lệ phí hải quan Nội dung của pháp luật quản lý thuế phải được kết nối một cách tương thích với các quy định của pháp luật hải quan về quy trình nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan; quy trình xác định trị giá hải quan; quy trình kiểm tra sau thông quan; các biện pháp nghiệp vụ đặc thù của lực lượng kiểm soát hải quan…

Ngược lại, quy định của pháp luật hải quan phải đảm bảo thực hiện được nguyên tắc quản lý thuế, vận hành cơ chế tự khai - tự nộp và thu đúng, thu đủ các loại thuế liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu

Luật Quản lý thuế năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu quy định về nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa cơ quan thuế và cơ quan hải quan Hiện nay, tổ chức của Hải quan Việt Nam có 33 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh Thực hiện đề án cải cách, hiện đại hoá, Hải quan sẽ được tổ chức theo mô hình hải quan vùng (dự kiến khoảng 10 Hải quan vùng) Trong khi đó, tổ chức của cơ quan thuế gồm 63 Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (theo đơn vị hành chính lãnh thổ) Nếu mối quan hệ giữa Cục Hải quan với Cục Thuế không được xác định cụ thể, việc quản lý người nộp thuế trên thực tế, nhất là vấn

đề cung cấp và xử lý thông tin - nội dung quan trọng khi áp dụng phương pháp quản lý thuế hiện đại sẽ khó có thể được thực hiện một cách hiệu quả

Mặt khác, còn nhiều quy định của pháp luật quản lý thuế được chuyển dịch một cách cơ học từ pháp luật hải quan, vì vậy ít nhiều không tránh khỏi tính chất khiên cưỡng Ví dụ, điểm a, b, c, khoản 4, Điều 32 Luật Quản lý thuế quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu như sau:

“4 Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là thời hạn nộp tờ khai hải quan:

a) Đối với hàng hoá nhập khẩu thì hồ sơ khai thuế được nộp trước ngày hàng hoá đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hàng hoá đến cửa khẩu Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký;

Trang 22

b) Đối với hàng hoá xuất khẩu thì hồ sơ khai thuế được nộp chậm nhất là tám giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký;

c) Đối với hành lý mang theo của người nhập cảnh, xuất cảnh, thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, tờ khai hải quan được nộp ngay khi phương tiện vận tải đến cửa khẩu nhập hoặc trước khi tổ chức vận tải chấm dứt việc làm thủ tục nhận hành khách lên phương tiện vận tải xuất cảnh Hành lý gửi trước hoặc sau chuyến đi của người nhập cảnh được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này”

Quy định “Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký” để phù hợp với quy định về thời hạn khai

và nộp tờ khai hải quan của Luật Hải quan “tờ khai hải quan có giá trị làm thủ

tục hải quan trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký” [2 Điều 18],

nhưng lại không chỉ rõ làm thủ tục về thuế là thủ tục khai thuế, tính thuế, nộp

án hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Đây là các mối quan hệ tương tác, hỗ trợ lẫn nhau theo sự phân định giữa các luật chuyên ngành, được thiết kế dựa trên nguyên tắc cơ cấu chức năng Vì vậy, khi nghiên cứu, xây dựng

và vận dụng quy định của pháp luật quản lý thuế, cần có sự lưu ý về tính hệ thống, và xem xét đến tính toàn diện với các văn bản pháp luật đó Cụ thể: quy định của pháp luật quản lý thuế về thanh tra thuế phải được xây dựng và thực hiện trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thanh tra; quy định của pháp luật quản lý thuế về xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải được xây dựng và thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xử lý vi phạm hành chính; pháp

Trang 23

Nghiên cứu Luật Quản lý thuế năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy, một số quy định của pháp luật quản lý thuế chưa đảm bảo tính tương thích với các luật thủ tục khác trong lĩnh vực hành chính, kinh tế thương mại, dân sự, hay hình sự

1.2.5 Kết cấu của pháp luật quản lý thuế gắn với việc thực thi trong lĩnh vực hải quan

Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động quản lý đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về

tổ chức và hoạt động của Hải quan

Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

[2 Điều 11]

Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc kê khai, tính thuế, thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, truy thu thuế của người khai hải quan; thu thuế và quản lý việc nộp thuế [2 Điều 69]

Điều đó có nghĩa, việc tổ chức, thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm cả pháp luật nội dung (các luật chính sách thuế) và pháp luật về thủ tục (pháp luật quản lý thuế) là một phần của quản lý nhà nước về hải quan

Hiện tại, theo quy định của pháp luật, Hải quan là cơ quan quản lý thu các loại thuế liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng; lệ phí hải quan Đương nhiên, cơ quan hải quan cũng là cơ quan thực hiện các nội dung quản lý thuế liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đối với các loại thuế, lệ phí đó

Trang 24

Do vậy, ngoài những quy định chung về quản lý thuế, kết cấu của pháp luật quản lý thuế gắn với việc thực thi trong lĩnh vực hải quan bao gồm:

Nhóm một, thực trạng về quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng

pháp luật quản lý thuế liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Cụ thể:

- Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế;

- Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan;

- Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế

Nhóm hai, thực trạng về thủ tục hành chính thuế cơ bản liên quan đến

hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Cụ thể:

- Thủ tục khai thuế, ấn định thuế, nộp thuế;

- Thủ tục hoàn thuế; miễn thuế, giảm thuế;

- Thủ tục quản lý thông tin về người nộp thuế;

- Thủ tục kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế;

- Thủ tục xử lý vi phạm hành chính về hải quan trong lĩnh vực thuế;

- Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế;

Một là, các văn bản pháp luật quản lý thuế phải được ban hành một cách

đầy đủ, đồng bộ, nhằm tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh, an toàn cho công tác quản lý thuế cũng như công tác quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của cơ quan hải quan, đồng thời, tạo thuận lợi một cách tối đa cho dòng lưu chuyển thương mại quốc tế

Trang 25

Luật Quản lý thuế được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2006 và

có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan phải được ban hành gồm: Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Nghị định quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan; Thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành

chính trong lĩnh vực hải quan; Thông tư quy định về điều kiện đăng ký và hoạt

động của đại lý làm thủ tục hải quan

Sau gần hai năm thực hiện Luật Quản lý thuế, sự ra đời của Thông tư 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thể hiện các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật nêu trên đã lần lượt được ban hành một cách đầy đủ phục vụ công tác quản lý thuế Tuy nhiên, vẫn còn những quy định của văn bản hướng dẫn chưa đồng bộ với hệ thống, thậm chí mâu thuẫn với văn bản có giá trị pháp lý cao hơn Có những quy định lại không phù hợp với thực tiễn quản lý của cơ quan hải quan hoặc chưa thực sự tạo thuận lợi một cách tối đa cho người nộp thuế

Bên cạnh đó, ngoài yêu cầu đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, pháp luật quản lý thuế đồng thời phải tạo điều kiện để cơ quan hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế

Hai là, quy định của pháp luật quản lý thuế phải thống nhất với quy định

của pháp luật hải quan liên quan đến việc quản lý thu các loại thuế, lệ phí nêu trên

Quản lý thuế là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ quan hải quan Khi hoạt động, cơ quan hải quan chủ yếu dựa vào quy định của Luật Hải quan và các văn bản khác có liên quan Do đó, việc kết nối giữa thủ tục hành chính thuế, với ý nghĩa là một phần trong quy trình thủ tục hải quan, phải được pháp luật quản lý thuế và pháp luật hải quan quy định một cách thống nhất Với tư cách là đối tượng áp dụng, cả người khai hải quan, người nộp thuế và cơ quan hải quan,

Trang 26

công chức hải quan khi thực hiện quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực quản lý thuế cũng đồng thời thực hiện quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan

Nếu làm thủ tục hải quan không chính xác sẽ ảnh hưởng đến quản lý thuế

và ngược lại Sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định của pháp luật hải quan và pháp luật quản lý thuế không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mà còn tạo thành rào cản cho công tác quản lý nhà nước về hải quan

Ba là, pháp luật quản lý thuế phải phù hợp với cam kết quốc tế về thuế

của Việt Nam

So với thuế nội địa, các loại thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

có liên quan đến yếu tố nước ngoài nhiều hơn, đồng thời khả năng ảnh hưởng đến vấn đề tự do hoá thương mại cũng lớn hơn Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tham gia, ký kết một số cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương khác có liên quan đến vấn đề cắt giảm thuế quan và từng bước dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan đối với thương mại quốc tế Trong tổng

số hơn 80 Hiệp định thương mại song phương và đa phương Việt Nam đã ký kết, gia nhập tính đến thời điểm hiện tại, quan trọng nhất là Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) trong khuôn khổ AFTA và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) Đây cũng là 2 cam kết có liên quan trực tiếp đến đến chính sách thuế của Việt Nam, do vậy, pháp luật quản lý thuế cần được thiết

kế, thực thi phù hợp với yêu cầu bảo đảm lợi ích quốc gia và nội dung của các cam kết đó

Bốn là, xây dựng đội ngũ công chức hải quan có trình độ chuyên môn

giỏi, khả năng thích ứng cao, biết chia sẻ, dám chịu trách nhiệm và được đãi ngộ tương xứng Đồng thời, cơ sở vật chất kỹ thuật phải được trang bị đầy đủ, hiện đại để có thể vận hành một cách hiệu quả phương pháp quản lý thuế mới theo nguyên tắc: cơ quan hải quan chủ yếu thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người khai hải quan và quản lý sự tuân thủ

Bên cạnh đó, để thực hiện được cơ chế tự khai - tự nộp thuế, doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cần có đội ngũ nhân sự chuyên

Trang 27

sâu về pháp luật thuế và pháp luật hải quan, cũng như được đầu tư trang thiết bị tương thích với hệ thống công nghệ thông tin của cơ quan Hải quan

Năm là, xây dựng và vận hành một cách hiệu quả cơ chế phối hợp, chia sẻ

trách nhiệm quản lý thuế giữa cơ quan hải quan và cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế nội địa, hệ thống kho bạc, ngân hàng thương mại, cơ quan công an

Quy chế trao đổi thông tin giữa Tổng cục Hải quan với Tổng cục Thuế, Kho bạc và các đơn vị trong Bộ Tài chính đã được triển khai Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế và Tổng cục Cảnh sát đã sơ kết 5 năm thực hiện quy chế phối hợp công tác, đồng thời sửa đổi, bổ sung để có quy chế mới phù hợp với quy định của pháp luật quản lý thuế Cơ quan hải quan và cơ quan công an thường xuyên trao đổi thông tin về các chủ trương, chính sách liên quan đến quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, về tiến độ xử lý hình sự và xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, về phương thức, thủ đoạn của các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, gian lận thuế, bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, vận chuyển, tàng trữ hàng hóa trái phép, sự dụng hóa đơn bất hợp pháp

Các cơ quan khi phối hợp với cơ quan hải quan như trên là tham gia quản

lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật quản

lý thuế Cho nên, cần xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng đơn vị trong quy chế phối hợp, đồng thời xác định trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị khi không thực hiện

Sáu là, sự giám sát xã hội đối với hoạt động quản lý thuế của cơ quan hải

quan và doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, thực chất, nhằm phát huy những nhân tố tích cực và phát hiện những vấn đề còn tồn tại, để có thể điều chỉnh, xử lý một cách khoa học, thoả đáng Việc làm này cũng hàm chứa sự thấu hiểu, ủng hộ, động viên của xã hội đối với công việc của cơ quan hải quan, công chức hải quan, và những doanh

nghiệp làm ăn chân chính, loại trừ cả hai thái cực khi đánh giá vấn đề, đó là “tô hồng” hoặc “bôi đen”

Trang 28

Kết luận chương 1

Để có cơ sở phân tích, đánh giá nội dung của pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan, chương 1 của luận văn đã tập trung xác định những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật quản lý thuế Bao gồm:

1 Khái niệm thuế, quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế; mối quan hệ giữa pháp luật quản lý thuế và một số văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Chuỗi các khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau và được xây dựng theo nguyên tắc tiếp thu giá trị nghiên cứu đã được thừa nhận, đồng thời, sửa đổi, bổ sung bằng phương pháp khoa học tổng hợp hiện đại

2 Kết cấu của pháp luật quản lý thuế gắn với việc thực thi trong lĩnh vực hải quan là những quy định chung về quản lý thuế; quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng và thủ tục hành chính thuế cơ bản liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu Đây cũng chính là nội dung chương 2 của luận văn

3 Đảm bảo thực thi một cách có hiệu lực và hiệu quả pháp luật quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan không chỉ cần hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, mà phải có cơ chế áp dụng phù hợp, nguồn nhân lực cao, yêu cầu trang bị cơ sở vật chất tương thích và sự góp sức của toàn xã hội

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng về quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng pháp

luật quản lý thuế liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế

2.1.1.1 Quyền của người nộp thuế

Quyền của người khai hải quan, người nộp thuế trong lĩnh vực hải quan có thể chia thành hai nhóm như sau [21]:

Nhóm quyền gián tiếp - được hưởng các tiện ích do Nhà nước cung cấp

Nhà nước tổ chức điều hành xã hội, cung ứng tiện ích công cộng, tạo hành lang pháp lý duy trì sự tồn tại bình đẳng giữa các chủ thể Người nộp thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được hưởng những lợi ích này, cho nên, họ phải nộp thuế Có thể gọi đây là quyền gián tiếp vì nó không trực tiếp phát sinh từ nội hàm của quan hệ pháp luật quản lý thuế thuần tuý

Nhóm quyền trực tiếp - phát sinh khi tham gia quan hệ pháp luật quản lý

thuế

Thực chất, đây là những quyền mà Nhà nước thừa nhận hoặc xác định người nộp thuế được hưởng trên cơ sở điều chỉnh quan hệ pháp luật quản lý thuế cũng như đảm bảo hiệu quả của quá trình hành thu thuế Mặc dù là quyền trực tiếp, nhưng những quyền này chỉ có thể là quyền phái sinh Nói cách khác, đây là quyền tương đối, bởi lẽ, người nộp thuế muốn thụ hưởng những quyền này phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nhất định Nếu không thỏa mãn được các điều kiện đã được xác định trước, người nộp thuế không những không được hưởng quyền, mà còn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

Một số quyền cơ bản của người nộp thuế[1 Điều 6]:

- Được hướng dẫn, cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện quyền và

nghĩa vụ thuế

Ngoài hoạt động của bộ phận tiếp nhận hồ sơ hành chính và tổ tư vấn tại đơn vị hải quan các cấp từ Tổng cục đến Chi cục Hải quan cửa khẩu, khi gặp

Trang 30

vướng mắc, doanh nghiệp có thể tham vấn trước hoặc trong quá trình thông quan Chẳng hạn, yêu cầu Chi cục Hải quan nơi dự định mở tờ khai nhập khẩu hàng hóa phân loại trước để áp mã số, thuế suất chính xác Có điều, trên thực tế doanh nghiệp thường ít thực hiện quyền này, bởi thói quen ngại tham gia thủ tục hành chính, trong khi họ có thể sử dụng các nguồn không chính thức nhưng tính linh hoạt cao hơn, dù không có giá trị pháp lý

- Quyền yêu cầu cơ quan hải quan giải thích về việc tính thuế, ấn định

thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Người nộp thuế bị ấn định thuế trong trường hợp vi phạm pháp luật thuế, hoặc không tự tính được số thuế phải nộp Nếu không đồng ý với căn cứ ấn định thuế hoặc xác định chủng loại, chất lượng hàng hóa, doanh nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan hải quan giải thích, đề nghị được cùng cơ quan hải quan hoặc độc lập trưng cầu giám định để xác định rõ bản chất của hàng hóa

- Quyền được giữ bí mật thông tin

Thông tin của người nộp thuế liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã khai báo với cơ quan hải quan như giá cả hàng hóa, điều kiện giao dịch,

bí quyết công nghệ… nếu không được giữ bí mật, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế, thậm chí chịu phạt từ đối tác Để bảo đảm thực hiện quyền này, người nộp thuế được yêu cầu bồi thường nếu việc khai thác thông tin liên quan gây thiệt hại cho họ

- Quyền được hưởng các ưu đãi về thuế

Điểm mới của Luật Quản lý thuế năm 2006 là đề cao tính chủ động trong việc tự xác định ưu đãi về thuế của người nộp thuế Ví dụ, khi có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tạo tài sản cố định, doanh nghiệp lập và chịu trách nhiệm về tính chính xác của danh mục hàng hóa đăng ký miễn thuế với cơ quan hải quan Công chức hải quan chỉ đối chiếu với quy định của pháp luật về địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư… để tiếp nhận hoặc không tiếp nhận Tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp cũng khai báo và chịu trách nhiệm về hàng hóa được ưu đãi,

ưu đãi đặc biệt, số thuế phải nộp, được ân hạn hay miễn thuế

Trang 31

Bên cạnh đó, người nộp thuế phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, đồng thời chịu sự giám sát, kiểm tra một cách chặt chẽ từ cơ quan hải quan cũng như các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan Do vậy, nhiều doanh nghiệp thường cho rằng có sự phiền hà, sách nhiễu từ công chức hải quan Ngược lại, lợi dụng chính sách ưu đãi, một số doanh nghiệp đã có hành vi buôn lậu, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế như các vụ hàng điện tử Tân Trường Sanh; nguyên liệu thuốc lá Thiên Lợi Hòa hay một loạt vụ xuất khống hàng hóa, mua bán hóa đơn để chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng hàng nghìn tỉ đồng đầu những năm 2000…

- Quyền ký hợp đồng với đại lý hải quan

Hiện tại, thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu doanh nghiệp vẫn được quyền lựa chọn giữa tự thực hiện hoặc thông qua đại lý hải quan Ưu điểm của đại lý hải quan là họ thường nắm vững pháp luật hải quan, pháp luật thuế, đồng thời có kỹ năng giải quyết các vấn đề phát sinh một cách hiệu quả Tuy nhiên, lựa chọn đại lý hải quan doanh nghiệp phải mất phí, và đôi khi không kiểm soát được vụ việc Với năng lực hiện tại, đại lý hải quan trong mối quan hệ với chủ hàng xuất nhập khẩu vẫn chủ yếu thực hiện cơ chế ủy quyền từng phần Có nghĩa là, họ được yêu cầu làm một hoặc một số phần việc trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa Chính vì vậy, quyền hạn cũng như trách nhiệm của đại lý hải quan khi có tranh chấp liên quan là rất hạn chế

Ở Nhật Bản, khi có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, doanh nghiệp bắt buộc phải ký hợp đồng với đại lý thuế để thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế cho lô hàng đó[30] Với tư cách trung gian và tính chất nghề dịch vụ, đại lý thuế

sẽ hỗ trợ người nộp thuế thực hiện chế độ khai thuế chính xác, đồng thời giúp cơ quan hải quan giảm bớt khối lượng công việc tuyên truyền, giải đáp chính sách thuế

- Quyền nhận văn bản kết luận, yêu cầu giải thích nội dung kết luận kiểm

tra thuế, thanh tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế

Thực hiện cơ chế hành thu, khi làm thủ tục hải quan doanh nghiệp được tạo mọi điều kiện thuận lợi để có thể giải phóng nhanh hàng hóa, phục vụ nhu

Trang 32

cầu sản xuất, kinh doanh Cho nên, đánh giá sự tuân thủ bằng nghiệp vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của cơ quan hải quan là yêu cầu bắt buộc

Khi phát hiện doanh nghiệp có hành vi vi phạm, cơ quan hải quan sẽ lập biên bản, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc thực hiện các thủ tục để

xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Song, nếu chưa phát hiện hành vi vi phạm, thường thì doanh nghiệp sẽ không nhận được sự đánh giá chấp hành tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế Từ đó, hệ quả là cùng một nội dung, đôi khi nhiều bộ phận nghiệp vụ của cơ quan hải quan có thể yêu cầu giải trình, mà doanh nghiệp thì không có bằng chứng về vụ việc đã được xem xét

- Quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan hải quan, công chức hải

quan gây ra theo quy định của pháp luật

Người nộp thuế có thể được bồi thường khi bị thiệt hại trong các trường hợp sau: quyết định hoàn thuế, ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật;

xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế; xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định; áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không đảm bảo căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật hải quan, pháp luật thuế

- Quyền yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế

Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế là tiền đề để người nộp thuế có thể được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như ân hạn thuế, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa… Pháp luật quản lý thuế quy định người nộp thuế có quyền yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Trên thực tế, có những trường hợp người nộp thuế đã thanh toán đủ, đúng hạn số thuế phải nộp, nhưng

do lỗi truyền nhận thông tin giữa Kho bạc và Hải quan không kịp thời, hay do quy đổi tỷ giá thiếu chính xác, doanh nghiệp đã bị hệ thống tự động xác định không chấp hành tốt pháp luật

- Quyền khiếu nại, khởi kiện

Người nộp thuế có quyền khiếu nại với cơ quan hải quan về việc xem xét lại quyết định hành chính của cơ quan hải quan, hành vi hành chính của công

Trang 33

chức hải quan khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Quan hệ pháp luật thuế về bản chất là quan hệ pháp luật hành chính, do vậy, khi phát sinh tranh chấp, người nộp thuế có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

- Quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của công chức hải quan và tổ chức, cá nhân khác

Pháp luật đã có quy định về các biện pháp bảo vệ người tố cáo Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp thường xuyên làm thủ tục hải quan tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của công chức hải quan Ngược lại, một số doanh nghiệp vì thiếu hiểu biết hoặc vì động cơ nào đó lại có hành vi cố ý tố cáo sai sự thật

Nhìn chung, pháp luật quản lý thuế đã hiện thực hóa và quy định rõ ràng các quyền cơ bản của người nộp thuế trong quá trình làm thủ tục thuế liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu Tuy vậy, còn một số quyền mà khi hội nhập sâu nền kinh tế quốc tế, theo thông lệ người nộp thuế phải có nhưng chưa được pháp luật quản lý thuế đề cập như: quyền được áp dụng nguyên tắc có lợi khi Nhà nước thay đổi chính sách thuế gây thiệt hại cho doanh nghiệp; giảm trách nhiệm pháp lý trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm do thực hiện hành vi đã được hướng dẫn bởi cơ quan hải quan, công chức hải quan…

2.1.1.2 Nghĩa vụ của người nộp thuế

Bên cạnh việc được hưởng quyền, người nộp thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hải quan, pháp luật thuế Các nghĩa vụ đó được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp khuyến khích tuân thủ hoặc cưỡng chế Nhà nước

Một số nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế[1 Điều 7]:

- Nghĩa vụ khai thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính

xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn

Hồ sơ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hồ sơ hải quan Pháp luật hải quan và pháp luật quản lý thuế xác định rõ khai thuế vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người nộp thuế khi họ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung khai thuế

Trang 34

Theo số liệu thống kê vi phạm của Ngành Hải quan những năm gần đây, khi hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu đã tương đối đầy

đủ, đồng bộ; năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và cơ quan hải quan nói riêng đã được tăng cường, vi phạm của người nộp thuế chủ yếu là khai báo sai về tên hàng, mã số, số lượng, trị giá, xuất xứ , tức là khai báo sai các căn cứ tính thuế nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn[18]

- Nghĩa vụ nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn

Việc khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ hải quan đúng hạn chỉ thực sự có ý nghĩa khi người nộp thuế nộp tiền thuế đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách nhà nước

Khác với đa số các nước trên thế giới, trong những trường hợp nhất định, doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam có thể được ân hạn thuế Tức

là, thỏa mãn những điều kiện cụ thể, người nộp thuế chưa phải nộp thuế ngay khi hàng hóa được thông quan Lợi dụng sự ưu đãi này, nhận được hàng, hết thời gian ân hạn, nhiều doanh nghiệp đã chây ỳ không nộp thuế, dẫn đến nợ đọng, thất thu thuế

- Nghĩa vụ cung cấp, giải thích chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài

liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản theo yêu cầu của cơ quan hải quan

Người nộp thuế được tự xác định căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp, các

ưu đãi thuế như miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế , cơ quan hải quan không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ nếu họ tự giác tuân thủ Phương pháp quản lý của cơ quan hải quan chuyển từ “kiểm tra trước, xử lý sau” sang “xử lý trước, kiểm tra sau” Vì vậy, người nộp thuế phải cung cấp, giải thích một cách chính xác, đầy đủ, đúng hạn tất cả những thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo yêu cầu của cơ quan hải quan

Về nguyên tắc, cơ quan hải quan phải nắm được tất cả tài khoản của người nộp thuế để kịp thời có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Người nộp thuế thường chỉ cung cấp duy nhất một số tài khoản khi đăng ký thuế với cơ quan

Trang 35

hải quan Kết quả xử lý cưỡng chế nợ thuế của ngành Hải quan cho thấy, với doanh nghiệp cố tình vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế, tài khoản này

sẽ không có số dư để cơ quan hải quan có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản

- Nghĩa vụ chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan hải

quan, công chức hải quan

Người nộp thuế có nghĩa vụ phải thực hiện các quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan hải quan, công chức hải quan theo quy định của pháp luật Chẳng hạn như quyết định ấn định thuế, quyết định xử phạt vi phạm hành chính

về hải quan trong lĩnh vực thuế

Tuy nhiên, rất khó để người nộp thuế xác định được ngay tính đúng đắn của các quyết định, thông báo, yêu cầu nêu trên, trong khi việc thực hiện có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Người nộp thuế được sử dụng quyền khiếu nại Song, giải quyết khiếu nại phải mất một khoảng thời gian nhất định, đồng nghĩa với việc cơ hội tốt của doanh nghiệp đã bị bỏ lỡ Ví dụ, một doanh nghiệp nhập khẩu ô tô bị cưỡng chế nhầm, dẫn đến không mở được tờ khai hải quan Khi có giải tỏa cưỡng chế thì cũng là thời điểm tăng thuế tiêu thụ đặc biệt Đương nhiên, giá bán ra của doanh nghiệp này phải cao hơn các doanh nghiệp mở được tờ khai hải quan trước đó Hệ quả

là hàng hóa không bán được, chi phí lưu kho bãi, lãi suất ngân hàng ngày càng cao

- Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật

trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định

Nghĩa vụ này nhằm đảm bảo tiền thuế phải được nộp vào ngân sách nhà nước bởi người nộp thuế, cho dù người đại diện của họ có hành vi vượt quá phạm vi đại diện, phạm vi ủy quyền hay không Vụ buôn lậu điện thoại di động của Công ty Đông Nam Association là một ví dụ Hà Kiều Anh - Giám đốc công

ty đã ký khống rất nhiều tờ khai hải quan để Nguyễn Gia Thiều hợp thức hóa các

lô hàng buôn lậu Vụ việc đã bị xử lý hình sự, Công ty Đông Nam Association vẫn phải chịu trách nhiệm về số thuế bị truy thu

Trang 36

Qua phân tích nêu trên, có thể thấy pháp luật quản lý thuế đã xác lập và xây dựng quyền của người nộp thuế theo xu hướng tăng Cụ thể:

- Tăng cơ hội bảo vệ lợi ích cho người nộp thuế bằng cách tự mình thực hiện hoặc có sự trợ giúp, nhất là với quyết định của cơ quan hải quan mà người nộp thuế cho rằng quyền lợi của họ có thể bị xâm phạm

- Được hưởng dịch vụ thuế có chất lượng cao hơn do sự chủ động cung cấp của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hải quan nói riêng, người nộp thuế không chỉ tiết kiệm được chi phí, thời gian, mà còn có thể được giảm phiền

- Với cơ chế tự chịu trách nhiệm, hình thức và mức độ xử lý cũng được thiết kế theo xu hướng tăng khi người nộp thuế có hành vi vi phạm

2.1.2 Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan

2.1.2.1 Trách nhiệm của cơ quan hải quan

Luật Quản lý thuế năm 2006 đã xây dựng quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế tương ứng với trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế nói chung và cơ quan hải quan nói riêng Sự phân định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan là trong mối quan hệ với người nộp thuế Thực chất, cả trách nhiệm và quyền hạn đều thể hiện nghĩa vụ và phạm vi thẩm quyền của cơ quan hải quan trong công tác quản lý thuế

Liên quan đến quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan hải quan có trách nhiệm như sau[1 Điều 8]:

Trang 37

- Trách nhiệm tổ chức thực hiện thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,

nhập khẩu

Các loại thuế mà cơ quan hải quan đang quản lý thu là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Sự khác biệt với thuế nội địa không chỉ ở cơ quan quản lý thuế,

mà còn thể hiện ở những khía cạnh khác như thời hạn tính thuế, thủ tục kiểm tra, giám định hàng hóa, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế bằng cam kết bảo lãnh của ngân hàng thương mại

- Trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công

khai các thủ tục về thuế

Đây là trách nhiệm cơ bản của cơ quan hải quan khi triển khai phương pháp quản lý thuế mới Theo cơ chế tự khai - tự nộp, người nộp thuế chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ, cơ quan hải quan không làm thay công việc của người nộp thuế[24] Nhằm hỗ trợ người nộp thuế, đồng thời có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình nếu khơi dậy được tính tự giác của người nộp thuế, cơ quan hải quan phải chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế một cách thường xuyên, liên tục, định kỳ hay bất cứ lúc nào nhận được yêu cầu của người nộp thuế

Với cách làm cũ, công tác này đôi khi chỉ dừng lại ở việc tập hợp đại diện doanh nghiệp để giới thiệu văn bản luật về thuế, chưa xuất phát từ sự thấu hiểu, chia sẻ, xử lý linh hoạt các vướng mắc, khó khăn của người nộp thuế

Thủ tục hành chính thuế trong lĩnh vực hải quan phải được xây dựng một cách đơn giản, dễ hiểu, đầy đủ, minh bạch, khả thi, công bố công khai để người nộp thuế biết, hiểu rõ và thực hiện Đây cũng là biện pháp để doanh nghiệp và cộng đồng xã hội giám sát hoạt động của công chức hải quan Sự trúc trắc trong các câu chữ, nội dung của thủ tục hành chính có thể tạo cơ hội cho nhũng nhiễu, tiêu cực phát sinh

- Trách nhiệm giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định

nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế

Để thực hiện trách nhiệm này, cơ quan hải quan phải xây dựng và quản lý thông tin người nộp thuế một các đầy đủ, chính xác để phân tích, đánh giá mức

Trang 38

độ tuân thủ phục vụ công tác quản lý thuế; xây dựng cổng thông tin điện tử tư vấn thuế; triển khai tốt quy trình hỗ trợ thông tin người nộp thuế

Hiện tại, chi cục hải quan nơi doanh nghiệp dự định làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phải tiếp nhận yêu cầu và tiến hành phân loại trước để người nộp thuế có cơ sở xác định chính xác mã số, thuế suất hàng hóa dựa trên các tài liệu, thông tin do chính doanh nghiệp cung cấp Cơ quan hải quan cũng phải tạo điều kiện để người nộp thuế xem hàng hóa trước khi mở tờ khai hải quan để phục vụ việc khai thuế

Có những thời điểm, việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho người nộp thuế được thực hiện chưa rõ nét, thông tin hỗ trợ độ tin cậy không cao Cơ quan hải quan thường chỉ trả lời khi doanh nghiệp hỏi, chứ chưa chủ động cung cấp thông tin[20]

- Trách nhiệm giữ bí mật thông tin của người nộp thuế

Cơ quan hải quan, công chức hải quan, người đã từng là công chức hải quan phải giữ bí mật thông tin của người nộp thuế Pháp luật quản lý thuế cũng quy định các trường hợp cơ quan hải quan phải cung cấp hay được công khai thông tin của người nộp thuế Ngoài những trường hợp này, nếu khai thác thông tin không đúng quy định của pháp luật gây thiệt hại cho người nộp thuế, cơ quan hải quan có thể phải bồi thường

Thông tin của người nộp thuế được tập trung vào hệ thống dữ liệu của ngành Hải quan, bao gồm thông tin doanh nghiệp và lịch sử chấp hành pháp luật hải quan; thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu; thông tin thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Về nguyên tắc, việc phân quyền cập nhật cũng như kết xuất dữ liệu tại cơ quan hải quan được quy định hết sức chặt chẽ Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế là trách nhiệm của cơ quan hải quan, đồng thời cũng là giải pháp để hạn chế sự lợi dụng của doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế Đã có trường hợp công chức hải quan bị phát hiện cung cấp thông tin trên hệ thống quản lý giá tính thuế cho doanh nghiệp Sau khi biết được mức giá hàng hóa cùng loại thấp nhất, yên tâm vì không bị so sánh khi tham vấn, doanh nghiệp đã làm giả chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan để trốn thuế Doanh

Trang 39

nghiệp bị vi phạm không biết, nhưng xét đến cùng họ đã phần nào bị ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh

Ngược lại, nếu thông tin của người nộp thuế không chính xác nhưng được cập nhật vào hệ thống và khai thác phục vụ công tác quản lý thuế, có thể làm thay đổi chất lượng các phần việc nghiệp vụ của cơ quan hải quan, chẳng hạn như dữ liệu giá tính thuế, dữ liệu quản lý rủi ro

- Trách nhiệm thực hiện ưu đãi về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

cho người nộp thuế

Được hưởng ưu đãi về thuế là quyền của người nộp thuế, tương ứng là trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra điều kiện được hưởng quyền của người nộp thuế, giải quyết miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, bù trừ thuế, hoàn thuế liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật

Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác cải cách hành chính thuế trong lĩnh vực hải quan, nhằm loại bỏ cơ chế xin - cho, tránh sự tùy tiện trong quá trình thực thi của cả người nộp thuế và công chức hải quan

- Trách nhiệm xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế

Như đã đề cập ở mục 2.1.1.1, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là điều kiện để người nộp thuế được hưởng ưu đãi trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, hay để người nộp thuế thực hiện một số thủ tục hành chính khác, chẳng hạn như thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động Chính vì vậy, khi người nộp thuế có yêu cầu, ví dụ xác nhận đã nộp đủ thuế cho các lô hàng cụ thể, không bị cưỡng chế thuế, không còn nợ thuế cơ quan hải quan có trách nhiệm xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế

- Trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo

Việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế được cơ quan hải quan thực hiện theo các quy định của pháp luật quản lý thuế, pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo Khi giải quyết khiếu nại, cơ quan hải quan cũng có cơ hội để xem xét lại tính đúng đắn đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hải quan và công chức hải quan Đồng thời, để hạn chế việc khiếu nại, cơ quan hải quan phải thực

Trang 40

hiện các biện pháp để vừa đảm bảo tính đúng đắn về nội dung và chặt chẽ về hình thức khi giải quyết các thủ tục hành chính thuế

- Trách nhiệm giao kết luận, biên bản kiểm tra, thanh tra thuế cho đối

tượng kiểm tra, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu

Quy định này thể hiện tính dân chủ hơn trong quan hệ thu - nộp thuế giữa người nộp thuế và cơ quan hải quan liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu - quan hệ vốn dĩ mang bản chất của quan hệ hành chính Bên cạnh đó, nó cũng tạo

ra cơ chế để hạn chế sự tùy tiện và đảm bảo tính chịu trách nhiệm trong quá trình kiểm tra, thanh tra của công chức hải quan Chẳng hạn, kết luận thanh tra định

kỳ sẽ là bằng chứng để người nộp thuế là doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, khiếu nại quyết định thanh tra định kỳ tiếp theo của cơ quan hải quan, nếu khoảng cách giữa hai lần thanh tra dưới một năm

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế

Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan nếu không đúng quy định của pháp luật, đồng thời gây thiệt hại về mặt vật chất cho người nộp thuế, thì cơ quan hải quan có trách nhiệm bồi thường cho người nộp thuế

Cơ quan hải quan thực hiện bồi thường có trách nhiệm yêu cầu công chức hải quan có hành vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người nộp thuế hoàn trả khoản tiền mà cơ quan hải quan đã bồi thường cho người nộp thuế Mặc dù mức

độ hoàn trả được xem xét dựa trên yếu tố lỗi, khả năng kinh tế của công chức hải quan đó, nhưng trên thực tế, chưa có một vụ việc nào công chức hải quan hoàn trả khoản tiền mà cơ quan hải quan đã bồi thường cho người nộp thuế Bởi lẽ, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tổng số tiền thuế thường có giá trị rất lớn, với mức thu nhập như hiện tại, việc yêu cầu công chức hải quan hoàn trả lại tiền bồi thường là không khả thi Thêm nữa, đây cũng được xem là rào cản để công chức hải quan đưa ra các quyết định trong những trường hợp nhạy cảm, dẫn đến các khả năng đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, chuyển vụ việc thuộc thẩm quyền lên cấp trên, đặc biệt là tâm lý xuôi theo lập luận của người nộp thuế để tránh

Ngày đăng: 10/07/2015, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
14. Học viện Tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết thuế, NXB Tài chính 15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam,NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết thuế," NXB Tài chính 15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), "Giáo trình Luật thuế Việt Nam
Tác giả: Học viện Tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết thuế, NXB Tài chính 15. Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Tài chính 15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008)
Năm: 2008
17. Tạp chí Thuế nhà nước (2007), những điều cần biết về Luật Quản lý thuế, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: những điều cần biết về Luật Quản lý thuế
Tác giả: Tạp chí Thuế nhà nước
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2007
20. Diễn đàn doanh nghiệp (2007), “Thực hiện Luật Quản lý thuế: Đề cao quyền của doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Luật Quản lý thuế: Đề cao quyền của doanh nghiệp
Tác giả: Diễn đàn doanh nghiệp
Năm: 2007
23. TS. Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), “Luật quản lý thuế: những vấn đề cần bàn thêm”, http://news.VIBOnline.com.vn/Home/ykienchuyengia/200812/3351/aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế: những vấn đề cần bàn thêm
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thương Huyền
Năm: 2008
24. Joseph Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học công cộng
Tác giả: Joseph Stiglitz
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
30. Customs and Tarrif Bureau - Ministry of Finance of Japan (2000), Japanese Laws concerning Customs - 1 st edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japanese Laws concerning Customs - 1"st
Tác giả: Customs and Tarrif Bureau - Ministry of Finance of Japan
Năm: 2000
2. Luật Hải quan (2001) và Luật sửa đổi. bổ sung một số điều của Luật Hải quan (2005) Khác
4. Luật Khiếu nại, Tố cáo (1998) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo (2004, 2005) Khác
5. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (2002) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (2007, 2008) Khác
6. Nghị định 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ 7. Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ Khác
8. Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ và Thông tƣ liên tịch số 03/2006/TTLT-BTM-BGTVT-BTC-BCA ngày 31/03/2006 của các Bộ: Thương mại, Giao thông Vận tải, Tài chính Và Công an Khác
9. Quyết định 30/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ 10. Thông tƣ 62/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài Chính Khác
16. NXB Chính trị quốc gia (2003), Luật Hải quan một số nước Khác
18. Tổng cục Hải quan (2005-2008), Báo cáo tổng kết công tác của ngành Hải quan Khác
19. Tổng cục Thuế (2009), Báo cáo khảo sát cải cách thuế ở Vương quốc Anh Khác
29. ASEAN-US technical Assistance and Training Facility (2009), Document on Bulk cash smuggling and Trade based money laundering Khác
31. Customs and Tarrif Bureau - Ministry of Finance of Japan (2000), Customs administration in Japan Khác
32. Customs and Tarrif Bureau - Ministry of Finance of Japan (2000), Law concerning special Customs procedures using electronic data processing System Khác
33. World Bank (2006), Reforming the regulatory procedures for import and export: Guide for Practitioners Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ VIỆT NAM HIỆN NAY - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ VIỆT NAM HIỆN NAY (Trang 9)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT   QUY TRÌNH THỦ TỤC KHAI THUẾ, ẤN ĐỊNH THUẾ, NỘP THUẾ - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC KHAI THUẾ, ẤN ĐỊNH THUẾ, NỘP THUẾ (Trang 46)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC HOÀN THUẾ - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC HOÀN THUẾ (Trang 50)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC MIỄN THUẾ, GIẢM THUẾ - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC MIỄN THUẾ, GIẢM THUẾ (Trang 51)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC   KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI TRỤ SỞ DOANH NGHIỆP - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI TRỤ SỞ DOANH NGHIỆP (Trang 54)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT   QUY TRÌNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THUẾ - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THUẾ (Trang 58)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI - Pháp luật quản lý thuế và vấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan  Luận văn ThS. Luật
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT QUY TRÌNH THỦ TỤC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w