Vì vậy khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ đồng thời để bảo toàn khối tài sản của con nợ tránh tình trạng tẩu tán tài sản nhằm trốn nợ, hoặc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HỒNG ÁNH
CÁC HÀNH VI PHÁP LÝ VÔ HIỆU
THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC
Tra
ng
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁ SẢN
5
1.1 Sự cần thiết quy định các hành vi pháp lý vô hiệu
trong pháp luật về phá sản
5
1.1.1 Khái luận về phá sản nhìn từ góc độ sự cần thiết
phải vô hiệu hóa một số hành vi pháp lý
1.1.2 Hành vi của con nợ lâm vào tình trạng phá sản cần
phải vô hiệu
9
1.1.3 Ý nghĩa pháp lý của việc vô hiệu một số hành vi
pháp lý trong pháp luật về phá sản
10
1.2 Nguồn gốc và nội dung pháp lý chủ yếu của việc
tuyên vô hiệu một số hành vi pháp lý trong pháp luật về phá sản
12
Trang 31.3 Khái niệm về hành vi pháp lý vô hiệu 13 1.3.1 Khái niệm hành vi pháp lý 13 1.3.2 Điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý 15 1.3.3 Hành vi pháp lý vô hiệu 17
1.4 Các quy định về hành vi pháp lý vô hiệu trong
Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam
20
1.4.1 Mô tả và diễn giải các qui định 20 1.4.2 Bình luận các qui định 29 1.4.2.1 Phân loại các hành vi pháp lý bị vô hiệu trong pháp
luật Việt Nam về phá sản
29
1.4.2
2
Tuyên bố hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật
về phá sản và hậu quả pháp lý của nó
VIỆT NAM VỀ CÁC HÀNH VI PHÁP LÝ VÔ HIỆU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁ SẢN VÀ CÁC KIẾN NGHỊ
39
2.1 Thực trạng giải quyết phá sản và tuyên bố các
hành vi pháp lý vô hiệu liên quan đến phá sản
39
2.2 Những hạn chế, vướng mắc của quy phạm pháp
luật phá sản về các hành vi pháp lý vô hiệu
46
2.2.1 Vướng mắc trong việc quy định về thời gian thực
hiện các hành vi pháp lý vô hiệu
47
2.2.2 Bất cập trong quy định về chủ thể có quyền yêu
cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
57
Trang 42.2.3 Vướng mắc về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố
giao dịch vô hiệu
59
2.3.1 Định hướng sửa đổi, bổ sung quy định về thời
gian thực hiện hành vi pháp lý vô hiệu
73
2.3.2 Định hướng sửa đổi quy định đối tượng có quyền
yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
76
2.3.3 Định hướng sửa đổi, bổ sung quy định về hậu
quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch vô hiệu
77
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phá sản hiện nay đang là vấn đề có tính thời sự bởi cuộc đại suy thoái kinh tế trên toàn cầu, lạm phát triền miên và khủng hoảng nợ công… có tác động rất xấu tới hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng Rất nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh nợ nần chồng chất và không
có khả năng trả nợ đến hạn mà trong khi đó việc tìm lối ra khỏi tình trạng đó
là vô cùng khó khăn Đồng hành với tình trạng này là trốn nợ, tẩu tán tài sản Bối cảnh như vậy có thể kéo theo sự đổ bể hàng loạt doanh nghiệp bởi sự đan xen nợ nần trong làm ăn kinh tế Trong khi đó pháp luật về phá sản nói chung đang còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đời sống, chưa thật sự là hành lang pháp lý an toàn, khả thi Mặt khác, thực tiễn thi hành pháp luật cũng còn rất nhiều vấn đề phải bàn
Luật Phá sản năm 2004 đã có nhiều đổi mới trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, có nhiều qui định nhằm kiểm soát các hành vi tẩu tán tài sản Chẳng hạn: Điều 43, Luật Phá sản năm 2004 đã cho phép tuyên một số hành vi pháp lý do con nợ tiến hành trước khi mở thủ tục phá sản là vô hiệu Tuy nhiên các qui định này cùng với hàng loạt các qui định khác của Luật Phá sản năm 2004 còn nhiều điểm chưa hợp lý đủ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ nợ và bảo đảm cho các mục tiêu của luật phá sản, chưa kể đến sự mâu thuẫn và thiếu đồng bộ với các qui định của các đạo luật khác Hơn nữa thực tiễn áp dụng luật còn có nhiều điểm bất cập
Phá sản và pháp luật về phá sản ở một mặt nào đó có ý nghĩa tích cực đối với nền kinh tế, góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn Pháp luật phá sản có thể được xem là công cụ răn đe các thương nhân, buộc họ phải năng động, sáng tạo, nhưng cũng phải thận trọng trong khi hành nghề Thái độ hành nghề đó giúp các thương nhân đưa ra những quyết sách phù hợp làm tiền đề cho công việc
Trang 6kinh doanh có hiệu quả Sự làm ăn có hiệu quả của từng thương nhân riêng lẻ đương nhiên sẽ kéo theo sự làm ăn có hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung Thông qua thủ tục phá sản, những thương nhân thua lỗ triền miên, nợ nần chồng chất đều phải được xử lý, đưa ra khỏi thương trường Điều đó cho thấy,
thủ tục phá sản còn nhằm mục đích ứng dụng cho các "sự cố" của nền kinh tế
Nó không chỉ nhằm mục đích đào thải các thương nhân kinh doanh yếu kém
mà còn nhằm mục đích khôi phục lại sự cân bằng của thị trường Như vậy, thủ tục phá sản đã góp phần tạo ra môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh - một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của nền kinh tế Trong vấn đề phá sản có thể nhận thấy, có một số hành vi gây thiệt hại đến quyền lợi của chủ nợ, của người lao động, các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan, của tập thể, của nhà nước bởi các hành vi đó nhằm mục đích không trung thực là làm giảm khối tài sản của mình để trốn trách trách nhiệm trả nợ Cho nên pháp luật cần quy định việc vô hiệu các hành vi đó một cách đầy đủ và thỏa đáng
Tuy nhiên như trên đã nói, sự chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của pháp luật về phá sản nói chung và về vô hiệu các hành vi tiêu cực trong phá sản nói riêng cần phải được nghiên cứu và bổ khuyết Vì vậy trong khuôn
khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, tôi xin lựa chọn "Các hành vi pháp lý
vô hiệu theo pháp luật phá sản ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam trong thời gian qua, pháp luật về phá sản luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều người Có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản nói chung và cũng không ít các công trình nghiên cứu các chế định cụ thể của luật phá sản nói riêng Song đối với các hành vi pháp lý vô hiệu trong luật phá sản ở Việt Nam thì chưa có một công trình nào ở mức độ thạc sĩ và tiến sĩ nghiên cứu một cách có hệ thống riêng biệt Mặt khác thực tiễn các vụ việc về vấn đề này còn rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng phần vì pháp luật chưa hợp lý, đồng bộ, phần vì còn thiếu kiến thức lý luận và
Trang 7thực tiễn Có một số công trình nghiên cứu đề cập một cách không hệ thống tới vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu về phá sản, những vấn đề lý luận, quy chế pháp
lý chung điều chỉnh các hành vi pháp lý của thương nhân liên quan đến phá sản bị vô hiệu hóa, nhận diện các giao dịch vô hiệu, vấn đề xử lý các hành vi pháp lý vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó theo pháp luật phá sản Việt Nam;
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về các hành vi
pháp lý vô hiệu liên quan đến phá sản, phân tích những ý nghĩa pháp lý đồng thời chỉ ra những hạn chế, vướng mắc cần tháo gỡ trong quá trình thực hiện các quy định hiện hành điều chỉnh các hành vi pháp lý bị vô hiệu hóa;
Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quy
định pháp luật về các hành vi pháp lý vô hiệu liên quan đến phá sản theo pháp luật Việt Nam về phá sản, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy phạm pháp luật khác có liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chủ yếu về hành
vi pháp lý vô hiệu liên quan đến phá sản; phân tích thực trạng những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật về vấn đề đó để đưa ra một số kiến nghị về lập pháp và tư pháp
Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu việc áp dụng các qui định pháp luật hiện hành để tuyên các hành vi pháp lý vô hiệu liên quan tới phá sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu có nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phân tích qui phạm, mô hình hóa và điển hình hóa các quan hệ xã hội, phương pháp
Trang 8phân tích tình huống, thống kê, tổng hợp các kiến thức từ pháp luật thực định
và phân tích thực tiễn để nhận thức và đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp như: so sánh pháp luật, lịch sử, phương pháp đối chiếu, diễn giải, quy nạp, xã hội học pháp luật…
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Tổng quát về hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật Việt
Nam về phá sản
Chương 2: Thi hành các qui định của pháp luật Việt Nam về các hành
vi pháp lý vô hiệu liên quan đến phá sản và các kiến nghị
Trang 91.1.1.1 Khái niệm phá sản và pháp luật phá sản
Khi tham gia kinh doanh, mọi thương nhân đều có chung một mục đích là tối đa hóa lợi nhuận cho nên cạnh tranh là tất yếu, và trong quy luật cạnh tranh khốc liệt ấy thì tất có người được, kẻ mất Quy luật thị trường cũng
ẩn chứa đầy rủi ro khó lường, mặc dù mọi thương nhân đều cố gắng hạn chế
thấp nhất rủi ro và thua lỗ nhưng vấn đề phá sản ắt xảy ra, đó là hiện tượng
khách quan, phản ánh sự vận động và phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường Phá sản có thể nói là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường
Nó không xuất hiện trong nền kinh tế kế hoạch hóa bởi ở đó có sự thủ tiêu
cạnh tranh PGS TS Dương Đăng Huệ nhận định "Phá sản đã có từ lâu,
nhưng với tư cách là một hiện tượng phổ biến thì nó chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường" [9, tr 7] Cạnh tranh là nhân tố gần như duy nhất sản sinh
ra hiện tượng phá sản Nó loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn yếu kém ra khỏi đời sống kinh doanh Một mặt phá sản gây xáo trộn nhất định cho những người có liên quan (như các chủ nợ, bản thân con nợ, người lao động, khách hàng…) Nhưng mặt khác phá sản giúp ""cơ cấu lại" nền kinh tế, góp phần duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh" [29, tr 333] Có thể nói phá sản vừa có mặt tích cực, lại vừa có mặt tiêu cực
Trang 10Ở mặt có lợi của phá sản, người ta thiết lập các qui định tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở thủ tục phá sản Nhưng ở mặt bất lợi của phá sản, người
ta phải thiết lập các qui định để loại bỏ hay hạn chế sự ảnh hưởng của phá sản đến những người khác và cộng đồng Chính vì vậy, để cải thiện môi trường kinh doanh lành mạnh, nhà nước cần thiết ban hành quy chế pháp lý đặc biệt nhằm can thiệp, kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản nhằm tạo ra hành lang an toàn, thuận lợi, có hiệu lực thực tế, thực sự là công cụ hữu hiệu để giải quyết mối quan hệ nợ nần đặc biệt giữa chủ nợ và con nợ, đồng thời để đảm bảo sự công bằng của các chủ nợ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ thể khác có liên quan cũng như của chính con nợ và những hệ quả pháp lý của nó Vô hiệu hóa các hành vi pháp lý mà doanh nghiệp bị phá sản tham gia là một điển hình của
sự cố gắng của pháp luật đối với việc loại bỏ hay hạn chế tác động xấu của doanh nghiệp bị phá sản đến những người khác
Theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ
nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn Theo Từ điển
tiếng Việt, "phá sản" là "lâm vào tình trạng tài sản không còn gì và thường là
vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại" [32, tr 762]; "vỡ nợ" là lâm vào tình
trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ
Thuật ngữ phá sản đã được "hình thành, bắt nguồn từ chữ "ruin" trong tiếng Latin - có nghĩa là sự khánh tận- tức là mất khả năng thanh toán" [24, tr 4] Như vậy, khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp Biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối này là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn (insolvency) Việc tiếp nhận hiện tượng này có sự biến đổi theo thời gian Trước hết nó áp dụng cho sự mất khả năng trả nợ của thương nhân Nên thông thường nó được xem là một qui
chế gắn với đời sống thương mại Thuật ngữ "phá sản" tuy đã được sử dụng
rộng rãi trong ngôn ngữ hàng ngày và trong khoa học pháp lý song cho đến
Trang 11nay vẫn chưa được chính thức giải thích trong các văn bản pháp luật về phá
sản ở nước ta Thay vào đó, thuật ngữ "tình trạng phá sản" được sử dụng và
giải thích Theo khuynh hướng này, Điều 3, Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam định nghĩa: "Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản" [19]
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, "tỉ lệ rủi ro của các doanh nghiệp
là 1/4, có nghĩa cứ đầu tư thành lập 100 doanh nghiệp thì sẽ có khoảng 25 doanh nghiệp bị phá sản, thậm chí bị phá sản ngay từ khi mới thành lập" [29, tr 333]
Để kiểm soát vấn đề phá sản và phát huy những tích cực của nó, đồng thời kiềm chế mặt tiêu cực của nó Tại khoản 1, Điều 5, Luật phá sản Việt Nam qui định bốn thủ tục bao gồm:
a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;
c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản [19]
Vậy có thể nói pháp luật về phá sản là tập hợp các quy định pháp luật
về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tiến hành chấm dứt hoạt động trên thực tế, và rút khỏi thương trường một cách có trật
tự Xét ở khía cạnh khác, pháp luật về phá sản là pháp luật tổ chức việc đòi nợ tập thể của các chủ nợ đối với con nợ
Việc đòi nợ như vậy có các đặc điểm sau:
Trang 12PGS TS Dương Đăng Huệ cho rằng "thủ tục phá sản- một thủ tục pháp lý có tính cách tổng hợp" [9, tr 15] Và dĩ nhiên trong đó bao gồm cả các quy định liên quan tới vô hiệu hóa một số hành vi pháp lý mà con nợ tham gia
1.1.1.2 Các chủ thể chủ yếu của luật phá sản liên quan tới sự vô hiệu các hành vi pháp lý trong pháp luật về phá sản
Trong luật phá sản thông thường xuất hiện các chủ thể sau: Con nợ, chủ nợ, hội nghị chủ nợ, tòa án và quản tài viên Con nợ là chủ thể của pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà đã bị tòa án quyết định mở thủ tục phá sản Chủ nợ là chủ thể của pháp luật phá sản là các chủ nợ của con nợ đã bị mở thủ tục phá sản và đã có tên trong danh sách chủ nợ Hội nghị chủ nợ là một tập hợp các chủ nợ đã được lập ra theo qui định của pháp luật để tiến hành các thủ tục theo qui định của pháp luật phá sản Quản tài viên là một thuật ngữ được sử dụng trong luật phá sản dưới các chế độ cũ Hiện nay theo pháp luật Việt Nam thay thế định chế quản tài viên bằng một định chế khác được gọi là Tổ quản
lý, thanh lý tài sản mà tổ này do tòa án ra quyết định thành lập đồng thời với việc quyết định mở thủ tục phá sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản có chức năng tương tự như định chế cũ nhưng mang nhiều khiếm khuyết, bởi bản thân nó không phải là một thể nhân, mà cũng không phải là pháp nhân, nhưng lại có rất nhiều quyền và nghĩa vụ
Đối với các hình thức công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn (như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn), và hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, thì kể từ thời điểm bị tuyên bố phá sản, các thành viên của các doanh nghiệp này thoát khỏi gánh nặng nợ nần đối với các chủ nợ có liên quan dù còn nợ hay không Nhưng đối với các loại hình công ty có chế độ trách nhiệm
vô hạn (như công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty hợp vốn cổ phần) và doanh nghiệp tư nhân, thì gánh nặng nợ nần vẫn theo đuổi các thành viên của nó theo các qui chế được thiết lập bởi pháp luật phá sản của từng quốc gia Do vậy chủ thể của luật phá sản không thể không kể tới các thành
Trang 13viên chịu trách nhiệm vô hạn của các hình thức công ty nói trên và chủ doanh nghiệp tư nhân
Các loại chủ thể này có các quyền và nghĩa vụ khác nhau do vị thế của
họ tạo ra Tuy nhiên đề tài luận văn này không đi sâu vào phân tích các loại chủ thể này mà chỉ đề cập chủ yếu tới con nợ và Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản liên quan tới vấn đề vô hiệu hóa các hành vi pháp lý trong phá sản
Từ xưa tới nay đa phần con nợ muốn tìm cách trốn tránh trách nhiệm trả nợ Cách thức chủ yếu của việc trốn tránh trách nhiệm trả nợ là tẩu tán tài sản bằng nhiều thủ đoạn khác nhau Trong khi đó Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản có trách nhiệm luật định là thay mặt cho các chủ nợ để kiểm soát con
nợ Vì vậy con nợ lâm vào tình trạng phá sản và Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản là hai chủ thể chủ yếu cần phải đề cập tới ở đây
1.1.2 Hành vi của con nợ lâm vào tình trạng phá sản cần phải vô hiệu
Trên thực tế, không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thực hiện các hành vi nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn nợ hoặc để trốn tránh trách nhiệm trả nợ đối với nhà nước, các tổ chức, cá nhân Thậm chí có doanh nghiệp ngay từ khi thành lập, hay trước khi lâm vào tình trạng phá sản đã thực hiện các hành vi tẩu tán tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của các chủ
nợ Các hành vi này thực sự gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh nói riêng và trật tự xã hội nói chung Việc gây ảnh hưởng trước tiên tới kinh doanh là các nhà đầu tư không thể an tâm đầu tư phát triển sản xuất Tiếp
đó là hàng loạt các ảnh hưởng xấu khác như người lao động không có lương, Nhà nước không thu được thuế…Ngoài việc gây ảnh hưởng tiêu cực nói trên, các hành vi này còn phải xem xét dưới giác độ thu lợi bất chính của con nợ và
có thể tạo ra sự phản ứng tiêu cực của đông đảo người dân Thực tế nhiều trường hợp vỡ quỹ tín dụng là một minh chứng không thể không đề cập tới Vào thời kỳ đầu đổi mới việc vỡ quỹ tín dụng đã gây nên một tình trạng xã hội hỗn loạn Các chủ nợ xông đi đòi nợ bằng nhiều cách kể cả bạo lực Trong
Trang 14khi đó các con nợ đã tẩu tán hết tài sản và bỏ trốn Một ví dụ điển hình là vụ nước hoa Thanh Hương Các hành vi như vậy cần phải bị ngăn chặn và trật tự cần phải được lập lại Vì vậy pháp luật phá sản cần phải xem xét thấu đáo các trường hợp này
Để hạn chế và ngăn chặn các hành vi đó, pháp luật quy định một số hành vi do thương nhân lâm vào tình trạng phá sản tiến hành sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu Tuy nhiên, thực tế việc triển khai thực hiện các quy phạm pháp luật đó gặp không ít những vướng mắc, biểu hiện nhiều hạn chế và bất cập đòi hỏi cần phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ việc phá sản trên thực tế
Việc tẩu tán tài sản thông thường được tiến hành dưới các vỏ bọc pháp
lý là các giao dịch Về hình thức chúng có vẻ hợp pháp, tuy nhiên động cơ của những giao dịch này là vụ lợi bất chính đáng Vì vậy khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ đồng thời để bảo toàn khối tài sản của con nợ tránh tình trạng tẩu tán tài sản nhằm trốn nợ, hoặc thực hiện các giao dịch có lợi cho một vài chủ nợ, gây bất lợi cho các chủ nợ còn lại và để tiến tới phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, pháp luật phá sản cần thiết phải quy định một số giao dịch do thương nhân lâm vào tình trạng phá sản tiến hành có thể
bị tòa án tuyên bố vô hiệu
1.1.3 Ý nghĩa pháp lý của việc vô hiệu một số hành vi pháp lý trong pháp luật về phá sản
Trong kinh doanh, nhiều thương nhân vì nhiều lý do khác nhau mà lâm vào tình trạng phá sản, do vậy có tâm lý chung là muốn tiêu dùng tài sản của mình quá mức cần thiết, hay tìm cách cất giấu, tẩu tán tài sản để trốn tránh trách nhiệm trả nợ, giữ tài sản cho tương lai hoặc làm phúc cho những người thân quen Vì vậy pháp luật quy định về việc vô hiệu hóa một số hành
vi pháp lý trong pháp luật về phá sản sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để hợp pháp hóa việc ngăn chặn và kiểm soát các tâm lý cũng như hành vi như vậy
Trang 15Đầu thời kỳ đổi mới, có thể do thiếu kiến thức và kinh nghiệm về kinh
tế thị trường, Luật Phá sản 1993 quy định chỉ khi có bản án của tòa án, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành và đồng thời ra quyết định phong tỏa tài sản, thì doanh nghiệp mới không được tẩu tán tài sản Bởi thủ tục tố tụng diễn ra trong một khoảng thời gian khá dài, nên tạo khe hở cho con nợ bị phá sản tẩu tán tài sản bằng nhiều cách không bất hợp pháp thông qua các hành vi pháp lý Mặc dù tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thương nhân bị phá sản, nhưng không thể kiểm soát nổi việc tẩu tán tài sản, chưa kể đến việc tẩu tán tài sản còn diễn ra trước khi mở thủ tục phá sản
Vì thế việc quy định vô hiệu một số hành vi pháp lý trong Luật Phá sản là rất cần thiết và có rất nhiều mục đích:
Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ từ
việc lấy nợ trên tài sản của con nợ; ngăn chặn con nợ che giấu, tẩu tán tài sản khi rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;
Thứ hai, nhằm ngăn cản việc các chủ nợ gây áp lực đòi nợ riêng rẽ; Thứ ba, nhằm góp phần làm lành mạnh môi trường kinh doanh và giữ
gìn trật tự xã hội
Việc qui định vô hiệu một số hành vi pháp lý có ý nghĩa lớn về mặt pháp lý là tạo cơ sở pháp luật vững chắc nhằm tới các mục tiêu trên, thống nhất hóa và đơn giản hóa các qui định liên quan trong hệ thống pháp luật Qua đây có thể thấy xâu chuỗi các qui định trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau
mà khởi đầu là luật dân sự và các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thương mại chuyên biệt có thể được đem áp dụng một cách minh bạch, dễ dàng và thuận lợi Đồng thời, với các qui định như vậy, người dân nói chung và các thương nhân nói riêng rất dễ tiếp cận Các qui định này có ý nghĩa lớn khác là làm cho Luật Phá sản không bị "phá sản" như Luật Phá sản 1993 bởi chúng góp phần làm cho đạo luật phá sản trở thành một đạo luật chuyên về lấy nợ tập thể Điều đó khiến cho không chủ nợ nào có thể lấy nợ một cách riêng rẽ trên
Trang 16tài sản của con nợ bị phá sản bỏ mặc các chủ nợ khác Qua các qui định này người ta mới có thể vì thế mà xây dựng một cách hữu hiệu các tội phạm hình
sự liên quan tới tẩu tán tài sản phá sản Như vậy có thể nói việc xây dựng các qui định vô hiệu một số hành vi pháp lý trong Luật Phá sản năm 2004 là một tiến bộ pháp lý xuất phát từ một chính sách pháp luật rõ ràng và đúng đắn
1.2 Nguồn gốc và nội dung pháp lý chủ yếu của việc tuyên vô hiệu một số hành vi pháp lý trong pháp luật về phá sản
Chế định tuyên bố hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật về phá sản
có nguồn gốc từ luật La Mã cổ đại Chế định này có tên gọi là "proximum
tempus decoctionis", theo đó một số giao dịch do con nợ thực hiện trước ngày
mở thủ tục phá sản bị coi là đáng ngờ và có thể bị tòa án hủy bỏ
"Proximum tempus decoctionis" được xây dựng trước hết
nhằm bảo vệ quyền lợi và bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ nợ, xuất phát từ mối lo ngại con nợ rơi vào tình trạng phá sản có thể tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc xiết nợ của các chủ nợ hoặc có những hành động ưu ái đặc biệt đối với một số chủ nợ nhất định [1] Như vậy, mục tiêu ban đầu của chế định này là nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ
Chịu ảnh hưởng của Luật La Mã, pháp luật của hầu hết các quốc gia ở phương Tây đều quy định việc hủy bỏ một số hành vi pháp lý do con nợ tiến hành trước khi mở thủ tục phá sản Qua quá trình phát triển lâu dài pháp luật phá sản không còn chỉ nhằm thanh toán nợ cho các chủ nợ mà ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề khôi phục lại hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ Mục tiêu của quy định về tuyên bố giao dịch vô hiệu vì thế cũng có sự thay đổi căn bản Ngày nay, chế định này trước hết là nhằm bảo toàn khối tài sản của con
nợ phục vụ cho việc phục hồi doanh nghiệp
Trên cơ sở nguyên tắc tất cả tài sản phá sản phải được bảo vệ để trả cho các chủ nợ, một số hành vi làm giảm khối tài sản của thương nhân lâm
Trang 17vào tình trạng phá sản sẽ bị tuyên bố vô hiệu nhằm khôi phục lại khối tài sản của của thương nhân Điều đó tạo cho các chủ thể có quyền thu hồi tài sản đã
bị chuyển giao cho người khác một cách bất chính đáng và thiếu công bằng Tuy nhiên việc tuyên bố các hành vi pháp lý như vậy là vô hiệu còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế lấy nợ tập thể và quan niệm các hành vi vô hiệu đó được xem là hành vi vô hiệu tuyệt đối hay tương đối Điều đó có nghĩa là chủ nợ thực hiện quyền của mình như thế nào trong việc lấy nợ theo trình tự phá sản
là một vấn đề lớn nằm ngoài phạm vi của việc xác định quyền đơn thuần
Như vậy các hành vi pháp lý vô hiệu nói ở đây phụ thuộc cả luật nội dung, lẫn luật thủ tục Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề này không thể chỉ đơn thuần chú ý tới đạo luật phá sản mà phải thực sự lưu ý tới các đạo luật khác về dân sự, thương mại và các đạo luật về thủ tục liên quan Nghiên cứu luật nội dung ở đây để trả lời cho câu hỏi hành vi nào bị tuyên vô hiệu và tại sao Còn việc nghiên cứu luật thủ tục để trả lời cho câu hỏi việc thực hiện quyền lợi trong tuyên vô hiệu như vậy phải thực hiện như thế nào
1.3 Khái niệm về hành vi pháp lý vô hiệu
1.3.1 Khái niệm hành vi pháp lý
Hành vi là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan bằng hành động hoặc không hành động được lý trí kiểm soát và ý chí điều khiển nhằm đạt được những mục đích nhất định
Hành vi của con người rất đa dạng nhưng chỉ những hành vi được pháp luật quy định, điều chỉnh (tức là những hành vi làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt quan hệ pháp luật mà chủ thể thực hiện những hành vi đó được hưởng quyền và/hoặc có nghĩa vụ pháp lý từ việc thực hiện hành vi) mới là hành vi pháp lý
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội thì hành vi
Trang 18và sự biến là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật
Theo TS Ngô Huy Cương - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội:
Phân loại các nguồn gốc của nghĩa vụ thành (1) Hành vi pháp lý (juridical acts) hay còn gọi là giao dịch pháp lý; và (2) sự kiện pháp lý (juridical facts) Tại đây hành vi pháp lý được xem là việc làm phát sinh ra hậu quả pháp lý bởi ý chí của chính đương sự Hậu quả này có thể làm phát sinh hay thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp lý [8]
Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 gọi các hành vi pháp lý
là giao dịch dân sự Điều 121, Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [20]
Giao dịch ở đây được hiểu là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên "giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với mục đích và động cơ nhất định" [26, tr 137]
Hành vi pháp lý hay giao dịch dân sự được chia thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Hợp đồng được hiểu là sự tự nguyện của hai hay nhiều bên thống nhất làm phát sinh ra mối quan hệ của họ đối với nhau liên quan tới một đối tượng nhất định hoặc làm thay đổi hay chấm dứt một quan hệ như vậy Còn hành vi pháp lý đơn phương là sự tự nguyện của một người ràng buộc mình vào một quan hệ pháp luật nhất định hoặc làm thay đổi hay chấm dứt quan hệ đó Từ đó có thể hiểu ý chí của các bên là thành tố không thể thiếu của hành vi pháp lý Tuy nhiên thành tố này bị kiểm soát bởi pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng hoặc người khác
Thực chất chủ thể hoặc các chủ thể tự nguyện gánh chịu các nghĩa vụ pháp lý mà mình mong muốn làm phát sinh hoặc làm thay đổi nó hay chấm dứt một quyền lợi nhất định Pháp luật trong trường hợp này bảo hộ và cho thi
Trang 19hành các hành vi pháp lý bằng cách thừa nhận và cưỡng chế thực hiện quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý đó, có nghĩa là Nhà nước tôn trọng ý chí của tư nhân
Các hành vi pháp lý có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế Mọi người có thể trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ đối với nhau thông qua các hành vi pháp lý hay các giao dịch Ví dụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua, còn người mua tự nguyện trả giá bán cho người bán Trong hợp đồng dịch vụ, người cung cấp dịch vụ tự nguyện làm một công việc vì lợi ích của người thuê dịch vụ thay vì nhận một khoản tiền từ người sau này Các hành vi này làm thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên, và thông qua đó hàng hóa được lưu thông, dịch vụ được cung cấp khiến cho kinh tế phát triển
Tuy nhiên nhiều trường hợp thương nhân lợi dụng các hành vi pháp lý
để tẩu tán tài sản và trục lợi như trên đã phân tích Các hành vi tiêu cực đó gây tác hại không nhỏ cho chủ nợ và thông qua đó là cho sự phát triển kinh tế
Vì vậy ngay từ thời cổ đại các luật gia đã cố gắng tìm cách khắc phục bằng cách tiêu chuẩn hóa các hành vi này và vô hiệu các hành vi ngoài tiêu chuẩn
1.3.2 Điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý
Để đảm bảo trật tự cộng đồng, đạo đức xã hội, cũng như quyền và lợi ích chính đáng của chính các bên tham gia quan hệ và của người khác pháp luật phải vào cuộc quy định những điều kiện để hành vi pháp lý hay giao dịch
có hiệu lực Nếu một hành vi pháp lý hay giao dịch không thỏa mãn những điều kiện đã quy định thì những hành vi hay giao dịch này bị loại bỏ hoặc có thể bị loại bỏ bởi được xem như không đủ tiêu chuẩn
Pháp luật thương mại không có các qui định riêng về điều kiện có hiệu lực của giao dịch thương mại mà hầu như dựa trên những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được qui định tại Bộ luật dân sự 2005 Điều 1 của Bộ luật Dân sự 2005 qui định: "Bộ luật này điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
Trang 20thương mại, và lao động" [20] Tuy nhiên có một số đạo luật trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại xuất phát từ đặc thù có qui định chặt hơn liên quan tới trường hợp giao dịch bị vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu
Điều 131, Bộ luật Dân sự 2005 qui định:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có qui định [20]
Như vậy có thể hiểu các điều kiện này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ trật
tự công cộng và bảo vệ chính các lợi ích chính đáng người tham gia quan hệ
Có thể hiểu những điều kiện nói trên không được làm thỏa mãn ở một giao dịch nào đó thì giao dịch đó được coi là không đủ tiêu chuẩn Về nguyên tắc một giao dịch dân sự không đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì vô hiệu
Tóm lại điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một trong những nội dung cơ bản, quyết định sự ổn định, tính hợp pháp và tính hiệu quả của các giao dịch trong giao lưu dân sự nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng Nếu pháp luật không có những quy định cụ thể, rành mạch sẽ làm cho các chủ thể hoang mang và không tự tin khi tham gia các giao dịch, gây
ra những hậu quả xấu đối với kinh tế - xã hội
1.3.3 Hành vi pháp lý vô hiệu
Việc không đáp ứng được những điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì giao dịch đó bị vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu Bộ luật Dân sự 2005 đã khẳng định dứt khoát sự vô hiệu của giao dịch dân sự khi không đáp ứng đầy
đủ các điều kiện có hiệu lực (Điều 127) Điều đó cho thấy quan điểm dứt
Trang 21khoát của nhà làm luật trong việc cương quyết loại bỏ các giao dịch không đủ tiêu chuẩn Tuy nhiên quan điểm này hơi thái quá Giao dịch dân sự vô hiệu được xem là giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự từ thời điểm xác lập giao dịch Hậu quả trực tiếp của giao dịch dân sự vô hiệu là các bên trong quan hệ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Tuy nhiên cần thấy rằng khoa học pháp lý phân loại sự vô hiệu các giao dịch thành nhiều loại căn cứ vào các tiêu chí khác nhau:
+ Phân loại theo các nguyên nhân vô hiệu cụ thể Trong phân loại này các trường hợp vô hiệu được phân biệt rõ ràng ở các Bộ luật Dân sự của các nước trên thế giới Chẳng hạn Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam chia thành các trường hợp vô hiệu như: (1) Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128, Bộ luật dân sự 2005); (2) vô hiệu do giả tạo (Điều 129, Bộ luật dân sự 2005); (3) vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130, Bộ luật dân sự 2005); (4) vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131, Bộ luật dân sự 2005); (5) vô hiệu do bị lừa dối, đê dọa (Điều 132,
Bộ luật dân sự 2005); (6) vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133, Bộ luật dân sự 2005); (7) vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức (Điều 134 Bộ luật dân sự 2005)
+ Phân loại theo mức độ áp dụng sự vô hiệu Cách phân loại này cũng được đề cập tới trong pháp luật dân sự ở các nước Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam chỉ ra hai loại là vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần (Điều 135,
Bộ luật dân sự 2005) Hiểu đơn giản, vô hiệu toàn bộ là tất cả giao dịch bị xem là không có hiệu lực, còn vô hiệu từng phần là một hoặc nhiều phần của một giao dịch bị xem là không có hiệu lực mà không ảnh hưởng tới các phần khác còn lại
+ Phân loại theo thẩm quyền đề xuất tuyên vô hiệu Cách phân loại này được khoa học pháp lý đề cập đến và được áp dụng ở các nước Đó là vô
Trang 22hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối Trong cổ luật việc phân loại giao dịch vô hiệu đã được đề cập đến và khởi thủy là pháp luật La Mã
Sự phân biệt hai loại vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối
là một kết quả của sự tiến hóa trong lịch sử cổ luật La Mã Trong thời kỳ đầu tiên, khi một điều kiện liên quan đến sự lập khế ước không được tôn trọng, khế ước đó sẽ vô hiệu đối với pháp luật Về sau các pháp quan mở rộng phạm vi của sự vô hiệu bằng cách công nhận cho người thụ trái một số tố quyền để xin tiêu hủy khế ước để bảo vệ người này khi họ bị trục lợi Sự phân biệt giữa các tố quyền xin tiêu hủy được luật pháp công nhận và được các pháp quan đặt ra
là nguồn gốc nguyên thủy của sự phân biệt giữa vô hiệu tương đối
và vô hiệu tuyệt đối [12, tr 128]
Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam không làm rõ hai loại
vô hiệu này Trường Đại học Luật Hà Nội quan niệm "vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (hay còn gọi là vô hiệu
bị tuyên)" [26, tr 149]; và cách phân loại này dựa vào đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của hai khái niệm này Sự phân loại vô hiệu như trên trước tiên dựa trên nền tảng áp dụng chế tài nhằm bảo vệ lợi ích công hay lợi ích tư Từ đó dẫn tới các hệ quả kế tiếp liên quan tới các phân loại này Thực
tế không hợp đồng nào bị xem là vô hiệu khi chưa bị tuyên là vô hiệu, bởi hợp đồng vô hiệu có nghĩa là bị hủy do chống lại các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và phát sinh ra các hậu quả pháp lý kèm theo như đã nói ở trên Vậy tính "đương nhiên" hay tính "bị tuyên" không phải là căn cứ để phân loại, và cũng không thể trở thành tên gọi cho hai loại vô hiệu này
Khi một hành vi pháp lý bị tuyên là vô hiệu thì về nguyên tắc các bên phải quay trở lại tình trạng ban đầu như chưa bao giờ có hành vi pháp lý như vậy, bởi bản thân nó chưa bao giờ được xem là có hiệu lực do chống lại các điều kiện có hiệu lực hay không đủ tiêu chuẩn Cho nên các hậu quả sau sẽ phát sinh lập tức khi việc tuyên vô hiệu có hiệu lực:
Trang 23(1) Nếu giao dịch hay phần nào đó của giao dịch chưa thực hiện thì không được thực hiện nữa;
(2) Các bên phải hoàn trả cho nhau những lợi ích đã nhận từ nhau do việc thực hiện giao dịch trước khi bị tuyên vô hiệu;
(3) Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường; và
(4) Thu nhập bất hợp pháp từ giao dịch có thể bị sung công
Điều 137, Bộ luật Dân sự 2005 có qui định cụ thể về các hậu quả pháp
lý này khi giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu
Mặc dù không có các qui định cụ thể về chia giao dịch dân sự vô hiệu thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối, nhưng Bộ luật Dân sự 2005 đã
hé lộ, về hình thức, việc tuyên các giao dịch vô hiệu tuyệt đối không có thời hiệu, còn việc tuyên các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối có thời hiệu Như vậy có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối theo Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm: (1) các giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức
xã hội; (2) các giao dịch dân sự giả tạo Trường Đại học Luật Hà Nội có quan điểm xem giao dịch vô hiệu do không đáp ứng hình thức theo qui định của pháp luật là vô hiệu tuyệt đối, "một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: a)…c) Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật (Điều 134 Bộ luật Dân sự)" [26, tr 151], mặc dù Bộ luật Dân sự 2005 có xác định thời hiệu hai năm cho việc tuyên vô hiệu đối với những giao dịch này (Điều 136) Từ đó có thể suy ra: theo Trường Đại học Luật Hà Nội, việc xác định thời hiệu cho việc tuyên giao dịch
vô hiệu không phải là một dấu hiệu của việc xem xét vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối
1.4 Các quy định về hành vi pháp lý vô hiệu trong Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam
1.4.1 Mô tả và diễn giải các qui định
Trang 24Luật Phá sản năm 2004 đã dành Chương IV với 18 điều quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản Tại Chương này có 14 điều được xây dựng hoàn toàn mới và 4 điều được phát triển từ Luật Phá sản Doanh nghiệp 1993 Các biện pháp bảo toàn tài sản theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 bao gồm: Các giao dịch bị coi là vô hiệu (Điều 43); Quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch vô hiệu (Điều 44); Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 45); Văn bản yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 46); Thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện (Điều 47); Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48); Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 50); Gửi giấy đòi nợ (Điều 51); Lập danh sách chủ
nợ (Điều 52); Lập danh sách người mắc nợ (Điều 53); Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 54); Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55); Khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56); Đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án (Điều 57); Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58); Nghĩa vụ của Ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản (Điều 59); Nghĩa vụ của nhân viên và người lao động (Điều 60)
Điều 43, Luật Phá sản năm 2004 qui định các hành vi sau đây thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu:
- Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;
- Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia;
- Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
- Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;
- Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Trang 25Có thể hiểu mục đích của các qui định của Luật Phá sản năm 2004 về các hành vi pháp lý vô hiệu do thương nhân lâm vào tình trạng phá sản tiến hành nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong việc lấy nợ trên khối tài sản phá sản của thương nhân, và bảo vệ quá trình khôi phục và tái tạo lại khối tài sản của con nợ phục vụ cho việc phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh Mục đích sau vừa nói gián tiếp bảo vệ quyền lợi của chủ nợ
* Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác
Những hành vi pháp lý này được liệt kê đầu tiên trong danh mục các hành vi pháp lý bị tuyên bố vô hiệu vì bản chất của chúng đi ngược lại với mục tiêu tiên quyết của hoạt động kinh doanh là thu lời
Hành vi pháp lý này có đặc điểm là việc thương nhân chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình mà không nhận lại bất kỳ một lợi ích vật chất nào Hành vi này là bất bình thường bởi mục đích chính liên quan đến hoạt động thương mại là kiếm lời, nhưng thương nhân lại làm mình nghèo đi trong khi không có khả năng trả những khoản nợ chính đáng của người khác Vì vậy bất luận trong trường hợp nào thì cũng nên tuyên vô hiệu các hợp đồng này Tặng cho ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các hành vi mang tài sản của mình cho người khác bằng nhiều hình thức khác nhau như: đóng góp phúc lợi, khen thưởng hoặc tài trợ một cách bất hợp lý hay hoang phí
* Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của thương nhân rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia
Những hành vi pháp lý này có đặc điểm là sự không tương xứng về lợi ích giữa các bên tham gia, mà bên thương nhân bị phá sản có nghĩa vụ lớn hơn rõ ràng so với bên kia, hay nói cách khác, lợi ích mà thương nhân nhận lại ít hơn rõ ràng so với lợi ích mà anh ta phải mất đi cho phía bên kia
Khoản 5, Điều 6, Luật Phá sản năm 2004 định nghĩa: "Hợp đồng song
vụ là hợp đồng trong đó các bên tham gia ký kết đều có quyền và nghĩa vụ; quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại" [19] Định nghĩa này
Trang 26cho thấy việc cân bằng quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng song vụ là cơ sở để xác định tuyên một hành vi pháp lý là vô hiệu
Khác với giao dịch tặng cho, trong loại hành vi này tuy thương nhân
có thu được một số lợi ích vật chất nhất định nhưng phần lợi ích mà thương nhân nhận lại rõ ràng thua kém hơn so với những gì mà thương nhân bỏ ra Như vậy các hợp đồng kiểu này cũng làm cho tài sản của thương nhân bị suy giảm Xét ra các hợp đồng này cũng trái với mục đích tồn tại của thương nhân, và cũng trở thành một thủ đoạn để thương nhân bị phá sản tẩu tán tài sản của mình
* Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn
Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn, xét về mặt bản chất thương mại, không phải là hành vi bất chính đáng Tuy nhiên khi thương nhân lâm vào tình trạng không thể trả được các khoản nợ tới hạn mà có hành vi trả nợ như vậy thì buộc phải xem là hành vi đáng ngờ Phá sản là một cơ chế lấy nợ tập thể, tức là ngăn cản việc lấy nợ của một cá nhân ai đó trên khối tài sản của con nợ Vậy nếu không vô hiệu hóa hành vi trả nợ như vậy, thì con nợ có thể
vì ưu ái chủ nợ này chống lại các chủ nợ còn lại trong cơ chế lấy nợ tập thể
Vì vậy, hủy bỏ việc thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn là cần thiết nhằm bảo đảm cho cơ chế lấy nợ tập thể và sự bình đẳng giữa các chủ nợ, đồng thời ngăn cản sự thông đồng để tẩu tán tài sản trong hoàn cảnh nhất định
* Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ
Đối với loại hành vi pháp lý này có lẽ phải được phân loại và xem xét
kỹ lưỡng tới hoàn cảnh trước khi tuyên bố vô hiệu Nhưng có lẽ nên xác định
rõ hơn là "thực hiện việc cầm cố, thế chấp tài sản đối với các khoản nợ trước
đó", vì các ngân hàng, tổ chức tín dụng thường chỉ chấp thuận yêu cầu vay
vốn của thương nhân nếu có biện pháp bảo đảm thanh toán nợ như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh Vấn đề ở đây là thương nhân đã được nhận khoản tín dụng, khi đứng trước nguy cơ phá sản lại xác lập biện pháp bảo đảm cho
Trang 27khoản nợ đã giao kết nhằm tạo ra một sự ưu tiên giả tạo cho chủ nợ có khoản
nợ được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp, cầm cố mới xác lập
Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp thương nhân phải ký kết một giao dịch bảo đảm để đổi lại việc ngân hàng gia hạn hợp đồng tín dụng đối với một khoản nợ không có bảo đảm để đáo hạn Việc xác lập biện pháp bảo đảm này không đáng ngờ và không nên bị hủy bỏ, vì được coi như là thực hiện bảo đảm cho một khoản tín dụng mới
* Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp
Xuất phát từ thực tế là pháp luật soạn thảo ra thường khó có thể đầy
đủ và chi tiết cho mọi tình huống phát sinh trên thực tế Vì vậy quy định này
là một kỹ năng mà các nhà làm luật sử dụng để phòng khi xuất hiện một dạng giao dịch chưa được liệt kê trong danh mục thì các thẩm phán vẫn có thể vận dụng trong quá trình xét xử
Trong trường hợp các giao dịch nêu trên bị tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu đó phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Trong điều kiện bình thường doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền tự quyết định chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các quyết định đó Doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền quy định tham gia hoặc không tham gia vào quan hệ kinh doanh này hay quan hệ kinh doanh khác mà không một tổ chức, cá nhân nào được quyền can thiệp trái pháp luật Tuy nhiên, trong điều kiện doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì việc can thiệp và cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện một hoặc một số giao dịch nhất định là cần thiết để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ Quy định này nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thông qua các giao dịch bất hợp pháp với mục đích tẩu tán tài sản
Trang 28Liên quan đến việc cấm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất định, Điều 31, Luật Phá sản năm 2004 cũng có những quy định về các hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm hoặc bị hạn chế như sau:
1 Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Cất giấu, tẩu tán tài sản;
b) Thanh toán nợ không có bảo đảm;
c) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
d) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp
2 Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng
ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
a) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
b) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
c) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
d) Vay tiền;
đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản; e) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã [19]
Ngoài việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải còn phải kiểm kê toàn bộ tài sản theo
Trang 29bảng kê chi tiết đã nộp cho tòa án và xác định trị giá các tài sản đó; nếu thấy cần có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề nghị thẩm phán gia hạn nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày Quy định này giúp cho thẩm phán cũng như Tổ quản lý, thanh lí tài sản có thể nhanh chóng nắm bắt được một cách chính xác thực trạng tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và có những giải pháp hợp lý, cần thiết trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản và dễ dàng hơn trong việc phát hiện việc tẩu tán tài sản hay trả nợ không phù hợp với các qui định của pháp luật về phá sản
Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lí tài sản, thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản có quyền quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của thẩm phán chỉ được thực hiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Theo quy định tại Điều 55, Luật Phá sản năm 2004, các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà thẩm phán có thể quyết định áp dụng, bao gồm:
- Cho bán những hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hóa sắp hết thời hạn sử dụng, hàng hóa không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ;
- Kê biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp;
- Phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng;
- Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan của doanh nghiệp;
- Cấm hoặc buộc doanh nghiệp, cá nhân tổ chức khác có liên quan thực hiện một số hành vi nhất định
Đây là những quy định rất quan trọng để có thể bảo toàn được tài sản của doanh nghiệp, tránh được một phần tổn thất cho doanh nghiệp, tạo điều kiện phục hồi cho doanh nghiệp
Trang 30Khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tùy tính chất của vụ việc và yêu cầu của việc áp dụng mà thẩm phán xem xét, đánh giá một cách thận trọng để quyết định áp dụng một hay một số biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nhằm mục đích bảo toàn tài sản của doanh nghiệp nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên, niêm phong tài sản, niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu có liên quan cũng như phong tỏa tài khoản chỉ được thẩm phán quyết định đối với doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản mà không thể áp dụng với cá nhân, tổ chức có liên quan Người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
Điều 45, Luật Phá sản 1993 quy định:
1- Chấp hành viên đề nghị Tòa án ra quyết định thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản của doanh nghiệp hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp nếu trong sáu tháng trước ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đã có những vi phạm sau đây:
a) Tẩu tán tài sản của doanh nghiệp dưới mọi hình thức; b) Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
c) Từ bỏ quyền đòi nợ đối với các khoản nợ;
d) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm;
đ) Bán tài sản của doanh nghiệp thấp hơn thực giá
2- Trước khi thu hồi lại tài sản hoặc phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, Tổ thanh toán tài sản
có trách nhiệm xuất trình quyết định của Tòa án, giải thích rõ lý do thu hồi lại tài sản hoặc phần chênh lệch giá trị tài sản doanh nghiệp
Trang 31cho đương sự biết Những tranh chấp về thu hồi lại tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp do Tòa án giải quyết [18] Nội dung này đã tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện hơn tại Điều 43
và Điều 44, Luật Phá sản năm 2004
Theo yêu cầu của chủ nợ không có bảo đảm, tổ quản lý, thanh lí tài sản, Tòa án tuyên bố các giao dịch của doanh nghiệp quy định tại khoản 1, Điều 43, Luật Phá sản năm 2004 là vô hiệu Trong trường hợp này, Tổ trưởng
Tổ quản lý, thanh lí tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của Tòa án để thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản (Điều 44, Luật Phá sản năm 2004)
Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện theo yêu cầu của chủ
nợ, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lí tài sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đó có lợi hơn cho doanh nghiệp (Điều 45, Luật Phá sản năm 2004)
Yêu cầu tòa án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện phải được làm thành văn bản với nội dung như quy định tại Khoản 1, Điều 46, Luật Phá sản năm 2004 Kèm theo văn bản yêu cầu là các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực là có lợi hơn về mặt tài sản (vật chất) cho doanh nghiệp Thẩm phán phải xem xét, quyết định trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị Nếu chấp thuận thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng, nếu không chấp thuận thì thông báo cho người đề nghị biết
Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được coi là có lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật khi các thiệt hại tài sản tạm tính (với tư cách là hậu quả pháp lý xấu) mà doanh nghiệp phải gánh chịu nếu đơn phương đình
Trang 32chỉ thực hiện hợp đồng nhỏ hơn các thiệt hại tạm tính (các khoản lỗ, thiệt hại)
mà doanh nghiệp phải gánh chịu nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng
2.2 Việc xác định tính có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác
xã trong việc đình chỉ thực hiện hợp đồng được thực hiện như sau:
a Tạm tính các khoản lỗ, thiệt hại mà doanh nghiệp, hợp tác
xã phải gánh chịu nếu phải tiếp tục thực hiện hợp đồng;
b Tạm tính các thiệt hại tài sản (với tư cách là hậu quả pháp
lý xấu) mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải gánh chịu nếu đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng [23]
Như vậy, trong giai đoạn này pháp luật về phá sản cũng tạo mọi điều kiện để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, để doanh nghiệp có lợi nhất, có điều kiện phục hồi được hoạt động kinh doanh
Kể từ ngày tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành cũng như việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp là một bên đương sự trong vụ án đó phải được đình chỉ
Trường hợp việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành bị đình chỉ thì người được thi hành án có quyền nộp đơn cho tòa án yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp như một chủ nợ không có bảo đảm hoặc như một chủ
nợ có bảo đảm, nếu có bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật
kê biên tài sản của doanh nghiệp để bảo đảm thi hành án Quy định này của Luật Phá sản năm 2004 thể hiện sự quan tâm, ưu tiên hàng đầu của các nhà lập pháp đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc đình chỉ thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người có nghĩa vụ phải thi hành nhằm bảo đảm duy trì một khối lượng tài sản cần thiết cho doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản có khả năng tốt nhất để phục hồi hoạt động kinh doanh
Trang 331.4.2 Bình luận các qui định
1.4.2.1 Phân loại các hành vi pháp lý bị vô hiệu trong pháp luật Việt Nam về phá sản
* Phân loại theo vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối
Các quy định tại Điều 44, Luật Phá sản năm 2004 đã mô tả và diễn giải ở trên cho thấy các chủ nợ không có bảo đảm hay Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1, Điều 43, Luật Phá sản năm 2004 là vô hiệu
Theo nguyên lý chung của cơ chế lấy nợ theo luật phá sản của các nước, thì quản tài viên hay Tổ quản lý, thanh lý tài sản (theo cách gọi của Việt Nam) là đại diện cho các chủ nợ Do đó việc vô hiệu một hành vi pháp lý của con nợ cần phải có yêu cầu của người này hoặc trực tiếp của các chủ nợ không có bảo đảm có thể được xem là vô hiệu tương đối bởi với vô hiệu tuyệt đối Tòa án có thể nại ra sự vô hiệu không cần tới yêu cầu của đương sự Xác định này là hợp lý bởi việc lấy nợ của các chủ nợ trên tài sản của con nợ bị phá sản là các lợi ích tư không có tính chất công quyền Tòa án chỉ hỗ trợ cho các bên giải quyết nợ nần với nhau Bản thân chủ nợ có thể từ bỏ quyền đòi nợ của mình Tuy nhiên việc vô hiệu này có tính chất đặc biệt là vô hiệu hành vi pháp
lý giữa con nợ và người thứ ba, nên đòi hỏi pháp luật phải qui định rõ ràng
* Phân loại theo thời gian xác lập các hành vi pháp lý vô hiệu
Căn cứ vào thời điểm xác lập các hành vi pháp lý vô hiệu, có thể phân loại chúng thành: (1) Các hành vi pháp lý vô hiệu thực hiện trước khi tiến hành phá sản; và (2) các hành vi pháp lý vô hiệu xác lập trong giai đoạn tiến hành thủ tục phá sản
Pháp luật phá sản quy định các giao dịch của doanh nghiệp được tiến hành trong khoảng thời gian trước hoặc sau khi tòa án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản có dấu hiệu khả nghi với mục đích làm suy giảm tài sản của con nợ có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu khi có yêu cầu của các chủ thể có
Trang 34quyền theo quy định Các qui định tuyên vô hiệu các hành vi pháp lý có mục đích tiêu cực trong cả hai giai đoạn này là hợp lý và bảo vệ được quyền lợi của các chủ nợ và mục tiêu chủ yếu của luật phá sản Lợi ích của chủ nợ là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản Pháp luật phá sản hiện hành quy định các chủ nợ không có bảo đảm tức là khoản nợ của họ không được bảo đảm bằng bất cứ tài sản nào của con nợ có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch của con nợ bị vô hiệu Còn lợi ích của chủ nợ có bảo đảm và bảo đảm một phần không quy định cho họ quyền đó
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập các qui chế pháp lý khác nhau thích hợp với các đặc điểm riêng của từng loại và bảo
vệ một cách đầy đủ các quyền lợi của chủ nợ và cơ chế lấy nợ tập thể bằng cách kiểm soát các hành vi pháp lý hữu hiệu của con nợ
* Phân loại theo hình thức của hành vi pháp lý bị vô hiệu
+ Cất giấu, tẩu tán tài sản dưới mọi hình thức: Khi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản sẽ đứng trước nguy cơ toàn bộ khối tài sản của doanh nghiệp sẽ bị quản lý và đem trả hết cho các chủ nợ nên doanh nghiệp thường
có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản Đây là hành vi gian dối của con nợ mà pháp luật phá sản hiện hành cấm là hợp lý bảo đảm cho các mục tiêu của luật phá sản và bảo vệ các lợi ích chính đáng của chủ nợ
+ Chuyển giao quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp cho chủ thể khác nhưng không có đền bù: Hành vi tặng cho động sản và bất động sản cho
người khác Nếu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, trong khi không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cho các chủ nợ mà lại thực hiện việc tặng cho tài sản là động sản hoặc bất động sản cho người khác là hành vi có mục đích gian dối, làm thất thoát khối tài sản phá sản, gây thiệt hại cho lợi ích của các chủ nợ nên hết sức cần thiết tuyên bố hành vi đó là vô hiệu để thu hồi lại tài sản đã tặng cho nhằm khôi phục lại khối tài sản của doanh nghiệp, ngăn chặn mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ
Trang 35+ Thực hiện phần nghĩa vụ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia: Thanh toán hợp đồng song vụ trong
đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa
vụ của bên kia;
+ Thực hiện nghĩa vụ về tài sản trước thời hạn: Thanh toán các khoản
nợ chưa đến hạn Về nguyên tắc nợ thì phải trả, nhưng việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã không thể hoàn trả được các khoản nợ đến hạn mà lại thực hiện việc trả các khoản nợ chưa đến hạn là điều phi lý và đặt dấu chấm hỏi về mục đích của việc trả nợ, chắc chắn điều đó là không trung thực đối với tất cả các chủ nợ,hoặc ưu tiên cho chủ nợ được trả khi chưa đến hạn
phải trả, điều đó là không công bằng đối với tất cả các chủ nợ
+ Thanh toán nợ không có bảo đảm: Kể từ ngày nhận được quyết
định mở thủ tục phá sản, pháp luật phá sản cấm thực hiện việc thanh toán nợ không có bảo đảm Bởi vì, khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản tức là khối tài sản phá sản phải được quản lý chặt chẽ để trả cho tất cả các chủ nợ theo tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị tài sản phá sản Bởi khi doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thông thường tài sản phá sản còn rất ít so với tổng số nợ phải trả cho tất cả các chủ nợ
+ Xác lập các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản nợ không có bảo đảm: Trong khoảng thời gian 3 tháng trước ngày Tòa
án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ thì hành vi này sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo quy định pháp luật phá sản Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án mà doanh nghiệp lại có hành vi chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp là
hành vi không trung thực và bị pháp luật phá sản nghiêm cấm thực hiện
+ Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ: Từ khi nhận được quyết định
mở thủ tục phá sản của Tòa án, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không được từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ khi doanh nghiệp, hợp
Trang 36tác xã với tư cách là chủ nợ trong các giao dịch khác, bởi điều đó gây thất thoát khối tài sản của doanh nghiệp, gây thiệt hại đến quyền lợi của các chủ nợ
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật phá sản quy định: sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hành vi của doanh nghiệp, hợp tác xã có liên quan đến tài sản phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện, đó là các hành vi:
- Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
- Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
- Vay tiền;
- Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
- Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã
Như vậy, Luật phá sản đã có nhiều quy định nhằm ngăn chặn những hành vi làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp, để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ một cách tốt nhất, đó là quy định hết sức cần thiết Cùng với quy định của pháp luật phá sản, các quy định pháp luật có liên quan (như hành chính, hình sự, dân sự) cũng cần thiết có sự quy định thống nhất, chặt chẽ nhằm phòng ngừa những hành vi tẩu tán tài sản của con nợ khi đứng trước nguy cơ phá sản nhằm tạo ra hành lang pháp lý an toàn, có hiệu lực và khả thi trên thực tế, thực sự là công cụ hữu hiệu để các chủ nợ sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình Việc phân loại như vậy rất cụ thể, mang đầy tính kỹ thuật pháp
lý khiến cho chính sách bảo toàn tài sản phá sản của luật phá sản được thực hiện đầy đủ và thích hợp Việc phân loại như vậy không bỏ sót các trường hợp đáng tiếc nào Tuy nhiên khi qui định quá chi tiết sẽ gây khó khăn không nhỏ cho việc giải thích áp dụng
Trang 371.4.2.2 Tuyên bố hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật về phá sản
và hậu quả pháp lý của nó
Trong sự thống nhất với Bộ luật Dân sự 2005, Luật Phá sản năm 2004 qui định Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hành vi nào là vô hiệu Tuy nhiên có thể xét các giao dịch bị tuyên bố vô hiệu trong Luật Phá sản năm 2004 là các giao dịch mà người yêu cầu tuyên bố và có lợi ích từ việc tuyên bố không phải
là một bên trong quan hệ giao dịch, có nghĩa là tuyên bố vô hiệu giao dịch của người khác Vậy nếu xét từ điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo Bộ luật Dân
sự 2005 thì có thể nói các giao dịch này có thể không vi phạm điều kiện tự nguyện, không vi phạm điều kiện chủ thể, không vi phạm điều kiện về hình thức Vậy chỉ còn lại điều kiện về mục đích và nội dung Khó có thể luận giải các giao dịch này là trái đạo đức xã hội Nên có thể hiểu mục đích của các giao dịch này là không phù hợp với hoàn cảnh mà được pháp luật bảo vệ
Việc chỉ cho phép các chủ nợ không có bảo đảm được quyền yêu cầu Tòa án tuyên các giao dịch này vô hiệu là chưa thỏa đáng bởi hành vi tẩu tán tài sản ảnh hưởng chung tới tất cả các chủ nợ kể cả chủ nợ có bảo đảm hoặc bảo đảm một phần Bản thân tài sản đã bảo đảm cho một chủ nợ cũng có thể
bị con nợ tặng cho hay đem bán với giá danh nghĩa Chủ nợ có bảo đảm một phần vẫn phải tham dự vào việc phân chia với các chủ nợ không có bảo đảm khác Tuy nhiên Tổ quản lý, thanh lý tài sản có thể yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu với các giao dịch được liệt kê trong Luật Phá sản năm 2004 mà không bị
lệ thuộc vào các yêu cầu cụ thể của chủ nợ
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật về phá sản không được đề cập rõ trong Luật Phá sản năm 2004 Tuy nhiên hậu quả của nó có thể được giải quyết chung theo các qui định khác của pháp luật bởi nguyên lý chung trong việc xử lý hành vi pháp lý vô hiệu không
hề khác nhau
Thủ tục tuyên hành vi pháp lý vô hiệu không được qui định cụ thể trong Luật Phá sản năm 2004 Xét về mặt luật thủ tục, thì dường như có vẻ
Trang 38thiếu và chưa chặt chẽ Tuy nhiên việc tuyên vô hiệu có thể xem xét bởi các qui tắc chung Thông thường dưới luật, ở nước ta, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành Thực tế Mục 1 Phần IV Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 có qui định như sau:
1.1 Trong quá trình Tòa án tiến hành thủ tục phá sản, nếu phát hiện doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện một trong các giao dịch và trong thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật Phá sản năm 2004, thì chủ nợ không có bảo đảm, Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu Yêu cầu phải được làm thành văn bản Kèm theo văn bản yêu cầu là các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Khi nhận được văn bản yêu cầu
và các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản phải kiểm tra, xem xét và nếu xét thấy yêu cầu là có căn cứ, đúng pháp luật, thì ra quyết định tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu
1.2 Thẩm phán phải gửi quyết định tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật Phá sản năm 2004 là vô hiệu cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản và các bên tham gia giao dịch Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Phá sản năm 2004 [23]
Khi các giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Tổ trưởng Tổ quản
lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của Tòa án tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu để thu hồi lại tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã Các qui định này xuất phát từ việc xem Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thi hành án Vì vậy Tổ trưởng là cán
bộ của cơ quan thi hành án Các qui định này tiện lợi về mặt thi hành đỡ gây
Trang 39tốn kém về thời gian và tiền bạc Song coi Tổ quản lý, thanh lý tài sản là đại diện cho cơ quan thi hành án là chưa hoàn toàn chuẩn xác Ở nhiều nước quản tài viên có thể là một công dân (luật sư hay kế toán) không thuộc cơ quan công quyền nào
Khi thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thì Tòa án không cần phải tiến hành đề nghị đương sự yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
sẽ tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu căn cứ vào Điều 43 hoặc Điều 31 của Luật Phá sản năm 2004 và sẽ xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật Dân sự 2005 theo nguyên tắc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Tài sản thu hồi được từ các giao dịch
vô hiệu của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được nhập vào khối tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đó
Các qui định về hậu quả của việc tuyên bố vô hiệu như vậy được xem xét trong tổng thể hệ thống pháp luật, tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo, nhưng cũng không gây khó khăn trong việc áp dụng luật
Các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức… quy định việc quản lý sản nghiệp phá sản thuộc về một người do Tòa án giải quyết vụ việc phá sản bổ nhiệm Người này được giao quyền lớn trong việc giải quyết vụ việc phá sản Người này thường được gọi là quản tài viên hay tín thác viên có quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của con nợ bị mở thủ tục phá sản, và có quyền triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ nợ, quyền quyết định hủy bỏ hay công nhận các giao dịch pháp lý mà con nợ đã thực hiện… Tuy nhiên tín thác viên hoạt động dưới sự giám sát của các chủ nợ, đồng thời có nghĩa vụ bảo toàn tài sản của con nợ Do vậy việc nại ra sự vô hiệu của hợp đồng thường là tín thác viên Còn ở Việt Nam thì Tổ quản lý thanh lý tài sản, và chủ nợ không có đảm bảo
Trang 40Điều này cho thấy có sự mâu thuẫn giữa mục đích của luật phá sản thiết lập một cơ chế lấy nợ tập thể và sự cho phép chủ nợ không có bảo đảm nại ra sự
vô hiệu như trên
1.4.2.3 Các giải pháp tổng thể để kiểm soát việc tẩu tán tài sản của con nợ lâm vào tình trạng phá sản
Như ở trên đã mô tả các qui định của Luật Phá sản năm 2004 liên quan tới việc tẩu tán tài sản của con nợ lâm vào tình trạng phá sản được chia thành hai loại:
Thứ nhất, các qui định trực tiếp liên quan tới việc tuyên vô hiệu các
hành vi pháp lý;
Thứ hai, các qui định về việc ngăn chặn tẩu tán tài sản khác
Trước tiên phải nhận xét các qui định này tạo thành một tập hợp các giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát có hiệu quả việc tẩu tán tài sản của con nợ trước và sau khi mở thủ tục phá sản Các qui định thứ nhất có tính cách chống các hành vi tiêu cực tẩu tán tài sản Các qui định thứ hai có tính cách phòng
và hỗ trợ cho các qui định thứ nhất Sự bổ khuyết cho nhau giữa các qui định này khiến cho Luật Phá sản năm 2004 chặt chẽ và có tính khả thi cao nhằm bảo vệ cho các mục tiêu của luật phá sản, đồng thời bảo vệ hữu hiệu cho quyền lợi của các chủ nợ
Mặc dù tuyên vô hiệu một số hành vi pháp lý là một loại chế tài rất hữu hiệu để bảo toàn tài sản của con nợ Song trong các giải pháp tổng thể cũng phải tính đến các ngoại lệ do những đặc thù của doanh nghiệp lâm vào tính trạng phá sản đem lại Chẳng hạn: Đối với tổ chức tín dụng:
Nếu trong khoảng thời gian ba tháng trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tổ chức tín dụng đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc đang được Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hỗ trợ tài chính thì việc thanh