Bên cạnh sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán nước ta, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trên thị trường trong đó có các nhà đầu tư trong công ty niêm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
Hà nội – 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ
ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT
11
1.1 Tổng quan về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
trong công ty niêm yết
11
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm công ty niêm yết và nhà đầu tư chứng
khoán trong công ty niêm yết
11
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà đầu tư chứng khoán trong công ty
niêm yết
16
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại các quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
18
1.1.3 Cơ sở của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư trong công ty niêm yết
21
1.1.4 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư trong công ty niêm yết
22
1.1.5 Các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
trong công ty niêm yết
23
1.2 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư trong công ty niêm yết
25
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm
yết
25
1.2.2 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư trong công ty niêm yết
28
1.2.2.1 Bảo vệ quyền tham gia thị trường, quyền thực hiện các giao
dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
28
1.2.2.2 Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư trong công
ty niêm yết
30
1.2.2.3 Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư trong
công ty niêm yết
31
1.2.2.4 Bảo vệ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sở hữu đối với
tài sản của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
36
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
42
2.1 Bảo vệ quyền tham gia thị trường, quyền thực hiện các giao
dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong công ty niêm yết 42 2.2 Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư trong
công ty niêm yết
45
2.3 Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư trong công
ty niêm yết
55
2.4 Bảo vệ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sở hữu đối với
tài sản của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
57
2.5 Nguyên nhân của những vướng mắc trong bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
2.5.1.2 Mức độ công khai và minh bạch hóa thông tin chưa đáp ứng
2.5.1.3 Chưa kiểm soát được các giao dịch của công ty niêm yết với
các bên có liên quan
70
2.5.1.4 Kiểm soát nội bộ còn hình thức và kém hiệu quả 72 2.5.2 Sự bất cập của pháp luật về một số vấn đề khác 74 2.5.3 Ủy ban chứng khoán Nhà nước chưa có đủ thẩm quyền để bảo
vệ nhà đầu tư
75
2.5.3.1 Vị thế của Ủy ban chứng khoán Nhà nước chưa tương xứng
với chức năng và nhiệm vụ của mình
76
2.5.3.2 Ủy ban chứng khoán Nhà nước không có thẩm quyền điều tra
đối với các vi phạm trên thị trường chứng khoán
77
2.5.4 Ý thức của cổ đông về quyền và lợi ích hợp pháp của mình
chưa cao và chưa đồng nhất
78
2.5.6 Chưa có khung pháp luật cho hoạt động của tổ chức xếp hạng
tính nhiệm các công ty niêm yết tại Việt Nam
80
Trang 5Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY NIÊM
YẾT Ở VIỆT NAM
3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi
ích của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
3.5 Xây dựng khung pháp luật về tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối
với các công ty niêm yết
98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là thị trường vốn bậc cao hoạt động với những thiết chế phức tạp và chặt chẽ Thị trường chứng khoán (TTCK) ban đầu phát triển một cách rất tự phát và sơ khai, xuất phát từ nhu cầu đơn lẻ về trao đổi hàng hóa Vào giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở Phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi, mua bán các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần
và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện cho việc làm
ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước này được sửa đổi và hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trường” Phiên chợ đầu tiên diễn ra tại gia đình của Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”, hình 3 túi da tượng trưng cho ba loại giao dịch là: giao dịch hàng hóa, giao dịch ngoại tệ và giao dịch chứng khoán động sản Vào năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers (Bỉ) Ở đây, thị trường phát triển nhanh vào giữa thế kỷ XVI Sau một thời gian hoạt động, thị trường không chứng tỏ khả năng đáp ứng được yêu cầu của ba loại giao dịch khác nhau Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường giao dịch hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai
và thị trường chứng khoán Quá trình các giao dịch chứng khoán hình thành
Trang 8và diễn ra một cách tự phát như vậy cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, Tây Âu và Bắc Mỹ [8, 65]
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những
ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Cho đến năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) chính thức được thành lập Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các phương thức giao dịch tại các SGDCK cũng được cải tiến Các Sở giao dịch dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử Giai đoạn thị trường phát triển một cách tự phát thì chỉ có các nhà đầu cơ tham gia, dần dần về sau mới có sự tham gia của công chúng đầu tư Vào những năm 1875 – 1913, TTCK thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó Nhưng rồi đến “Ngày thứ năm đen tối”, tức ngày 29/10/1929, thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản lâm vào khủng hoảng Mãi cho tới khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 kết thúc, các thị trường này mới dần hồi phục
và phát triển mạnh Cho tới năm 1987, một lần nữa các TTCK trên thế giới điên đảo với “Ngày thứ hai đen tối” do hệ thống thanh toán kém cỏi, không đảm đương được yêu cầu của giao dịch, giá chứng khoán giảm mạnh, gây mất lòng tin và phản ứng dây chuyền gây nên hậu quả còn nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929 Gần đây nhất, thị trường chứng khoán các nước Đông Á, Nga và một số thị trường ở Châu Mỹ cũng đã rơi vào vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ, có tính chất lây lan và tạo ra sự suy giảm ghê gớm của chỉ số giá chứng khoán Cho đến nay, trên thế giới có khoảng trên 160 SGDCK phân tán trên khắp các châu lục
Mặc dù, thị trường chứng khoán được hình thành phát triển từ thế kỷ
XV nhưng các đạo luật đầu tiên về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 9chỉ mới ra đời cách đây chưa đầy một trăm năm Hai đạo luật về chứng khoán
và giao dịch chứng khoán của Mỹ ra đời vào năm 1933 và 1934 là hai đạo luật đầu tiên trên thế giới về chứng khoán và TTCK Cho đến nay thì hầu hết các nước trên thế giới kể cả các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi cũng đã có Luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán như: Nhật Bản, Úc, Thái Lan, Bungari Ba Lan, Belarus…
Ở Việt Nam, ý nghĩa thực sự của sự ra đời thị trường chứng khoán đã vượt ra ngoài khuôn khổ là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh
tế Hơn thế nữa, nó còn là tiền đề cho quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách chế độ doanh nghiệp theo hướng kinh tế thị trường
Dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành thị trường chứng khoán nước
ta là Luật Công ty ra đời năm 1990 với quy định cho phép các công ty cổ phần được phát hành cổ phiếu Quy định này ra đời cùng với chương trình thí điểm cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước vào năm 1992 Tuy nhiên, do thiếu cơ sở pháp lý là các văn bản hướng dẫn thi hành nên hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán còn diễn ra một cách tự phát và chưa có sự quản lý của Nhà nước
Sau đó, phải đến ngày 20/7/2000, trường chứng khoán Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động được đánh dấu bằng sự đi vào hoạt động của Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) Năm 2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội) triển khai hoạt động Để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán, Chính phủ ban hành Nghị định 75/1996/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, sau đó là Nghị
Trang 10định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán (thay thế Nghị định 48) Các văn bản pháp luật này bước đầu đã tạo được một khuôn khổ pháp lý cho thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành và phát triển dưới sự quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, sau một số năm hoạt động cho thấy quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ bé so với tiềm năng phát triển của nền kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế, chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ là trở thành một kênh huy động vốn trong nước hữu hiệu cho nền kinh tế bên cạnh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Thực tế này xuất phát từ hệ thống pháp luật về chứng khoán còn thiếu đồng bộ, chưa có Luật Chứng khoán để tạo môi trường pháp lý thống nhất, đầy đủ, ổn định điều chỉnh mọi hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán Nhận thức được vấn đề đó, ngày 29/6/2006 Quốc hội đã thông qua Luật Chứng khoán, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 Sau gần 4 năm đi vào thực hiện, Luật Chứng khoán đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cao, đảm bảo cho một thị trường hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, giúp thị trường phát huy vai trò to lớn đối với nền kinh tế Tuy nhiên, khi thị trường chứng khoán phát triển thì một số quy định của Luật Chứng khoán lại chưa phù hợp với hoạt động của thị trường như: phạm vi áp dụng còn hẹp, một số quy định chưa rõ ràng, các quy định về thẩm quyền của cơ quan quản
lý còn thiếu linh hoạt Để giải quyết những vướng mắc trên, ngày 24/11/2010 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 Dựa trên cơ sở khuôn khổ pháp lý trên, thị trường chứng khoán nước ta đã có những bước phát triển đáng ghi
nhận Theo “Báo cáo việc tổng kết công tác chỉ đạo điều hành của Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước năm 2010 và chương trình công tác năm 2011” thì
tính đến hết năm 2010, có 631 công ty đã niêm yết trên hai Sở; trong năm
2010, tổng mức huy động trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ
Trang 11phiếu, đấu giá cổ phần hóa và đấu thầu trái phiếu chính phủ đạt 109 nghìn tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với năm 2009)
Bên cạnh sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán nước ta, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trên thị trường trong
đó có các nhà đầu tư trong công ty niêm yết luôn được đặt ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước Đây cũng là mục tiêu quản lý thị trường chứng khoán
do Tổ chức quốc tế các Uỷ ban chứng khoán (IOSCO) khuyến nghị Bảo vệ tốt nhà đầu tư giúp nhà đầu tư an tâm hơn khi bỏ vốn để mua chứng khoán và dành sự ủng hộ cho các kế hoạch kinh doanh của các công ty niêm yết, ngược lại các công ty niêm yết thu hút được nhiều vốn, tăng tiềm lực kinh tế, gia tăng giá trị cổ phiếu và khuyếch trương danh tiếng của mình trên thương trường Ở phạm vi toàn thị trường, bảo vệ tốt nhà đầu tư giúp thị trường phát triển ổn định, an toàn, giảm thiểu được những rủi ro vốn có của thị trường chứng khoán Do đó, không chỉ ở thị trường chứng khoán mới nổi như Việt Nam mà cả các thị trường chứng khoán phát triển khác, các nhà lập pháp luôn dành sự quan tâm thích đáng tới tiêu chí bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư khi đưa ra chính sách phát triển thị trường này
Để cụ thể hoá Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Luật Doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết (kèm theo Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Quy chế quản trị công
ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán – sau đây gọi tắt là Quy chế quản trị công ty niêm yết (kèm theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính) Tuy nhiên, thực tế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trong các công ty niêm yết vẫn chưa thực sự hiệu quả Quyền của cổ đông thiểu số bị lạm dụng, các nhóm cổ đông có sự phân hoá quyền lực và lợi ích rất sâu sắc,
Trang 12chưa kiểm soát được các giao dịch tư lợi của thành viên quản lý công ty niêm yết gây thiệt hại cho các nhà đầu tư khác…
Ngày 09/9/2010, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố “Báo cáo
năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011”, trong đó Việt Nam được thăng
hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139 Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố mà Việt Nam đứng ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF trong đó mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139 [4] Chính mức độ bảo vệ nhà đầu thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh
doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây Ở yếu tố này trong xếp hạng của Tạp chí Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo [9]
Trong các “Báo cáo Môi trường kinh doanh” do Ngân hàng Thế giới và Quỹ
tiền tệ Quốc tế công bố năm 2009 và năm 2010, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư, đứng thứ 171/183 năm 2009 [10] và 172/183 năm 2010 [11] Rõ ràng, vấn đề bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là vô cùng cấp thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chính các nhà đầu tư - một chủ thể quan trọng và không thể thiếu của thị trường chứng khoán, đồng thời đảm bảo sự vận hành thị trường chứng khoán một cách công bằng, hiệu quả; nâng cao thứ hạng quốc tế và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam” để làm
luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung trong thời gian gần đây đã được quan nghiên cứu bởi
một số tổ chức quốc tế Trong số đó, phải kể đến “Báo cáo năng lực cạnh
Trang 13tranh toàn cầu năm 2010 – 2011” của Diễn đàn Kinh tế Thế giới và “Báo cáo
về môi trường kinh doanh” được Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
công bố năm 2010 Những nghiên cứu này đánh giá và xếp hạng mức độ bảo
vệ nhà đầu tư dựa trên một số tiêu chí nhất định mà không đi sâu phân tích về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư nói chung và bảo vệ nhà đầu tư trong công ty niêm yết nói riêng
Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học trong nước thuộc các lĩnh vực khác nhau đã dành sự quan tâm nhất định tới vấn đề bảo vệ nhà đầu tư Đáng chú ý
là công trình nghiên cứu: luận án tiến sỹ: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam” của
Hoàng Thị Quỳnh Chi Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán một cách bao quát, tổng thể Ngoài ra, một số bài báo và
ấn phẩm đã bắt đầu nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà đầu tư và công ty
niêm yết trong việc bảo vệ nhà đầu tư như: “Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” của PGS.TS Lê Hoàng Nga, “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ: Biết bệnh nhưng chưa tìm thấy thuốc?” của tác giả Hà
Minh… Nhưng các bài báo, ấn phẩm này cũng mới chỉ đề cập đến hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề này Cho đến nay, ở Việt Nam chưa
có một công trình nghiên cứu nào đề cập, đánh giá một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong các công ty niêm yết Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích góp một tiếng nói vào vấn đề bảo vệ nhà đầu tư xét trong các công
ty niêm yết - các tổ chức phát hành cổ phiếu ra công chúng
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
3.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật về quyền và lợi ích của nhà đầu tư trong công ty niêm yết Trong đó, tập trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Quy chế quản trị công ty niêm yết; Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết Ngoài ra, các số liệu thống kê, một số tình huống nghiên cứu cũng được phân tích trên cơ sở quy định của pháp luật Từ sự phân tích này, tác giả sẽ tổng hợp vấn đề để đưa ra
ý kiến, nhận định cho vấn đề được xem xét
3.2 Phương pháp so sánh
Khi xem xét các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết, tác giả có so sánh với pháp luật của một số nước để thấy được những điểm hợp lý hoặc còn bất cập trong việc điều chỉnh cơ chế bảo vệ nhà đầu tư do các công ty niêm yết thực hiện Từ đó,
có thể đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các quy định đối với vấn đề này
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ duy vật lịch sử
4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo vệ nhà đầu tư trong các công ty niêm yết Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư trong công ty
Trang 15niêm yết, góp phần vào việc đáp ứng tốt hơn yêu cầu hoàn thiện khung pháp
lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh các hoạt động bảo vệ nhà đầu tư trong các công ty niêm yết, phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ nhà đầu tư trong mối quan hệ với công ty niêm yết
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư trong công
ty niêm yết Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trên Đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này, từ đó rút ra những vấn đề cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa nhà đầu tư và công ty niêm yết trong việc bảo vệ nhà đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Quy chế quản trị công ty niêm yết; Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết Luận văn không đề cập đến vấn đề này trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư với các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán hoặc giữa nhà đầu tư với các tổ chức kinh doanh dịch
vụ chứng khoán như: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bên cạnh đó, khái niệm nhà đầu tư được đề cập trong luận văn chỉ đề cập đến những người sở hữu cổ phiếu của công ty
Trang 16niêm yết (gắn với quyền sở hữu cổ phiếu là quyền mua cổ phần và chứng quyền) hay cổ đông công ty; không bao gồm những nhà đầu tư sở hữu trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, chỉ số chứng khoán Do đó, chứng khoán được đề cập đến chỉ là cổ phiếu, không bao gồm những loại chứng khoán khác
5 Giới hạn thời điểm nghiên cứu
Các số liệu và quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong luận văn được cập nhật đến 30/01/2012
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY
NIÊM YẾT 1.1 Tổng quan về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm công ty niêm yết và nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm công ty niêm yết
* Khái niệm công ty niêm yết
Quy chế quản trị công ty niêm yết cho rằng: “Công ty niêm yết được hiểu là công ty cổ phần được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam” [2, 1] Theo khái niệm này, công ty niêm yết chỉ là các công ty cổ phần
Trong khi đó, niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một chứng khoán nhất định được phép giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán [8, 151]
Từ khái niệm này cho thấy hai vấn đề: Thứ nhất, chứng khoán được niêm yết
bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng
khoán hoặc chỉ số chứng khoán Thứ hai, công ty niêm yết là công ty cổ phần
và công ty trách nhiệm hữu hạn
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tựu chung lại, công ty niêm yết cần được hiểu theo nghĩa rộng Nó không chỉ là công ty cổ phần (có các loại chứng khoán được niêm yết) mà còn có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn (có trái phiếu niêm yết) trên Sở giao dịch chứng khoán
Trang 18* Đặc điểm của công ty niêm yết
Xuất phát từ khái niệm trên, công ty niêm yết có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, công ty niêm yết là loại hình công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
Nếu công ty niêm yết là công ty cổ phần thì các loại chứng khoán đều
có thể được đưa vào niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Đối với công ty niêm yết là công ty trách nhiệm hữu hạn thì loại chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chỉ là trái phiếu
Thứ hai, công ty niêm yết có cổ phiếu được chấp thuận niêm yết, giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam
Để được Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận niêm yết thì doanh nghiệp phải đáp ứng được điều kiện niêm yết về vốn, tình hình hoạt động kinh doanh và được thể hiện trong hồ sơ đăng ký niêm yết Sau khi được Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận niêm yết, cổ phiếu của doanh nghiệp mới có thể được tiếp tục mua, bán trên Sở giao dịch theo quy định của pháp luật
Hoạt động giao dịch cổ phiếu tạo ra nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp niêm yết như: tăng cơ hội thu hút nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh đồng thời công chúng đầu tư có thêm một kênh đầu tư mới để không ngừng sinh lời cho đồng vốn của mình
Từ đặc điểm thứ nhất và thứ hai của công ty niêm yết cho thấy công ty niêm yết (loại hình công ty cổ phần) thực chất là công ty đại chúng Hai loại hình khác của công ty đại chúng là:
- Công ty cổ phần đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;
Trang 19- Công ty cổ phần có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên [14, 12]
Có thể thấy, tính đại chúng đã làm cho công ty niêm yết dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn lớn để thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, công ty niêm yết có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán
- Quyền của công ty niêm yết:
Với tư cách là một tổ chức kinh tế, công ty niêm yết được trao rất nhiều quyền như: Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ
và sử dụng vốn; tự chủ quyết định quan hệ nội bộ…[16, 10]
Ngoài những quyền trên, công ty niêm yết còn được pháp luật cho phép mua lại cổ phiếu của chính mình [14, 13] và thu hồi lợi nhuận đối với các giao dịch không công bằng [14, 14] Quy định này là cần thiết nhằm hạn chế các giao dịch tư lợi của người điều hành, quản lý công ty có khả năng ảnh hưởng đến các cổ đông khác đặc biệt là cổ đông nhỏ
- Nghĩa vụ của công ty niêm yết:
Do cổ phiếu được niêm yết và giao dịch tại thị trường tập trung, do vậy, công ty niêm yết phải tuân thủ nghiêm túc các nghĩa vụ: Công bố thông tin; tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và Quy chế quản trị công ty niêm yết, Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết; thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán [14, 12] Việc yêu cầu công ty niêm yết tuân thủ các nghĩa vụ này hướng tới mục tiêu quan trọng là minh bạch hóa thông tin, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư
Trang 20Bên cạnh đó, một số nghĩa vụ khác mà công ty cũng phải thực hiện trong hoạt động kinh doanh của mình như: Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề; tuân thủ quy định về kế toán, báo cáo tài chính; bảo đảm quyền lợi của người lao động trong đơn vị…
Để đảm bảo công ty được thực hiện các quyền và đặc biệt là tuân thủ đúng các nghĩa vụ như trên, nhiều quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Quy chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết đồng thời điều chỉnh đối với hoạt động của công ty niêm yết
Thứ tư, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty niêm yết phức tạp hơn so với công ty cổ phần
Công ty niêm yết có cơ cấu tổ chức nội bộ giống với công ty cổ phần ở chỗ công ty có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Ban kiểm soát Ngoài ra, theo Quy chế quản trị công ty niêm yết
và Điều lệ mẫu thì công ty niêm yết còn có Thư ký công ty, cán bộ chuyên trách công bố thông tin và các tiểu ban của Hội đồng quản trị Cụ thể là:
- Thư ký công ty: Để hỗ trợ cho hoạt động quản trị công ty được tiến hành một cách có hiệu quả, Hội đồng quản trị phải chỉ định ít nhất một người làm thư ký công ty Nhiệm kỳ của thư ký công ty do Hội đồng quản trị quyết định Thư ký công ty phải là người có hiểu biết về pháp luật Thư ký công ty không được đồng thời làm việc cho công ty kiểm toán hiện đang kiểm toán công ty Hội đồng quản trị có thể bãi nhiệm Thư ký công ty khi cần nhưng không được trái với các quy định pháp luật hiện hành về lao động Hội đồng quản trị cũng có thể bổ nhiệm một hoặc nhiều Trợ lý thư ký công ty tuỳ vào từng thời điểm
Trang 21- Cán bộ chuyên trách công bố thông tin: Hội đồng quản trị bổ nhiệm ít nhất một cán bộ chuyên trách công bố thông tin Cán bộ chuyên trách công bố thông tin có thể là Thư ký công ty hoặc một cán bộ quản lý kiêm nhiệm
- Các tiểu ban: Các tiểu ban do Hội đồng quản trị lập ra để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị bao gồm: tiểu ban chính sách phát triển, tiểu ban lương thưởng, tiểu ban kiểm toán nội bộ, tiểu ban nhân sự và các tiểu ban đặc biệt khác theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Đối với tiểu ban kiểm toán phải có ít nhất một thành viên là người có chuyên môn về kế toán và không phải là người làm việc trong bộ phận kế toán tài chính của công ty (Phụ lục 3)
Thứ năm, công ty niêm yết chịu sự quản lý chủ yếu của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì các công ty niêm yết chịu sự quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư (thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư) Sở Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ cấp Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời thực hiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động cho đến khi phá sản hoặc giải thể theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Nhưng do tính chất đặc biệt của công ty niêm yết là có chứng khoán được niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán nên các doanh nghiệp phải chịu sự quản lý của cơ quan chuyên môn – đó là Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ cấp phép đối với hoạt động chào bán chứng khoán; quản lý, giám sát các giao dịch Để thực hiện được nhiệm vụ trên, UBCKNN có hệ thống các cơ quan giúp việc như Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam Trong đó, hai Sở giao dịch chứng khoán có chức năng tổ chức và giám sát
Trang 22hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết tại các Sở giao dịch [14, 15] Còn Trung tâm lưu ký chứng khoán có chức năng tổ chức và giám sát hoạt động
đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán [14, 19]
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của nhà đầu tƣ chứng khoán trong công ty niêm yết
* Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết
Theo quan niệm của Luật Chứng khoán thì nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán [14, 4]
Từ khái niệm trên và phạm vi nghiên cứu của luận văn thì nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư trong công
ty niêm yết) được hiểu là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
* Đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết
Nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết có đặc điểm như sau:
- Nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết rất đa dạng Họ có thể là đầu tư chuyên nghiệp hoặc nhà đầu tư không chuyên nghiệp; có thể là
tổ chức hoặc cá nhân; có thể là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài Nhà đầu tư chuyên nghiệp được hiểu là những tổ chức có tư cách pháp nhân, có lợi thế về vốn, am hiểu chuyên môn về chứng khoán và thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường, đó là: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán Nhà đầu tư không chuyên nghiệp là các cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế
Trang 23Pháp luật chứng khoán không đưa ra những điều kiện cụ thể nào đối với các nhà đầu tư nhằm khuyến khích tất cả chủ thể có khả năng đầu tư đều
có thể trở thành nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, theo bản chất của quan
hệ dân sự thì nhà đầu tư phải có những điều kiện sau: có đủ năng lực hành vi dân sự (đối với nhà đầu tư cá nhân) hoặc có tư cách pháp nhân (đối với nhà đầu tư là tổ chức); có điều kiện về tài chính để tham gia đầu tư chứng khoán
và không bị pháp luật hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấm đầu tư chứng khoán
- Nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế quyền mua cổ phiếu trong một số lĩnh vực nhất định Thông qua quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phiếu tối đa, nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế quyền mua cổ phiếu của các công ty niêm yết hoạt động trong một số ngành nghề như: ngân hàng, chứng khoán Sự hạn chế này dần được dỡ bỏ một cách có lộ trình theo các cam kết của nước ta khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
- Mục đích của nhà đầu tư khi đầu tư vào công ty niêm yết là tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư có hai dạng:
Một là, nhà đầu tư có được lợi tức do chứng khoán mang lại Khoản
tiền này do tổ chức phát hành chứng khoán chi trả dưới dạng cổ tức hoặc lãi trái phiếu;
Hai là, nhà đầu tư có thể có được thu nhập bằng việc hưởng chênh lệch
từ hoạt động mua, bán chứng khoán trên thị trường
Trong đầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với khả năng và mức độ chấp nhận rủi ro Đối với các nhà đầu tư có tổ chức, mức độ rủi ro trong đầu
Trang 24tư chứng khoán thường thấp hơn so với các nhà đầu tư cá nhân do các quyết định đầu tư được thực hiện bởi chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
* Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
Khái niệm “quyền” được tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Ở góc
độ ngôn ngữ học: Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi [18, 786] Ở góc độ pháp lý, quyền là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế Phân loại quyền gồm có: 1 Quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; 2 Quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp lý); 3 Quyền do điều lệ của tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng cho phép hội viên được làm; 4 Quyền do người khác uỷ quyền v.v [17, 395-396]
Từ những khái niệm trên, quyền của nhà đầu tư trong công ty niêm yết được hiểu là những việc mà nhà đầu tư được làm khi họ sở hữu chứng khoán của công ty niêm yết
“Lợi ích” là điều có lợi, điều cần thiết [31] Ngoài ra, Từ điển tiếng Việt cũng
có cùng khái niệm như trên về lợi ích [26] Như vậy, lợi ích của nhà đầu tư trong công ty niêm yết là điều có lợi cho nhà đầu tư khi họ sở hữu chứng khoán của công ty niêm yết
* Đặc điểm của các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công
ty niêm yết
Trang 25Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết luôn gắn liền với nhà đầu tư
Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư bỏ vốn bằng tiền để mua chứng khoán của các công ty được niêm yết Bằng cách này, công ty niêm yết
đã huy động và sử dụng được nguồn vốn từ các nhà đầu tư, đổi lại các nhà đầu tư có quyền sở hữu đối với chứng khoán của chính công ty niêm yết đó Dựa trên quyền sở hữu cổ phiếu, các nhà đầu tư được hưởng các quyền và lợi ích nhất định Cách thức thực hiện quyền lợi cũng linh hoạt: nhà đầu tư có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người khác và tổ chức phát hành có trách nhiệm đảm bảo cho việc thực hiện các quyền lợi này của nhà đầu tư
Thứ hai, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết phát sinh trong quá trình đầu tư cổ phiếu của công ty niêm yết đó
Quyền và lợi ích của nhà đầu tư phát sinh kể từ thời điểm nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu của công ty niêm yết, được đảm bảo thực hiện trong suốt thời gian nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán và chấm dứt khi nhà đầu tư chuyển nhượng chứng khoán cho nhà đầu tư khác hoặc khi công ty mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
Thứ ba, sự đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết bị tác động bởi rủi ro
Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được pháp luật ghi nhận Nhưng trên thực tế, điều này không phải lúc nào cũng diễn ra một cách suôn
sẻ do sự tác động của những rủi ro Rủi ro của cổ phiếu là tính chất không chắc chắn trong nguồn lợi tức mà nó mang lại cho người nắm giữ Theo đó,
cổ phiếu có thể chịu rủi ro hệ thống hoặc rủi ro không hệ thống Rủi ro hệ
Trang 26thống là những biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội tác động tới giá cả của tất cả các loại chứng khoán Rủi ro không hệ thống là những yếu tố chỉ xảy ra đối với riêng một hãng hoặc một ngành Đó là các yếu tố như: năng lực quản
lý, những ưu tiên tiêu dùng, các cuộc bãi công ảnh hưởng đến lợi nhuận của một công ty
* Phân loại các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết là nhóm quyền lợi phát sinh từ mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chủ thể phát hành Để có cái nhìn toàn cảnh thì vấn đề này cần được xem xét, nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau
- Căn cứ vào pháp luật điều chỉnh thì quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết bao gồm: quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết theo pháp luật Doanh nghiệp và quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết theo pháp luật Chứng khoán
Các quyền và lợi ích theo pháp luật Doanh nghiệp là: quyền tham dự Đại hội cổ đông và biểu quyết; quyền nhận cổ tức; quyền xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông, Điều lệ
Các quyền và lợi ích theo pháp luật Chứng khoán là: quyền tiếp cận thông tin theo định kỳ hoặc bất thường; quyền khiếu nại, tố cáo và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến chứng khoán
- Căn cứ vào tính chất của quyền và lợi ích của nhà đầu tư thì các quyền và lợi ích này được phân chia thành: các quyền và lợi ích chính trị; các quyền và lợi ích kinh tế
Trang 27Các quyền và lợi ích chính trị như: quyền tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông; quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện tại Đại hội cổ đông; đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông; xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông, Điều lệ, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông
Các quyền và lợi ích kinh tế như: nhận cổ tức; ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, tự do chuyển nhượng cổ phần; được nhận lại một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản
Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi sở hữu chứng khoán đều có đầy đủ các quyền lợi kinh tế và chính trị đồng thời được đảm bảo các quyền này theo quy định của Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp
1.1.3 Cơ sở của bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
Theo Từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” được hiểu theo hai nghĩa: giữ gìn cho khỏi hư hỏng và bênh vực bằng lý lẽ xác đáng [26] Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư là việc Nhà nước dùng pháp luật để giúp nhà đầu
tư thực hiện được quyền lợi chính đáng của mình đồng thời bênh vực nhà đầu
tư khi các quyền lợi này bị xâm phạm gây thiệt hại cho nhà đầu tư
Về mặt lý luận, vấn đề bảo vệ quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư dựa trên cơ sở nhà đầu tư là chủ sở hữu công ty
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành [14, 4] Cổ phiếu thực chất là loại chứng khoán vốn Khi mua cổ phiếu của công ty niêm yết, những người đầu tư (các cổ đông) sẽ trở thành những người chủ sở hữu
Trang 28đối với công ty Mức độ sở hữu tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau quản lý công ty, chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty
Nhiệm vụ của pháp luật không chỉ là ghi nhận các quyền và lợi ích chính đáng của cổ đông mà còn có những biện pháp bảo vệ các quyền lợi này Những biện pháp hiện nay để bảo vệ cổ đông tập trung vào việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động của công ty, thực hiện quyền bỏ phiếu, nâng cao tính năng động và độc lập của các thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị
1.1.4 Ý nghĩa của vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tƣ trong công ty niêm yết
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư, công ty niêm yết và thị trường chứng khoán
* Đối với nhà đầu tư
Vấn đề cốt lõi của phát hành và niêm yết chứng khoán của công ty niêm yết là thu hút được rộng rãi nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp từ các nhà đầu Muốn vậy, công ty niêm yết phải gây dựng được niềm tin đối với công chúng đầu tư thông qua những hoạt động bảo vệ quyền lợi của họ Khi
đó, nhà đầu tư mới an tâm khi đưa nguồn vốn của mình vào hoạt động kinh doanh của công ty và bản thân công ty cũng đón nhận được sự ủng hộ của nhà đầu tư trong quá trình hoạt động Không những thế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư hiệu quả còn có tác dụng làm gia tăng giá trị cổ phần của nhà đầu tư Khi đó,
cổ tức cũng tăng lên tương ứng và như vậy là hoạt động đầu tư của nhà đầu tư
có hiệu quả, nâng cao được lòng tin của nhà đầu tư đối với công ty niêm yết
* Đối với công ty niêm yết
Trang 29Sự tách bạch giữa sở hữu và điều hành, quản lý công ty niêm yết được coi là mô hình của công ty cổ phần kiểu mới trong đó có công ty niêm yết và làm nảy sinh những rủi ro về sự khác nhau giữa lợi ích giữa các cổ đông với các mục tiêu quản lý Từ đó, nếu doanh nghiệp niêm yết bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư nhỏ thì chứng minh cho một cơ chế quản trị công ty tốt Việc làm này tạo ra ảnh hưởng rất tích cực cho công
ty như: nhận được sự ủng hộ của nhà đầu tư, khả năng huy động vốn cao với chi phí thấp, gia tăng giá trị cổ phần, nâng cao hình ảnh và giá trị doanh nghiệp trong con mắt các nhà đầu tư
* Đối với thị trường chứng khoán
Bảo vệ tốt quyền lợi nhà đầu tư trong công ty niêm yết không chỉ có tác động trực tiếp đến nhà đầu tư, công ty niêm yết mà còn tạo nên hiệu ứng tích cực cho thị trường chứng khoán nói chung Thị trường chứng khoán giống như một sân chơi chung của nhiều chủ thể trong đó có các công ty niêm yết Khi các công ty niêm yết đều tuân thủ luật chơi là bảo vệ tốt nhà đầu tư cũng
có nghĩa là giúp cho thị trường chứng khoán vận hành ổn định
1.1.5 Các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
Theo Từ điển Tiếng Việt, “biện pháp” là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [26] Từ đó, các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết được hiểu là tổng hợp các cách giải quyết
để làm cho quyền và lợi ích của nhà đầu tư không bị xâm phạm bởi công ty niêm yết và các chủ thể quản lý công ty niêm yết
Dựa vào quy định của pháp luật, nhà đầu tư trong công ty niêm yết được bảo vệ theo các biện pháp sau:
* Biện pháp hành chính
Trang 30UBCKNN bảo vệ nhà đầu tư thông qua các các biện pháp hành chính sau:
- Tạm đình chỉ hoạt động giao dịch, hoạt động lưu ký của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán trong trường hợp có dấu hiệu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư;
- Thanh tra, giám sát, xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Đình chỉ, huỷ bỏ chào bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức phát hành trong trường hợp hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin sai lệch, bỏ sót nội dung quan trọng hoặc việc phân phối chứng khoán không đúng quy định của Luật Chứng khoán có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư
Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các biện pháp hành chính sau để bảo vệ nhà đầu tư:
án và yêu cầu Trọng tài giải quyết
Trang 311.2 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
Năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời, đã đặt nền tảng pháp lý đầu tiên cho việc hình thành hệ thống các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân trong nước Trong đó, Luật Công ty đã đưa ra những mầm mống manh nha cho khung pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty cổ phần Lúc này, quyền của cổ đông trong công ty cổ phần còn rất sơ sài Cổ đông mới chỉ có một số quyền như: sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với số vốn góp, được chia lợi nhuận tương ứng với số cổ phần và tham dự họp Đại hội đồng và biểu quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền Quyền tiếp cận thông tin và quyền của cổ đông tham gia vào việc quyết định hàng loạt các vấn đề cơ bản của công ty như: chia, tách, hợp nhất, sáp nhập… không được đề cập đến Bên cạnh đó, pháp luật về chứng khoán rất đơn giản, chỉ được biết đến là Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nghị định này không hề đề cập đến các vấn đề có liên quan đến bảo vệ nhà đầu tư như: quyền khởi kiện của nhà đầu tư tại Toà án hoặc yêu cầu Trọng tài Kinh tế giải quyết tranh chấp; thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các công ty niêm yết trong bảo đảm thực hiện quyền lợi của nhà đầu tư
Chế độ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư manh nha, sơ sài như trên được
áp dụng trong thời kỳ 1991 – 1999 Trong giai đoạn gần 10 năm nói trên không có một sáng kiến hay thay đổi nào nhằm hoàn thiện và nâng cao khung pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư ở nước ta Thực tế đó xuất phát từ hoàn cảch
Trang 32lịch sử cụ thể của thời kỳ đó Mức độ phát triển kinh tế và mức độ thị trường hoá nền kinh tế còn thấp; các doanh nghiệp quy mô nhỏ, giản đơn trong đó người chủ sở hữu vẫn trực tiếp nắm quyền điều hành công ty Các doanh nghiệp chỉ được quyền làm những gì mà cơ quan Nhà nước cho phép Việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư dựa nhiều vào sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước hơn là thông qua các công cụ chỉ đạo điều hành và kiểm soát nội bộ công ty Mức độ hội nhập còn hạn chế; vì vậy, những tư tưởng mới về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chưa được du nhập ở mức cần thiết vào nước ta Song song với đó là thị trường chứng khoán nước ta chưa được khởi động Mãi đến năm 1998, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh mới được thành lập nhưng vẫn chưa đi vào hoạt động vì đây là giai đoạn nước ta học tập kinh nghiệm về xây dựng mô hình thị trường chứng khoán
Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã đánh dấu một bước tiến nhảy vọt quá trình hoàn thiện khung pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư Quyền của các cổ đông đã được quy định tương đối đầy đủ, cổ đông thiểu số gom số cổ phiếu của họ thành một nhóm để có một số quyền nhất định như: quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, xem và nhận bản sao hoặc trích lục danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông Trong thời gian này, ngoài Luật Doanh nghiệp, Văn phòng Chính phủ còn ban hành Điều lệ mẫu (Quyết định 07/2002/QĐ-VPCP ngày 19/11/2002 ban hành mẫu Điều lệ áp dụng cho các công ty niêm yết) được khuyến cáo áp dụng đối với các công ty niêm yết trên các Trung tâm Giao dịch chứng khoán Tiếp đó, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán (thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP) được ban hành để tạo hành lang pháp lý vận hành thị trường chứng khoán sau sự kiện Trung tâm Giao dịch
Trang 33chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (đổi thành Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) chính thức hoạt động vào ngày 20/7/2000 Nói chung, hệ thống cơ quan quản lý và khung pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư đã
có bước phát triển theo hướng phù hợp với pháp luật các nước trên thế giới Tuy nhiên, khung pháp luật lúc này cũng còn bộc lộ không ít khiếm khuyết,
cụ thể là:
- Quyền của cổ đông công ty niêm yết vẫn chưa được quy định đầy đủ
và chưa được bảo đảm thực hiện một cách hợp lý như: quyền giám sát trực tiếp của cổ đông hoặc gián tiếp thông qua các thể chế như kiểm toán, kiểm soát nội bộ; quyền tiếp cận thông tin
- Chưa thiết lập được các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư từ phía cơ quan
có thẩm quyền
Trước những bất cập nêu trên và sức ép của hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế, hệ thống pháp luật nước ta không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với xu thế cũng như thông lệ đã được thừa nhận Trong nỗ lực đó phải kể đến việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 (thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999); Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Quy chế quản trị công ty niêm yết (ban hành kèm theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài Chính) và Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết (ban hành kèm theo Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài Chính) Đây là một bước tiến lớn tạo ra sự thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong các công ty niêm yết Có thể nói, quyền của cổ đông trong các công ty niêm yết ở nước ta cũng được bổ sung cho phù hợp với yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư và có sự tương đồng nhất định với Luật Công
ty của các quốc gia như: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philipine Không
Trang 34chỉ dừng lại ở đó, các văn bản pháp luật trên còn tạo ra cơ chế để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư một cách đầy đủ và cụ thể bao gồm: cơ chế bên trong là khung quản trị công ty niêm yết và cơ chế bên ngoài hay là sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán Nhà nước) Thực tế ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ,
Úc, Nhật Bản đã chứng minh rằng, mức độ bảo vệ đối với nhà đầu tư càng cao thì thị trường chứng khoán càng phát triển, nguồn vốn thu hút vào nền kinh tế qua thị trường chứng khoán càng lớn và như vậy là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đó cũng càng cao Tất cả những lợi ích này chỉ đạt được
ở một đất nước có pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư trong các công ty niêm yết phát huy một cách hữu hiệu
1.2.1 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
1.2.1.1 Bảo vệ quyền tham gia thị trường, quyền thực hiện các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
Bảo vệ quyền tham gia thị trường, quyền thực hiện các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung và các nhà đầu
tư vào công ty niêm yết nói riêng đã được Luật Chứng khoán ghi nhận là một
nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán:“Tôn trọng
quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân” [14, 1]
* Bảo vệ quyền tham gia thị trường của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
Khác với tổ chức phát hành hoặc các công ty chứng khoán, Luật Chứng khoán không đưa ra bất kỳ điều kiện gì đối với nhà đầu tư trong các công ty niêm yết, thực tế họ chỉ cần có vốn là có thể tham gia vào thị trường chứng
Trang 35khoán Đây là sự khuyến khích của Nhà nước đối với các nhà đầu tư để họ tham gia vào thị trường này
* Bảo vệ quyền thực hiện các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
- Bảo vệ quyền tự do chuyển nhượng cổ phần
Cổ đông phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp [16, 35] Quyền này của cổ đông lại được cụ thể hóa trong Quy chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết như sau: Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần đã được thanh toán đầy đủ và ghi trong sổ cổ đông của công ty, trừ một số trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty [2]
- Bảo vệ quyền của nhà đầu tư khi yêu cầu công ty niêm yết mua lại cổ phần của mình
Theo Khoản 1 Điều 90 Luật Doanh nghiệp và Điểm h Khoản 2 Điều 11 Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết, cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định về các vấn đề trên
Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp không
Trang 36thoả thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng
1.2.1.2 Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tƣ của nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
Khi nhà đầu tư mua bỏ tiền ra để mua cổ phiếu của công ty niêm yết thì
số tiền thu về sẽ trở thành vốn chủ sở hữu của tổ chức phát hành Theo quy định của Bộ luật dân sự thì đây là tài sản chung theo phần, các nhà đầu tư đều
có quyền sở hữu đối với công ty nhưng tương ứng với tỷ lệ góp vốn của họ
Để chứng nhận quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư, công ty niêm yết phải lập và lưu giữ Sổ đăng ký cổ đông từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Theo Điều 86 Luật Doanh nghiệp, sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này
Nếu cổ phiếu được phát hành dưới dạng chứng chỉ thì cổ đông còn được cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận cổ phiếu tương ứng với số cổ phần và loại cổ phần sở hữu Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết, chứng chỉ cổ phiếu phải có dấu của công ty và chữ ký của đại diện theo pháp luật của công ty theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp Chứng chỉ cổ phiếu phải ghi rõ số lượng và loại cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ, họ và tên người nắm giữ (nếu là cổ phiếu ghi danh) và các thông tin khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp Mỗi chứng chỉ cổ phiếu ghi danh chỉ đại diện cho một loại cổ phần
Trong thực tế, cổ phiếu của các công ty niêm yết có thể được phát hành dưới dạng dữ liệu điện tử Lúc đó, công ty niêm yết phải ứng dụng công nghệ
Trang 37thông tin trong việc lưu giữ các thông tin liên quan đến quyền sở hữu của cổ đông đối với phần vốn góp của mình vào công ty
Quyền sở hữu của nhà đầu tư còn được bảo đảm trong các giao dịch mua, bán cổ phần Theo đó, cổ phần được coi là đã bán khi thanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông;
kể từ thời điểm đó người mua cổ phần trở thành cổ đông công ty Sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu cho người mua Công
ty có thể bán cổ phần mà không trao cổ phiếu Trong trường hợp này, các thông tin về cổ đông được ghi vào sổ đăng ký cổ đông là đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ đông đó trong công ty Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty [16]
1.2.1.3 Bảo vệ quyền đƣợc cung cấp thông tin của nhà đầu tƣ trong công
ty niêm yết
Khi mua cổ phần, người mua bỏ tiền ra mua lấy một thứ tài sản vô hình gọi là cổ phần…Yếu tố quyết định để mua cổ phần là niềm tin của người mua vào tổ chức phát hành; trong niềm tin đó hẳn cũng có một chút phiêu lưu, song về cơ bản phải có những cơ sở nhất định người ta mới có thể tạo dựng được niềm tin Thị trường chứng khoán và các công ty cổ phần niêm yết sẽ trở nên phổ biến ở nước ta, nếu: (a) người dân có cơ sở để tin rằng những thông tin về doanh nghiệp, kế hoạch cũng như tương lai kinh doanh do người quản trị công ty phát hành đưa ra là đáng tin cậy, (b) người quản trị công ty thu tiền của dân để kinh doanh một cách hợp lý vì lợi ích của cổ đông chứ không vì lợi ích của bản thân và gia đình họ mà bóc lột cổ đông thiểu số [12, 332] Để gây dựng được niềm tin của nhà đầu tư, thuyết phục được nhà đầu tư mua chứng khoán của mình, công ty niêm yết cần phải cung cấp cho nhà đầu
Trang 38tư một cách đầy đủ nhất các thông tin về bản thân công ty, thông tin liên quan đến chứng khoán được chào bán
Luật Chứng khoán đã có sự quan tâm lớn đối việc bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư bằng việc quy định hẳn một chương riêng
về vấn đề này Công ty niêm yết phải có nghĩa vụ công bố thông tin khi chào bán chứng khoán ra công chúng Theo Khoản 1 Điều 21 Luật Chứng khoán, việc phân phối chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành bảo đảm người mua chứng khoán tiếp cận Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng được công bố tại các địa điểm ghi trong Bản thông báo phát hành
Bên cạnh đó, do có sự bất cân xứng về thông tin nên bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư trong công ty niêm yết được thực hiện trong suốt quá trình nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán Công ty niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo quy định của Luật Chứng khoán như sau:
- Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày có báo cáo tài chính năm được kiểm toán, công ty niêm yết phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính năm;
- Công ty niêm yết phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn hai mươi bốn giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau:
Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong toả hoặc tài khoản được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong toả;
Trang 39 Quyết định của Hội đồng quản trị về việc mua lại cổ phiếu của công ty mình hoặc bán lại số cổ phiếu đã mua; về ngày thực hiện quyền mua cổ phiếu của người sở hữu trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phiếu hoặc ngày thực hiện quyền chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu
và các quyết định liên quan đến việc chào bán;
Có quyết định khởi tố đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của công ty; có bản án, quyết định của Toà án liên quan đến hoạt động của công ty; có kết luận của cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật về thuế;
Công bố thông tin trong thời hạn hai mươi bốn giờ, kể từ khi bị tổn thất tài sản có giá trị từ mười phần trăm vốn chủ sở hữu trở lên
- Công ty niêm yết phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn bảy mươi hai giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu có giá trị từ ba mươi phần trăm vốn thực có trở lên;
Quyết định của Hội đồng quản trị về chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; quyết định thay đổi phương pháp kế toán áp dụng;
Công ty nhận được thông báo của Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Công ty niêm yết phải công bố thông tin theo yêu cầu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
Có thông tin liên quan đến công ty niêm yết ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư;
Trang 40 Có thông tin liên quan đến công ty niêm yết ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó
- Công bố thông tin về báo cáo tài chính quý trong thời hạn năm ngày,
kể từ ngày hoàn thành báo cáo tài chính quý [14, 40-42]
Bên cạnh những trường hợp phải công bố thông tin như trên, công ty niêm yết còn phải tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin cho cổ đông và công chúng theo Quy chế quản trị công ty niêm yết, bao gồm:
- Công bố thông tin về tình hình quản trị công ty:
Công ty niêm yết phải công bố thông tin về tình hình quản trị công ty trong các kỳ Đại hội đồng cổ đông hàng năm, trong báo cáo thường niên của công ty, tối thiểu phải bao gồm những thông tin sau:
Thành viên và cơ cấu của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;
Hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;
Hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành;
Hoạt động của các tiểu ban của Hội đồng quản trị;
Những kế hoạch để tăng cường hiệu quả trong hoạt động quản trị công ty;
Thù lao và chi phí cho thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban giám đốc điều hành và thành viên Ban kiểm soát;
Thông tin về các giao dịch cổ phiếu của công ty của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành, Ban kiểm soát, cổ đông lớn và các giao dịch khác của thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành, Ban kiểm soát và những người liên quan tới các đối tượng nói trên;