1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật

124 848 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu: "Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam " với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN DANH KIÊN

PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Doãn Hồng Nhung

Hà Nội – 2012

Trang 2

1.1.1 Phân loại tài nguyên đất, nhóm đất nông nghiệp 8 1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của đất đai - đất nông nghiệp 11 1.2 Khái quát quá trình phát triển của pháp luật đất đai về

sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

15

Trang 3

1.2.4 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003 23 1.3 Quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp tại Việt

Nam hiện nay

25 1.3.1 Chủ thể trong quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông

nay

32

1.4.1 Bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp và đảm bảo an

ninh lương thực quốc gia

32 1.4.2 Sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, tiết kiệm, hiệu quả

và bền vững

34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp 38 2.1.1 Các quy định pháp luật về giao đất nông nghiệp 38 2.1.2 Các quy định pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp 47

2.1.3 Các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi

đất nông nghiệp

51

2.1.5 Các quy định pháp luật về chuyển mục đích sử dụng

Trang 4

từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp 62 2.1.6 Quyền sử dụng đất nông nghiệp trong thị trường bất

2.2.3 Ô nhiễm đất nông nghiệp ngày càng thêm trầm trọng 75

CHƯƠNG 3

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

đối với đất đai và nông nghiệp

84 3.1.3 Nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá 92 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả về sử dụng đất nông

Trang 5

3.2.1.2 Sửa đổi các quy định về thu hồi đất, giá đất và bồi

thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

99 3.2.1.3 Ban hành luật quản lý nông nghiệp bảo vệ nghiêm

ngặt đất trồng lúa

102 3.3 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng,

khai thác đất nông nghiệp

103 3.3.1 Tăng cường tuyên truyền, kiểm tra giám sát pháp luật

sử dụng đất nông nghiệp

103 3.3.2 Tiếp tục thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa 104 3.3.3 Thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp cho

người nông dân

105 3.3.4 Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tạo giống, cơ

giới hoá, sản xuất theo hướng hàng hoá, năng xuất cây

trồng, tạo việc làm cho người nông dân khi thu hồi

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, Tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của thầy cô Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy cô Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi suốt quá trình nghiên cứu, học tập tại trường Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến

TS Doãn Hồng Nhung đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn

nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc sự quan tâm của Lãnh đạo Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc, cùng các anh chị đồng nghiệp - nơi tôi công tác, đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học Đồng thời, tôi cũng xin cảm

ơn Lãnh đạo, quý anh, chị công tác tại Tổng cục quản lý đất đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạo điều kiện cho tôi có dữ liệu viết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 01 năm 2012

Học viên

Nguyễn Danh Kiên

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Danh Kiên

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2 1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước

Bảng 2.2 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, gắn liền với mọi hoạt động của con người, có tác động trực tiếp tới môi trường sinh thái Trải qua bao thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập và bảo vệ vốn đất đai như ngày nay Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng để phát

Trang 11

triển kinh tế nhất là đối với ngành nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất, quyết định tính đa dạng, quy mô và hiệu quả của sản phẩm nông nghiệp

Ở nước ta, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế then chốt và ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế nông thôn Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 346786 tỷ đồng, chiếm 30,91% tổng sản phẩm trong nước, có khoảng 58,0 % lao động làm tại khu vực nông thôn Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Đồng thời, Việt Nam còn là nước xuất khẩu các mặt hàng nông sản có giá trị lớn như: cà phê, sợi bông, cao su, chè… Hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm nhanh chóng một mặt do phải thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghiệp, xây dựng đô thị hoặc nhiều mục đích khác nhau Mặt khác nhiều năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, các thảm hoạ thiên tai luôn đe doạ đến diện tích đất đai và ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia Vì vậy, vấn

đề sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp là rất cấp bách và cần thiết

Từ những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu: "Pháp

luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam " với mong muốn góp phần

tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong chính sách pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp hiện nay, trên cơ sở đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp góp phần giải phóng sức lao động, tính chủ động sáng tạo, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý trong sản xuất nông nghiệp nâng cao hiệu quả trong sản xuất phục vụ cho mục đích công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là đối với chính sách xây dựng nông thôn mới của nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu, tính mới của đề tài

Trang 12

Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu các góc độ, khía cạnh pháp lý khác nhau về đất nông nghiệp của các tác giả: PGS.TS Trần Thị Minh Châu chủ biên (2007), Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay - NXB Chính trị Quốc gia; Ths Nguyễn Mạnh Tuân (2003-2004), Chính sách đất đai nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tô Văn Châu (2003), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với đất đai ở Việt Nam Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận lịch sử Nhà nước và pháp luật

– Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Phát triển nông nghiệp và chính

sách đất đai ở Việt Nam Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của xtrây-lia 2007; An Như Hải (2008), Thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị Quan điểm và giải pháp Tạp chí Quản lý nhà nước 2008; Bùi Đình Tuân (2009), Lý giải hiện tượng bán đất của người nông dân, Tạp chí Tâm lý học 2009, số 4 Luận án: quan hệ tổ chức - quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nghiệp nông thôn của Nguyễn Tấn Phát, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Ốt-Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề pháp lý như quản lý nhà nước về đất đai, về thực trạng pháp luật trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp, về tổ chức ruộng đất ở nông thôn… Kế thừa thành quả của các tác giả đã nghiên cứu, tác giả

luận văn mạnh dạn chọn đề tài: "Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở

Việt Nam " nhằm làm sáng tỏ, bổ sung thêm ý nghĩa của hệ thống lý luận,

đánh giá thực trạng trong sử dụng đất nông nghiệp Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật cũng như trong tổ chức thực hiện

để nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng đất nông nghiệp, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng đời sống của người nông dân trước bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu của luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ hệ thống lý luận, chính sách pháp luật về đất nông nghiệp Đồng thời phân tích thực trạng pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp ở Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật, cũng như việc tổ chức triển khai ứng dụng trong thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định

liên quan đến chế độ pháp lý của nhóm đất nông nghiệp, chủ yếu là đối với loại đất hàng năm trong đó tập trung đối với loại đất trồng lúa

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các các

quy định pháp lý liên quan về sử dụng nhóm đất nông nghiệp, chủ yếu là đối với đất nông nghiệp hàng năm - đất lúa Thực trạng các quy định pháp luật từ khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay, nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp - nông thôn Sử dụng phương pháp thu thập thống kê, quan sát, so sánh… nhằm phân tích, đánh giá thực trạng của các quy định liên quan, đưa ra các kết luận mang tính khoa học để hoàn thiện chính sách pháp luật trong sử dụng đất

nông nghiệp ở Việt Nam

6 Ý nghĩa của luận văn

Về mặt lý luận: Đề tài luận văn có ý nghĩa làm rõ hệ thống lý luận,

Trang 14

những vấn đề pháp lý cơ bản về đất nông nghiệp Từ đó có những nhận thức mới, sâu sắc hơn đối với đất nông nghiệp Bảo đảm nguyên tắc bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp và sử dụng có hiệu quả trong hoạt động khai thác sử dụng, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Về mặt thực tiễn: Qua phân tích thực trạng của vấn đề pháp lý và thực

tiễn trong việc sử dụng đất nông nghiệp nhằm đưa ra các đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở chính sách pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác sử dụng đất nông nghiệp

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, chữ viết tắt Luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về đất nông nghiệp

1.1.1 Đất –Tài nguyên đất Việt Nam

Con người sinh ra gắn liền với đất, tồn tại được là nhờ các sản phẩm

từ đất và đến khi nhắm mắt, xuôi tay họ lại trở về với đất Qua bao nhiêu

Trang 15

thế hệ con người đã có nhiều nhận thức khoa học và có cả những nhận thức mang ý nghĩa tâm linh về đât đai Cho tới nay đã có nhiều định nghĩa về đất, Theo Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản

Oxford, năm 1995, Land (đất): Phần rắn khô của bề mặt trái đất, đối lập

với nước [50, tr.661] Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất

bản Macmillan, năm 1996, Land (đất): (1) phần rắn của bề mặt trái đất

không bị bao phủ bởi nước; (2) phần cụ thể của bề mặt trái đất; (3) đất nước, vùng…; cư dân của vùng, người của một quốc gia; (4) mặt đất hoặc phần rắn xét ở khía cạnh tính chất, địa điểm tọa lạc; (5) đất xem xét dưới góc độ là tài sản…[51, tr.758] Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, năm 1998, Đất là phần chất rắn, nơi người và động thực vật sinh sống; phân biệt với biển, trời Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1, năm 1995, Đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất được hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ Đất

có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật) Đất được phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ Bazan; đất phù sa; đất phù sa cổ; đất rừng xám; đất Potzon; đất mặn kiềm hay chua mặn,vv Đất đồng bằng tùy thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; đất miền núi chịu sự chi phối của chiều cao Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy lợi, du lịch, vv)

Đất đai là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nên có nhiều cách nhận thức khác nhau về đất đai Đối với ngành khoa học thổ nhưỡng, đất đai với tư cách là đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình hình thành, quy

Trang 16

luật phân bố các loại đất trên địa cầu cùng những đặc tính khác nhau của các loại đất nên những thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học thổ nhưỡng là

hệ thống tri thức tương đối đầy đủ về nhận thức khoa học về đất đai Định nghĩa đất của Đacutraep – nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất Theo tác giả: Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Các loại đá và khoáng chất cấu tạo nên vỏ trái đất dưới tác động của khí hậu, sinh vật địa hình trải qua một thời gian nhất định dần dần bị vụn nát Chính con người tác động và đất đã làm thay đổi nhiều tính chất đất và nhiều khi tạo ra một loại đất mới chưa có từng có trong tự nhiên, ví dụ như đất trồng lúa nước

Theo các định nghĩa của tổ chức FAO thì đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó Như vậy, đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị ý niệm của con người Theo định nghĩa này, đất đai thường gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích và khi có sự chuyển quyền sở hữu Cũng có quan điểm tổng hợp cho rằng đất đai

là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế - xã hội của một tổng thể vật chất Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới

bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy …), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước,

hệ thống thoát nước, đướng xá nhà cửa)

Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích tự nhiên là 330.104,2 km2, xếp thứ 59 trên tổng số 200 nước trên thế giới, trong

Trang 17

đó diện tích sông, suối, núi đá và các hải đảo chiếm khoảng 2 triệu ha, còn lại

là các loại hình thổ nhưỡng đất liền Gần ¾ diện tích đất đai của nước ta là rừng núi, diện tích đất nông nghiệp chưa đầy 25% Chúng ta có thể thấy, đất đai nước ta rất đa dạng về các loại đất nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng, do đó quyết định đến sự phân bố dân cư Ở những vùng đất đai rộng lớn thì dân cư thưa thớt bởi điều kiện canh tác và sinh sống tại những vùng này rất khó khăn Vùng Bắc Trung bộ chiếm 31,3% diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước Trong khi đó, đồng bằng sông Hồng chiếm 3,78% diện tích đất tự nhiên nhưng chiếm 8,7% diện tích đất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,95% diện tích đất tự nhiên, nhưng chiếm 34,30% tổng diện tích đất nông nghiệp

Diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do tốc độ tăng dân số cao, sự phát triển mạnh của các yếu tố như đô thị hoá, công nghiệp hoá và các cơ sở hạ tầng mà ở đó chủ yếu là đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sang các hoạt động kinh tế khác với số lượng ngày càng tăng Diện tích đất trung bình trên đầu người thuộc loại thấp trên thế giới, diện tích đất trung bình trên đầu người là 0,46 ha, đứng thứ 10 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 135 trong tổng số 200 nước trên thế giới Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam chỉ còn dưới 0,11

ha, thuộc nhóm 7 là nhóm các nước có diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp trên thế giới [3, tr 49] Do đó chính sách pháp luật đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên đất đai nhằm phát triển kinh tế xã hội của nước ta

1.1.2 Phân loại đất đai, nhóm đất nông nghiệp theo pháp luật ở Việt Nam

Trang 18

Phân loại đất là việc phân chia đất thành từng nhóm hay các loại đất khác nhau với những tên gọi đặc trưng nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc nghiên cứu bản chất, quá trình phát sinh, phát triển của từng loại đất khác nhau từ đó đề ra phương hướng quản lý và sử dụng hiệu quả Khoa học nghiên cứu về đất, đặc biệt là ngành thổ nhưỡng nghiên cứu về đất đã tiến hành phân loại đất nhằm kiến giải các hiện tượng, tính chất đặc điểm tự nhiên của đất đai nhằm phục vụ cho sử dụng khai thác hợp lý đất đai nhất là đối với ngành kỹ thuật trồng trọt Dựa trên những đặc điểm tự nhiên của đất và những thành tựu nghiên cứu của khoa học thổ nhưỡng để phát triển kinh tế - xã hội với tư cách là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành nông nghiệp

Nếu khoa học thổ nhưỡng phân loại đất nhằm phục vụ cho kỹ thuật canh tác thì khoa học pháp lý nghiên cứu việc phân loại đất theo mục đích sử dụng của từng loại đất khác nhau dựa vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng loại đất nhằm phục vụ cho việc quản lý và sử dụng đất đai có định hướng và hiệu quả

Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, Luật đất đai năm 1987 tại Điều 8, đất đai được phân thành 5 nhóm đất: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng Đến Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam được chia thành sáu loại: Đó là, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chưa

sử dụng Đối với đất nông nghiệp được xác định tại Điều 42 như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.” Với quy định của Luật đất đai năm 1993, theo sự phân chia này, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại riêng Tuy nhiên, sự phân loại này dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, vừa

Trang 19

căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công quản lý đất đai

Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Theo quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên

cơ sở đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm :

- Nhóm đất nông nghiệp;

- Nhóm đất phi nông nghiệp;

- Nhóm đất chưa sử dụng;

Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi

“nhóm đất nông nghiệp” thay cho “ đất nông nghiệp” trước đây Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệp về nông nghiệp, lâm nghiệp Cụ thể tại Khoản 1 Điều

13 của Luật đất đai năm 2003 và Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 01 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, nhóm đất nông nghiệp gồm các loại đất như sau:

Một là, đất trồng cây hàng năm: Đó là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm

kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên

có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi; bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ

Trang 20

dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác Ở nước ta, diện tích đất

này tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long

và một phần đồng bằng duyên hải miền Trung Trong khi đó các tỉnh miền núi phía Bắc diện tích đất hàng năm phục vụ cho trồng lúa đảm bảo lương thực đồng bào miền núi còn rất hạn chế, điều kiện canh tác rất khó khăn

Hai là, đất trồng cây lâu năm: Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như thanh long, chuối, dứa, nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác

Ba là, đất rừng sản xuất: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất

có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất

Bốn là, đất rừng phòng hộ: là đất sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng

hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ

Năm là, đất rừng đặc dụng: Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng

Trang 21

Sáu là, đất nuôi trồng thuỷ sản: Đất nuôi trồng thuỷ sản là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt

Bảy là, đất làm muối: Đất làm muối là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối

Tám là, đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ: Đất này là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuât nông nghiệp

Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập nghiên cứu đất nông nghiệp đối với đất hàng năm chủ yếu là đất lúa nhằm phân tích thực trạng sử dụng loại đất này để đưa ra các giải pháp hoàn thiện, tăng khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, kết hợp yếu tố sản xuất hiệu quả, đảm bảo bền vững trong việc

sử dụng trước những yêu cầu cấp thiết hiện nay

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của đất đai - đất nông nghiệp

Dưới góc độ chính trị, pháp lý: Đất đai là một bộ phận không thể

tách rời của lãnh thổ quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của một nhà nước Xâm phạm đất đai là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia Nhà nước là đại diện cho chủ quyền quốc gia có quyền và trách nhiệm thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ đất đai khỏi sự xâm phạm từ bên ngoài Đất nông nghiệp có vị trí quan trọng và được coi là một trong những đảm bảo cho sự ổn định an toàn cho tồn tại và phát triển của đất nước

Trang 22

Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Các Mác cho rằng, đất là một phòng thí

nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể Khi nói về vai trò ý nghĩa của đất đối với sản xuất xã hội, Mác khẳng định: “ Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh

ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ” Hay như William Petti (1622-1687) nhà sáng lập khoa kinh tế chính trị hiện đại đã tổng kết: “Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ” Nhà sử học Phan Huy Chú qua nghiên cứu thực tiễn đã rút ra kết luận: “Của cải của một nước không gì bằng đất đai, nhân dân và của cải do đấy mà sinh ra” Tất cả những nhận định trên cho thấy đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò đối với đời sống kinh tế xã hội là hết sức to lớn

Chúng ta đã biết rằng, không có đất thì không thể có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người Đất tồn tại như một vật thể lịch sử - tự nhiên không phụ thuộc vào hình thái kinh tế xã hội Đồng thời, đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là nơi cư trú, sinh sống của con người, là TLSX chính không thể thay thế được của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu chính của các ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: gạch, ngói, xi măng, đồ gốm… Đất là cội nguồn dự trữ tài nguyên có giá trị nhất của con người Đất đai là cơ sở để phát triển các hệ sinh thái, là yếu tố hàng đầu của môi trường sống, thiếu nó con người không thể tồn tại, duy trì và phát triển sự sống

Đất đai vừa là tài nguyên vừa là nguồn lực để phát triển đất nước Ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, chúng ta đã xác định đất đai

là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là TLSX đặc biệt, là nguồn nội lực

và nguồn vốn to lớn của đất nước, quyền sử dụng đất đai là hàng hóa đặc biệt Chính sách đất đai phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất Đổi mới phải phù hợp với đường lối phát

Trang 23

triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Chủ động phát triển vững chắc thị trường bất động sản có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, với sự tham gia nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, không tách rời thị trường quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất Việc tiếp tục đổi mới đã coi đất đai là nguồn lực, nguồn vốn, tức là đã thấy nguồn vốn đầu tư từ nội lực đang tiềm ẩn trong đất đai và có

ý nghĩa to lớn tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay

Ngày nay, đất đai được xác định là một nguồn lực, nguồn vốn để phát triển kinh tế, quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt và là tài sản của người sử dụng đất Trong những năm gần đây hầu hết các lý luận kinh tế đều thừa nhận: sức lao động, vốn tài chính, đất đai là những nguồn lực đầu vào của nền kinh tế và đầu ra là sản phẩm hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa

và dịch vụ Do đó đất đai là động lực quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Đất đai trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập nền kinh tế

xã hội, cũng như tiến trình CNH - HĐH của nước ta hiện nay có ý nghĩa sâu sắc Vì vậy, sử dụng có hiệu quả đất đai luôn là vấn đề hệ trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp dân cư trong xã hội

Việc quản lý tài nguyên đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng rất cần thiết nhằm phát huy những lợi thế về tài nguyên và giải phóng nguồn lực tạo nên bước đột phát trong phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định và an ninh lương thực của mỗi quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, khi chúng ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp hầu hết

bộ phận dân cư vẫn sinh sống ở nông thôn, sinh kế ổn định chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp Quá trình CNH-HĐH góp phần thúc đẩy mạnh mẽ

sự phát triển kinh tế đất nước nhưng việc thu hồi đất nông nghiệp cho

Trang 24

phát triển công nghiệp, xây dựng và các mục đích khác làm cho bộ phận dân cư sinh sống bằng nông nghiệp bị “tổn thương” do thiếu việc làm, sinh kế của họ mất đi mà không hoặc khó có thể thay thế được bằng sinh

kế khác, nguy cơ bất ổn xã hội tiềm ẩn khi nhà nước thực hiện các chính sách về đất đai nhất là khi thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các nhu cầu phi nông nghiệp Chúng ta phải thừa nhận rằng vấn đề giải quyết việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội như nhà ở, điều kiện làm việc, đạo đức văn hoá truyền thống trong bối cảnh chúng ta đang “ưu ái” phát triển công nghiệp hiện nay đang xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, nhất là việc làm cho những lao động trước đây sinh sống bằng nông nghiêp hiện nay không còn TLSX, điều này phụ thuộc phần lớn vào việc những nhà được “ưu ái” khi triển khai các dự án đầu tư

Ý nghĩa của hoạt động quản lý và sử dụng đất nông nghiệp: Con

người muốn tồn tại, trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo… Để có thức ăn con người phải lao động sáng tạo khoa học [27, tr 264] Vì vậy đất đai có ý nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của loài người Mặt khác, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do phải đáp ứng cho quá trình CNH - HĐH đang diễn ra mạnh mẽ, do thảm hoạ thiên tai và sự xâm lấn của biển đang ngày càng đe doạ nghiêm trọng đến diện tích đất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đảm bảo lương thực, thực phẩm cho xã hội là điều kiện quan trọng để ổn định xã hội và phát triển kinh tế

Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có vai trò quyết định đối với việc thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm và còn tạo cơ sở cho sự phát triển các mặt khác của đời sống xã hội Vì vậy quản lý và sử dụng đất nông nghiệp mang ý nghĩa to lớn đến sự tồn tại và phát triển mang tính chiến lược của mỗi quốc gia Luật đất đai năm 1993 đã ghi nhận vai trò cần phải quản lý

Trang 25

chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý

giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng; Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta

đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay Đồng thời việc bảo vệ đất trồng lúa có ý nghĩa vô cùng đặc biệt

“Bảo vệ đất trồng lúa không chỉ có ý nghĩa đảm bảo an ninh lương thực mà

còn là việc duy trì nền văn minh lúa nước mà dân tộc Việt Nam đã dày công xây dựng hàng ngàn năm mới có Đây cũng là quá trình đấu tranh gay gắt để hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích

toàn cục, giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa - xã hội [ 49 ]

1.2 Khái quát quá trình phát triển của pháp luật đất đai về đất nông nghiệp ở Việt Nam

1.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến 1954

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thành lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng đất nước bị kẻ thù bao vây từ nhiều phía Thù trong giặc ngoài câu kết với nhau nạn đói dịch bệnh xảy ra triền miên khắp cả nước Đứng trước tình thế đó, Đảng và Chính phủ ra sức củng cố chính quyển nhân dân và chăm lo phát triển kinh tế

Sắc lệnh ngày 22/9/1945, Chính Phủ đã ban hành sắc lệnh nằm xoá bỏ chế độ chiếm đoạt đất đai của thực dân, đế quốc thu hồi về tay nông dân Đến Sắc lệnh ngày 26/10/1945 ban hành nhằm thúc đẩy các phương thức chấn hưng nông nghiệp quy định “những điền sản và hoa lợi không bị chia, ai cày cấy, trồng trọt thì được hưởng khuyến khích dân quê và thành thị ra sức trồng trọt không nên bỏ phí một tấc đất nào” Đây là chính sách vô cùng cần thiết trong giai đoạn lịch sử này nhằm ổn định cuộc sống của người dân

Trang 26

Ngày 20/10/1945 Chính phủ ra sắc lệnh số 78/SL ngày 14 tháng 7 năm 1949 giảm tô 25% và thành lập Hội đồng giảm tô tại mỗi tỉnh để giải quyết việc giảm tô đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cấp bách của cách mạng của thời kỳ này

Hiến pháp năm 1946 ra đời ngày 2/11/1946 là nền tảng cơ bản trong tổ chức chính quyền và quyền quyền tự do của nhân dân trong đó ghi nhận quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo, tạo cơ sở cho sở hữu tư nhân, giúp cho giai cấp nông dân chủ động trong sản xuất, thúc đẩy nông nghhiệp phát triển

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng khốc liệt, đất nước

ta chuyển vào sang giai đoạn kháng chiến toàn diện trường kỳ, Hội nghị lần thứ 2 BCHTƯ Đảng vào tháng 1/1948 đã đề ra các chính sách ruộng đất trong thời kỳ kháng chiến, đã đề ra các định hướng cơ bản của việc tịch thu ruộng đất của địa chủ để chia cho dân nghèo Chính Phủ đã ban hành sắc lệnh tạm cấp ruộng đất của Việt gian và chia ruộng đất của của thực dân Pháp cho dân cày nghèo

Sắc lệnh số 88/SL ngày 22/5/1950 quy định cụ thể về chế độ lĩnh canh ruộng đất Nhà nước trong đó tại các điều 1, điều 2, điều 3 có quy định cấm chế độ quá điền, tá điền phải trực tiếp canh tác không được cho thuê hay lĩnh canh, thời hạn lĩnh canh ít nhất là ba năm, việc lĩnh canh phải có giấy giao kèo do Uỷ ban hành chính kháng chiến xã thực hiện Sắc lệnh cũng quy định quyền của người lĩnh canh, chủ điền không có quyền đòi lại ruộng đất trừ trường hợp tá điền vi phạm điều cấm về quá điền hoặc tá điền bỏ ruộng đất

Tháng 3/1952 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về sử dụng đất công điền, công thổ Chia cấp công điền công thổ cho hợp lý, để cải thiện đời sống của nông dân, và đẩy mạnh tăng gia sản xuất là một điểm trong chính sách ruộng đất của Chính phủ, thời kỳ này đã nhận thức được việc chia thành

Trang 27

nhiều thửa ruộng sẽ gây bất lợi cho sản xuất canh tác và giải quyết triệt để cách mạng ruộng đất

Ngày 4/12/1953 Quốc hội đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất, đây là văn bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chính sách ruộng đất, theo đó nhằm mục đích thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của

đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, chia lại ruộng đất cho nông dân nhằm thực hiện triệt để “người cày có ruộng” Qua đó giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển cũng như cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến Nhờ chính sách này mà đại bộ phận nông dân nhất là bần nông đều có ruộng đất để canh tác sản xuất nông nghiệp

Ngày 04/12/1953, Luật cải cách ruộng đất được ban hành bao gồm 5 chương với 38 điều Nội dung quy định của Luật cải cách ruộng đất quy định

về tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất công, nửa công nửa tư, đất tôn giáo, đất vắng chủ và đất bỏ hoang nhằm thủ tiêu chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp; xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Quy định về cách chia ruộng đất tại Điều 26 của Luật cải cách ruộng đất, theo đó nguyên tắc chia ruộng đất thời kỳ này được xác định như sau: Thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia; Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu, rút gần bù xa; Chia theo nhân khẩu chứ không theo sức lao động; Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia; Chia theo đơn vị xã; song nếu xã ít người nhiều ruộng, thì

có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng nhiều người, sau khi đã chia đủ cho nông dân trong xã [ 23 ]

Trang 28

Mặc dù Luật cải cách ruộng đất trong giai đoạn này trong quá trình thực hiện mắc phải một số sai lầm nhất định nhưng cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc được coi là thành tựu trong chính sách đất nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp, đến tháng 6-1955 được tiến hành ở 735 xã, bao gồm 1.608.294 nhân khẩu Tiếp đó tháng 12-1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1.720 xã, có trên 6 triệu người trong 20 tỉnh và 2 thành phố Tháng 7-1956, cải cách ruộng đất đợt 5 kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi

Cuộc vận động cải cách ruộng đất năm 1956 đã đạt kết quả là: Chia 334.100 ha ruộng cho nông dân; hoàn thành xóa bỏ giai cấp địa chủ, xóa bỏ tàn dư chế độ phong kiến ở miền Bắc; nâng cao quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn Tính chung, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến cuối năm 1956, ở miền Bắc đã chia 810 nghìn ha ruộng đất, Tính đến năm

1953, ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 410.000 ha ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động quyền lợi của người nông dân nhưng vẫn đảm bảo và được “chiếu cố” đến các tầng lớp xã hội khác như tá điền trung nông và cả gia đình Việt gian, phản động, cường hào gian ác vẫn được chia Trên cơ sở đó thúc đẩy mọi tầng lớp tham gia kháng chiến và thúc đẩy nền nông nghiệp ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho kháng chiến [ 44 ]

1.2.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975

Miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, liên tiếp các chương trình 3 năm, 5 năm được Đảng đề ra nhằm khôi phục và phát triển kinh tế Phù hợp với chính sách đó, pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp cũng có những thay đổi nhằm giải quyết nhiệm vụ trong thời kỳ mới Tháng 5/1955, Quốc hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp tạo chuyển biến

Trang 29

vượt bậc về kết quả sản xuất và đời sống nhân dân, 85% diện tích ruộng đất

bỏ hoang đã được phục hóa;

Hiến pháp 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 ra đời đã ghi nhận đa quyền sở hữu về đất đai, quy định khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển của kinh tế HTX Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất, thúc đẩy sản xuất phát triển

Trong những năm 1961-1965, Đảng chủ trương tiếp tục thu hút nông dân cá thể vào HTX bậc thấp đến bậc cao, mở rộng hơn nữa quy mô HTX nhằm tập trung cao độ xây dựng cơ sở vật chất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và đáp ứng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tuy nhiên việc lấy ngày công làm thước đo lao động cùng nhiều chính sách bất hợp lý đã làm cho phát sinh nhiều tiêu cực trong thực tiễn triển khai Nông dân không quan tâm đến ruộng đất, đất đai bạc màu, tập thể làm chủ ruộng đất dẫn đến ruộng đất vô chủ, tính chất bình quân đóng góp vào tập thể tạo định kiến không quý trọng đất đai, ruộng đất không giá Trong thời kỳ này, sự chuyển biến từ tư hữu hoá sang công hữu hoá ruộng đất nhưng cách làm chủ quan, nóng vội, đồng loạt đã mang lại tổn thất nặng nề, sản xuất bị đình trệ và làm cho nền kinh tế xã hội có sự khủng hoảng nhất định

Quyết định số 68-KT/QĐ của Bộ kinh tế ngày 18/11/1963 đã đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng trên với việc quy định chặt chẽ về quản

lý và sử dụng đất, cụ thể là các quy định về điều tra đất, sử dụng đất vào mục đích trồng trọt thâm canh, tiết kiệm, bảo vệ cũng như các biện pháp bồi bổ đất đai

Cuối năm 1974, đầu năm 1975 chủ trương xây dựng cấp huyện và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp được được triển khai mạnh mẽ Phong trào đã tạo ra “các công trường thủ công” làm thủy lợi, khai hoang, lập vùng kinh tế mới Mô hình tập thể hóa nông nghiệp đã đạt đến đỉnh cao, hoàn chỉnh, phân

Trang 30

công lao động trong HTX nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa Sự tập trung kinh tế trong nông nghiệp tạo cơ sở vật chất đáp ứng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta

1.2.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1992

Sau thắng lợi kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong đó có pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp

Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV tháng 12 năm 1976 quyết định đường lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Thực hiện việc quản

lý, sử dụng ruộng đất tập trung, thống nhất trên quy mô HTX Các HTX phân phối lại ruộng đất cho các đội trên nguyên tắc tiện canh tiện cư với quy mô lớn, tránh phân tán, chia sẻ ruộng đất manh mún” Các chính sách pháp luật đất nông nghiệp tiếp tục được ban hành nhằm mở rộng phát triển sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc

Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội thông qua ngày 18/12/1980 lần đầu tiên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch chung nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và hưởng những thành quả lao động trên đất, có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ đất đai Tiếp đó, Hội đồng chính phủ ra Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường quản lý ruộng đất trong cả nước, theo quy định của văn bản này đất đai được phân thành 4 loại đất bao gồm: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Việc sử dụng đất nông nghiệp phải đáp ứng yêu cầu sử dụng đất tiết kiệm, không được bỏ hoang, bỏ hoá, không được sử dùng vào mục đích phi nông nghiệp nếu không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và phải thực hiện chuyên canh, thâm canh, luân canh tăng vụ

Trang 31

Ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ra

Chỉ thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và

người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị

100 đã hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã tạo cho

xã viên được quyền sử dụng đất trong khuôn khổ rộng rãi hơn, thiết thực và gắn bó hơn với lợi ích của người lao động một mốc son có ý nghĩa về chính sách ruộng đất nông nghiệp trong thời kỳ này Chỉ thị 100 là khâu đột phá

mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn sự xa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Từ đó nền nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần 70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó

Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh thần đổi mới của Đại hội VI là Luật đất đai năm 1987 Sau Luật đất đai năm 1987, Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày 18-12-1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình Với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân không hạn chế

Ngày 05-04-1988, Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế

nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”): Nghị quyết 10 đề ra

cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ Nghị quyết 10 đã được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn

Trang 32

khởi thực hiện, đưa lại nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có

sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm

1989, tức là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân; tháng 6 năm

1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam Tuy nhiên, “Khoán 10” chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới

Ngày 15/07/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 327/CT chính sách sử dụng ruộng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước với nội dung: lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất rừng, giao đất bãi bồi với những điều kiện rộng rãi: mỗi hộ được giao đất rừng tùy khả năng trong đó có 5000 m2 kinh tế vườn (nếu là đất rừng), 300 m2 (nếu là đất trồng cây công nghiệp), 700 m2 (nếu là đất bãi bồi) Nhà nước dành 60% vốn dự án để xây dựng kết cấu hạ tầng, 40% còn lại cho hộ gia đình vay không lấy lãi Những hộ chuyển vùng đến khu kinh tế mới được phép chuyển quyền sử dụng đất canh tác, đất thổ cư để lấy tiền làm vốn Trong Quyết định này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng khuyến khích các doanh nghiệp, các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn đầu tư dưới hình thức đồn điền, trang trại

Như vậy chính sách đất đai giai đoạn này đã thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu là mang tính thăm dò, thí điểm Chủ yếu là điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm trường, hợp tác xã, quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của

cá nhân vẫn chưa được thừa nhận Vì vậy pháp luật đất đai cần được hoàn thiện để đáp ứng trước hoàn cảnh mới

Trang 33

1.2.4 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003

Trước những kết quả khả quan của “Khoán 100” và “Khoán 10”, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ra Nghị quyết về

Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Nghị quyết là cơ sở

cho việc thông qua Luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX ngày 14/7/1993 Luật đất đai năm 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra

Sau khi Luật đất đai năm 1993 được ban hành, Chính phủ và các bộ, ngành đã có văn bản triển khai Luật này Nghị định số 64/CP ngày 279/1993

về đất nông nghiệp Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về đất đô thị Nghị định

số 02/CP ngày 15/1/1994 về đất lâm nghiệp Đây là những văn bản pháp lý quan trọng nhằm thực hiện các chính sách đất đai, cơ sở pháp lý để xây dựng các quyền của người sử dụng đất phát huy tiềm năng khai thác đất đai và giải phóng lực lượng sản xuất Luật đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất

Tuy nhiên, kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nên phức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thực chất là mua bán đất đai) trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mà Luật đất đai năm 1993 khó giải quyết Vì thế, ngày 02/12/1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1993 được ban hành và Ngày 01/10/2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật đất đai

Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò

quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những quy định

Trang 34

về khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà nước bồi thường, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…

Ngày 10/12/2003, Luật đất đai năm 2003 được ban hành và có hiệu lực ngày 01/07/2004, trong đó đặc biệt thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật đất đai đã thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản nhằm phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Như vậy, chính sách đất đai giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003, đã xây dựng quyền sử dụng đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và đảm bảo thực hiện; đồng thời, có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn Bên cạnh đó việc xây dựng pháp luật đất đai còn thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dài hạn, thay đổi thường xuyên thể hiện tính đối phó và xử lý tình huống Vì vậy trong thời gian tiếp theo cần tiếp tục đổi mới theo hướng toàn diện, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai

1.3 Quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay

Quan hệ pháp luật đất đai là quan hệ giữa người với người với nhau trong quá trình quản lý, khai thác hưởng dụng đất, các quy tắc do nhà nước ban hành nhằm thực hiện trên thực tế Để phục vụ phát triển kinh tế xã hội Nhà nước đã ban hành một khối luợng văn bản pháp luật đồ sộ nhằm điều chỉnh các quan hệ về đất đai Trong quan hệ pháp luật đất đai thì quan hệ pháp luật sử dụng đất nông nghiệp có những đặc trưng, xuất phát từ đặc điểm đất nông nghiệp với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được và có diện tích sử dụng có quy mô lớn hơn so với các loại đất khác, dẫn đến các yếu tố về của quan hệ pháp luật đất nông nghiệp có đặc trưng về chủ

Trang 35

thể, khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp

ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Chủ thể trong quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp

Khi đề cập tới vấn đề chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai tức là cần nói tới ai là chủ thể và với điều kiện nào, trên cơ sở pháp lý nào thì các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai Theo quy định tại các Điều 9; 34; 35; 36 của Luật đất đai năm 2003, chủ thể sử dụng đất nông nghiệp là các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân có tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất đất nông nghiệp, có ý chí độc lập, có quyền và nghĩa vụ nhất định

Để tham gia quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp, chủ thể pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp cần có những điều kiện sau:

 Có sự tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đất đai

Để trở thành chủ thể quan hệ sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải được Nhà nước quyết định giao đất hoặc cho thuê đất trực tiếp sản xuất nông nghiệp Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cơ sở pháp lý cho việc thiết lập mối quan hệ hợp pháp trong sử dụng đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

 Có năng lực pháp lý đất đai

Năng lực pháp lý đất đai là khả năng của các chủ thể được hưởng quyền và làm nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật đất đai Khả năng này chỉ có được khi thoả mãn những điều kiện do pháp luật quy định mới phát sinh và tham gia vào quan hệ pháp luật về đất đai: như phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất vv

 Năng lực hành vi đất đai

Trang 36

Năng lực hành vi đất đai là khả năng của một chủ thể có thể bằng hành

vi của mình tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, có quyền và nghĩa vụ nhất định Năng lực hành vi đất đai không giống như năng lực hành vi dân sự, bởi vì trong Luật đất đai năm 2003 không quy định cũng không chia thành năng lực hành vi đầy đủ và năng lực hành vi không đầy đủ

Như vậy, dựa vào những đặc điểm của chủ thể quan hệ sử dụng đất nông nghiệp Theo quy định của pháp luật đất đai bao gồm các chủ thể như sau:

Đối với chủ thể sử dụng đất là các tổ chức, pháp luật đất đai cũng có những qua định khác nhau qua các thời kỳ Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều Luật đất đai năm 1998 quy định: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức) dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất

và giao đất có thu tiền sử dụng đất” Đến Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể và mở rộng hơn Pháp luật đất đai đã quy định chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai là tổ chức trong việc sử dụng đất nông nghiệp bao gồm bao gồm

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác

Trang 37

theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất

Đối với tổ chức trong nước tuỳ theo nhiệm vụ và chức năng của mình mỗi tổ chức đó sẽ có những chế định cụ thể được hưởng những quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia vào quan hệ đất đai cũng như trong quá trình

sử dụng đất nông nghiệp Các tổ chức này có đặc điểm là thường sử dụng đất với những diện tích và quy mô lớn Tổ chức trong nước sử dụng đất nông nghiệp được phân thành các loại như sau:

Một là, tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất bao gồm:

Tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Hợp tác

xã sản xuất nông nghiệp sử dụng đất trong một số trường hợp theo pháp luật quy định Tổ chức sử dụng đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

Hai là, tổ chức được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất bao gồm: Tổ chức kinh tế sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối

Ba là, tổ chức kinh tế sử đụng đât thuê bao gồm các tổ chức được nhà nước cho thuê đất theo hình thức thu tiền hàng năm để thực hiện dự án đầu tư sản xuất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối

Thứ tư, tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng sử dụng đất từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

Trang 38

Thứ năm, tổ chức kinh tế chuyển mục đích sử dụng đất theo điều 36 của Luật đất đai năm 2003

* Hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp

Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ chính trị ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp đã ghi nhận hộ gia đình với tư cách là đơn

vị kinh tế tự chủ Tiếp đó, Luật đất đai năm 1993 đã đặt nền tảng cho việc xác lập địa vị pháp lý của hộ gia đình với tư cách là một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp được nhà nước giao đất sử dụng ổn định lâu dài

Hộ gia đình là chủ thể của nhiều quan hệ pháp luật khác nhau như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, quan hệ pháp luật cư trú Theo Bộ luật dân sự 2005, hộ gia đình bao gồm các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng Tài sản là một trong những đối tượng điều chỉnh chủ yếu của quan hệ pháp luật dân sự, theo đó thì hộ gia đình được xác định khi các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này Đối với quan hệ luật đất đai trong việc sử đụng đất nông nghiệp thì hộ gia đình là chủ thể có địa vị pháp lý quan trọng khi đất đai được coi là tài sản trong hộ gia đình

* Cá nhân

Cá nhân là chủ thể trong quan hệ sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử đụng đất nông nghiệp hoặc chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp Khác với các thành viên của hộ gia đình, chủ thể này có địa vị pháp lý độc lập khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai về sử dụng đất nông nghiệp Đối với hộ gia đình các thành viên trong hộ gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch dân sự do đại

Trang 39

diện chủ hộ gia đình thực hiện Trên thực tế, năng lực pháp lý của công dân xuất hiện khi Nhà nước cho phép họ sử dụng đất và người sử dụng chấp hành đúng pháp luật và làm nghĩa vụ đầy đủ đối với Nhà nước Năng lực pháp lý đất đai của cá nhân không phụ thuộc vào lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo, nó xuất hiện từ lúc khai sinh cho đến khi chết

* Cộng đồng dân cƣ sử dụng đất nông nghiệp

Cộng đồng dân cư là một khái niệm xuất hiện nước ta từ lâu Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, Luật đất đai năm 1993 chưa ghi nhận cộng đồng dân cư với tư cách là chủ thể sử dụng đất, tuy nhiên trong thực tiễn cộng đồng dân cư cũng là chủ thể chủ thể sử dụng đất nông nghiệp Đến Luật đất đai năm 2003 tại Khoản 4 Điều 71 thì cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất Đất được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư được giao đất nông nghiệp có trách nhiệm bảo vệ diện tích đất được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, không được chuyển sang sử dụng các mục đích khác

1.3.2 Khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật sử dụng đất nông nghiệp

Trong quan hệ pháp luật sử dụng đất nông nghiệp, nhóm đất nông nghiệp có những loại đất khác nhau và có những đặc điểm khác biệt so với các loại đất khác, do đó khách thể quan hệ pháp luật này là những quyền và lợi ích mà mỗi chủ thể hướng tới, nhìn chung các chủ thể trong quan hệ pháp luật sử dụng đất nông nghiệp đều mang nhằm mục đích sử dụng đất nhằm khai thác đất đai phục vụ cho các mục đích khác nhau của mỗi chủ thể

Trang 40

Nội dung của quan hệ pháp luật sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật đất đai bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai:

* Quyền của người sử dụng đất

Quyền của người sử dụng đất có các quyền chung và các quyền cụ thể của người sử dụng đất

Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm 2003 Đó là: Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo

hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai Bên cạnh những quyền chung đó, người sử dụng đất còn được quyền lựa chọn các hình thức sử dụng đất mà mình mong muốn như: hình thức được giao đất hoặc thuê đất để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, khi trở thành chủ sử dụng đất người sử dụng đất còn được quyền

cụ thể trong các giao dịch quyền sử dụng đất như: Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Tặng cho quyền sử dụng đất; Thừa kế quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Khi thực hiện các quyền của chủ thể sử dụng đất nhằm tham gia các giao dịch dân sự thì người sử dụng đất nông nghiệp phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai như: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo

Ngày đăng: 10/07/2015, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Chính Phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính Phủ" v
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2004
17. Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin (1999), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin
Tác giả: Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1999
18. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
19. An Như Hải (2008), Thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quan điểm và giải pháp, Tạp chí Quản lý nhà nước 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quan điểm và giải pháp
Tác giả: An Như Hải
Năm: 2008
21. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam 3, trang 576, công ty Tiến Bộ, Hà Nội – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam 3
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: công ty Tiến Bộ
Năm: 1995
22. Lã Văn Lý (2007) “Tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững”, Báo cáo đề dẫn, Cục Kinh tế Hợp tác và PTNT, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững
24. C.Mác (1992), Tư Bản, tập thứ ba, phần 2, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Bản, tập thứ ba, phần 2
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1992
26. Nguyễn Tấn Phát (2010), Quan hệ tổ chức - quản lý đất đai trong phát triển nông nghiệp và nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ tổ chức - quản lý đất đai trong phát triển nông nghiệp và nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tấn Phát
Năm: 2010
27. Nguyễn Thị Phượng (2010), Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp những vấn đề đặt ra. Tạp chí Quản lý nhà nước 2010, số 171 tr 47- 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp những vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Thị Phượng
Năm: 2010
32. Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Ốt-xtrây-lia (2007), Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Ốt-xtrây-lia
Năm: 2007
33. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản công an nhân dân, tr 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật đất đai
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản công an nhân dân
Năm: 2009
34. Phạm Thu Thủy (2010), Quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp, Tạp chí Luật học số 5/2009, tr 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thu Thủy
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2010
35. Bùi Đình Tuân (2009), Lý giải hiện tượng bán đất của người nông dân, Tạp chí Tâm lý học 2009, số 4. 1859-0098, tr 59-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý giải hiện tượng bán đất của người nông dân
Tác giả: Bùi Đình Tuân
Năm: 2009
36. Trương Thị Tiến (1995), Những biến đổi về hình thức sở hữu ruộng đất công nhận nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam (thời kỳ lịch sử Việt Nam). Tạp chí Khoa học Khoa học xã hội, 1995 số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về hình thức sở hữu ruộng đất công nhận nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam (thời kỳ lịch sử Việt Nam)
Tác giả: Trương Thị Tiến
Năm: 1995
44. www.cpv.org.vn; Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Link
8. Chính Phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai Khác
9. Chính Phủ (2009), Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Khác
12. Chính Phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ về bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
15. Chính Phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Khác
16. Chính Phủ (2004), Nghị định số 20/2011//NĐ – CP ngày 23/3/2011 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước - Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam  Luận văn ThS. Luật
Bảng 2. 1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước (Trang 79)
Bảng 2.2 : Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ - Pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam  Luận văn ThS. Luật
Bảng 2.2 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w