DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮTCNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa công ty TNHH công ty Trách nhiệm hữu hạn CPPT cổ phần phổ thông NSNN Ngân sách nhà nước GATS General Agreement on Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ HOÀNG ANH
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI CHUYỂN ĐỔI
CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ HOÀNG ANH
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI CHUYỂN ĐỔI
CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu luận văn 4
NỘI DUNG CHÍNH 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN 5
1.1 Quan niệm về GDĐH hiện nay 5
1.1.1 Một vài quan điểm mới hình thành về GDĐH 5
1.1.2 Quan niệm về giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 9
1.1.3.Quan niệm về thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam 13
1.2.Quan niệm về trường đại học 16
1.2.1.Vài nét sơ lược về lịch sử đại học trên thế giới: 16
1.2.2 Quan niệm về trường đại học: 19
1.3 Chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần 23
1.4 Mục tiêu chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHỐI TRƯỜNG ĐHCL VÀ NHU CẦU CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN 31
2.1 Một số nét khái quát về các trường ĐHCL 31
2.1.1 Khái quát lịch sử trường đại học ở Việt Nam 31
2 1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của khối trường đại học công lập 34
Trang 42.1.4 Pháp luật về địa vị pháp lý của trường ĐHCL 40
2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của khối trường ĐHCL43 2.1.1 Pháp luật về quản lý Nhà nước đối với Trường Đại học công lập 43
2.2.2 Pháp luật quy định quyền tự chủ của các trường đại học công lập 51
2.2.3.Pháp luật về quản lý tài chính tại các trường ĐHCL 57
2.2.4 Pháp luật về bộ máy tổ chức của trường ĐHCL 59
2.3 Nhu cầu chuyển đổi các cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở Việt Nam64 2.3.1 Xuất phát từ nhu cầu đổi mới của các trường ĐHCL 64
2.3.2 Từ kinh nghiệm đổi mới giáo dục đại học trên thế giới 66
2.3.3 Những ưu điểm của mô hình tổ chức và quản lý của công ty cổ phần- Đối tượng hướng tới của quá trình CPH 72
2.3.4 Đánh giá quá trình CPH trong thời gian qua: 74
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 81
3.1 Phương hướng xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay 81
3.1.1 Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của Nhà nước, trường ĐHCL, thị trường trong mối quan hệ: Nhà nước-GDĐH, trường ĐH và thị trường 81
3.1.2 Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay 90
3.1.2.1.Định hướng phát triển của GDĐH tới năm 2020 90
3.1.2.2 Yêu cầu quán triệt tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng về GD, GDĐH trong quá trình xây dựng pháp luật về chương trình cổ phần hóa các cơ sở đào tạo công lập 91
3.2 Phương hướng xây dựng những nội dung cơ bản của pháp luật về cổ phần hóa các cơ sở đào tạo công lập 94
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 112
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
công ty TNHH công ty Trách nhiệm hữu hạn
CPPT cổ phần phổ thông
NSNN Ngân sách nhà nước
GATS General Agreement on Trade in Services
(Hiệp định chung về thương mại trong dịch vụ) GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trường ĐHCL Trường đại học công lập
Trường ĐHDL Trường Đại học dân lập
Trường ĐHTT Trường Đại học tư thục
Trường CĐ Trường Cao đẳng
UNESCO United Nation Education Science Culture Organization
(Tổ chức văn hóa-khoa học-giáo dục Liên hợp quốc)
Trang 6WB The World Bank
(Ngân hàng Thế giới) WTO World Trade Organization
(Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn một thập kỷ qua, cổ phần hóa (CPH) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, một phương thức quan trọng của mục tiêu cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng, phát triển nền kinh tế nói chung
Chính sách CPH ở Việt Nam được thí điểm bắt đầu từ năm 1990 và sau đó, các chủ trương lớn về CPH đã được định hướng trong các Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam và nhiều Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng từ khóa VII đến nay Từ Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 (12/1991) đã đưa CPH vào nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội 1991- 1995: “Thí điểm việc CPH một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển” Tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa IX (12/1993), một lần nữa chủ trương trên được khẳng định: “Đổi mới
cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước Thực hiện các hình thức CPH thích hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả”
Mục tiêu của CPH lúc đầu là chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công
ty cổ phần trong đó, người lao động trong doanh nghiệp, một số tập thể, cá nhân cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp Hay nói một cách khác, bản chất của quá trình CPH trong điều kiện nước ta là đa dạng hóa, xã hội hóa sở hữu, từ đó sắp xếp lại tổ chức và đổi mới phương thức quản lý, tạo động lực cho sự phát triển
Quá trình CPH, bắt đầu với các doanh nghiệp nhà nước đã thực sự tạo nên được nhiều biến đổi, dần phát huy hiệu quả, cho đến hôm nay đã thu được nhiều kết quả khả quan ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề Do những ưu điểm mà quá trình CPH doanh nghiệp nhà nước mang lại cho nền kinh tế nói chung, nội bộ các doanh nghiệp được cổ phần hóa nói riêng, nhiều ý kiến cho rằng, nên mở rộng mô hình này cho một số lĩnh vực khác thuộc khu vực sự nghiệp công lập, trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo
Phát triển giáo dục đào tạo nói chung, hệ thống giáo dục bậc đại học nói riêng luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Do vậy, đã có nhiều chủ
Trang 8trương, biện pháp giúp tăng cường hoạt động, nâng cao chất lượng của các trường đại học, đặc biệt là các trường thuộc khối công lập
Nhằm nâng cao chất lượng của cả hệ thống giáo dục bậc đại học, tăng cường khả năng cạnh tranh của các trường đại học công lập, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh phát triển hệ thống các trường ngoài công lập Năm 2005, Nghị quyết số 5/2005/NĐ- CP ngày 18/4/2005, đề ra chủ trương phát triển mạnh các cơ sở giáo dục ngoài công lập với hai loại hình kinh doanh: dân lập và tư nhân, cho phép tư nhân thành lập trường dân lập Đưa ra mục tiêu gia tăng tỷ lệ sinh viên, cao đẳng/số dân từ 120 lên dần mức 450 sinh viên/1000 dân trong năm 2020 Tới năm 2006, tại Quyết định 122/2006/QĐ- TTg ngày 29/5/2006 đã cho phép 19 trường đại học dân lập chuyển đổi sang loại hình tư thục, hoạt động như doanh nghiệp Đến ngày 16/7/2010,
Bộ GD&ĐT ra Thông tư 20/2010/TT - BGDĐT quy định về nội dung, trình tự, thủ tục chuyển đổi các trường đại học dân lập sang loại hình đại học tư thục Như vậy, bên cạnh các trường đại học công lập, khối đại học ngoài công lập mà cụ thể là đại học tư thục đã có đầy đủ hành lang pháp lý hoạt động như loại hình doanh nghiệp
Đối với các trường đại học công lập, Đảng và Nhà nước cũng chủ trương mở rộng hành lang pháp lý, tạo nhiều điều kiện để các trường tăng cường tính tự chủ, nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động Một trong các công cụ được sử dụng là chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa Ngày 30/5/2008 Chính phủ ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP cho phép đẩy mạnh xã hội hóa tại các đơn vị sự nghiệp công lập trong
đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo
Chủ trương xã hội hóa đã được thực hiện rộng rãi tại các trường đại học khối công lập, giúp các trường tạo ra nguồn lực tài chính tương đối mạnh mẽ Tuy vậy, chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được giải quyết Một trong các nguyên nhân được đưa ra là do khó khăn về nguồn lực tài chính
Cổ phần hóa, do đó lại được nhắc đến như một bài thuốc cứu cánh cho lĩnh vực vốn thuộc trách nhiệm của nhà nước này
Vấn đề được tranh cãi thảo luận nhiều nhất là nên hay không nên cổ phần hóa đại học công và vì sao Nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt mà theo nhiều ý kiến là không thể dung hòa giữa bản chất của quá trình cổ phần hóa, mục tiêu hoạt động của
Trang 9các công ty theo mô hình công ty cổ phần và bản chất của giáo dục đại học, vai trò, chức năng đặc biệt của các trường thuộc khối đại học công Nếu chủ trương trên được thực hiện trên thực tế, dù mới chỉ dừng ở mức thí điểm, sẽ được tiến hành như thế nào Vấn đề đặt ra, các trường đại học công sau khi chuyển đổi liệu có thể dung hòa được vai trò đặc trưng cơ bản của giáo dục đại học, thực hiện đúng chức năng của mình dưới mô hình quản trị của các công ty cổ phần hay không Đây cũng là điều giải thích
vì sao pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay còn thiếu tính nhất quán, hệ thống từ chủ trương đến các nội dung điều chỉnh pháp luật cụ thể
Xuất phát từ mối quan tâm tới một chủ trương lớn có sức ảnh hưởng sâu rộng của Đảng và Nhà nước liên quan tới lĩnh vực giáo dục đại học, và mong muốn được tìm hiểu sâu hơn và có hệ thống về quá trình cổ phần hóa, mô hình hoạt động của các công ty cổ phần, đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần tìm ra câu trả lời cho một vấn
đề có tính xã hội, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý liên quan tới chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần tại Việt Nam” làm đề tài
cho luận văn Thạc sĩ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần; phân tích, đánh giá nhu cầu chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta và thực trạng pháp luật có liên quan đến việc chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay
Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần;
- Phân tích, đánh giá nhu cầu chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần
ở nước ta và thực trạng pháp luật có liên quan đến việc chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta;
Trang 10- Đề xuất các phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và phân tích thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về cổ phần hóa, công ty cổ phần, pháp luật về quản lý giáo dục bậc đại học đối với các trường đại học công lập tại Việt Nam Từ đó đề xuất những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng pháp luật về quá trình chuyển đổi các cơ sở đào tạo công lập, cụ thể trong luận văn này đề cập tới là các trường đại học công lập, thành công ty cổ phần
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về CPH, và các quy định đối với vấn đề tổ chức và quản lý của các trường đại học công lập, áp dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lên nin,
sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn
về cổ phần hóa các trường đại học công lập tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, nghiên cứu thực tiễn
để giải quyết vấn đề mà đề tài nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu làm 3 chương Cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành Công ty
cổ phần
Chương 2: Thực trạng pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động của khối trường
ĐHCL và nhu cầu chuyển đổi thành công ty cổ phần
Chương 3: Phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay
Trang 11NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ
ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Quan niệm về GDĐH hiện nay
1.1.1 Một vài quan điểm mới hình thành về GDĐH
Một trong những vấn đề đầu tiên và quan trọng quyết định tới chính sách và nội dung, quy trình cải cách GDĐH, trường đại học chính là xác định và xây dựng một cách nhất quán một quan niệm thống nhất về GDĐH Quan niệm GDĐH theo khuynh hướng nào có vai trò và ý nghĩa quyết định tới những nội dung và biện pháp cải cách GDĐH cụ thể
Việc phát triển giáo dục nói chung trong đó có GDĐH vốn là trách nhiệm của Nhà nước Tuy vậy, trước những biến động cũng như xu thế mới của thời đại, đang xuất hiện nhiều khuynh hướng quan điểm mới Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhiều luồng quan điểm được phát biểu tại các diễn đàn chính thức về GDĐH Có thể thấy có
3 khuynh hướng về GDĐH: (1) Xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH; (2)
Xu hướng coi GDĐH thuộc về của cải công; (3) Xu hướng coi GDĐH là tài sản hỗn hợp giữa công ích và hàng hóa[1]
Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH quan niệm coi GDĐH là một loại hàng hóa, chịu sự điều chỉnh của cơ chế thị trường Trong bối cảnh quốc tế hóa, GDĐH cũng không thể nằm ngoài xu thế chung Quốc tế hóa dẫn tới sự cạnh tranh về chất lượng giữa các trường đại học trở nên mạnh mẽ hơn, trên phạm vi toàn cầu Nâng cao chất lượng trở thành vấn đề sống còn, đặc biệt ở các nước có nền giáo dục kém phát triển Nguồn vốn trở thành một bài toán nan giải Không phải ngẫu nhiên, vấn đề tài chính trở thành một vấn đề chung cho mọi chương trình cải cách GDĐH Làm sao để huy động được nhiều nguồn vốn nhất, thu hút được nhiều sinh viên nhất…dẫn tới nhiều đại học đã thực hiện cải tổ theo xu hướng thị trường Sự cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hóa ngày càng sâu sắc về đẳng cấp và thứ bậc giữa các trường đại học với nhau Và sự phân cấp ấy ngày càng được thừa nhận và quan tâm
Trang 12rộng rãi trên phạm vi quốc tế Điều đó thể hiện ở các bảng xếp hạng các đại học trên thế giới ngày càng được quan tâm nhiều hơn trên phạm vi toàn cầu
Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH được bắt nguồn từ chủ nghĩa
tự do và được thể hiện rất rõ trong GDĐH Mỹ
Chủ nghĩa tự do xem thị trường, tự do và cạnh tranh là phương pháp hay nhất để thực hiện tiến bộ kinh tế, xã hội và chính trị Các đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa này
có thể kể đến Adam Smith, John Stuart Mill, Alfred Marshall và Milton Friedman Mặc dù đây là các nhà kinh tế học nhưng trong các triết lý của họ còn có triết lý về con người, do đó, liên quan tới giáo dục Adam Smith là người đặt nền móng cho lý thuyết thị trường tự do, cũng là người đầu tiên đưa thị trường vào trong lý luận giáo dục Theo ông, vai trò quan trọng nhất của giáo dục là giúp phát triển năng lực cá nhân, và
sự khác biệt về năng lực giữa những người khác nhau không phải là do dòng dõi, thân thế hoặc tố chất bẩm sinh, mà hoàn toàn là do giáo dục Vì vậy, các chi phí giáo dục phải được xem là chi phí cá nhân hơn là chi phí xã hội, mặc dù xã hội cũng được lợi khi mọi cá nhân đều được phát triển đến mức tối đa năng lực của mình Để thúc đẩy giáo dục đại học phát triển, Smith quan niệm phải giải phóng các lực lượng thị trường, khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong giáo dục và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này, vì điều này sẽ giúp đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất của việc đầu tư cho giáo dục Quan điểm này còn được tiếp tục thể hiện ở John Stuart Mill, một nhà tư tưởng ở thế kỷ 19 John Stuart Mill cũng ủng hộ quan điểm lợi ích giáo dục thuộc về cá nhân, do đó, cá nhân phải chi trả các chi phí dành cho giáo dục đại học như một khoản đầu tư Alfred Marshall tiếp tục phát triển thêm lý luận về bản chất đặc biệt của thị trường giáo dục đại học, với một quan điểm khá mới mẻ và khác lạ so với Adam Smith và John Stuart Mill Theo ông, hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường giáo dục đại học khiến cho nó khác hẳn các thị trường khác là: sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định một cách rất mơ hồ Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân phải chi trả cho giáo dục và một bên là người thụ hưởng lợi ích từ việc học tập Từ những lý luận về giáo dục đại học, đặc điểm đặc thù của thị trường giáo dục đại học, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa tự do chủ trương giảm
Trang 13thiểu tới mức tối đa vai trò và sự can thiệp của nhà nước, dành phần quyết định cho thị trường và giao quyền lựa chọn cho mỗi cá nhân thụ hưởng giáo dục đại học
Đồng thời, do tác động mạnh mẽ của quá trình quốc tế hóa, tiếng Anh ngày càng
có vai trò quan trọng, đặc biệt là tại các nước kém phát triển Điều đó dẫn tới nhu cầu nhập khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh Dẫn tới nhu cầu xuất khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh cũng theo đó trở nên bức thiết Các đại diện tiêu biểu cho sự thành công và phát triển của việc xuất khẩu giáo dục cũng chính là các quốc gia có nhu cầu cao nhất về yêu cầu xóa bỏ các rào cản trao đổi giáo dục xuyên quốc gia là Mỹ, Úc
và Newzerland Trên phạm vi quốc tế, quan điểm GDĐH là một loại hàng hóa đã được chính thức bàn thảo đến tại một tổ chức vốn không liên quan trực tiếp tới GDĐH, là
WTO WTO đã chủ trì các cuộc bàn thảo về giáo dục là hàng hóa và dịch vụ mua bán
được (tradable) và ký kết thỏa ước chung về trao đổi thương mại các dịch vụ (GATS, General Agreement on Trade in Services) Điều đáng chú ý là giáo dục là khu vực mà các thành viên WTO còn ngại tự do hóa nhất (theo OECD 2002, trong số 146 thành viên WTO chỉ có 42 thành viên đồng ý cam kết về ít nhất một khu vực giáo dục) Trong Thỏa ước tổng quát về thương mại dịch vụ ký năm 1995, đã có sự trù liệu cho thời gian mở cửa cho tự do mậu dịch là 10 năm Theo đó, WTO phân biệt 04 hình thức
tự do mậu dịch quốc tế về giáo dục: Thứ nhất là “tiêu thụ tại ngoại quốc”: đây là hình thức liên quan đặc biệt tới đại học Học tại nước ngoài được xem như xuất khẩu dịch
vụ giáo dục Đòi hỏi trong lĩnh vực này là xóa bỏ những biện pháp hạn chế sự đi lại của sinh viên về thủ tục nhập cư, kiểm soát hối đoái, tương đương bằng cấp…Thứ hai
là “cung cấp dịch vụ”, hình thức này ngày càng phát triển và phát triển rất nhanh, với việc bán giáo trình qua internet, CD-Rom, DVD Yêu cầu trong lĩnh vực này là tạo dễ dàng cho giới trẻ vào internet, hủy bỏ các luật lệ về giáo dục từ xa, công nhận tương đương cho các giáo trình, thừa nhận bừng cấp trên phạm vi quốc tế Thứ ba là “hiện diện thương mại”, liên quan tới việc mở những trường đào tạo tư do các xí nghiệp nước ngoài kiểm soát Nước sở tại phải xóa bỏ những cản trở như từ chối không công nhận trường nước ngoài, cấm cấp phát văn bằng… Thứ tư là “hiện diện của nhân viên”, nghĩa là không được hạn chế số lượng của người đến giảng dậy Tuy vậy, với sự kiện thương thuyết tổng quát về tài trợ nông nghiệp thất bại tại Cancun năm 2003, đã
Trang 14kéo theo sự đình chỉ thương thuyết về dịch vụ trong đó có giáo dục Giáo dục đại học,
vì vậy tạm thời chưa chịu sự điều chỉnh của WTO, chưa hoàn toàn chính thức trở thành một loại hàng hóa dịch vụ được thừa nhận rộng rãi và công khai trên phạm vi quốc tế
Đối ngược với khuynh hướng coi giáo dục đại học là một loại hàng hóa, vẫn tồn tại khuynh hướng coi giáo dục đại học thuộc về lĩnh vực công Có thể thấy điều đó qua các tuyên ngôn của các hiệu trưởng các trường đại học trong cuộc đấu tranh chống lại
xu hướng đưa giáo dục vào phạm vi điều chỉnh của WTO
Trong Tuyên bố chung của các hiệu trưởng các trường đại học công họp tại Brazil tháng 4/2002 nhấn mạnh: “Các thành viên của cộng đồng đại học châu Mỹ la tinh họp nhau tại đây, trong ý muốn chung xác nhận lại lần nữa những cam kết mà các chính phủ và cộng đồng đại học quốc tế đã xác nhận vào tháng 10 năm 1998 tại Paris trong dịp Hội nghị quốc tế về đại học, và khởi đi từ nguyên tắc rằng giáo dục là một tài sản công, yêu cầu chính phủ của các nước này đừng ký vào bất cứ một cam kết nào về lĩnh vực ấy trong khuôn khổ Thỏa ước tổng quát về thương mại các dịch vụ của WTO”
Trong một văn bản pháp lý mang tính quốc tế khác, Điều 26, Tuyên ngôn quốc
tế về nhân quyền 1984 ghi nhận: “mọi người đều được quyền ngang nhau để vào đại học trên cơ sở xứng đáng” Ngang nhau nghĩa là không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, cũng như về giai tầng xã hội, phương tiện tài chính Đồng thời, Thỏa ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc công nhận năm 1976 cũng đã ghi nhận tại Điều 13: “Mọi người đều có quyền ngang nhau để vào đại học, trên cơ sở khả năng, bằng mọi phương tiện thích hợp, đặc biệt bằng cách thực hiện dần dần giáo dục miễn phí” Như vây, quyền vào đại học đã được ghi nhận là một quyền thuộc về nhân quyền, cũng có nghĩa, giáo dục đại học thuộc về của cải công
Quan niệm tài sản hỗn hợp [1] lại quan niệm GDĐH là sự hỗn hợp giữa công ích và tư nhân Quan niệm này phân tích dựa trên ba khía cạnh kinh tế, luật pháp và chính trị về vấn đề GDĐH Theo đó, về mặt kinh tế, trong các chức năng của mình, GDĐH vừa mang lợi ích tư vừa mang lợi ích công Bởi xét trên những giá trị nó mang lại cho mỗi cá nhân, sự đầu tư của mỗi cá nhân trong giáo dục đại học là phục vụ cho
Trang 15lợi ích suốt đời của cá nhân đó, do vậy nó thuộc về lợi ích tư Nhưng trên bình diện xã hội, những giá trị mà GDĐH mang lại cho xã hội là không thể đo đếm được, do vậy Nhà nước dù ở chế độ nào vẫn phải đảm trách trách nhiệm của mình Đại học do đó lại mang đặc điểm của lợi ích công
1.1.2 Quan niệm về giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm đều được xem là hàng hóa Nghĩa là sản phẩm của GD, GDĐH cũng được xem là một loại hàng hóa Tuy nhiên, trong mọi hình thái nhà nước đặc biệt là nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể xem giáo dục như một loại hàng hóa hóa thông thường Giáo dục chứa đựng trong bản thân nó cả hai: các yếu tố thị trường (Những cái có thể trao đổi, mua bán được) và các yếu tố phi thị trường (Những cái không thể trao đổi mua bán hay khó định giá được) Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội XI, triết lý giáo dục được xác định là một bước phát triển mới triết lý giáo dục Hồ Chí Minh và các đại hội trước của Đảng; đồng thời tiếp thu tinh hoa của triết lý giáo dục thế giới, cả xưa và nay
Thứ nhất, sứ mệnh của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
Thứ hai, phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Thứ ba, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển
Thứ tư, phương châm phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
Thứ năm, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học suốt đời
Nói chung, triết lý giáo dục Việt Nam ngày nay mang đậm triết lý giáo dục nhân văn - nhân bản và công nghệ, lấy các giá trị nhân văn của dân tộc và nhân loại, các giá trị của nền công nghiệp hiện đại vừa làm xuất phát điểm, vừa làm mục tiêu của giáo dục, để tạo lập và phát triển, phát huy “giá trị bản thân” ở thế hệ trẻ, lực lượng quan trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Trang 16Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, GDĐH vẫn được xếp vào nhóm dịch
vụ sự nghiệp công Nghĩa là, nó nằm trong nhóm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân cùng với y tế, văn hóa, khoa học…Dịch vụ công từ góc độ kinh
tế học là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hóa công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền GDĐH thuộc nhóm dịch vụ sự nghiệp công, nghĩa là nó mang đầy
đủ đặc điểm của dịch vụ công Dịch vụ công có những đặc thù cơ bản như:[2]
+ Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng
đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục
vụ của nhà nước Từ đó có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ công
mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hóa công cộng
Đồng thời do những đặc trưng riêng của mình, GDĐH lại mang những đặc điểm riêng đặc thù
Trong xã hội, sản xuất thường được hiểu chỉ là quá trình hoạt động tạo ra của cải vật chất cho con người Đương nhiên, việc sản xuất ra của cải vật chất là vô cùng quan trọng, bởi vì nó là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nhưng lý giải
Trang 17như vậy chỉ thể hiện được quan điểm sản xuất xã hội hết sức hạn hẹp, chứ chưa thể hiện được một cách toàn diện Nghiên cứu về vấn đề này K.Marx cho rằng, sản xuất xã hội là hoạt động và cũng là quá trình sáng tạo ra của cải xã hội của loài người, bao gồm việc tạo ra của cải vật chất, của cải tinh thần và sự sinh sản, giáo dục của chính con người Tạo ra của cải vật chất là sản xuất vật chất, tạo ra của cải tinh thần là sản xuất tinh thần,
sự sinh sản và giáo dục của con người là sản xuất ra chính con người
Quá trình sản xuất xã hội được phân chia thành ba tiền đề cơ bản Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và vì vậy cũng là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được, trước hết, cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, và nhiều thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là phải sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, hay chính là sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Thứ hai, là bản thân nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người
ta đã có được, - đưa con người tới những nhu cầu mới Tiền đề thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở Ba nhân tố trên đây trong hoạt động lịch sử của loài người tương ứng với ba mặt của quá trình sản xuất xã hội: Sản xuất ra hàng hóa vật chất, tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người, cả ba mặt đó có mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau, chế ước lẫn nhau [3] Sản xuất vật chất là cơ sở để tiến hành hai loại sản xuất còn lại Nhưng sự tồn tại và phát triển của con người lại là vấn đề có tính chất nền tảng của sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Không tái sản xuất chính bản thân con người thì không thể tiến hành hai loại sản xuất kia Mặt khác, sản xuất tinh thần lại có vai trò lịch sử trọng đại, ảnh hưởng tới sự phát triển của sản xuất vật chất và sản xuất con người Do đó, ba mặt của quá trình sản xuất trong xã hội loài người này có mối quan hệ nội tại gắn bó chặt chẽ với nhau, cần được phối hợp hợp lý và hài hòa thì xã hội mới phát triển được
Trong hệ thống quan điểm sản xuất của K.Marx, mối quan hệ giữa giáo dục và sản xuất xã hội, quan điểm “giáo dục sẽ sản sinh ra sức lao động” được hình thành sau quá trình đi sâu tìm hiểu sự vận động mâu thuẫn của nền sản xuất xã hội tư bản chủ
nghĩa Và từ đó mới dẫn tới luận điểm: “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể
Trang 18dục không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn
là phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” Đây là luận điểm quan trọng giúp vạch rõ bản chất của giáo dục và sản phẩm của giáo dục.[4] Sản xuất và tái sản suất chính bản thân con người phải bao gồm hai phương diện
là về mặt sinh học- sinh sản và truyền nòi giống – duy trì hàng đời hàng hóa sức lao động, và về phương diện giáo dục – bồi dưỡng và nâng cao chất lượng con người – bồi dưỡng chất lượng của sức lao động Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống,
và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá
trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Sức lao động luôn
có sẵn trong bất kỳ xã hội nào mà không phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, cũng như hình thái xã hội của xã hội đó Tuy nhiên chỉ trong một trình độ phát triển lịch sử xã hội nhất định thì khái niệm này mới đạt được ý nghĩa kinh tế cụ thể Khả năng lao động,- sức lao động, - trở thành hàng hóa Việc tái sản xuất sức lao động có kinh nghiệm và kỹ năng sản xuất nhất định là điều kiện tất yếu của tái sản xuất bất kỳ hiện thực xã hội nào.Và giáo dục chính là con đường cơ bản của sản xuất và tái sản xuất sức lao động, giúp biến đổi sức lao động tiềm năng tiềm tàng trong bản thân mỗi con người phát huy trở thành sức lao động hiện thực.[4]
Quá trình tái sản xuất bản thân con người bao gồm quá trình khôi phục và giữ gìn sức lao động vốn có tự nhiên trong bản thân con người, quá trình bổ sung và tăng thêm giá trị sức lao động, và quá trình bồi dưỡng và nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động Trong đó,theo K.Marx quá trình thứ ba có vị trí và ý nghĩa hàng đầu đối với sự phát triển sức lao động Để bồi dưỡng và nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động, giáo dục đóng vai trò then chốt Nghĩa là, giáo dục có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với sản xuất
xã hội, do đó, giáo dục cũng mang tính chất hàng hóa Đây là nội dung chủ chốt quyết định tới tính chất ngành nghề của giáo dục Giáo dục không có giá trị tiêu dùng ngay lập tức mà giá trị của nó được biểu hiện mang tính hiệu quả chậm Bởi đối tượng tác động và biểu hiện hiệu quá của nó là trên bản thân con người – quá trình nhân hóa, chứ không phải quá trình vật hóa Như vậy, dưới góc nhìn của lý thuyết kinh tế học hiện
Trang 19đại, giáo dục mang tính chất hàng hóa[5], do đó nó phải có sự thích ứng với quy luật kinh tế, quy luật thị trường
Do đó, bên cạnh những đặc tính của một loại hàng hóa công, sản phẩm của GDĐH còn mang những đặc trưng mang tính khác biệt như: (1)GDĐH có tính chất của một phương tiện sản xuất, là phương tiện nâng cao năng suất của người lao động trong tương lai Bằng con đường học tập trong môi trường đại học, cá nhân có thể tích lũy tri thức, nâng cao tay nghề và sử dụng nó vào trong công việc của bản thân trong tương lai (2)Giáo dục có thuộc tính xã hội, điều đó thể hiện ở chỗ, những giá trị mà GDĐH mang lại không chỉ cho cá nhân, người trực tiếp thụ hưởng mà còn cho gia đình họ và cho cả xã hội.(3)GDĐH là sản phẩm không bị tác động bởi năng suất lao
động Trong giáo dục đại học, khó có thể tăng năng suất lao động của người thầy giáo
nhanh như tăng năng suất của một cái máy và càng không thể mở rộng thị trường theo nghĩa tăng số sinh viên trên đầu một thầy giáo nếu không muốn giảm chất lượng giáo dục Thậm chí phải nói ngược lại, muốn tăng chất lượng giảng dạy mà sự phát triển kinh tế và khoa học ngày càng đòi hỏi ở mức cao hơn thì phải giảm số học sinh trên
một thầy giáo, tăng số lượng thầy giáo với chuyên ngành khác nhau (4) Hàng hóa giáo
dục có ngoại tác tích cực Việc nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ làm tăng lợi ích cho riêng một cá nhân hay một nhóm người riêng lẻ mà điều đó còn làm tăng lợi ích cho cả cộng đồng xã hội Đầu tư cho giáo dục không thể là một loại đầu tư mang tính tiêu dùng thuần túy, mà là một loại đầu tư sản xuất tiềm tàng, tức chính là đầu tư cho tương lai Xét trên bình diện quốc gia, giáo dục có một vai trò rất lớn, lớn tới mức,
nó có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc.[5]
1.1.3.Quan niệm về thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam
Trong một thời gian dài, trong giới học thuật vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề có tồn tại hay không một thị trường giáo dục tại Việt Nam Bên cạnh đó, không chỉ trong giới học thuật, những tượng tham gia vào hoạt động giáo dục như sinh viên, học sinh, phụ huynh, giảng viên, những nhà quản lý và một số đối tượng khác cũng có những cách nhìn nhận khác nhau
Trong giới học thuật mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề trên nhưng có thể phân thành ba nhóm chính Nhóm thứ nhất bao gồm những học giả không công
Trang 20nhận tồn tại thị trường giáo dục, đối nghịch với họ là nhóm thứ hai với những học giả công nhận sự tồn tại thị trường này, và cuối cùng là nhóm thứ ba với những học giả theo quan điểm trung dung
Nhóm thứ nhất với quan điểm kiên quyết chống thương mại hóa giáo dục và không thừa nhận thị trường giáo dục tại Việt Nam Những học giả này cho rằng với đường lối phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN, không thể coi giáo dục là hàng hóa Bên cạnh đó, trên thực tế ngay cả những nước có nền kinh tế thị trường tự do cũng không có thị trường giáo dục Ví dụ, điển hình tại
Mỹ cũng đề cao vai trò của Nhà nước và xem giáo dục là “hàng hóa công cộng” phục
vụ lợi ích quốc gia Vì vậy, Việt Nam càng không thể thương mại hóa giáo dục được
vì đây là nguyên nhân của mọi khuyết điểm, tiêu cực trong giáo dục đào tạo hiện nay
Ngược lại với nhóm thứ nhất, nhóm học giả thứ hai lại cho rằng giáo dục chính
là hàng hóa Họ lập luận rằng giáo dục là sản phẩm lao động thỏa mãn nhu cầu của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi Do đó, chúng ta cần phải hiểu thị trường và hàng hóa giáo dục theo nghĩa rộng, chứ không nên cực đoan phải phân biệt rõ ràng giữa trường công và trường tư Trên thực tế, thị trường có những tác động tiêu cực tới giáo dục nhưng không thể vì thế mà né tránh Bên cạnh đó, dù là trường công hay tư nhưng cứ có thu tiền thì đều là dịch vụ Vấn đề là dịch vụ đó phải là “dịch
vụ công”, một loại hàng hóa đặc biệt có sự can thiệp của Nhà nước
Trung dung giữa hai luồng ý kiến trên, nhóm thứ ba cho rằng phải chống những hiện tượng tiêu cực trong thương mại hóa giáo dục như mua bằng, bán điểm nhưng không thể phủ nhận một thị trường giáo dục đã hình thành ở Việt Nam Giáo dục có phải là hàng hóa hay không, cần phải tranh luận, nhưng không thể không tính đến các yếu tố tác động của cơ chế thị trường Tác động tích cực của nó là quy luật cung cầu, các đơn vị cung cấp dịch vụ phải cạnh tranh bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm Phải thấy rằng giáo dục có liên quan chặt chẽ tới thị trường, nó đang được vận hành với các hình thức đào tạo mang tính dịch vụ như đào tạo không tập trung, theo hợp đồng, đào tạo mở rộng, du học tự túc với sự tham gia của cả trường công lẫn trường
tư, thu 100% học phí của người học Điều này cho thấy, dịch vụ giáo dục đang được trao đổi phổ biến và công khai Không nên bỏ qua yếu tố thị trường giáo dục trong khi
Trang 21thực tiễn có xu hướng thương mại hóa giáo dục, người dân có sẵn sàng chi trả cao để thụ hưởng nền giáo dục tốt và không tiếc tiền đi du học nước ngoài
Theo một khảo sát khá toàn diện trên cả quy mô lẫn đối tượng tham gia vào hoạt động giáo dục đào tạo của đề tài nhánh do Viện Nghiên cứu Giáo dục thực hiện trong năm 2009 thuộc đề tài nghiên cứu độc lập cấp nhà nuớc "Phát triển Giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập quốc tế" của văn phòng Hội đồng Quốc Gia Giáo dục chính phủ về Giáo dục []Cuộc khảo cứu được thực hiện tại 10 tỉnh thành với 112 đơn vị trường, cơ quan, và công ty với 4473 phiếu đánh giá nhận được từ các đối tượng được khảo sát gồm: nhà tuyển dụng, cán bộ quản
lý giáo dục đại học, giảng viên đại học, phụ huynh học sinh sinh viên, sinh viên đại học, cựu sinh viên, nhà nghiên cứu giáo dục, học sinh phổ thông, giáo viên phổ thông, cán bộ quản lý giáo dục phổ thông
Kết quả đã chỉ ra có 52% số người tham gia khảo sát cho rằng giáo dục là một loại dịch vụ, gần 39% cho rằng giáo dục được xem là gắn với lợi ích cá nhân hơn là phúc lợi xã hội Có khoảng 63% số người được khảo sát cho rằng có tác động của quy luật cung cầu trong giáo dục Có gần phân nửa số người tham gia khảo sát đồng ý với quan điểm xem người học như là khách hàng hay người sử dụng các dịch vụ giáo dục
Có đến gần 67 % cho rằng nhiều đối tượng được hưởng lợi hơn nếu có sự đầu tư của các thành phần khác ngoài nhà nước cho giáo dục và gần 70% cho rằng có nhiều thành phần khác nhau trong xã hội tham gia đầu tư vào giáo dục và như vậy cần có sự cạnh tranh trong giáo dục đào tạo Có gần 82% cho rằng gia đình và người học có quyền lựa chọn trường học, có 3,6% không có ý kiến và 38% cho rằng không có thị trường giáo dục, giáo dục là phúc lợi xã hội
Có những ý kiến khác nhau về giáo dục trong nền kinh tế thị trường Giáo dục chưa được toàn bộ các đối tượng tham gia khảo sát cho là dịch vụ Tuy nhiên cũng không phải đa số đồng ý rằng giáo dục không là phúc lợi xã hội Với kết quả trên, có thể thấy một thực trạng là đã có thị trường giáo dục tại Việt Nam
Các ý kiến cũng khá khác nhau giữa các đối tượng trả lời khác nhau Phần đông các nhà nghiên cứu GD thiên về hướng cho GD là dịch vụ hơn là phúc lợi XH Ngoài
ra, có 9.9% những người tham gia khảo sát không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý
Trang 22và 27.0% không có ý kiến về quan điểm “có tác động của qui luật cung cầu‟ trong GD, tuy nhiên, số người đồng ý và rất đồng ý với quan điểm này là khá cao (63.1%)
Phần đông các đối tượng tham gia khảo sát đều đồng ý rằng hiện nay, “Người học được quyền chọn trường”, tuy nhiên, không phải tất cả những người đồng ý đó đều hoàn toàn thiên về quan niệm “Người học là khách hàng”
Một kết quả đáng chú ý là các đối tượng tham gia khảo sát không đồng ý với quan điểm giáo dục gắn liền với lợi ích cá nhân, mà xem giáo dục là phúc lợi xã hội Quan điểm này cho thấy nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội vẫn chưa chuẩn bị và sẵn sàng cho việc „trả tiền‟ cho giáo dục Tuy nhiên, một kết quả ở câu trả lời khác lại cho thấy quan điểm đồng ý với ý kiến không nên độc quyền mua bán các sản phẩm giáo dục, tức là muốn bỏ sự độc quyền và bao cấp Kết quả này cho thấy vấn đề thị trường trong giáo dục là còn mới ở Việt Nam và các quan điểm tưởng như là trái ngược cho thấy một bức tranh còn chưa rõ ràng của GDĐH Việt Nam khi bước vào cơ chế thị trường
1.2.Quan niệm về trường đại học
1.2.1.Vài nét sơ lược về lịch sử đại học trên thế giới:
Nhìn lại lịch sử nhân loại, có thể thấy, đại học là một trong những định chế của
xã hội tồn tại lâu đời nhất và vẫn tiếp tục phát triển trong thời đại ngày nay Tại Châu
Á, các thể chế giáo dục cổ điển được hoàn thiện về mặt hình thức vào thế kỷ 12 Việt Nam cũng có trường đại học đầu tiên vào khoảng thế kỷ 11với Văn Miếu ra đời năm
1070, Quốc Tử Giám năm 1076 Tại Trung Quốc, chữ Đại học ban đầu là tên gọi của một bộ sách trong bộ Tứ thư tương truyền do các học trò của đức Khổng Tử biên soạn theo lời giáo huấn của thầy Sau đó, đến thời nhà Tống, Chu Dy và các học giả khác đã xây dựng chủ nghĩa tân Khổng giáo, tiêu chuẩn hóa các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh, và các sách này vẫn còn được sử dụng trong các ký thi tuyển của nhà nước cho tới đầu thế kỷ 20
Ngày nay, đại học được hiểu là một bậc học cao trong hệ thống giáo dục quốc dân, sau bậc học phổ thông Ở đó, con người được đào tạo có tay nghề vững vàng, có tri thức khoa học cao thuộc nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu công việc của xã hội, xây dựng đất nước Điều đó một phần xuất phát từ quan niệm về đại học đã được Khổng
Trang 23Tử nói tới trong Tứ Thư Thứ nhất: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện” (nghĩa là: đường lối đại học ở chỗ làm cho sáng tỏ cái đức sáng, làm cho con người đổi mới luôn luôn, lo cho đến chỗ hoàn toàn tốt lành mới thôi) Theo cách nói của Khổng Tử, đầu tiên bậc “đại học” phải giúp cho người học được sáng tỏ chân lý, thấu hiểu lẽ phải; sau đó người học đạt đến chỗ đổi mới, phát triển không ngừng cho phù hợp với yêu cầu của thời đại, hoàn cảnh xã hội và ý cuối cùng là đưa người học hoàn thiện hoàn mĩ bản thân Thứ hai: “Chi linh mạc bất hữu tri, nhi thiên hạ chi vật mạc bất hữu lý, duy ư lý hữu vị cùng, cố kỳ tri hữu bất tận dã Thị dĩ đại học thuỷ giáo, tất sử học giả tức phàm thiên hạ chi vật, mạc bất nhân kỳ dĩ tri chi lý nhi ích cùng chi, dĩ cầu chí hô kỳ cực” (nghĩa là: Các sinh linh không loài nào không
có cái biết, vạn vật trong thiên hạ không có vật nào không có lý, suy nghĩ về cái lý không cùng tận, cho nên cái biết về nó không có điểm dừng Cho nên lấy “đại học” bắt đầu giảng dạy người học ắt sẽ khiến cho mọi vật trong thiên hạ không phải vì đã biết
về nó thì dừng lại, mà phải cầu biết cho đến ngọn nguồn) Nói như Khổng Tử, thế giới tri thức là vô tận và nhiệm vụ của người học là phải tìm tòi, học hỏi để biết cho tận tường nguồn gốc, không nên bằng lòng vì sự hiểu biết ít ỏi hiện tại Và sách “đại học”
có vai trò khơi nguồn cho mọi sự hiểu biết về thế giới đối với những người học Nho Như vậy, Khổng Tử khẳng định “đại học” không chỉ là “đại nhân chi học” (cái học của các bậc chính nhân quân tử) mà còn là “đại quảng chi học” (cái học bao quát phạm vi rộng lớn)
Tại Châu Âu, ý tưởng giáo dục đã xuất hiện từ cách đây 2500 năm tại Hy lạp cổ đại Hàn lâm viện của Platon với phương châm: đi tìm cái tốt, cái chân lý, bằng khoa học, bằng sự đối thoại trong không khí tự do, bằng sự tự nguyện, thầy và trò bình đẳng nhau, thầy và trò tìm đến với nhau; có thể được xem là những hạt nhân của học thuật đầu tiên của Châu Âu Ban đầu, đại học được hình thành dưới hình thức một “đoàn thể
tập hợp của thầy và trò”, đặt dưới uy quyền của Nhà thờ Trong tổ chức ấy, có ba phân
khoa chiếm địa vị thượng đẳng: thần học, luật khoa và y khoa Các phân khoa khác bị coi là “hạ đẳng” Đẳng cấp trên dưới này đã gợi cảm hứng cho Kant viết quyển sách
“Xung đột giữa các phân khoa” xuất bản năm 1798 Trong đó Kant giải thích: tại vì các môn giảng dạy trong ba phân khoa ngự trị trên cao đó mở ra cho chính quyền khả
Trang 24năng gây ảnh hưởng “mạnh nhất và bền bỉ nhất” trên dân chúng Thần học chăm lo
“lợi ích vĩnh hằng của mỗi người”, bởi vậy, qua các môn học, chính quyền có thể đi vào tận trong “sâu thẳm của tư tưởng và những ý muốn thầm kín nhất của dân chúng”
để hướng dẫn họ hành động và lựa chọn Luật học chăm lo “lợi ích xã hội” của dân chúng; qua các môn học, “chính quyền có thể điều khiển được thái độ hành vi bên ngoài của họ bằng dây cương luật lệ” Y khoa chăm lo “lợi ích thân thể”; nhờ đó chính quyền có thể chờ đợi một sự phục vụ tương xứng của một dân tộc đông và khỏe Các phân khoa hạ đẳng: văn chương, khoa học, toán học, và tất nhiên, triết lý được “giao cho lý trí riêng của tầng lớp thông tháí” Vì là hạ đẳng, các phân khoa ấy “độc lập với mệnh lệnh của chính quyền trong việc giảng dạy”, chỉ quan tâm đến “lợi ích khoa học, nghĩa là sự thật” Phân khoa triết lý được xem là “nơi mà lý trí phải có quyền nói một cách công khai”, “nơi không phải để ra lệnh, mà là để phán đoán mọi mệnh lệnh” Chính vì cái vị thế hạ đẳng, chính vì chính quyền không thấy các phân khoa ấy chút gì ảnh hưởng trực tiếp trên dân chúng, nên lý trí mới được tự do phát triển theo luật riêng của nó, mới hoạt động dưới một quan tâm duy nhất là quan tâm về sự thật Ý tưởng của Kant đưa đến hậu quả là đảo ngược lại trật tự cao thấp trên thực tế: ông muốn đặt các phân khoa “chuyên nghiệp”, “nghề nghiệp”, dưới một phân khoa “tổng quát” mà mục tiêu là khám phá kiến thức của con người trong mọi chiều hướng Trong nghĩa đó, phân khoa triết phải xem như được giao phó chức năng mang đến cho các kiến thức khác một kiến thức phụ trội về ý thức và về suy tư, giúp các phân khoa khác thoát ra khỏi quan tâm thực dụng duy nhất của mình
Lý tưởng của chủ nghĩa Kant còn được tiếp tục thể hiện trong tư tưởng của một nhà giáo dục lỗi lạc mà dấu ấn của ông đến nay vẫn còn ghi dấu trong khắp các đại học trên thế giới: Humboldt Đại học, theo Humboldt, phải thực hiện hai chức năng giảng dạy và nghiên cứu Humboldt còn đưa ra một viễn kiến rằng đại học đóng vai trò như
là một trung tâm văn hóa và nhân văn Mô hình đại học của Humboldt đã nhanh chóng được chấp nhận, và trở thành một mô hình chuẩn cho các đại học trên thế giới Với chức năng giảng dạy, đại học đào tạo những chuyên gia có kĩ năng cao và có văn hóa; với chức năng nghiên cứu, đại học là trung tâm sáng tạo ra tri thức mới và chuyển giao
Trang 25công nghệ cho nền kinh tế Đại học, do đó, cũng có thể xem là một phương tiện nối kết công dân trong một xã hội
1.2.2 Quan niệm về trường đại học:
Để có thể đưa ra được định nghĩa về trường đại học, có thể xuất phát từ chính chức năng, bản chất của trường đại học; hoặc xuất phát từ mối quan hệ của nó với Nhà nước Chức năng cơ bản của trường đại học là truyền tải văn hóa, kiến tạo tri thức, và theo đuổi chân lý thông qua việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu Đó chính là tâm điểm của mọi định nghĩa về trường đại học (Clark, 1984) Xuất phát từ sứ mạng đặc biệt và cơ bản của trường đại học là theo đuổi chân lý, trường đại học phải là một tổ chức có tính chất tổng hợp, bao trùm toàn diện và kết hợp việc đưa ra nhiều môn học khác nhau để vừa cung cấp những kiến thức chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu được đào tạo nghề nghiệp của sinh viên, vừa nâng cao tầm hiểu biết của họ về các nền văn minh và về trách nhiệm đối với xã hội (Lobkowicz, 1983; Palous, 1995).[6]
Từ lịch sử hình thành và phát triển của trường đại học phương tây và mối quan
hệ của nó với nhà nước, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều luồng quan điểm định nghĩa về trường đại học Có thể thấy có hai khuynh hướng, một là chủ nghĩa lý tưởng; hai là chủ nghĩa duy thực về trường đại học Chủ nghĩa lý tưởng coi trường đại học là tháp ngà tri thức, trong đó các nhà khoa học được an nhiên theo đuổi tri thức, ít có mối quan hệ với thế giới bên ngoài; trường đại học là trung tâm của những suy nghĩ độc lập, của phê phán và sáng tạo, xem đó là một cộng đồng được điều khiển bởi những tiêu chuẩn do các thành viên của nó xác lập (Hetherington, 1965; Jasper, 1959) Trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, Hetherington cho rằng nếu trường đại học không
có niềm tin rằng có một chân lý đáng để theo đuổi vì chính bản thân chân lý ấy, một chân lý khách quan mà chúng ta có thể giảng dạy và học tập được, thì đó không phải là một trường đại học thực sự Để theo đuổi chân lý, trường đại học cần giữ một khoảng cách nhất định và độc lập với văn hóa quanh nó, để nhiệm vụ của nó không bị phá vỡ hay ngăn chặn bởi chính phủ hay các doanh nghiệp, các tổ chức tôn giáo (Moor, 1993; Mori, 1993) [6]
Chủ nghĩa duy thực thì quan tâm đến những chính sách có tính chất thể chế của nhà trường khi nó được định hình bởi những áp lực từ bên ngoài như nhà nước, nhà
Trang 26thờ, các doanh nghiệp, kể cả công nghiệp và nông nghiệp (Martin, 1972) Theo cách nhìn này, trường đại học tạo thành một trung tâm nghiên cứu và sáng tạo tri thức mới
và vai trò cơ bản của các trường đại học phương Tây là tìm kiếm chân lý , nhưng trường đại học không thể tránh khỏi bối cảnh xã hội mà nó bắt nguồn và được hỗ trợ
về tài chính để hoạt động Do đó, trường đại học cũng cần có trách nhiệm với một cộng đồng rộng lớn hơn,tức là xã hội Bởi vậy chủ nghĩa duy thực định nghĩa trường đại học là một “trạm dịch vụ xã hội”, một tổ chức phức hợp thực hiện việc đào tạo, nghiên cứu, tư vấn, và làm các dịch vụ khác phục vụ cho xã hội (Wolff, 1992)- một vai trò đòi hỏi nó phải dâng hiến cho những mục đích được định nghĩa bởi tôn giáo, chính trị, và các lực lượng kinh tế Trường đại học cũng cần phải huấn luyện con người cho nhiều nghề nghiệp khác nhau, đào tạo giới trí thức và tinh hoa xã hội để họ trở thành những người lãnh đạo trong tương lai, cũng như cần phải cung ứng những dịch vụ về khoa học và kỹ thuật (Polin, 1983) Trường đại học theo chủ nghĩa duy thực, như một nhà máy công nghiệp mà giảng viên là những công nhân, sản phẩm của họ là bằng cấp, sinh viên là những khách hàng đang tìm mua các loại năng lực và phẩm chất Trong quan hệ giữa trường đại học và xã hội, sản phẩm của trường đại học là nhân lực được đào tạo, khách hàng của những sản phẩm ấy là các doanh nghiệp, là nhà nước, là các tổ chức xã hội, là quân đội, và là các trường đại học khác Sinh viên là những vật liệu thô để trường đại học tạo thành sản phẩm [6]
Từ lý tưởng của Kant, cho tới Humboldt, trải qua sự thách thức của khoa học, công nghệ, kinh tế, tri thức, kỹ thuật, sinh thái cũng như quân sự, đại học ngày nay đã
có nhiều sự biến đổi Trường đại học ngày nay không chỉ là tháp ngà của triết học, mà đóng vai trò động lực chủ yếu của nghiên cứu khoa học cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng, đồng thời còn đảm nhiệm chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của xã hội
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giáo dục đại học là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, bao gồm giáo dục bậc đại học và sau đại học; thực hiện nhiệm
vụ đào tạo trình độ từ cao đẳng tới tiến sĩ Trường đại học là tên gọi chung của nhóm các trường đại học, đại học, và học viện Trường đại học là cơ sở của giáo dục đại học Như vậy, cụm từ trường đại học ở Việt Nam có sự khác biệt so với khái niệm đại học
Trang 27trên thế giới, đại học – university – loại hình tổ chức hoạt động học tập bậc cao, ở đó vừa tiến hành nghiên cứu vừa tiến hành giảng dạy Ở nước ta, chức năng nghiên cứu được trao chủ yếu cho các viện nghiên cứu
John Stuart Mill quan niệm đại học: “Đại học không phải là chỗ của giáo dục nghề nghiệp Các đại học không chủ ý dạy tri thức đòi hỏi để làm cho con người phù hợp với các cách kiếm sống nào đó Mục tiêu của đại học không phải tạo ra các luật gia, bác sĩ hay kỹ sư có kỹ năng, mà tạo ra những con người có năng lực (tư duy) và
có văn hóa.[…] Con người là con người, trước khi con người là luật gia, bác sĩ, nhà kinh doanh, hay nhà sản xuất; và nếu chúng ta làm cho họ thành những người có
năng lực và nhạy cảm (capable and sensible), họ sẽ tự làm cho họ thành những luật
gia hay bác sĩ có năng lực và nhạy cảm.”
Unessco trong hai văn kiện quan trọng là Tuyên bố Unessco 2009 và Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học cũng đã dưa ra những quan điểm của mình về đại học Cả hai văn kiện nhấn mạnh vai trò của giáo dục cũng như triết lý của Đại học : không những đào tạo cho sinh viên có kiến thức vững chắc và biết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cả cho tương lai Hơn nữa, còn đào tạo những công dân
có ý thức trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ hòa bình, nhân quyền và những giá trị dân chủ Một định nghĩa khác về đại học, trong diễn văn nhận chức Hiệu trưởng Trường Đại
học Harvard ngày 12-10-2007, bà Drew Faust có nói:“Bản chất của một trường đại
học là trách nhiệm độc nhất vô nhị của nó với quá khứ và tương lai, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại Một trường đại học hoạt động không vì những kết quả của tháng tới hay năm tới, thậm chí cũng không vì việc sinh viên tốt nghiệp sẽ trở thành con người như thế nào Nó hoạt động vì những kiến thức sẽ định hình cả một đời người, những kiến thức truyền tải di sản của nhiều thiên niên kỷ, những kiến thức quyết định tương lai Một trường đại học phải vừa nhìn về tương lai phía trước, vừa nhìn lại quá khứ theo những cách đôi khi bắt buộc phải mâu thuẫn với những mối bận tâm hoặc đòi hỏi nhất thời của công chúng Trường đại học gắn bó với sự vô thời hạn, và là người quản gia của tất cả các truyền thống còn tồn tại” Nhiệm vụ của đại học, nói
như TS Marcus Storchtrong buổi lễ trao giải Nobel, đại học có 3 nhiệm vụ chính, đó là: đại học là ký ức của xã hội;là mũi nhọn; là tấm gương phê phán của xã hội;[7]
Trang 28Tóm lại, dù với nhiều cách nhìn nhận khác nhau nhưng có thể nhận thấy, trong các quan niệm về trường đại học, các nhà nghiên cứu, học giả đều nhìn nhận nó trong mối quan hệ với nhà nước, vai trò sứ mệnh của trường đại học với cả xã hội Trường đại học là một tổ chức mà ở đó, mỗi cá nhân được giáo dục, khai sáng bởi những kiến thức thu nhận được Sứ mệnh của trường đại học là lưu giữ và kiến tạo nên những tri thức mới, những tri thức phục vụ cho sự phát triển không chỉ của riêng dân tộc đó mà cho cả xã hội loài người, dẫn dắt xã hội về tư tưởng và trí tuệ… Để đại học làm được điều đó, trường đai học phải có được vị thế độc lập nhất định đối với tôn giáo, chính trị, tài chính…nhằm giữ được vị thế độc lập trong nghiên cứu, sáng tạo và đào tạo của mình, đó cũng là tinh thần đã được nói đến trong Điều 14 Luật Đại học Irish, 1997:
“ (1) Một trường đại học trong khi thực hiện chức năng của mình cần phải:
(a) có quyền và có trách nhiệm duy trì và thúc đẩy những nguyên tắc truyền thống
về tự do học thuật trong việc tổ chức thực hiện mọi hoạt động trong và ngoài nhà trường, và
(b) được giao quyền tự quy định, điều chỉnh mọi hoạt động của mình theo những đặc tính và truyền thống của riêng mình, phù hợp với những nguyên tắc truyền thống về tự do học thuật và trong khi làm điều đó, nhà trường cần lưu ý tới:
• việc thúc đẩy và duy trì sự bình đẳng về cơ hội và về việc tiếp cận đại học,
• tính hiệu quả khi sử dụng các nguồn lực, và
• nghĩa vụ giải trình trách nhiệm trước công chúng,
Và, trong khi diễn giải điều luật này, nếu có bất cứ nghi vấn nào về ý nghĩa, thì sự giải thích nào có thể thúc đẩy những đặc điểm, truyền thống và nguyên tắc trên đây sẽ được ưu tiên áp dụng thay cho những cách giải thích khác (2) Giảng viên của một trường đại học phải có quyền tự do, trong phạm vi luật định, về việc giảng dạy, nghiên cứu và những hoạt động khác trong hay ngoài nhà trường; có quyền đặt câu hỏi và kiểm nghiệm mọi tri thức đã có trước đây,
để có thể đưa ra những ý tưởng mới và trình bày những ý kiến gây tranh cãi hoặc không được số đông ưa chuộng, và không bị nhà trường gây khó khăn hay phân biệt đối xử vì đã thực hiện quyền tự do ấy (Ireland Office of Attorney General 1997)[8]
Trang 291.3 Chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, xu hướng đa dạng hóa các hình thức sở hữu thể hiện ngày càng rõ nét – do tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất quy định Ở những nước này, vào thời điểm đầu tiên của sự phát triển chủ yếu tồn tại hai hình thức sở hữu: sở hữu tư nhân chiếm ưu thế và sở hữu nhà nước Đến nay, ngoài hình thức sở hữu tư nhân thuần túy, còn có hình thức sở hữu hỗn hợp cổ phần hóa và cũng xuất hiện hình thức sở hữu rất mới – sở hữu tập thể – ESOP Chẳng hạn, sở hữu tập thể đã xuất hiện ở một loạt nước tư bản phát triển như: Anh, Tây Ban Nha, Mỹ, Ca-na-đa, Nhật Bản… Ở Mỹ có trên 500 doanh nghiệp lớn và vừa do các tập thể cổ đông tự quản Xu hướng chung ở các nước này không phải là phát triển sở hữu tư nhân thuần túy mà là sự phát triển đa dạng hóa các hình thức sở hữu như sở hữu hỗn hợp, sở hữu tập thể Các hình thức sở hữu này có quan hệ chặt chẽ với hình thức cổ phần mà
cổ đông hết sức đa dạng, từ nhà nước, chính quyền các địa phương, các nhà doanh nghiệp đến các cá nhân trong xã hội
Sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước để đảm bảo kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
là một nội dung quan trọng trong đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, nhà nước ta Trong sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN thì cổ phần hóa DNNN
là một chủ trương lớn, một giải pháp quan trọng tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN ở Việt Nam
Thực tiễn hơn 10 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở Việt Nam đã khẳng định rằng, cổ phần hóa là quá trình đa dạng chủ sở hữu đối với DNNN nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh (SXKD) từ các nhà đầu tư
và người lao động, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ pháp lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới phát huy quyền tự chủ kinh doanh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Chủ trương CPH DNNN được Đảng ta bắt đầu nêu ra trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11/1991) Từ đó đến nay chủ trương cổ phần hóa DNNN tiếp tục được khẳng định, phát triển và ngày càng
rõ, cụ thể hơn trong các văn kiện đại hội VIII, IX, các nghị quyết Trung ương 3 (khóa
Trang 30IX) và Nghị quyết Đại hội X của Đảng Đó là một quá trình vừa làm, vừa tìm tòi, không ngừng đổi mới tư duy, nhận thức về mục tiêu, đối tượng, phạm vi cổ phần hóa, đối tượng được mua cổ phần, phương thức thực hiện và giải quyết chế độ, chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa DNNN [8]
Các văn kiện của Đảng đã xác định cổ phần hóa DNNN là để cơ cấu lại DNNN, giảm mạnh các DNNN kém hiệu quả, doanh nghiệp ở các lĩnh vực không nhất thiết phải có DNNN tập trung vốn vào lĩnh vực then chốt, đảm bảo kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tạo ra loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó vốn
cổ phần nhà nước giữ vai trò chi phối và có sở hữu của người lao động tại doanh nghiệp, nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước, đồng thời huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, mua cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa IX) đã khẳng định “Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN…” [9]
Thực tiễn hoạt động của DNNN Việt Nam hàng chục năm qua hoạt động còn kém hiệu quả, mặc dầu các doanh nghiệp này đã được Nhà nước đầu tư một khối lượng vốn khá lớn từ ngân sách, được Nhà nước giao phó quyền chủ đạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Đội ngũ cán bộ có đào tạo, cán bộ quản lý có trình độ được tập trung chủ yếu trong các DNNN Tuy với nhiều thế mạnh cũng như sự ưu ái của Nhà nước như vậy, song DNNN vẫn chưa thực sự phát huy tốt vai trò nòng cốt, chủ đạo trong sự phát triển của nền kinh tế, đồng vốn chi trên chưa thực sự có hiệu quả, dẫn đến thua lỗ của hầu hết DNNN, gây thất thoát tài sản của quốc gia Những vụ tham nhũng lớn trong những năm qua đã và đang xử lý, phần lớn đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến DNNN Chính vì vậy vấn đề sắp xếp đổi mới DNNN để loại hình doanh nghiệp này trở thành lực lượng chủ yếu của nền kinh tế ngày càng trở nên cấp bách khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Một trong những giải pháp đổi mới
Trang 31DNNN là hiệu quả, thay đổi triệt để trong cấu trúc tổ chức và hoạt động của DNNN là
cổ phần hóa Cổ phần hóa sẽ thải loại những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, phát huy sức mạnh trí tuệ của các cổ đông tham gia vào việc quản lý, từ đó sử dụng hợp lý hơn, hiệu quả hơn nguồn lực của doanh nghiệp cổ phần hóa Như vậy cổ phần hóa sẽ tác động rất lớn đến kinh tế, chính trị và
xã hội như:
- Giảm số lượng DNNN thuần tuý (tức là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước), sẽ giảm bớt được một khoản bổ sung vốn từ ngân sách cho những doanh nghiệp này, để dành đầu tư vào những nhu cầu phát triển khác
- Thông qua CPH, nhà nước thu được một phần giá trị tài sản mà trước đây nhà nước giao cho các doanh nghiệp quản lý, nhưng sử dụng kém hiệu quả, khoản tiền này
sẽ được đầu tư trở lại để phát triển doanh nghiệp
- Làm giảm đầu mối các DNNN, từ đó làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi tín dụng của Nhà nước Đặc biệt sẽ là giảm áp lực vay vốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và quỹ tín dụng nhà nước
- Cổ phần hóa gắn liền với sự xuất hiện của hàng loạt các công ty cổ phần với cơ chế lưu chuyển cổ phần thông qua thị trường chứng khoán sẽ tạo ra quá trình luân chuyển vốn
từ nơi không có hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao Toàn bộ nguồn lực
xã hội nằm trong các công ty cổ phần sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn
- Cổ phần hóa DNNN sẽ góp phần đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng khá phổ biến trong các DNNN và cơ quan quản lý chúng Sự bao cấp của Nhà nước đối với nhiều doanh nghiệp, cơ chế “xin”, “cho” sẽ là nguồn gốc nảy sinh hiện tượng lãng phí, tham nhũng
Như vậy CPH sẽ tạo ra sự giám sát chặt chẽ của các chủ sở hữu (cổ đông) đối với giám đốc và cán bộ quản lý DNNN cổ phần hóa
- Cổ phần hóa nhằm chuyển đổi một phần sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, tạo điều kiện thu hút được nguồn vốn dồi dào trong dân cư, nguồn vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư công nghệ, phát triển doanh nghiệp, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước
Trang 32- Cổ phần hóa DNNN sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sau khi CPH có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, giúp cho người lao động trong công ty cổ phần thực sự làm chủ doanh nghiệp, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả doanh nghiệp
- Cổ phần hóa sẽ góp phần phát triển thị trường chứng khoán, vốn được huy động ngày càng nhiều thông qua việc phát hành cổ phiếu (phát hành lần đầu và phát hành
bổ sung) từ đó giúp các doanh nghiệp cổ phần hóa có điều kiện để cải tiến công nghệ,
mở rộng sản xuất, đào tạo tay nghề cho người lao động, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên CPH cũng nảy sinh những vấn đề khác như: công bằng xã hội, lợi ích người lao động, trợ cấp thất nghiệp, vấn đề việc làm … cần phải được xử lý một cách hài hoà, vì thế cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp sau: [10]
- Đảm bảo cho người lao động có một số lượng cổ phần nhất định (cho hoặc bán với giá ưu đãi) và coi họ là cổ đông sáng lập
- Phải có chính sách xã hội thích hợp cho người lao động mà lợi ích của họ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi CPH
- Đảm bảo quyền lợi vật chất cho người lao động trong các doanh nghiệp, cổ phần theo mức độ sở hữu vốn của họ
- Đảm bảo cho người lao động được tiếp cận cơ hội, tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp, nếu họ có nhu cầu
- Giải quyết thoả đáng quyền lợi cho người lao động không thể bố trí được việc làm, sau khi đã thực hiện các giải pháp tối ưu
- Tạo cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người lao động tiếp tục được làm việc tạo công ty cổ phần
Ngoài ra CPH còn có tác động lớn trong việc bảo lãnh, phát hành cổ phiếu, giao dịch chứng khoán, thị trường chứng khoán giúp xác định chính xác giá trị doanh nghiệp, giảm các tổn thất về tài sản, từ đó giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước
Cổ phần hóa DNNN đã được thực hiện khá lâu ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Song với Việt Nam CPH đồng nhất với quá trình cải cách khu vực
Trang 33kinh tế Nhà nước, đó là sự chuyển hóa DNNN thành công ty cổ phần mà trong đó cổ đông sáng lập là Nhà nước Sau khi công ty cổ phần được thành lập, công ty có thể phát hành cổ phiếu mới và bán cổ phần cũ cho các thành phần kinh tế khác
Về mặt pháp lý CPH DNNN là quá trình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ DNNN sang công ty cổ phần Điều đó có nghĩa là một DNNN sau khi đã hoàn tất quy trình CPH thì doanh nghiệp đó sẽ chuyển sang loại hình công ty cổ phần, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về công ty (nay là luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác về doanh nghiệp) Khi đã chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản thì địa vị pháp lý của doanh nghiệp đó phải hoàn toàn tuân theo quy định của pháp luật về công ty cổ phần Như vậy toàn bộ vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, từ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý và thành lập, giải thể, phá sản phải chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp, đặc biệt là những quy định về công ty cổ phần
Về hình thức, cổ phần hóa là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước, hoặc cho cán bộ nhân viên của doanh nghiệp mình bằng hình thức đấu giá công khai, hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công ty cổ phần
Về mặt bản chất CPH chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường
1.4 Mục tiêu chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần
Chủ trương cổ phần hóa các cơ sở công lập trong đó có lĩnh vực giáo dục đại
học đã được manh nha hình thành từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa
X Sau đó, tại phiên họp thường kỳ của Chính Phủ tháng 11/2006 diễn ra tại Hà nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo lập đề án thí điểm
cổ phần hóa từ 15 tới 20 trường đại học, cao đẳng trong 5 năm tới Trong đó cần đặc biệt tới bán cổ phần chiến lược cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
Đồng thời, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Nguyễn Thiện Nhân cũng khẳng định kế hoạch hành động của ngành với tinh thần mới: Hội nhập GD ĐH với quốc tế một cách mạnh mẽ và sâu rộng, bằng cách tự nâng cao chất lượng và tạo điều
Trang 34kiện tối đa cho các nhà đầu tư, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh cho GD ĐH Việt Nam Ngày 10/4 năm 2009, Bộ Tài chính đưa ra Quy chế thí điểm chuyển đơn vị sự nghiệp công lập có thu thành công ty cổ phần và đã kết thúc việc xin ý kiến vào ngày 25/4
Những nội dung cơ bản của chủ trương được quy định tại Dự thảo Quy chế thí điểm chuyển đơn vị sự nghiệp công lập có thu thành công ty cổ phần.Trong đó có những nội dung chính như sau:
Về mục tiêu chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập có thu thành công ty cổ phần:
+ Để phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế trong việc cung ứng dịch vụ công, nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
+ Các đơn vị sự nghiệp công lập có thu khi chuyển sang công ty cổ phần được tự chủ
về tài chính, phát huy được vai trò của doanh nghiệp, công khai, minh bạch hạch toán theo nguyên tắc thị trường; đa dạng hóa sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để nâng cao năng lực tài chính, đầu tư, đổi mới công nghệ; đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp.
+ Tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu triển khai ứng dụng các kết quả khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh thương mại hóa các sản phẩm hàng hóa, phát huy có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Về phạm vi, đối tượng cổ phần hóa:
- Các đơn vị sự nghiệp công lập có thu tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên hoạt động trong các lĩnh vực sau:
Trang 35+ Có phương án sắp xếp lại chuyển thành công ty cổ phần, tự nguyện thực hiện cổ phần hóa và có sự thống nhất giữa lãnh đạo đơn vị với tổ chức công đoàn, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Quyền và nghĩa vụ của đơn vị sự nghiệp công lập có thu sau khi chuyển thành công
ty cổ phần
+ Sau khi cổ phần là doanh nghiệp, thực hiện cơ chế quản lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định của Luật thuế đối với doanh nghiệp Được tự quyết định mức thu, chi phí dịch vụ để đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động
Như vậy, trường đại học công lập (ĐHCL)là một đối tượng trong chủ trương cổ phần hóa các cơ sở đào tạo công lập- đối tượng nghiên cứu của luận văn Gắn kết các nội dung cơ bản của chủ trương với các trường ĐHCL có thể thấy một số vấn đề sau:
Mục đích của CPH trường ĐHCL là nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà
nước (NSNN), nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường, nâng cao doanh thu và mang lại lợi nhuận cho các cổ đông của trường Cổ đông nhà trường chính là người đầu tư tài chính vào hoạt động GDĐH với mục tiêu lợi nhuận Đồng thời, với quyền tự quy định mức học phí của các nhà trường sau cổ phần hóa, sẽ tạo sức ép lên nhà trường phải tự nâng cao chất lượng đào tạo, về phía người học sẽ cho họ nhiều quyền lựa chọn và yêu cầu chất lượng tương xứng với học phí CPH trường ĐHCL, do đó sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho GDĐH Trong số những ý kiến cổ súy cho chủ trương CPH
trường ĐHCL, nhiều ý kiến cho rằng, đó là một bước đi tất yếu sau những văn bản như
Nghị định 10/2002/NĐ-CP về Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định 53/2006/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng
dịch vụ ngoài công lập Đặc biệt, trong Nghị định 10/2002/NĐ-Cvà Nghị định
53/2006/NĐ-CP đã có quy định đối tượng thí điểm cổ phần hóa Đó là các đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên trong các lĩnh vực đào tạo Như vậy, về bản chất của chủ trương này, nói như TS Trần Thị Hà là chỉ“làm thay đổi cơ chế tài chính chứ không phải thay đổi bản chất hoạt động của trường Trường học vẫn là nơi đào tạo.”[9] Đồng thời, CPH còn giúp cơ sở đào tạo tự chủ hơn
Trang 36về trả lương và sử dụng người giỏi - những điều kiện tiên quyết để tạo nên chất lượng giáo dục Tóm lại, mục đích cuối cùng của CPH trường ĐHCL là nhằm đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường ĐH và GDĐH thông qua con đường CPH – đổi mới cơ chế tài chính cho các trường, huy động thêm được nhiều nguồn lực cho hoạt động của các trường ĐHCL trong điều kiện NSNN gặp nhiều khó khăn
Kết luận chương 1: tóm lại, trong chương 1 luận văn đã trình bày những vấn
đề lý luận liên quan tới chuyển đổi các cơ sở đào tạo thành công ty cổ phần như: trình bày những xu hướng quan niệm mới về GDĐH trên thế giới và ở Việt Nam; quan niệm
về vấn đề thị trường GDĐH trong nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quan niệm về trường đại học; vấn đề lý luận về chuyển đổi các DNNN hiện nay; và những vấn đề lý luận đặt ra từ chủ trương chuyển đổi các cơ sở đào tạo công lập trong đó có các trường ĐHCL thành công ty cổ phần Đó là những căn cứ cho những nội dung nghiên cứu tiếp theo sẽ được trình bày trong chương 2 về pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động của khối trường ĐHCL và nhu cầu chuyển đổi thành công ty cổ phần
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHỐI TRƯỜNG ĐHCL VÀ NHU CẦU CHUYỂN
ĐỔI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Một số nét khái quát về các trường ĐHCL
2.1.1 Khái quát lịch sử trường đại học ở Việt Nam
Trong 4000 năm của lịch sử dân tộc Việt Nam, giáo dục nói chung, giáo dục bậc đại học nói riêng ra đời từ rất sớm Trường đại học đầu tiên được biết đến ở ta là Quốc Tử Giam, được hình thành từ năm 1076 dưới triều đại nhà Lý Đây là nơi đào tạo và lưu danh những con người ưu tú có đóng góp to lớn cho sự phát triển hưng thịnh của dân tộc Do đó, Quốc Tử Giám có vai trò không nhỏ trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam
Trong thời kỳ Pháp thuộc, những năm đầu thế kỷ XX, giáo dục Việt Nam nói chung, GDĐH nói riêng cơ bản được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng giáo dục phong kiến nhuưng chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp Trường Đai học Đông Dương được hình thành từ năm 1906 với nhiều phân khoa như hành chính, y dược, kỹ thuật… chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong cách Pháp Có thể nói dù còn nhiều hạn chế nhưng đây là trường đai học có ý nghĩa nền tảng cho việc thành lập hệ thống các trường đại học, cao đẳng với nội dung, chương trình và phương pháp dạy học gần giống như các trường tại chính quốc
Từ sau năm 1945, giáo dục và GDĐH Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới dựa trên sự phát triển của khoa học và nhu cầu thực tiễn của đất nước Thời kỳ này, giáo dục đại học được phát triển để phục vụ cuộc kháng chiến giành độc lập và kiến thiết nước nhà
Từ năm 1956-1975, hệ thống giáo dục đại học được phát triển mạnh mẽ ở miền Bắc Việt Nam, với sự ra đời của Đại học Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội….Tính đến năm 1975, có 30 trường đại học ở Miền bắc với hơn 8400 giáo sư và giáo viên,
56000 sinh viên Trong khi đó tại Miền Nam , trước thời điểm tái thống nhất đất nước năm 1975, trong hệ thống GDĐH Miền Nam Việt Nam đã tồn tại 11 viện ĐH học tư
Trang 38với khoảng 166000 sinh viên, đặc biệt là các viện ĐH có liên quan với tôn giáo Trong các viện ĐH tư đáng lưu ý có Viện ĐH tư Vạn Hạnh và Viện ĐH tư Đà Lạt Sau năm
1975 ở Miền Nam tất cả các viện ĐH tư và viện ĐH cộng đồng đã bị giải thể, và hệ thống GDĐH được tổ chức lại dựa vào Quyết định 426-TTg ngày 27/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, theo mô hình của các trường ĐH Miền Bắc, tức là mô hình Liên Xô
Từ năm 1975-1990, hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam phát triển thống nhất theo mô hình Liên Xô với sự mở cửa của các trường đại học như Đại học Công nghệ Hà Nội, Đại học Hà Nội và các trường đại học chuyên nghiệp khác Thời ký này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế bao cấp, do vậy hệ thống các trường đại học đều thuộc sở hữu của nhà nước – các trường đại học công lập được bao cấp hoàn toàn từ chỉ tiêu tuyển sinh, đội ngũ cán bộ, ngân sách hoạt động, cho tới việc phân công việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Mặc dù giai đoạn này GDĐH đã có sự phát triển vượt bậc so với các giai đoạn trước về năng lực và sự đóng góp của hệ thống đại học với sự phát triển của đất nước nhưng, do sự bao cấp hoàn toàn và sự khó khăn về mặt tài chính của ngân sách nhà nước trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế trên phạm vi quốc
tế, dẫn tới những mục tiêu giáo dục không đạt được Tuy nhiên để đánh giá được một cách chính xác đóng góp của hệ thống GDĐH cho xã hội vào thời điểm đó là hết sức khó khăn và không được nhìn nhận một cách nghiêm túc Sau quá trình đổi mới nhìn lại, có thể thấy, sự bao cấp toàn bộ của nhà nước với GDĐH đã dẫn tới hệ quả:
+Sự đánh giá nhìn nhận về vai trò của giáo dục trong đó có GDĐH chưa đúng mức, cộng với sự khó khăn về tài chính nên GDĐH chưa được ưu tiên đầu tiên phát triển Giai đoạn này mọi nguồn lực tài chính được dồn ưu tiên cho sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế khác Mặt khác do hệ quả của sự bao cấp toàn bộ từ phía nhà nước cũng dẫn tới tâm lý ỷ lại của người dân, dựa dẫm hoàn toàn vào sự trợ cấp của nhà nước
+Những nguồn đầu tư cho giáo dục đại học còn nhiều hạn chế không đáp ứng được nhu cầu học tập chính đáng của người dân, từ đó nảy sinh nhiều hệ quả tiêu cực
+Chất lượng giáo dục đại học còn kém, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, không đóng góp được một nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cho yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước
Trang 39Từ sau năm 1990, hệ thống các trường đại học ở Việt Nam có sự thay đổi lớn với việc mở rộng hệ thống các trường đại học ở địa phương Đây là thời kỳ mở cửa và hội nhập, nhu cầu học tập của xã hội ngày càng phát triển Sự đòi hỏi của người dân với giáo dục bậc đại học không ngừng tăng cao.Đồng thời, nhu cầu đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ từ phía các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội cũng ngày một nâng lên Để đáp ứng các đòi hỏi đó, hệ thống giáo dục đại học phải phát triển, trước tiên là về số lượng các trường đại học và cao đẳng, đồng thời các nguồn lực xã hội tham gia vào đào tạo Đại học cũng có sự chuyển biến
Biểu hiện của sự thay đổi trong GDĐH thời kỳ này trước tiên được thể hiện ở
sự gia tăng số lượng và loại hình sở hữu các trường đại học và cao đẳng, từ 63 trường đại học hoàn toàn thuộc khối công lập vào năm 1987, tính tới tháng 9/2009 đã tăng lên
150 trường đại học, trong đó số trường ngoài công lập là 44 trường Đó là kết quả của
tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, chấp nhận mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam được khuyến khích phát triển Về GDĐH, một trong những ý tưởng đổi mới là chấp nhận sự tồn tại của các cơ
sở GDĐH không phải của nhà nước, tức là các cơ sở GDĐH ngoài công lập (NCL) Điều này khẳng định những đóng góp quan trọng của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho công cuộc phát triển kinh tế và xã hội của đất nước trong bối cảnh mới nhưng nó cũng tạo ra thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý giáo dục ĐH Tuy nhiên nhìn vào thực tế hoạt động cũng như qua các công trình nghiên cứu về giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng đều cho thấy sự phát triển của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay còn rất nhiều bất cập đặc biệt là trong cơ chế quản lý
Hiện nay, hệ thống các trường đại học ở nước ta gồm có hai bộ phận là khối trường ngoài công lập và khối trường đại học công lập
Như vây, hiện nay, dựa trên sự phân biệt về sở hữu, hệ thống các trường đại học
ở nước ta gồm có hai bộ phận là khối trường ngoài công lập -Trường đại học tư thục
và khối trường đại học công lập Trên thế giới, các trường đại học được chia làm hai loại là đại học tư thục vì lợi nhuận - hoạt động giống như các công ty đối vốn, và đại
Trang 40học tư thục phi lợi nhuận - đại học tư vô vị lợi - hoạt động không vì lợi nhuận, không được tổ chức như các công ty cổ phần Đối với loại hình đại học tư, hiện nay có nhiều luồng quan điểm trái chiều về việc có nên hay không nên phát triển loại hình trường đại học này Một số quốc gia do quan niệm giáo dục là một loại dịch vụ công cộng thuộc trách nhiệm cung ứng của nhà nước, lo ngại trước những ảnh hưởng tiêu cực của
xu thế thương mại hóa trong giáo dục đại học, nên không cho phép thành lập các trường đại học vì lợi nhuận Biện pháp được sử dụng phổ biến là khuyến khích thành lập các trường đại học tư thục phi lợi nhuận Do vậy, loại hình trường đại học tư thục phi lợi nhuận chiếm ưu thế trong số các trường đại học tư thục Ngược lại, một số quốc gia khác lại cho phép cả hai loại hình trường tư thục vì lợi nhuận và phi lợi nhuận cùng song song tồn tại Ở Việt Nam hiện nay, các trường tư thục tuy không được phân loại chính thức song dựa trên đặc trưng về cơ cấu tổ chức và hoạt động có thể thấy đều là các trường tư thục vì lợi nhuận, trong đó vốn được đóng góp bởi các cổ đông và đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất về đường lối phát triển của nhà trường Trên thế giới các trường đại học tư thục vì lợi nhuận thường đầu tư vào những lĩnh vực dạy nghề, ngoại ngữ, quản trị kinh doanh là những ngành nghề dễ thu hút sinh viên, thu lợi lớn và không cần đầu tư dài hạn, để thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của những người đầu tư - cổ đông Điều đó dẫn tới hạn chế là các trường này sẽ dễ chạy theo xu thế thương mại hóa, vì lợi nhuận - một điều khó xảy ra trong các trường công lập
Trong Luật giáo dục Đại học 2012, đã có định nghĩa chính thức về cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận nhưng để tạo thuận lợi cho sự thành lập cũng như tổ chức hoạt động cần có thêm các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó: “Cơ
sở giáo dục đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ
sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.”
2 1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của khối trường đại học công lập
Trường đại học công lập là cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Các quy định về địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, hoạt động… được quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật Giáo dục 2005 được sửa đổi bổ sung 2010, Luật Giáo dục