góp Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH 2.1 Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp c
Trang 1MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Chương 1: Những vấn đề lý luận về định đoạt phần vốn
góp của thành viên trong công ty TNHH
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp của thành
viên trong công ty TNHH
1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp 22
1.5 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về định đoạt phần vốn 27
Trang 2góp
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về định đoạt
phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
2.1 Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về định
đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
43
2.2 Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về định đoạt
phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
50
2.3 Nguyên nhân của những khiếm khuyết của pháp luật Việt
Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công
ty TNHH
58
Chương 3: Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của
thành viên trong công ty TNHH
3.3 Kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện 69 3.3.1 Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh về công ty 69 3.3.2 Hoàn thiện các quy định của Luật Thương mại 70
3.3.5 Tạo điều kiện tốt hơn nữa cho hoạt động của công ty 73 3.3.6 Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng phần vốn góp 74 3.3.7 Sửa đổi quy định về thừa kế phần vốn góp 74
Trang 4MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với các nước trong khu vực và quốc tế vì vậy nền kinh tế của nước ta có những thay đổi hết sức căn bản để đáp ứng được với nhu cầu hội nhập Sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân và sự cải cách mạnh mẽ của khu vực kinh tế nhà nước đã thúc đẩy việc cải cách pháp luật công ty ở Việt Nam Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 để tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng rất lớn Do vậy loại hình công ty TNHH chiếm vị trí quan trọng, luôn là sự lựa chọn của người đầu tư
Việc nhượng bán phần vốn góp trong công ty TNHH là một vấn đề pháp lý và kinh tế có ý nghĩa lớn hiện nay, bởi nó là một tài sản kinh doanh phụ thuộc nhà đầu tư và nhà đầu tư rất linh động khi sử dụng quyền này để tiến hành hoạt động kinh doanh Trong khi đó pháp luật Việt Nam hiện nay còn khá nhiều bất cập liên quan
Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc
sỹ luật học của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài viết đề cập hoặc nghiên cứu một
số khía cạnh của vấn đề định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về vấn đề: định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH Trong xu thế phát triển
và hội nhập hiện nay, có nhiều vấn đề đặt ra trong việc định đoạt phần vốn
Trang 5góp trong công ty TNHH, nó đòi hỏi sự hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý cho các thành viên trong công ty TNHH Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH
3 MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn hướng tới các mục tiên nghiên cứu: (1) Các vấn đề lý luận về phần vốn góp trong công ty TNHH; (2) Các hình thức định đoạt phần vốn góp, thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH; (3) Những hạn chế và phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH
Luận văn chỉ nghiên cứu các vấn đề định đoạt phần vốn góp trong công
ty TNHH theo pháp luật Việt Nam hiện hành và đưa ra các kiến giải liên quan
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trên nền tảng các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Trên cơ sở đó, Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hoá để giải quyết nội dung khoa học của đề tài
5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
1.2 Phân loại các hình thức định đoạt phần vốn góp
Trang 61.3 Các điều kiện đối với việc định đoạt phần vốn góp
1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
3.1 Nhu cầu hoàn thiện
3.2 Phương hướng hoàn thiện
3.3 Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA
THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp trong công ty TNHH
1.1.1 Khái niệm về phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
Công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội và lịch sử nhất định Lịch sử phát triển của công ty gắn liền với lịch sử phát triển của hoạt động thương mại và sự phát triển của lực lượng sản xuất với những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại
Sự ra đời của công ty là kết quả của quá trình phát triển kinh tế hàng hoá Theo quan niệm chung có thể hiểu: Công ty kinh doanh là một thực thể kinh doanh được tạo lập trên cơ sở vốn góp của một hay nhiều người Thông thường Công ty được chia làm 2 loại chính là Công ty đối nhân và Công ty đối vốn
Loại thứ nhất, Công ty đối nhân là những công ty mà việc thành lập
dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thàn viên tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm
vô hạn về mọi khoản nợ của công ty [25, tr.115] Còn đối với công ty hợp vốn đơn giản là loại công ty có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn đã góp vào công ty (thành viên góp vốn)
Trang 8Loại thứ hai, Công ty đối vốn là loại công ty mà những thành viên tham
gia phải góp một phần vốn xác định tạo nên vốn, tài sản riêng của Công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh Ở Công ty đối vốn yếu tố nhân thân của người góp vốn thường ít được quan tâm mà vấn đề vốn góp được đề cao Các thành viên Công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của Công ty nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn mà họ góp vào công ty Các công ty đối vốn thông thường
có công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vốn cổ phần
Khác với các loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm của hoạt động lập pháp Các loại công ty khác do các thương gia lập ra, pháp luât thừa nhận và hoàn thiện nó Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại công ty trung gian giữa Công ty đối nhân và Công ty đối vốn, nó vừa có tính chất của một Công ty đối nhân là các thành viên quen biết nhau; việc thành lập, quản lý công ty đơn giản hơn công ty cổ phần Nó có tính chất của công
ty đối vốn vì các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp vào công ty Vì những lý do đó công ty trách nhiệm hữu hạn có những đặc trưng cơ bản sau:
- Công ty trách nhiện hữu hạn là một pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty
- Thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau
- Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, công ty phải bảo toàn vốn ban đầu
- Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài
Trang 9- Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu)
Có thể nói công ty TNHH là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ Chính sự phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nên mô hình công ty TNHH rất phổ biến ở nước ta
Khi đưa ra khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” thì luật pháp cũng phải đưa ra một khái niệm khác, vừa để làm nền tảng vừa để làm cho khái niệm mới hợp lý Vì vậy trên cơ sở để phù hợp với khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” luật đã tách biệt người bỏ vốn ra khỏi cái cơ ngơi họ thành lập Cơ ngơi
người bỏ vốn ra để thành lập gọi là “pháp nhân” “Pháp nhân được hiểu là một tổ chức thống nhất, độc lập có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập” [26, tr.90] Pháp nhân là chủ thể khi tham gia các quan hệ trong xã
hội Vậy nếu pháp nhân gây nợ thì nó phải lấy hết tiền của nó ra mà trả, còn chủ bỏ vốn ra chỉ mất số tiền mà họ đã góp vào để thành lập ra pháp nhân
Từ sự phân tích ở trên ta thấy được rằng có sự tách bạch giữa tài sản của người góp vốn và tài sản của công ty TNHH Tài sản của người góp vốn sau khi góp vào để thành lập công ty thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của công ty TNHH chứ không còn thuộc quyền sở hữu của người góp vốn Những người đã góp vốn thành lập công ty trở thành đồng chủ sở hữu công ty Mỗi người trong số họ chiếm một phần trong tổng số vốn góp của công ty và được gọi là phần vốn góp của người góp vốn
Trang 10thức tiền mặt hay tài sản vô hình hoặc hữu hình, mà người góp vốn vào công
ty TNHH để có những quyền và nghĩa vụ khi công ty được thành lập, hoạt động và giải thể
1.1.2 Bản chất pháp lý của phần vốn góp
Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một thực thể kinh doanh Và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành
vi pháp lý hay hành vi thương mại Do đó phần vốn góp cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm phần vốn góp từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý
Nếu như xét từ phương diện kinh tế, phần vốn góp là sản nghiệp của người đã góp vốn vào công ty Phần vốn góp không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình, cũng không phải được hình thành
từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tụê mà phần vốn góp là
sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty Khi người góp vốn góp vốn vào công ty thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty TNHH đổi lại người góp vốn trở thành trái quyền đối với phần vốn góp Tuy người góp vốn
là trái quyền đối với phần vốn góp nhưng do công ty TNHH là loại hình công
ty vừa mang tính đối nhân vừa mang tính đối vốn nên việc thực hiện các quyền năng của trái quyền có một số hạn chế nhất định
Xét về phương diện pháp lý thì phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà người góp vốn đã góp vào công ty Trong công ty thường có nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn để thành lập công ty Nhưng không phải lúc nào các thành viên góp vốn cũng góp một số vốn như nhau Khi góp vốn vào công ty thì tài sản góp vốn trở thành tài sản của công ty Các thành viên góp vốn là chủ sở hữu công ty Lúc đó vấn đề phát sinh nếu không có sự phân biệt giữa về số vốn góp vào công ty thì sẽ không có sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các
Trang 11thành viên góp vốn Vì vậy khái niệm phần vốn góp là để phân biệt được tỷ lệ góp vốn vào công ty của các thành viên góp vốn Phần vốn góp của các thành viên góp vốn tỷ lệ thuận với số vốn mà họ đã góp vào công ty Dựa trên phần vốn góp mà ta cũng có thể xác định được quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên góp vốn Trong công ty có nhiều thành viên nên việc điều hành, quản lý, quyết định những vấn đề cũng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên trong công ty
1.2 Phân loại các hình thức định đoạt phần vốn góp
1.2.1 Chuyển nhƣợng
Theo giáo sư Michael Blakeney của Viện nghiên cứu sở hữu trí tuệ Queen Mary đại học London thì khái niệm chuyển nhượng được hiểu như sau: Chuyển nhượng là việc chủ sở hữu bán tất cả các quyền SHTT độc quyền của mình và được một cá nhân khác hoặc pháp nhân khác mua lại các quyền
đó Khi tất cả các quyền độc quyền đối với một sáng chế đã được bảo hộ được chủ sở hữu của nó chuyển giao cho một cá nhân hoặc một pháp nhân khác mà không có một giới hạn bất kỳ về thời gian hoặc các điều kiện khác thì việc chuyển nhượng các quyền đó xem như đã được thực hiện [27]
Theo giáo trình Luật dân sự của đại học Luật Hà Nội thì khái niệm chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận của các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng, còn người được chuyển nhượng trả một khoản tiền nhất định, tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất đó
Qua phân tích ở trên ta thấy rằng chuyển nhượng là việc chủ sở hữu giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người nhận chuyển nhượng và nhận được từ người nhận chuyển nhượng một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đó Ở đây ta thấy có sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
Trang 12đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ Từ đó ta có thể rút ra kết luận bản chất của chuyển nhượng là hợp đồng
1.2.2 Các hình thức khác
a Thừa kế: là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa
kế theo di chúc [26, tr.482] Qua phân tích ở trên ta thấy thừa kế theo di chúc chỉ thể hiện ý chí của một bên đó là người để lại di sản thừa kế Vì vậy ta có thể thấy rằng thừa kế theo di chúc có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương
Thừa kế theo pháp luật là việc di chuyển tài sản của người chết cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật Cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế Người được thừa kế của cá nhân là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng Những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi Mọi
Trang 13người bình đẳng trong việc hưởng di sản của người chết, thực hiện nghĩa vụ
mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận Phạm vi những người thừa kế rất rộng, vì vậy pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa kế Trong đó hàng thừa kế thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác Các hàng thừa kế thứ hai, thứ ba là những hàng dự bị nếu như người chết không có những người thừa kế ở hàng thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận [26, tr.494] Thừa kế theo pháp luật chỉ được đặt ra trong các trường hợp:
+ Không có di chúc
+ Di chúc không hợp pháp;
+ Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc;
cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm
mở thừa kế;
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản, hoặc từ chối quyền hưởng di sản;
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng
họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản hoặc chết trước người lập di chúc; liên quan đến cơ quan tổ chức được thừa kế theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế
b, Tặng cho là loại hợp đồng Trong các loại hợp đồng thông dụng thì hợp đồng tặng cho có những đặc điểm riêng biệt Tặng cho tài sản làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng, cho nhận tài sản Hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế, sau khi các bên đã thoả thuận về việc tặng cho mà chưa chuyển giao tài sản, không làm phát sinh quyền của các bên Vì vậy hợp đồng được coi là ký kết khi các bên chuyển giao tài sản Thời điểm chuyển giao tài sản cũng là thời điểm chấm dứt hợp đồng [26, tr.374] Điều 461 Bộ
Trang 14luật dân sự quy định: “Hợp đồng tặng cho là sự thoả thuận giữa các bên, theo
đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên tặng cho đồng ý nhận” Căn cứ vào khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản cho thấy đây là một hợp đồng đơn
vụ và không có nghĩa vụ thanh toán giữa các bên Loại hợp đồng tặng cho này diễn ra phổ biến Tuy nhiên còn có hợp đồng tặng cho kèm theo điều kiện buộc bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ theo yêu cầu của bên tặng cho Trong trường hợp này hợp đồng tặng cho là hợp đồng có điều kiện Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ mà bên tặng cho yêu cầu bên được tặng cho thực hiện có thể là tài sản hoặc công việc Nếu đối tượng của quan
hệ nghĩa vụ này là tài sản thì tài sản phải được phép đưa vào giao dịch, còn nếu đối tượng của quan hệ nghĩa vụ này là công việc, thì việc thực hiện hoặc không thực hiện công việc không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội Qua phân tích ta thấy được việc thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự của bên được tặng cho thực chất là một dạng đền bù, thể hiện quan hệ có đi có lại giữa các bên Do đó, hợp đồng tặng cho có điều kiện là một loại hợp đồng dân
sự song vụ, theo đó bên tặng cho có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho, còn bên được tặng cho tài sản có nghĩa vụ thực hiện một công việc theo các điều kiện mà bên tặng cho đưa ra
c, Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Khi đã góp tài sản vào trong doanh nghiệp, tài sản sẽ được chuyển thành tài sản của doanh nghiệp, không còn là tài sản thuộc sở hữu của chủ thể góp vốn nữa Vì vậy, Bộ luật dân sự quy định quyền tài sản đối với phần vốn góp vào doanh nghiệp được sử dụng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
+ Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp [26, tr.317]
Trang 15+ Cầm cố được hiểu là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Qua đó ta thấy
để phân biệt cầm cố và thế chấp người ta không phụ thuộc vào tài sản bảo đảm là động sản hay bất động sản, mà phụ thuộc vào đặc điểm tài sản đó có chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ hay không Nếu tài sản bảo đảm được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, thì hai bên đã áp dụng biện pháp cầm cố tài sản Việc bên cầm cố giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố phải là giao tài sản thực tế, tức là bên nhận cầm
cố thực sự giữ tài sản cầm cố chứ không phải chỉ chiếm hữu giấy tờ
Mặt khác ta thấy rằng phần vốn góp của chủ thể góp vốn là quyền tài sản Với đặc điểm của quyền tài sản đó là không thể cầm nắm được vì thế không thể có việc chuyển giao tài sản bảo đảm từ người cầm cố cho người nhận cầm cố Vì vậy không thể áp dụng biện pháp bảo đảm cầm cố cho tài sản bảo đảm là phần vốn góp mà chỉ áp dụng biện pháp thế chấp
+ Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
Ta có thể thấy sự khác nhau giữa chế định bảo lãnh với các chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác là ở chỗ bảo lãnh là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó người thứ ba dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự của người khác chứ không phải là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính chủ sở hữu tài sản như các chế định bảo đảm khác Như vậy, trong biện pháp bảo lãnh, bên bảo đảm không phải là bên có nghĩa vụ được bảo đảm, đồng thời không chỉ có hai chủ thể chính là bên có quyền và bên có nghĩa vụ, mà ít nhất có ba bên chủ thể: bên bảo đảm
Trang 16(bên bảo lãnh), bên nhận bảo đảm (là bên có quyền – bên nhận bảo lãnh) và bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) Bên bảo lãnh là người thứ ba (trong quan hệ nghĩa vụ dân sự) cam kết với bên có quyền là sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Tuy nhiên, biện pháp bảo lãnh cũng có mối quan hệ với các biện pháp bảo đảm khác Điều này thể hiện ở chỗ bên bảo lãnh sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược hay ký quỹ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho bên được bảo lãnh (được gọi là áp dụng biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh) Nghĩa vụ dân sự của bên bảo lãnh trong trường hợp này là thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh
1.3 Các điều kiện đối với việc định đoạt phần vốn góp
1.3.1 Cơ sở pháp lý tạo thành các điều kiện
a, Quy định pháp luật về quyền tài sản
Theo như phân tích ở trên ta có thể thấy rằng phần vốn góp là quyền tài sản của thành viên góp vốn vào công ty Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự: “Quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Từ định nghĩa trên ta khẳng định quyền tài sản phải đáp ứng được hai yêu cầu:
+ Quyền tài sản trị giá được bằng tiền
+ Có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự
Giá trị của các quyền tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như:
Trang 17+ Thông qua giao kết hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê…
+ Được cơ quan nhà nước giao quyền sử dụng như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản…
+ Bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp
Quyền tài sản có thể được chia thành hai loại: quyền đối vật và quyền đối nhân Quyền đối vật được biển hiện như quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền hưởng hoa lợi… Quyền đối nhân của một người thường tương ứng với nghĩa vụ tài sản của người khác Qua quy định tại Điều 181 ta thấy rằng quyền tài sản là một tài sản vô hình, các tài sản vô hình ngoài việc đáp ứng được hai điều kiện quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự cần phải có một số đặc điểm sau đây:
+ Tài sản vô hình cần phải nhận dạng được Việc nhận dạng tài sản vô hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài sản vô hình đó Ví dụ: một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học – công nghệ nếu mới chỉ hình thành trong ý nghĩ của người sáng tạo ra chúng, thì chưa được coi là tác phẩm và người có ý nghĩ đó chưa được pháp luật bảo vệ quyền tác giả Chỉ khi người có ý nghĩ sáng tạo thể hiện các tác phẩm của mình dưới một hình thức vật chất nhất định, thì tác phẩm đó mới được coi là đối tượng của quyền tác giả Một sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá… được pháp luật bảo vệ khi chủ sở hữu đăng ký các phát minh, sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá… này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Cũng như việc người ta có thể nhận biết được điểm bắt đầu sự tồn tại của tài sản đó, các chủ thể cũng có thể nhận biết được sự kết thúc (hay sự phá huỷ của tài sản vô hình này) Ví dụ: quyền đòi nợ kết thúc khi người có nghĩa
Trang 18vụ thanh toán xong khoản nợ; quyền sử dụng đất của một chủ thể kết thúc khi hết thời hạn sử dụng đất mà pháp luật đã quy định hoặc khi chủ thể đó chuyển quyền sử dụng đất cho người khác…
+ Chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp luật bảo vệ khi quyền sở hữu
bị xâm phạm, thì ngược lại chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền sở hữu tài sản vô hình này
b, Quy định của pháp luật về quyền chủ sở hữu
Thành viên khi góp vốn thành lập công ty trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp Quyền của chủ sở hữu bao gồm các quyền sau:
- Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức
+ Định đoạt về số phận thực tế của vật, tức là chủ thể có quyền định đoạt vật làm cho vật không còn trên thực tế nữa như: tiêu dùng hết, huỷ bỏ, hoặc từ bỏ quyền chủ sở hữu (vứt bỏ hoặc tiêu huỷ tài sản đi) Trong việc định đoạt số phận thực tế của vật, chủ thể định đoạt vật chỉ cần bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật đó [5, tr.445]
+ Định đoạt số phận pháp lý của vật là việc chuyển giao sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Thông thường, việc định đoạt số phận pháp lý của vật phải thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của
Trang 19chủ sở hữu Các hình thức định đoạt pháp lý rất đa dạng, có thể là việc định đoạt đối với tài sản như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để lại thừa kế… Hoặc thông qua các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật Ví dụ như: định đoạt việc phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp theo quy định của điều lệ doanh nghiệp, hay quyết định góp vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh tại một doanh nghiệp nào đó…[5, tr.445]
Việc chủ sở hữu, hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu uỷ quyền định đoạt tài sản thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó Việc định đoạt tài sản phải tuân theo những điều kiện nhất định Chủ sở hữu có thể tự mình định đoạt tài sản hoặc uỷ quyền cho người khác định đoạt tài sản của mình
c, Quy định của Hiến pháp về bảo vệ chủ sở hữu
Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã đạt được những thành tựu bước đầu vô cùng quan trọng, nhất là những năm đầu của thập kỷ 90 Để đáp ứng được nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay, Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1980 Hiến pháp sửa đổi (được Quốc hội thông qua ngày 15/5/1992) đã thừa kế những quy định của các bản Hiến pháp trước đây và đã xác nhận chế độ kinh tế của nước ta bao gồm ba hình thức sở hữu chủ yếu Điều 15 – Hiến pháp sửa đổi 1992 ghi nhận: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”
Với xu thế phát triển của một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp sửa đổi
1992 đã xác nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, nhiều thành phần
Trang 20kinh tế khác nhau cùng tồn tại và phát triển Để tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, Nhà nước chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phát triển với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng Mức độ và phạm vi của sở hữu tư nhân ngày càng được mở rộng Điều
21 của Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã quy định: “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”
1.3.2 Nội dung các điều kiện
Quyền định đoạt tài sản là một quyền năng quan trọng của quyền sở hữu, bởi nó liên quan đến việc quyết định số phận pháp lý của tài sản khi chuyển quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác hoặc số phận thực tế của tài sản Bởi vậy, để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, Điều 196
Bộ luật dân sự quy định: “ Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật Trong trường hợp pháp luật có quy định về trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình
tự thủ tục đó” Theo quy định trên thì khi định đoạt tài sản phải tuân theo những điều kiện nhất định Các điều kiện đó là:
+ Người định đoạt tài sản phải là người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật dân sự thì năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Bộ luật dân sự cũng quy định năng lực hành vi dân sự ở từng độ tuổi nhất định phù hợp với khả năng nhận thức của người có tài sản Người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, hoặc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác khi được người đó uỷ quyền, trừ những trường hợp người đó bị Toà án tuyên bố mất
Trang 21năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự khi định đoạt tài sản Pháp luật cũng quy định những người dưới 18 tuổi khi định đoạt tài sản phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của người
đó Tuy nhiên đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu có tài sản riêng thì có thể tự mình định đoạt tài sản mà không phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người đó
+ Đối với những tài sản mà pháp luật quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản, thì khi định đoạt tài sản người định đoạt tài sản phải tuân thủ theo quy định đó Những tài sản pháp luật quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thường là bất động sản hoặc các tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu
1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
1.4.1 Nội dung của định đoạt phần vốn góp
Việc định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH thường được thực hiện thông qua hình thức là hợp đồng Nội dung của định đoạt phần vốn góp chính là nội dung của hợp đồng Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản trong hợp đồng Một hợp đồng có thể bao gồm nhiều điều khoản do các bên thoả thuận, điều khoản do pháp luật quy định Các điều khoản này làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên Trong khoa học pháp lý, điều khoản của hợp đồng được chia làm 3 loại: điều khoản căn bản, điều khoản thông thường và điều khoản tuỳ nghi
Điều khoản căn bản là những điều khoản bắt buộc các bên phải thoả thuận, nếu thiếu các điều khoản này thì hợp đồng không thể giao kết được Người ta còn gọi các điều khoản căn bản là điều kiện cần và đủ để hình thành hợp đồng Tuỳ thuộc vào từng đối tượng của hợp đồng mà có thể có những điều khoản căn bản nhất định Điều khoản căn bản do pháp luật quy định hoặc
Trang 22do các bên thoả thuận Song, đều xuất phát từ yêu cầu khách quan của các quan hệ phát sinh trong giao lưu dân sự
Điều khoản thông thường: đó là các điều khoản mà các bên có thể thoả thuận trong khi giao kết hợp đồng hoặc không thoả thuận Các điều khoản này
đã được quy định trong luật, vì vậy nếu các bên không có những thoả thuận trong hợp đồng khác với những quy định của pháp luật, thì những quy định của pháp luật sẽ được áp dụng giao kết hợp đồng Khi có tranh chấp sẽ căn cứ vào những quy định của pháp luật để giải quyết
Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản nêu ra các phương thức khác nhau để các bên tự lựa chọn hoặc những điều khoản luật không nêu các bên tự thoả thuận trong khi giao kết hợp đồng
Như vậy, có những điều khoản phải thoả thuận trong hợp đồng, quyết định sự hình thành của hợp đồng nhưng lại có những điều khoản không nhất thiết phải thoả thuận trong hợp đồng Đối với phần vốn góp trong công ty TNHH thì nội dung của định đoạt phần vốn góp bắt buộc phải có những nội dung sau:
+ Bên được chuyển nhượng, tặng cho phần vốn góp Tuỳ theo các hình thức định đoạt phần vốn góp mà bên được chuyển quyền sở hữu phần vốn góp
có những đặc điểm khác nhau Đối với việc định đoạt phần vốn góp thông qua hình thức chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng phải là người có năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự đầy đủ Còn đối với việc định đoạt phần vốn góp qua hình thức tặng cho, để lại thừa kế theo di chúc thì người nhận chuyển nhượng không đòi hỏi phải có năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự đầy đủ
+ Đối tượng được định đoạt chính là phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
Trang 23+ Số lượng phần vốn góp được định đoạt dựa trên tỷ lệ giá trị phần vốn góp trên tổng số vốn điều lệ của công ty
Đây là những nội dung bắt buộc phải có trong việc định đoạt phần vốn góp Ngoài ra trong việc định đoạt phần vốn góp còn có các nội dung khác tuỳ thuộc vào hình thức định đoạt phần vốn góp
- Định đoạt phần vốn góp thông qua hình thức chuyển nhượng thì phải
có thêm những nội dung như:
+ Giá và phương thức thanh toán Giá cả do các bên tự do thoả thuận Giá của phần vốn góp phụ thuộc rất nhiều vào tình hình hoạt động của công
ty Vì người sở hữu phần vốn góp được hưởng rất nhiều quyền lợi với tư cách
là thành viên của công ty Nếu công ty làm ăn có lãi thì giá trị phần vốn góp
sẽ được tăng lên, ngược lại nếu công ty làm ăn thua lỗ thì giá trị phần vốn góp
sẽ bị giảm xuống Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như cung cầu… Về phương thức thanh toán các bên có thể thoả thuận thanh toán bằng đồng Việt Nam, hoặc đồng ngoại tệ, bằng vàng …
+ Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: đây là nội dung không thể thiếu trong hợp đồng, nó quyết định một hợp đồng có hình thành và thực hiện được hay không
1.4.2 Hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
1.4.2.1 Hiệu lực đối các bên tham gia định đoạt phần vốn góp
Phần vốn góp là một tài sản vô hình Tài sản này không chiếm hữu được Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể nào Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 449 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư…
Trang 24Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp được đặc trưng bởi bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu phần vốn góp cho bên nhận chuyển nhượng Đổi lại bên nhận chuyển nhượng phải trả một khoản tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 449 Bộ luật dân sự 2005)
Ta thừa nhận rằng nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng Thế nhưng chỉ chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành vật mua bán cho người mua
Phần vốn góp như ta đã biết chỉ là một quyền tài sản - một tài sản vô hình mà không thể nhận biết được bằng các giác quan tiếp xúc Bên nhận chuyển nhượng tự nhận định giá trị của phần vốn góp (có thể do họ tự thu thập hoặc do bên chuyển nhượng cung cấp) Các thông tin này là những thông tin đặc biệt, bởi vì có liên quan đến tình hình hoạt động của công ty phát hành phần vốn góp, nhất là tình hình tài chính Giả thiết rằng bên chuyển nhượng
đã cung cấp các thông tin không đầy đủ và trung thực cho bên nhận chuyển nhượng, do đó dẫn đến việc bên nhận chuyển nhượng có sự nhầm lẫn về giá trị của phần vốn góp Thế thì, trong hoàn cảnh luật không quy định rằng cung cấp thông tin và bảo đảm giá trị của phần vốn góp là nghĩa vụ của bên chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng liệu có quyền yêu cầu đền bù thiệt hại hoặc huỷ bỏ hợp đồng? Tất nhiên, bên nhận chuyển nhượng hoàn toàn có thể bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách ghi nhận các tình huống dự liệu này thông qua các điều khoản ràng buộc một các rành mạch trong hợp đồng chuyển nhượng Nhưng nếu không có các điều khoản như thế, bên nhận chuyển nhượng sẽ phải làm gì để bảo vệ lợi ích của mình Liệu có thể áp dụng
Trang 25tương tự pháp luật các quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán trong hợp đồng mua bán vật cho hợp đồng mua bán quyền tài sản
Trong luật cộng hoà Pháp, người chuyển nhượng phần hùn và cổ phần trong công ty có nghĩa vụ của người bán đối với người mua giống như các hợp đồng mua bán vật hữu hình, đặc biệt là các nghĩa vụ bảo đảm về các khuyết tật bị che dấu
Đối với các tài sản hữu hình nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu của bên bán cho bên mua được cho là hoàn thành khi bên bán giao cho bên mua ( đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu) hoặc khi đăng ký quyền sở hữu cho bên mua (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu) Đối với tài sản
vô hình, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu đối với quyền về tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển giao quyền sở hữu (khoản 3 điều 449 Bộ luật dân sự) Vấn đề là phần vốn góp thuộc loại tài sản nào: phải đăng ký quyền sở hữu hay không phải đăng ký quyền sở hữu [2]
1.4.2.2 Hiệu lực đối với công ty
Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp giữa các bên giao kết chỉ phát sinh hiệu lực với công ty khi đăng ký vào sổ thành viên công ty hoặc khi được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư phê chuẩn (đối với phần vốn góp trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) Theo quy định tại khoản 2 điều 33 nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, công ty phải gửi thông báo đến Phòng đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký kinh doanh Kèm theo thông báo phải có hợp đồng chuyển nhượng và các giấy tờ chứng thực đã hoàn tất việc chuyển nhượng có xác nhận của công ty Khi nhận được thông báo, Phòng đăng ký kinh doanh trao giấy biên nhận và đăng ký thay đổi thành viên trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Trang 26Luật viết cũng như học thuyết pháp lý tại Việt Nam chưa từng có câu trả lời lý giải về ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký: đây là việc đăng ký quyền
sở hữu tài sản hay việc đăng ký còn mang một ý nghĩa khác
Tại Cộng hoà Pháp, người nhận chuyển nhượng Phần vốn góp phải làm thủ tục thông báo cho Công ty về việc chuyển nhượng bằng một công chứng thư Việc thông báo này được học thuyết pháp lý lý giải như sau: Người sở hữu Phần vốn góp có một quyền chủ nợ kép đối với Công ty: Một mặt, họ có quyền yêu cầu Công ty trả một khoản lợi nhuận/cổ tức hàng năm từ lợi nhuận
có thể chia của công ty; mặc khác, họ có quyền yêu cầu công ty chia tài sản còn lại của Công ty khi Công ty giải thể tương ứng với giá trị Phần vốn góp của họ Và bởi vì Phần vốn góp là một quyền chủ nợ, nên người sở hữu Phần vốn góp là chủ nợ (người có quyền) và Công ty là người mắc nợ (người có nghĩa vụ) Hợp đồng chuyển nhượng Phần vốn góp mang tính chất một hợp đồng chuyển nhượng quyền chủ nợ, do vậy người có quyền (người nhận chuyển nhượng) phải tuân thủ thủ tục thông báo cho người có nghĩa vụ (công ty) theo quy định của điều 1690 Bộ dân luật Pháp, chứ không hẳn là việc thông báo/đăng ký với công ty mang ý nghĩa của hành vi đăng ký quyền sở hữu tài sản Hay nói cách khác, chưa hẳn Phần vốn góp là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu [2]
1.5 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về phần vốn góp
1.5.1 Các dạng tranh chấp
a, Tranh chấp về vốn góp và chia cổ tức:
- Tình huống: Dương, Thành, Trung và Hải quyết định thành lập công
ty TNHH Thái Bình Dương, ngành nghề kinh doanh xuất nhập khẩu và xúc tiến xuất khẩu với vốn điều lệ là 5 tỷ đồng Công ty TNHH Thái Bình Dương được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào tháng 02/2002
Trang 27Trong thoả thuận góp vốn, các thành viên thoả thuận rằng Dương góp
800 triệu đồng (chiếm 16% vốn điều lệ của công ty)
Thành góp vốn bằng giấy nhận nợ của Công ty Thành Mỹ (một đối tác tiền năng mà các bên dự định sẽ là bạn hàng chủ yếu của công ty TNHH Thái Bình Dương và Thành có mối quan hệ quen biết rất chặt chẽ), tổng số tiền trong giấy nhận nợ là 1,3 tỷ đồng, được các bên nhất trí định giá là 1,2 tỷ đồng
Trung góp vốn bằng ngôi nhà của mình và được tất cả các thành viên thoả thuận định giá 1,5 tỷ đồng (chiếm 30% vốn điều lệ) do tin chắc rằng trong thời gian tới con đường trước ngôi nhà đó sẽ được mở rộng, mặc dù theo mặt bằng giá cả hiện tại thì trị giá ngôi nhà chỉ khoảng 700 triệu đồng
Hải góp vốn 1,5 tỷ đồng bằng tiền mặt (chiếm 30% vốn điều lệ) nhưng lúc đầu chỉ mới góp 500 triệu đồng, 1 tỷ đồng còn lại các bên thoả thuận khi nào công ty cần thì Hải sẽ góp
Trong điều lệ được các thành viên soạn thảo và nhất trí thông qua thì Thành giữ chức Giám đốc công ty, Hải giữ chức Chủ tịch Hội dồng thành viên Người đại diện theo pháp luật của công ty là Giám đốc Các nội dung khác của bản Điều lệ tương tự như Luật Doanh nghiệp
Sau hơn 1 năm hoạt động, Công ty có lãi ròng 800 triệu đồng Hội đồng thành viên của công ty tiến hành họp và quyết định phân chia số lợi nhuận này cho các thành viên Tuy nhiên các thành viên trong công ty không thống nhất được với nhau về thể thức chia, Thành cho rằng do Hải chưa góp đủ vốn (mới góp được 500 triệu đồng trên 1,5 tỷ đồng cam kết) nên tỷ lệ chia lợi nhuận chỉ trên số vốn thực góp của Hải là 500 triệu đồng Hải không đồng ý
và phản bác rằng phần vốn góp của Thành bằng giấy nhận nợ trong công ty không hợp pháp, phần vốn góp của Trung cao hơn giá trị thực tế (do định giá
Trang 28nhà cao hơn thực tế) nên Trung chỉ được chia trên tổng số vốn thực góp là
700 triệu đồng
Hải nộp đơn ra Toà kiện đòi phần lợi nhuận mà Hải cho rằng mình đáng được hưởng là 50% trên số lợi nhuận là 800 triệu đồng Căn cứ mà Hải đưa ra là do phần vốn góp của Thành không hợp pháp, phần vốn góp của Trung chì hợp pháp một phần Việc góp vốn bằng giấy nhận nợ của Thành là không phù hợp với quy định của pháp luật, Thành chỉ được chia lợi nhuận khi
đã bồi thường cho Công ty TNHH Thái Bình Dương số nợ còn tồn đọng (khoảng 1,3 tỷ đồng nợ) của Công ty Thành Mỹ, và hiện giờ Công ty Thành
Mỹ đang tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp và hầu như công ty TNHH Thái Bình Dương không có khả năng để đòi lại số nợ còn lại đó Ngoài ra, trong đơn kiện Hải còn cho rằng việc định giá ngôi nhà là tài sản của Trung không đúng với giá trị trên thực tế, do vậy, vốn góp của Trung thực
ra chỉ là 700 triệu đồng tại thời điểm góp vốn
Trong đơn trình bày tại Toà, Thành cho rằng Hải chỉ được hưởng phần lợi nhuận trên 500 triệu đồng vốn thực tế mà Hải đã góp và yêu cầu Hải phải góp tiếp 1 tỷ đồng vốn còn lại Còn việc góp vốn bằng giấy nhận nợ của mình
là hoàn toàn hợp pháp và điều đó được các bên nhất trí thoả thuận
- Giải quyết vấn đề:
+ Việc góp vốn bằng giấy nhận nợ:
Khoản nợ của Công ty Thành Mỹ đối với Thành (thể hiện qua giấy nhận nợ) theo pháp luật Việt Nam được xem là một tài sản, cụ thể là quyền tài sản
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, mọi tài sản có thể được góp vốn vào công ty nếu các thành viên nhất trí và được ghi vào Điều lệ công ty Khoản 4 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá
Trang 29trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ Công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của Công ty”
Khoản nợ của Công ty Thành Mỹ được các thành viên nhất trí thoả thuận là phần vốn góp của Thành đối với Công ty TNHH Thái Bình Dương, được Thành chuyển nhượng cho Công ty TNHH Thái Bình Dương theo đúng quy định của pháp luật và đã được ghi vào Điều lệ Công ty Thái Bình Dương
Do vậy khoản nợ này là phần vốn góp hoàn toàn phù hợp của Thành cho Công ty Thái Bình Dương
Việc Công ty Thái Bình Dương không đòi hết được số nợ của Công ty Thành Mỹ không làm phát sinh trách nhiệm của Thành vì khoản nợ này đã được chuyển nhượng cho Công ty Thái Bình Dương kể từ khi Công ty Thái Bình Dương được thành lập Việc Công ty Thành Mỹ lâm vào tình trạng phá sản hơn 1 năm sau khi khoản nợ đã được chuyển nhượng hoàn toàn độc lập với việc chuyển nhượng trên Khi các thành viên đó thoả thuận để chấp nhận một khoản nợ là một phần vốn góp, các bên có trách nhiệm phải biết rằng, đó
là một khoản nợ thì có thể đòi được nhưng cũng có thể không Thực tế, các thành viên đó định giá quyền đòi nợ là 1,2 tỷ đồng trong khi khoản nợ của Công ty Thành Mỹ là 1,3 tỷ đồng, có nghĩa là các thành viên đó dự trữ một khoản phí cho rủi ro có thể xảy ra (cụ thể ở đây là 100 triệu đồng) khi không đòi được nợ Thực tế, trong quá trình hoạt động, Công ty Thành Mỹ đã trả trước được số nợ tương đương với số tiền là 650 triệu đồng và Công ty Thái Bình Dương đã tiếp nhận khoản nợ này
Do vậy, phần vốn góp của Thành là hoàn toàn hợp pháp và không có cơ
sở để buộc thành phải chịu trách nhiệm về khoản nợ còn lại không đòi được của Công ty Thái Bình Dương
+ Việc định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế:
Trang 30Phần vốn góp của Trung trong công ty được các thành viên định giá là 1,5 tỷ đồng Mặc dù việc định giá được tiến hành theo nguyên tắc thoả thuận, nhất trí của các thành viên thành lập công ty nhưng đã vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp khi cố ý định giá ngôi nhà (là tài sản góp vốn) lớn hơn giá trị thực tế của nó tại thời điểm góp vốn
Thông tin về con đường sẽ được mở rộng, nâng cấp hay những thông tin tương tự không được xem là căn cứ hợp pháp để định giá trị tài sản cao hơn giá thị trường tại thời điểm góp vốn
Khoản 2 điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá”
Trong trường hợp này, do các thành viên công ty đều thừa nhận việc định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, cho nên các thành viên này buộc phải định giá lại tài sản góp vốn một cách trung thực
so với thời điểm góp vốn và phải tiến hành góp thêm cho đủ số vốn là 1,5 tỷ đồng như đã ghi trong điều lệ công ty
+ Vấn đề chưa góp đủ vốn và quyền hưởng lợi nhuận:
Theo quy định tại điều 39 của Luật Doanh nghiệp, các thành viên trong công ty TNHH phải “góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết” Theo thoả thuận góp vốn lúc thành lập công ty, Hải cam kết góp vốn 1,5 tỷ đồng, lúc đầu góp 500 triệu đồng, 1 tỷ còn lại các thành viên thoả thuận Hải sẽ góp tiếp khi công ty cần Như vậy ở đây, thoả thuận góp vốn không ấn định một thời gian cụ thể mà Hải phải tiến hành góp vốn, do vậy thời hạn công ty cần được
Trang 31xem là thời hạn mà Hải phải góp vốn Đây là thoả thuận mà Luật Doanh nghiệp không cấm hoặc hạn chế
Về nguyên tắc, tỷ lệ phần vốn góp của từng thành viên phải được quy định trong Điều lệ công ty và tỷ lệ này là căn cứ để xác lập tỷ lệ bỏ phiếu, tỷ
lệ được chia tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể, phá sản và tỷ lệ được chia lợi nhuận giữa các thành viên trong công ty Hải đã cam kết góp vốn 1,5 tỷ đồng, phần cam kết góp vốn của Hải đã được ghi vào Điều lệ công
ty, do vậy phần vốn góp của Hải vào công ty phải là 1,5 tỷ đồng
Do Hải đã cam kết góp vốn 1,5 tỷ đồng nên trách nhiệm của Hải đã xác lập đối với các bên thứ ba có liên quan và đối với công ty không chỉ trong phần 500 triệu đồng vốn thực góp mà là số vốn 1,5 tỷ đồng đã cam kết và được ghi trong Điều lệ Do vậy, nếu công ty bị vỡ nợ, phá sản thì Hải phải chịu rủi ro trên toàn bộ số vốn đã cam kết góp là 1,5 tỷ đồng
Mặc dù trên thực tế Hải mới góp 500 triệu đồng nhưng các thành viên khác đã thoả thuận là khi nào Công ty cần vốn thì Hải mới góp đầy đủ vốn Trên thực tế công ty cũng chưa có yêu cầu chính thức bằng văn bản buộc Hải phải góp đầy đủ số vốn này Do vậy, chưa có cơ sở để cho rằng Hải không thực hiện đúng trách nhiệm góp vốn của mình Việc đã góp bao nhiêu vốn trên thực tế không phải là cơ sở để ấn định tỷ lệ vốn góp mà chính Điều lệ của công ty mới ấn định điều đó
- Dựa trên những lập luận đó, Hội đồng xét xử quyết định:
Công nhận phần vốn góp trong Công ty TNHH Thái Bình Dương bằng giấy nhận nợ giá 1,2 tỷ đồng của Thành Bác bỏ yêu cầu Thành phải bồi thường cho Công ty TNHH Thái Bình Dương về khoản nợ không đòi được của Công ty Thành Mỹ
Buộc Trung và các thành viên Công ty TNHH Thái Bình Dương phải định giá lại giá trị ngôi nhà là tài sản góp vốn của Trung một cách chính xác,
Trang 32trung thực theo thời giá thị trường tại thời điểm góp vốn Trung và các thành viên có trách nhiệm phải góp đủ ngay tỷ lệ phần vốn điều lệ đã đăng ký của Trung là 1,5 tỷ đồng
Công nhận phần vốn góp 1,5 tỷ đồng và tỷ lệ phần vốn góp tương ứng của Hải là 30% trong tổng số vốn điều lệ của Công ty TNHH Thái Bình Dương Hải được hưởng phần lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết của mình [7, tr.593-598]
b, Tranh chấp về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn: Vương, Hùng,
Thu cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH Lửa Việt, chuyên sản xuất kinh doanh ga và các loại khí đốt với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng Thủ tục thành lập công ty được tiến hành theo quy định của Luật Doanh nghiệp Trong thoả thuận góp vốn do các thành viên nhất trí ký biên bản thì Vương góp 1 tỷ đồng bằng tiền mặt (chiếm 20% vốn điều lệ), Hùng góp vốn 3 tỷ đồng (chiếm 60% vốn điều lệ), trong đó phần vốn là mặt bằng, nhà xưởng và một số thiết bị sản xuất được các thành viên thoả thuận định giá là 2 tỷ đồng, 1 tỷ đồng bằng tiền mặt Thu góp 1 tỷ đồng vốn bằng tiền mặt (chiếm 20% vốn điều lệ)
Theo điều lệ của Công ty thì Vương là Giám đốc, Hùng là Chủ tịch Hội đồng thành viên và cũng là người đại diện theo pháp luật của công ty Các nội dung khác của điều lệ tương tự như Luật Doanh nghiệp
Sau khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, do Hùng không có đủ vốn góp bằng tiền mặt nên Hùng đã nhượng lại phần vốn góp của mình là 1 tỷ đồng tiền mặt cho Liên Hùng cho rằng mình là Chủ tịch Hội đồng thành viên, là người đại diện theo pháp luật của công ty, và lại là người góp vốn nhiều nhất, do vậy Hùng đã không thông báo trước việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho hai thành viên còn lại Hùng đã lập một hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, trong đó Hùng ký với tư cách người chuyển nhượng vốn vừa với tư cách là người đại diện theo pháp
Trang 33luật của công ty xác nhận việc chuyển nhượng này Hợp đồng chuyển nhượng
có công chứng của Nhà nước
Công ty hoạt động được một thời gian thì giữa các thành viên trong công ty xảy ra những bất đồng sâu sắc về vấn đề góp vốn và tỷ lệ góp vốn
Vương kiện Hùng ra toà, không thừa nhận phần vốn góp của Hùng vì cho rằng tất cả mặt bằng, nhà xưởng vẫn mang tên Hùng, Hùng chưa thực hiện việc chuyển quyền sở hữu các tài sản này cho công ty Trong đơn kiện của mình, Vương cũng yêu cầu toà bác bỏ tư cách thành viên của Liên vì cho rằng việc chuyển nhượng phần vốn góp của Hùng cho Liên là bất hợp pháp
Trong đơn kiện lại, Hùng cũng không thừa nhận pần vốn góp bằng tiền mặt của Vương vì chưa có chứng cứ gì chứng minh Vương đã tiến hành góp vốn cho công ty
Đưa ra chứng cứ chứng minh phần vốn góp của mình, Hùng xuất trình hợp đồng xây dựng nhà xưởng với Công ty xây dựng Thanh Bình trong đó Công ty TNHH Lửa Việt là một bên đứng tên trong hợp đồng này, ngoài ra Hùng còn xuất trình bộ giấy tờ hoàn công các hạng mục nhà xưởng của Công
ty Lửa Việt do Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh cấp Dựa trên những cơ
sở này, Hùng cho rằng đây là những chứng cứ chứng minh cho phần vốn góp của mình
Còn Vương cho rằng mình đã góp đủ 1 tỷ đồng vốn bằng tiền mặt đối với Công ty TNHH Lửa Việt, đưa ra bằng chứng bằng việc xuất trình tờ phiếu thu trong đó Vương tự nộp và tự xác nhận phần vốn góp đã nộp của mình
- Giải quyết tình huống:
+ Về vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty:
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (điều 29) sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người cam kết góp vốn vào công ty TNHH phải tiến hành các thủ tục sau:
Trang 34 Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn các xác nhận bằng biên bản Biên bản giao nhận phải có các nội dung chủ yếu: tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty, tên và địa chỉ thường trú,
số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập công ty hoặc đăng
ký của người góp vốn, loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn, tổng giá trị các tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty, ngày giao nhận, chữ ký của người góp vốn hoặc người đại diện theo uỷ quyền của người góp vốn
và người đại diện theo pháp luật của công ty
Theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 29 Luật Doanh nghiệp thì phần “phần vốn góp bằng các tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đó chuyển sang công ty”
Như vậy, với tình huống nêu trên, mặc dù Hùng cam kết góp vốn bằng mặt bằng, nhà xưởng của mình nhưng Hùng chưa là đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của Luật Doanh nghiệp để chuyển quyền sở hữu các tài sản này sang cho công ty Bằng chứng là các giấy tờ về quyền sử dụng đất đai và quyền sở hữu nhà xưởng vẫn đứng tên của Hùng Các bằng chứng mà Hùng đưa ra như hợp đồng xây dựng nhà xưởng, bộ hồ sở hoàn công đứng tên của
Trang 35công ty không phải là những bằng chứng hợp pháp để chứng tỏ quyền sở hữu của Công ty TNHH Lửa Việt đối với những tài sản đó
Đối với trường hợp góp vốn của Vương, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, khi góp vốn bằng tiền mặt, người góp vốn được xem là hoàn thành nghĩa vụ góp vốn khi có biên bản giao nhận tiền với công ty, trong biên bản
đó phải có đầy đủ những nội dung chủ yếu theo quy định của Luật Doanh nghiệp, phải có chữ ký của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty Điều lệ Công ty TNHH Lửa Việt quy định người đại diện theo pháp luật của Công ty là Chủ tịch Hội đồng thành viên (là Hùng) Do vậy, tờ phiếu thu của Vương xuất trình trong đó Vương tự xác nhận cho việc góp vốn của mình là hoàn toàn không hợp pháp
Theo quy định tại điều 39 của Luật Doanh nghiệp 2005, khi các thành viên của công ty TNHH góp đầy đủ vốn đã cam kết thì sẽ được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp Giấy chứng nhận phần vốn góp là cơ sở chính thức để xác nhận phần vốn góp và việc hoàn thành trách nhiệm góp vốn của thành viên đó
Trong trường hợp trên, do thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản của Vương và Hùng đều chưa hợp pháp nên Vương và Hùng phải tiến hành đầy
đủ các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật Cụ thể, Vương phải lập biên bản bàn giao tài sản góp vốn cho công ty, với những nội dung chủ yếu theo quy định của Luật Doanh nghiệp tại điều 29 và phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty
Hùng phải làm đầy đủ các thủ tục chuyển quyền sở hữu các tài sản góp vốn là mặt bằng, nhà xưởng… của mình sang cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc góp vốn bằng các tài sản có đăng ký quyền sở hữu
và quyền sử dụng đất chỉ được xem là hoàn thành khi các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đứng tên của công ty
Trang 36Thành viên nào đã góp đủ phần vốn đã cam kết của mình, Hội đồng thành viên cần tiến hành cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho các thành viên đó
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì trường hợp thành viên nào chưa thực hiện đúng và đủ các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản thì được coi như thành viên đã chưa góp vốn hoặc góp vốn chưa đầy đủ; số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty, mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn phần vốn đã cam kết của mình
+ Về thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH
Theo quy định tại điều 44 của Luật Doanh nghiệp 2005, thành viên công ty TNHH có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác sau khi đã chào bán phần vốn góp đó cho tất cả các thành viên trong công ty theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty cùng điều kiện Các thành viên trong công ty chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết
Như vậy, với tình huống nêu trên, việc Hùng làm hợp đồng chuyển nhượng một phần vốn góp của mình cho Liên mà không thông báo và chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại là vi phạm Luật Doanh nghiệp 2005 Do vậy, tư cách thành viên và phần vốn góp của Liên không được công nhận và hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp của Hùng cho Liên bị vô hiệu
Ngoài ra, việc thay đổi thành viên công ty mà không thông báo cho Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh là không hợp pháp theo điều 26 Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm
2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh
Trang 37Trường hợp này, nếu vẫn muốn tiếp tục chuyển nhượng phần vốn góp
đó, Hùng phải chào bán phần vốn góp này cho các thành viên còn lại, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết thì Hùng mới có quyền chuyển nhượng cho Liên (việc chào bán phần vốn góp cho các thành viên và Liên phải có cùng điều kiện) Việc chuyển nhượng phải thông báo trước cho Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh theo quy định của pháp luật Nếu không muốn chuyển nhượng nữa thì Hùng phải có trách nhiệm góp đủ số vốn đã cam kết trong điều lệ công ty [7, tr.599-603]
c, Tranh chấp về tư cách thành viên công ty: Năm 2004, Văn, Mai,
Hùng và Phan thành lập công ty TNHH Dương Minh với vốn điều lệ là 3 tỷ đồng, mỗi thành viên góp 750 triệu đồng tương ứng với 25% vốn điều lệ Theo điều lệ Hùng là giám đốc, đại diện theo pháp luật của công ty
Đầu năm 2006, do tranh chấp trong nội bộ công ty Văn và Mai tỏ ý định chào bán phần vốn của mình cho Hùng và Phan Tuy nhiên việc chuyển nhượng chưa diễn ra, song với tư cách là người đại diện theo pháp luật của công ty, Hùng đệ đơn tới cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo thay đổi thành viên, đề nghị xoá tên hai thành viên Văn và Mai Công ty chỉ còn lại hai thành viên Hùng và Phan, mỗi người có số vốn 1,5 tỷ đồng, tương ứng với 50% số vốn trong công ty Phòng đăng ký kinh doanh căn cứ vào đề nghị của công ty do Hùng là đại diện đã cấp giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng
ký kinh doanh với nội dung kể trên
Sau khi biết tin Văn và Mai, lập tức khiếu nại tới phòng đăng ký kinh doanh, cho rằng việc chuyển nhượng chưa hề diễn ra Phòng đăng ký kinh doanh có văn bản bác đơn khiếu nại, cho rằng họ đã làm đúng phận sự Văn
và Mai kiện phòng đăng ký kinh doanh ra toà hành chính, yêu cầu toà hành chính buộc cơ quan này phải thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Trang 38thay đổi thành viên đã cấp cho công ty đồng thời khôi phục lại tư cách thành viên công ty của Văn và Mai
- Giải quyết vấn đề:
+ Vấn đề thi hồi vốn: Sau khi đã góp mỗi người 750 triệu đồng vào công ty TNHH Dương Minh, về nguyên tắc, Mai và Văn không thể tự ý rút lại vốn góp Nếu không muốn tiếp tục tham gia công ty, các thành viên này có thể tìm cách chuyển nhượng phần vốn góp của mình Phần vốn góp 25% trong công ty TNHH Dương Minh được định giá tuỳ theo giá trị của công ty; nếu công ty kinh doanh có lãi và có tương lai phát triển, phần vốn góp 25% có thể lớn hơn nhiều lần vốn thực góp 750 triệu đồng Ngược lại, nếu công ty thua lỗ, Mai và Văn sẽ khó tìm được người mua, và nếu gặp may, giá trị phần vốn góp 25% có thể thấp hơn nhiều lần vốn gốc 750 triệu đồng
+ Công ty mua lại phần vốn góp: Nếu bất đồng về các vấn đề cơ bản của công ty (liên quan đến sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các thành viên và hội đồng thành viên, liên quan đến tổ chức lại công ty), Văn và Mai có quyền yêu cầu công ty TNHH Dương Minh mua lại phần vốn góp của mình Giá mua lại do công ty và hai thành viên này thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì công ty phải mua lại phần vốn góp theo giá thị trường Công ty chỉ có thể trả tiền cho Mai và Văn, nếu sau khi trả tiền công ty vẫn duy trì được khả năng thành toán đối với các khoản nợ và nghĩa vụ khác Sau khi hai thành viên đã rút vốn khỏi công ty, người đại diện công ty phải làm thủ tục đăng ký lại với cơ quan đăng ký kinh doanh Vốn điều lệ của công ty TNHH Dương Minh có thể giảm và số thành viên chỉ còn Hùng và Phan, mỗi thành viên chiếm 50% phần vốn trong công ty
+ Quyền ưu tiên: Phần vốn góp phải được ưu tiên chào bán trước cho các thành viên khác trong công ty với cùng điều kiện thương mại như sẽ được chào bán cho người ngoài công ty Sau thời gian 30 ngày, kể từ ngày chào
Trang 39bán, nếu các thành viên được chào bán không sử dụng quyền mua ưu tiên của mình, thì phần vốn góp được chào bán cho người ngoài công ty Nếu được Văn và Mai chào bán phần vốn, Hùng và Phan phải quyết định có sử dụng quyền ưu tiên mua hay không Qua thời hạn kể trên, Mai và Văn có thể tự do tìm cách chào bán phần vốn cho người ngoài công ty (với cùng điều kiện thương mại như đã chào bán nội bộ) mà không cần Hùng và Phan chấp thuận Nếu tìm được người mua, hợp đồng chuyển nhượng phải được xác lập bằng văn bản và có xác nhận của công ty Kèm theo những giấy tờ chứng minh nhân thân của người mua, cơ quan đăng ký kinh doanh mới tiến hành đăng ký thay đổi thành viên cho công ty
+ Trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh: Phần vốn góp trong công ty TNHH có thể trở thành tài sản rất lớn của người dân trong tương lai Việc xác nhận tài sản đó một phần được thể hiện quan giấy chứng nhận phần vốn góp do công ty cấp, phần được thể hiện thông qua sổ đăng ký thành viên
do công ty lập và lưu giữ, song một phần bởi nội dung đã đăng ký kinh doanh Bởi vậy, khi xoá tên Mai và Văn khỏi danh sách thành viên công ty, cơ quan đăng ký kinh doanh không thể chỉ dựa vào yêu cầu của người đại diện cho công ty, mà buộc phải yêu cầu công ty xuất trình các giấy tờ đã được chứng thực liên quan đến việc chuyển nhượng
Qua phân tích ở trên ta có thể thấy các sai phạm của cơ quan đăng ký kinh doanh và buộc cơ quan này phải thu hồi giấy chứng nhận đăng ký thay đổi thành viên công ty đã cấp cho công ty TNHH Dương Minh và khôi phục lại tư cách thành viên cho Mai và Văn [14, tr.85-88]
1.5.2 Hình thức giải quyết tranh chấp
Tranh chấp về phần vốn góp thường diễn ra giữa các thành viên trong công ty TNHH với nhau và giữa công ty với các thành viên của công ty Theo quy định tại khoản 3 điều 29 “ tranh chấp giữa công ty với các thành viên của