1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những quy định đối với góp vốn thành lập Công ty Cổ phần ở Việt Nam

114 589 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần đã bộc lộ không ít những thiếu sót, hạn chế như pháp luật chưa dự liệu được các hình thức góp vố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

1.1.2 Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty 8

1.2.1.2 Đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần 16 1.2.2 Những vấn đề chung về góp vốn thành lập công ty cổ phần 24 1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của góp vốn thành lập công

2.1 Lịch sử phát triển của các quy định pháp luật về góp vốn

thành lập công ty cổ phần và sự đảm bảo của nhà nước đối

36

Trang 4

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY

ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG

TY CỔ PHẦN

88

3.1 Nhu cầu hoàn thiện những quy định pháp luật về góp vốn

thành lập công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp năm 2005

88

3.2 Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về góp vốn

thành lập công ty cổ phần

90

3.3 Một số ý kiến cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về góp vốn

thành lập công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp năm 2005

92

3.3.1 Về chủ thể góp vốn thành lập công ty cổ phần 92 3.3.2 Về tài sản góp vốn thành lập công ty cổ phần 95

Trang 5

3.3.3 Chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn 96 3.3.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, các quy định về

góp vốn thành lập doanh nghiệp nói riêng và các thiết chế

kinh tế, xã hội

97

3.3.5 Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan đăng ký kinh

doanh nói chung cũng như các cơ quan nhà nước khác

99

3.3.6 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp

luật cho người dân và nâng cao văn hóa pháp lý, đạo đức

kinh doanh cho doanh nghiệp

101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Mức vốn pháp đi ̣nh theo loa ̣i hình công ty c ủa một số

nước châu Âu

47

2.2 Mức vốn pháp đi ̣nh đối với doanh nghiê ̣p tư nhân , công

ty trách nhiê ̣m hữu ha ̣n, công ty cổ phần ở Việt Nam

49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, công ty cổ phần có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay

và đã khẳng định được vị thế, tính ưu việt so với các loại hình doanh nghiệp khác Trong số các loại hình doanh nghiệp thì công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh huy động vốn có cơ chế mở và linh hoạt nhất, có khả năng huy động vốn một cách rộng rãi, có khả năng tích tụ và tập trung vốn với quy

mô lớn; do đó, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy vốn luân chuyển linh hoạt trong nền kinh tế, giúp cho các nguồn lực được phân bổ và sử dụng hợp

lý, hiệu quả hơn Chính vì vậy, ở nước ta, mô hình công ty cổ phần đang được coi là một hướng quan trọng trong chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Điều này đã được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X:

Khuyến khích phát triển mạnh hình thức kinh tế đa sở hữu

mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần thông qua việc đẩy mạnh

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và phát triển các doanh nghiệp

cổ phần mới, để hình thức kinh tế này trở thành phổ biến, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế nước ta [14, tr 231]

Với tinh thần đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã được ban hành và nhờ đó, địa vị pháp lý của công ty cổ phần đã được hoàn thiện một bước Luật Doanh nghiệp cùng với các văn bản pháp luật có liên quan về đầu tư, chứng khoán và thị trường chứng khoán, kế toán, kiểm toán… cơ bản đã tạo thành hành lang pháp lý cho công ty cổ phần tồn tại và phát triển

Và gần đây, tinh thần này một lần nữa được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước ta:

Trang 8

Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế

và các tổng công ty Sớm hoàn thiện thể chế quản lý hoạt động của các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối Phân định rõ quyền sở hữu của Nhà nước và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tập thể phát triển đa dạng, mở rộng quy mô; có cơ chế, chính sách hợp lý trợ giúp các tổ chức kinh tế hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, tiếp cận vốn Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân theo quy hoạch

và quy định của pháp luật, thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế

tư nhân, khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước [15, tr 110]

Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho thấy nỗ lực rất lớn của Nhà nước

ta trong việc tạo ra môi trường pháp lý cho công ty cổ phần phát triển

Như ta đã biết, góp vốn là bước khởi đầu của công việc kinh doanh, là một yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự ra đời, phát triển của một công ty cổ phần, là cơ sở để phân chia lợi nhuận giữa các cổ đông cũng như sự chuyển nhượng, quyền tham gia vào các quyết định quan trọng của công ty Vốn nhiều hay ít là một trong các yếu tố lớn quyết định uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, tạo niềm tin đối với khách hàng và khả năng trả nợ của công ty đối với chủ nợ… Do đó, các quy định pháp luật về góp vốn phải

Trang 9

khách quan, minh bạch và có tính khái quát cao; có như vậy, pháp luật mới thực sự bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia thành lập công ty cũng như tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho hoạt động của công ty cổ phần Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần đã bộc lộ không ít những thiếu sót, hạn chế như pháp luật chưa dự liệu được các hình thức góp vốn đang diễn ra rất đa dạng trong thực tế cuộc sống, một số quy định còn chưa thống nhất với các quy định của các văn bản pháp luật khác

Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Những quy định đối với góp vốn

thành lập công ty cổ phần ở Việt Nam" với mong muốn được nghiên cứu

một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần, từ các vấn đề lý luận về góp vốn thành lập công ty cổ phần, hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần, thực trạng pháp luật Việt Nam

về góp vốn thành lập công ty cổ phần… để từ đó nêu ra những điểm còn hạn chế của pháp luật và đề ra một số phương hướng góp phần hoàn thiện các quy định về vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu

Cùng với sự phát triển của xã hội, công ty cổ phần đã trở thành mô hình doanh nghiệp phổ biến trên thế giới và cũng đang dành được sự quan tâm khá lớn ở Việt Nam Trong những năm gần đây, công ty cổ phần trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp luật…, trong đó có các đề tài như:

- Nguyễn Thiết Sơn: Công ty cổ phần ở các nước phát triển Quá trình

thành lập, tổ chức quản lý, NXB Khoa học xã hội, 1991

- Tạ Đình Xuyên: Tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần, Nhà in

Trung tâm Thông tin KHXHKTQS, 1991

- PGS PTS Lê Hồng Hạnh: Cấu trúc vốn của công ty, Tạp chí Luật

học, số 03/1996

Trang 10

- Nguyễn Đông Ba: Vấn đề tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo

Luật Doanh nghiệp, Tạp chí Luật học, số 02/2000

- ThS Lê Thị Châu, Tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt

động trong công ty đối vốn ở nước ta, Tạp chí Luật học, số 10/2000

- Lê Thị Châu: Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản

của công ty đối vốn ở nước ta, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật

Hà Nội, năm 2001

- Lê Thị Hải Ngọc: Một số vấn đề pháp lý của công ty cổ phần theo

Luật Doanh nghiệp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội,

năm 2002

- Luật sư Nguyễn Ngọc Bích: Luật Doanh nghiệp - Vốn và quản lý

vốn trong công ty cổ phần, Nxb Trẻ, 2003

- Nguyễn Thanh Hải: Chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo

pháp luật Việt Nam, - Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội,

năm 2007

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề pháp lý

về vốn và quản lý công ty cổ phần, chưa có đề tài nào đi sâu vào vấn đề góp vốn thành lập công ty cổ phần

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu và làm rõ những vấn đề pháp lý về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam, chú trọng nghiên cứu các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005

Luận văn đánh giá, phân tích thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần cũng như một số quy định khác có liên quan đến tài sản

và các hoạt động kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này

Trang 11

Tham khảo pháp luật về công ty cổ phần của một số nước trên thế giới, vận dụng những vấn đề lý luận về góp vốn, đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng có hiệu quả Luật Doanh nghiệp vào đời sống kinh tế

và nhằm hoàn thiện các quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp

* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn được cụ thể hóa bằng những nhiệm

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong pháp luật về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp hiện hành Luận văn không đi sâu nghiên cứu khía cạnh tài chính về vốn của công ty cổ phần cũng như vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống kết hợp

Trang 12

với các phương pháp nghiên cứu hiện đại như phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp so sánh phân tích, phương pháp thu thập tài liệu… nhằm đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái luận về góp vốn thành lập công ty cổ phần

Chương 2: Những vấn đề cơ bản về góp vốn thành lập công ty cổ phần

theo pháp luật Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về

góp vốn thành lập công ty cổ phần

Trang 13

Chương 1

KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY

1.1.1 Khái niệm góp vốn thành lập công ty

Theo Từ điển Luật học, góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp [49, tr 312]

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005:

Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể

là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn tạo thành vốn của công ty [34, khoản 4 Điều 4]

Góp vốn cần được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý Xét từ phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ Góp vốn vào công ty là điều kiện tiên quyết để cho ra đời một công ty Nếu không có sự tích tụ, tập trung tài sản với tính cách là các phần vốn góp thì: thứ nhất, công ty không có năng lực tài chính và do đó cũng không thể tự gánh vác nghĩa vụ; thứ hai, không góp vốn thì không thể đem lại lợi nhuận Thực tế, sức mạnh tài chính của một công ty thông thường không chỉ căn cứ vào số vốn các cổ đông góp mà còn các khoản khác như lãi thu được, khoản vốn vay… Tuy nhiên, số vốn mà các thành viên hay các cổ đông góp vào công ty mới phản ánh khả năng tài chính thực sự của một công ty

Trang 14

Còn xét từ phương diện pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào công ty để đổi lấy quyền lợi đối với công ty

Nhìn nhận góp vốn ở góc độ pháp lý, ta nhận thấy sự tồn tại của thỏa thuận góp vốn giữa các thành viên và bản thân hành vi góp vốn thành lập công ty Trong đó, thỏa thuận góp vốn là thỏa thuận giữa các thành viên xoay quanh vấn đề liên quan đến góp vốn Nội dung của thỏa thuận góp vốn không chỉ liên quan đến vấn đề mỗi thành viên góp bao nhiêu phần vốn góp mà còn giải quyết rất nhiều vấn đề khác như tài sản góp vốn, quyền rút vốn, định giá vốn góp, phương thức giải quyết tranh chấp, chuyển nhượng vốn góp… Thỏa thuận góp vốn thành lập công ty là trường hợp các bên của thỏa thuận góp vốn đồng thời là những người đầu tiên tạo dựng ra các quyền lợi trong công

ty Có khi để thành lập một công ty, các thành viên chỉ cần thống nhất với nhau thông qua thỏa thuận miệng; tuy nhiên điều này không phủ nhận rằng bất kỳ việc góp vốn thành lập công ty như thế nào, không phụ thuộc vào số vốn góp và số người tham gia, ta thấy phía sau nó là một quan hệ hợp đồng xoay quanh vấn đề góp vốn Mục tiêu của thỏa thuận góp vốn thành lập công

ty không chỉ là sự ra đời của một công ty mà còn giải quyết các vấn đề có tính nền tảng cho sự tồn tại, vận hành và phát triển của công ty đó sau này

Ngoài ra, khái niệm góp vốn thành lập công ty còn được xem xét với

tư cách là hành vi pháp lý Theo đó, góp vốn là hành vi pháp lý đa phương, chỉ việc đưa tài sản vào công ty để đổi lấy một quyền lợi đối với công ty; bởi

vì nó xuất phát từ thỏa thuận góp vốn giữa các thành viên Một người chỉ có thể thực hiện hành vi góp vốn sau khi đã đạt được thỏa thuận về việc góp vốn với các thành viên khác Mục đích của hành vi góp vốn là một quyền lợi nào đó đối với công ty

1.1.2 Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty

Góp vốn thành lập công ty là một hành vi chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng tài sản Khi tài sản được sử dụng làm vốn góp vào

Trang 15

công ty thì quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng của người góp vốn được chuyển sang cho công ty Theo đó, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản góp vốn được xác lập cho công ty theo quy định của pháp luật Việc góp vốn vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty thực chất là hành vi đầu tư vốn để kinh doanh và nhằm mục đích kiếm lợi nhuận Do đó, quyền được chia lợi nhuận là một quyền lợi quan trọng của thành viên công ty

Như vậy, để nhận diện một hành vi góp vốn cần dựa trên ba yếu tố: một

là, có sự chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng tài sản cho công ty; hai là, người góp vốn có mong muốn trở thành thành viên của công ty; ba là,

mục tiêu của người góp vốn là một quyền lợi đối với công ty Trong đó, mục tiêu đổi lại một quyền lợi đối với công ty là căn cứ quan trọng nhất để phân biệt hành vi góp vốn với các hành vi thương mại khác như việc bán, cho thuê một tài sản nào đó cho công ty hoặc nhượng quyền thương mại, tặng cho tài sản

Để thấy rõ được bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty tôi xin so sánh hành vi góp vốn với một số hành vi thương mại khác như bán cho công ty một tài sản, nhượng quyền thương mại cho công ty

Phân biệt góp vốn thành lập công ty cổ phần với bán một tài sản cho công ty: Trong quan hệ mua bán tài sản giữa bên bán với bên mua là một

công ty, có tồn tại việc đưa tài sản vào công ty Bởi vì thông qua một thỏa thuận mua bán tài sản thì tồn tại nghĩa vụ của bên bán phải đưa tài sản vào trong công ty Tuy nhiên, trong quan hệ này thì bên bán tài sản không hề có ý định gánh vác các nghĩa vụ tài sản đối với các khoản nợ của công ty hay nói chính xác hơn bên bán không muốn trở thành cổ đông của công ty Khi đã chuyển giao tài sản vào công ty, bên bán đoạn tuyệt quyền sở hữu đối với tài sản đã chuyển giao Và đổi lại cho việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản mua bán thì bên bán mong muốn nhận được không phải là một quyền lợi đối với công ty mà là một khoản giá trị đối ứng với nghĩa vụ chuyển giao tài

Trang 16

sản vào công ty Công ty lúc đó có nghĩa vụ chuyển giao lại cho bên bán một khoản giá trị tương ứng Ví dụ: A bán cho công ty cổ phần Z một chiếc xe ô

tô con với giá là 700 triệu đồng, khi đó A có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe ô tô này cho công ty Z và ngược lại công ty có nghĩa vụ thanh toán cho A khoản tiền là 700 triệu đồng như thỏa thuận Bất kể công ty làm ăn thua lỗ hay thành công thì A cũng chỉ nhận được khoản tiền là 700 triệu đồng

mà thôi Và đồng thời anh ta cũng không phải chịu nghĩa vụ nào với chủ nợ của công ty Điều này chứng tỏ A không có một quyền lợi nào (quyền tài chính hay quyền điều hành) đối với công ty mà chỉ có thể yêu cầu công ty Z thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận

Phân biệt góp vốn thành lập công ty với nhượng quyền thương mại cho công ty: Nhượng quyền thương mại là trường hợp bên nhượng quyền

(franchiser) cấp cho bên nhận nhượng quyền (franchisee) quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ, ví dụ như quyền sử dụng thương hiệu, bí mật kinh doanh, công nghệ, tên thương mại… Ta thấy, giữa hành vi góp vốn thành lập công ty

và hành vi cấp nhượng quyền có một số điểm gây nhầm lẫn Thứ nhất, trong

hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền cũng đưa tài sản mà cụ thể ở đây

là quyền sử dụng tài sản trí tuệ vào công ty - bên nhận nhượng quyền Thứ

hai, bên nhượng quyền cũng được nhận một khoản phí nhượng quyền bao

gồm chi phí cố định và một loại phí tính trên cơ sở lợi nhuận mà công ty thu

được từ hoạt động nhượng quyền Thứ ba, bên nhượng quyền cũng có thể áp

đặt một số quy tắc về hoạt động của công ty nhận nhượng quyền về các vấn

đề như phương thức kinh doanh, nguyên tắc kế toán, các điều khoản chống cạnh tranh, bảo mật thông tin… Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại không phải là hành vi góp vốn vì ba lý do sau:

+ Bên nhượng quyền không phải là cổ đông của công ty;

+ Khoản phí tính theo lợi nhuận mà bên nhượng quyền nhận được không vượt ra ngoài phạm vi số lợi nhuận có được từ hoạt động nhượng quyền;

Trang 17

+ Những quy tắc kinh doanh mà bên nhượng quyền có thể áp đặt cho phía công ty nhận nhượng quyền chỉ giới hạn trong phạm vi của hợp đồng nhượng quyền chứ không phải các quy tắc áp đặt cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của bên nhận nhượng quyền

Bằng việc so sánh góp vốn thành lập công ty với các hành vi khác dễ gây nhầm lẫn, một lần nữa ta đã làm rõ hơn bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty Như vậy, bản chất của hành vi góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để đổi lấy quyền lợi đối với công ty

1.2 GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN

1.2.1 Khái quát về công ty cổ phần

1.2.1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau Ở Pháp là công ty vô danh (Anonymous Company), ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company Limited), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)…

Công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện ở Anh năm 1600 là Công ty Đông

Ấn (East India Company), được thành lâ ̣p b ởi một nhóm gồm 218 người, với hình thức rất đơn giản, các thành viên góp vốn theo từng chuyến đi biển, sau mỗi chuyến đi các thành viên tham gia nhận lại vốn của mình và tiền lãi; nếu gặp rủi ro thì các thành viên chịu thiệt hại tương ứng với phần vốn mà mình

đã góp Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty tương tự như Công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt công ty cổ phần xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… Đến cuối thế kỷ XVII, công ty cổ phần bắt đầu xuất hiện ở lĩnh vực ngân hàng Từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần xâm nhập vào lĩnh vực giao thông vận tải, đường sông, đường sắt… Đến năm

1962, ở Anh đã có tới 482.000 công ty cổ phần Còn ở Mỹ, năm 1904 số công

Trang 18

ty cổ phần chiếm 23.6% tổng doanh nghiệp cả nước, năm 1962 đã chiếm 78% Bắt đầu từ thời kỳ này công ty cổ phần được thành lập khắp trên nhiều lĩnh vực ở các nước tư bản và làm cho nền kinh tế ở mỗi quốc gia phát triển [41, tr 7]

Nếu như công ty cổ phần ra đời và phát triển ở các nước tư bản khá sớm thì ở Việt Nam lại xuất hiện rất muộn Từ năm 1986 trở về trước, phương hướng phát triển kinh tế chủ yếu của nước ta là ưu tiên kinh tế quốc doanh, còn các thành phần kinh tế khác chưa được Nhà nước thừa nhận hoặc được thừa nhận nhưng luôn bị hạn chế phát triển Vì vậy, trong kinh tế quản lý tập trung thời kỳ đó không tồn tại công ty cũng như luật công ty

Tại Đại hội Đảng khóa VI năm 1986, khi Đảng và Nhà nước quyết định chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu thì công ty mới được công nhận là hình thức pháp lý

để tiến hành hoạt động kinh doanh Đến năm 1990, Việt Nam mới có đạo luật chính thức quy định về công ty, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21/02/1990 Đây là cơ sở pháp lý cho việc thành lập công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng Tuy cả hai đạo luật trên đã được sửa đổi,

bổ sung năm 1994 nhưng vẫn chưa khắc phục được những hạn chế, bất cập

Vì vậy, ngày 12/6/1999, Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp thay thế cho các quy định pháp luật về công ty trước đó Tuy nhiên, trước những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã bộc lộ không ít thiếu sót; bởi vậy, ngày 29/11/2005, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2005, tạo khung pháp lý vững chắc hơn cho hoạt động kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới Luật Doanh nghiệp năm

2005 đề cập cụ thể các hình thức pháp lý để kinh doanh, trong đó công ty cổ phần được quy định chi tiết tại Chương IV từ Điều 77 đến Điều 129

Giống như loại hình công ty cổ phần của các nước trên thế giới, ở Việt Nam, công ty cổ phần cũng mang những thuộc tính cơ bản sau:

Trang 19

+ Công ty cổ phần là một thực thể pháp lý độc lập, tách rời khỏi những người đã lập ra nó, tức là các cổ đông Công ty cổ phần thuộc quyền sở hữu của các cổ đông, chịu sự chi phối, định đoạt của các cổ đông Tuy nhiên,

sự chi phối, định đoạt này lại được quy định chặt chẽ, rõ ràng bởi pháp luật Công ty cổ phần có thể tồn tại lâu dài, không bị ảnh hưởng bởi sự chuyển nhượng vốn của các cổ đông Công ty cổ phần được nhân danh mình thiết lập các mối quan hệ

+ Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số tài sản đã dùng

để mua cổ phần mà không phải chịu thêm trách nhiệm nào khác nữa Công ty không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ giao dịch cá nhân nào của cổ đông Trách nhiệm hữu hạn được xem xét ở đây là khía cạnh trách nhiệm trả nợ Theo đó, các cổ đông của công ty cổ phần chỉ có trách nhiệm hữu hạn đối với nghĩa vụ trả nợ của công ty, tức là họ chỉ có trách nhiệm giới hạn trong số tài sản đã dùng để góp vào công ty, số tài sản khác còn lại của họ không liên quan đến công ty cũng như các nghĩa vụ tài chính của công ty Còn công ty cổ phần vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản nợ của công ty bằng toàn

bộ tài sản của mình

+ Cổ phần có thể được chào bán tự do mà không lệ thuộc vào ý chí của các cổ đông khác Đây là thuộc tính cơ bản, quan trọng của công ty cổ phần Chỉ có công ty cổ phần mới có thuộc tính này Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần là một quyền đặc trưng của cổ đông trong công ty cổ phần Trừ một số hạn chế quy định trong Điều lệ công ty và các quy định của pháp luật, cổ đông được tự do mua bán, chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Sự tự do chuyển nhượng này làm cho số tiền ghi ở cổ phiếu có một giá trị và có thể chuyển đổi thành tiền mặt được Lý do mà pháp luật cho phép chuyển nhượng quyền sở hữu là vì tiền của cổ đông bỏ ra phải chịu rủi

ro, trong khi quyền hành của họ đối với công ty bị hạn chế; vậy họ có quyền kiểm soát sự rủi ro của mình bằng cách đẩy nó đi khi nào muốn [3, tr 45]

Trang 20

+ Công ty cổ phần có một cơ quan quyết nghị đại diện cho ý chí của

cổ đông là Đại hội đồng cổ đông; cơ quan này ủy quyền cho Hội đồng quản trị điều hành công ty một cách tập trung, tức là trong công ty cổ phần có sự tách bạch giữa sở hữu và điều hành Cổ đông không có quyền trực tiếp kiểm soát hoạt động hàng ngày của công ty mà họ chỉ có quyền bổ nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị - những người sẽ đại diện họ quản lý và điều hành công ty Hội đồng quản trị quyết định về hướng đi chung của công ty; họ kiến nghị hay quyết định việc đó thì tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia Điều hành công việc hàng ngày của công ty được giao cho những Tổng Giám đốc, Giám đốc,… theo những quy định của pháp luật

Với những đặc trưng cơ bản như trên, công ty cổ phần có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần làm hoàn thiện cơ chế thị trường Vai trò to lớn của công ty cổ phần được thể hiện thông qua những nội dung sau:

+ Do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất là rất lớn Công ty cổ phần có khả năng thu hút được các nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tư

Vốn huy động dưới hình thức công ty cổ phần khác với vốn cho vay trên cơ sở tín dụng, bởi vì nó không cho vay hưởng lãi mà là kiểu đầu tư mạo hiểm và rủi ro Trong công ty cổ phần, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó, cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp Do đó mà hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần trở nên hiệu quả hơn

+ Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù: Chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là chia

sẻ rủi ro cho các chủ nợ khi công ty phá sản Vốn tự có của công ty huy động thông qua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó khi công ty bị phá sản có thể chia sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông Chính cách huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty ở các ngành nghề, lĩnh vực khác

Trang 21

nhau để giảm bớt tổn thất khi bị phá sản so với việc đầu tư tài chính vào một

số công ty cùng ngành

+ Việc ra đời của các công ty cổ phần với việc phát hành các loại chứng khoán và việc mua bán, chuyển nhượng chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán ra đời lại là nơi để cho các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tích lũy đến các nhà đầu tư và là cơ sở quan trọng để thông qua đó Nhà nước sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu lựa chọn

+ Công ty cổ phần tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau vào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng về quyền, trách nhiệm và lợi ích của các cổ đông theo mức vốn góp Mở rộng sự tham gia của các cổ đông vào công ty cổ phần, đặc biệt là người lao động là cách để họ tham gia vào hoạt động của công ty với tư cách là chủ sở hữu thực sự chứ không phải là người làm thuê Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý

Bên cạnh những ưu điểm thể hiện ở vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công ty cổ phần có những hạn chế nhất định, đó là: Công ty cổ phần với chế độ trách nhiệm hữu hạn đã đem lại những thuận lợi cho công ty nhưng đồng thời lại chuyển bớt rủi ro cho các chủ nợ Công ty cổ phần có đông đảo các cổ đông tham gia, nhưng trong đó đa số các cổ đông không quen biết nhau, nhiều người trong số họ không am hiểu kinh doanh, do đó mức độ ảnh hưởng của các cổ đông là không giống nhau, điều đó có thể dẫn đến việc lợi dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hóa lợi ích giữa các nhóm cổ đông khác nhau Công ty cổ phần tuy có cơ cấu t ổ chức chặt chẽ nhưng việc phân công về quyền lực và chức năng của từng bộ phận cho hoạt động của công ty có hiệu quả lại rất phức tạp

Trang 22

Từ những thuộc tính cơ bản của công ty cổ phần, người ta đã luật hóa tạo nên các đặc điểm pháp lý của loại hình doanh nghiệp này

1.2.1.2 Đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần

Theo quy định của khoản 1 Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì:

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

a Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là

cổ phần;

b Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

c Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

d Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81

và khoản 5 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp [34]

Đây là một định nghĩa khá đầy đủ về công ty cổ phần Từ định nghĩa này ta có thể rút ra một số đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần

• Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần

Cổ phần là một công cụ giúp công ty huy động vốn; trong giai đoạn thành lập công ty cổ phần, cổ phần tạo nên vốn điều lệ của doanh nghiệp Cổ phần là số vốn tối thiểu mà một cổ đông tham gia đầu tư vào công ty cổ phần Chỉ có ở công ty cổ phần thì vốn điều lệ mới được chia thành các phần bằng nhau (cổ phần) Đây là một đặc trưng pháp lý riêng có của công ty cổ phần Trong các loại hình công ty khác (như công ty trách nhiệm hữu hạn hay công

ty hợp danh) vốn điều lệ thường được chia theo tỷ lệ phần trăm (%) Ví dụ: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Sacombank năm 2010

Trang 23

có vốn điều lệ là: 9.179.230.130.000 đồng, được chia thành 9.179.230.13 cổ phần, mỗi cổ phần có mệnh giá 10.000 đồng [21, tr 16]

Theo Luật Doanh nghiệp, cổ phần được chia thành hai loại chính là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi; cổ phần ưu đãi lại bao gồm nhiều loại như

cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi cổ tức…

Cổ phần phổ thông không thể được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Ngược lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông khi hết thời hạn 3 năm kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; các loại cổ phần ưu đãi khác cũng có thể được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông (khoản 3, khoản 6 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Theo tập tục

và luật pháp của nước Anh và Mỹ, khi nói cổ phần ưu đãi người ta sẽ hiểu là

cổ tức của loại này được bảo đảm khi so sánh với cổ tức được chia theo cổ phiếu phổ thông (họ dùng việc hưởng cổ tức làm cơ sở để phân loại các loại

cổ phần) Nhưng ở Việt Nam, chúng ta dường như không theo tiêu chuẩn đó, bởi có loại cổ phần ưu đãi biểu quyết Các nhà làm luật ở ta coi quyền biểu quyết là một ưu đãi Còn ở các nước khác, quyền biểu quyết luôn đi theo cổ phiếu phổ thông, người ta không coi nó là một ưu đãi Việc ấn định các quyền lợi cho cổ phần ưu đãi ban đầu là do các công ty tự đề ra cho các cổ đông nhằm bảo đảm sự bình đẳng về lợi ích giữa họ với nhau, sau này mới được điển chế thành luật Các quyền lợi của những người nắm giữ cổ phần ưu đãi được đặt ra ngay từ đầu khi mới lập công ty bằng cách quy định trong Điều lệ hoặc sau này bằng các văn bản và được coi như là hợp đồng của người nắm giữ cổ phần ưu đãi ký kết với công ty Các quyền của họ bị giới hạn bởi các điều khoản của hợp đồng và họ ít có quyền nào nằm ngoài hợp đồng này Nếu được ưu đãi về mặt cổ tức thì người sở hữu sẽ được nhận cổ tức hàng năm trước người sở hữu cổ phần phổ thông; còn ưu đãi khi giải thể thì họ sẽ được lấy tài sản của công ty theo phần của mình trước những người sở hữu cổ phần phổ thông, nhưng chỉ lấy sau các chủ nợ Có loại cổ phần chỉ ưu đãi về mặt cổ

Trang 24

tức mà không ưu đãi lúc giải thể và ngược lại Trong loại ưu đãi cũng có thể

có quyền lợi khác nhau Sự khác nhau này tùy theo khả năng và mức độ chấp nhận của thị trường

Người nắm giữ cổ phần gọi là cổ đông, họ được coi là người sở hữu công ty Mỗi cổ đông có thể mua một hay nhiều cổ phần; nhưng đôi khi số lượng cổ phần tối đa mà một cổ đông nắm giữ có thể bị hạn chế bởi Điều lệ công ty (nhằm tránh việc một cổ đông nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty) Cổ đông có thể là cá nhân hoặc các tổ chức Cổ phần cho cổ đông quyền hạn tùy theo loại Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi có thể có những quyền lợi và nghĩa vụ khác với cổ đông phổ thông, ví dụ như được ưu đãi về phiếu biểu quyết, được trả cổ tức ổn định hoặc cao hơn mức trả cho cổ đông phổ thông, hoặc được yêu cầu công ty hoàn lại vốn góp theo các điều kiện đã thỏa thuận (Điều 81, 82, 83 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Tuy nhiên, tương ứng với những ưu đãi đó, quyền của các cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cũng có những hạn chế nhất định như cấm chuyển nhượng đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết (khoản 3 Điều 81 Luật Doanh nghiệp); mất quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, mất quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát trong công ty (khoản 3 Điều 82, khoản 3 Điều 83 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Để đảm bảo quyền bình đẳng giữa cổ đông nắm giữ cùng một loại cổ phần, pháp luật quy định mỗi loại cổ phần của cùng một loại đều tạo ra các quyền, nghĩa vụ, lợi ích ngang nhau đối với cổ đông chiếm giữ chúng (khoản 5 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2005)

• Công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên

có sự liên kết của nhiều thành viên Công ty cổ phần được xem là mô hình công ty hiệu quả nhất nhằm mục đích huy động vốn kinh doanh Trên thế giới,

có những công ty cổ phần có quy mô rất lớn với số lượng cổ đông lên đến hàng triệu người như công ty IBM, GMC của Mỹ Ngay như ở Việt Nam,

Trang 25

Ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank tính đến năm 2010, số cổ đông khoảng 74.896 [21, tr 17], và còn nhiều các công ty cổ phần khác có số lượng

cổ đông rất lớn như Công ty cổ phần viễn thông FPT, Công ty cổ phần sữa Việt Nam…

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định số lượng cổ đông của công

ty cổ phần tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông có thể là

tổ chức hoặc là cá nhân Cổ đông trong công ty cổ phần có thể là các cá nhân đầu tư đơn lẻ cũng có thể là người làm công trong công ty, có thể là các tổ chức (các quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, ngân hàng - loại cổ đông này được gọi là

cổ đông thiết chế) hoặc là các cơ sở kinh doanh cung cấp vật tư, nguyên vật liệu, hỗ trợ công nghệ có liên quan mật thiết đến hoạt động kinh doanh của công ty (thường được gọi là cổ đông chiến lược)…

Về số lượng cổ đông tối thiểu, cũng giống như Việt Nam, các nước trên thế giới cũng có quy định này Ví dụ số lượng cổ đông tối thiểu trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật nước Anh là 7, Pháp là 7 cổ đông

và Singapore là 2 cổ đông…

Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây thì việc quy định số lượng cổ đông tối thiểu trong công ty cổ phần đang trở nên lạc hậu vì pháp luật có thể quy định công ty cổ phần phải có số lượng cổ đông tối thiểu, nhưng trên thực

tế lại không ngăn cản được tình tra ̣ng cổ phần thực tế chỉ tập trung vào một cổ đông duy nhất

Chính vì công ty cổ phần có hàng trăm, hàng triệu cổ đông nên việc tất cả họ cùng tham gia điều hành công ty là điều không thể Do đó, đòi hỏi phải có một cơ quan đại diện cho các cổ đông quản lý, điều hành công ty, đó

là Hội đồng quản trị và cơ quan này chịu sự giám sát bởi các cổ đông

• Trách nhiệm hữu hạn

Trong công ty cổ phần, các cổ đông chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của công ty trong phạm vi số cổ phần đã

Trang 26

mua mà không chịu thêm trách nhiệm nào khác nữa Sự giới hạn về trách nhiệm tài sản của các cổ đông đối với các khoản nợ của công ty là một đặc trưng phân biệt các công ty đối vốn nói chung với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Đối với các nhà đầu tư, chế

độ "trách nhiệm hữu hạn" là một biện pháp kích thích mà pháp luật dành cho những người góp vốn vào công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn

Tính trách nhiệm hữu hạn gắn liền với các cổ đông, qua đó giới hạn quyền của các chủ nợ của công ty Họ chỉ có quyền đối với các tài sản của công ty, chứ không có quyền đối với những tài sản riêng của các cổ đông Tức

là cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ của công ty trong phạm

vi số tài sản đã cam kết góp vốn vào công ty mà không phải lấy tất cả tài sản mình có để trả cho chủ nợ của công ty Còn về phía công ty, công ty cổ phần vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của công ty Ví dụ: Công ty cổ phần A được thành lập bởi 10 cổ đông với vốn điều lệ là 1 tỷ đồng, mỗi cổ đông góp

100 triệu đồng Công ty hoạt động được 5 năm và toàn bộ tài sản của công ty lên tới 15 tỷ đồng Tuy nhiên do mở rộng kinh doanh không thành công, nợ của công ty lên tới 20 tỷ Để trả nợ, công ty phải lấy toàn bộ tài sản để trả Công ty bị mất cả 15 tỷ đồng, vậy là công ty chịu trách nhiệm vô hạn; nhưng các cổ đông thì chỉ mất mỗi người 100 triệu đồng, họ không phải về nhà lấy thêm tài sản riêng để trả nợ cho công ty

Như vậy, ta có thể thấy trách nhiệm hữu hạn đóng vai trò là một lá chắn cho các cổ đông, bảo đảm bảo toàn tài sản cá nhân của họ trước những rủi ro mà công ty có thể gặp phải trong quá trình hoạt động Chính yếu tố này

đã khuyến khích các chủ thể mạnh dạn bỏ vốn vào đầu tư kinh doanh

Tuy vậy, tính chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông không phải là tuyệt đối Có những trường hợp cổ đông vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm dù

họ tách biệt với công ty Các nhà làm luật đã dự liệu các tình huống phá vỡ tính chịu trách nhiệm hữu hạn nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nợ, ví dụ như:

Trang 27

+ Khi công ty không được thành lập thì các cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo ủy quyền đã ký các hợp đồng phục vụ cho việc thành lập

và hoạt động của công ty trước khi đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện các hợp đồng đó (khoản 3 Điều 14 Luật Doanh nghiệp năm 2005);

+ Khi các cổ đông định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế (tại thời điểm góp vốn) của tài sản đó (khoản 2, 3 Điều 30 Luật Doanh nghiệp năm 2005);

+ Khi vi phạm quy định về thanh toán cổ phần mua lại hoặc trả cổ tức (Điều 94 Luật Doanh nghiệp năm 2005);

+ Khi người quản lý công ty có các giao dịch tư lợi hoặc gây thiệt hại cho công ty (khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2005);

+ Khi doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

mà các thành viên Hội đồng quản trị không tiến hành giải thể công ty (khoản

6 Điều 158 Luật Doanh nghiệp năm 2005)

Có thể thấy rằng, những quy định trên thực sự phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của công ty, của các chủ thể khác trong xã hội và bảo đảm sự công bằng cho các cổ đông của công ty cổ phần, tránh sự lạm quyền của các cổ đông lớn, người quản lý điều hành doanh nghiệp

• Tự do chuyển nhượng cổ phần

Tính tự do chuyển nhượng cổ phần là một đặc trưng chủ yếu của công

ty cổ phần Khi muốn thu hồi phần vốn góp của mình, hoặc muốn rút bớt phần vốn góp đã đầu tư vào công ty, cổ đông có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một số cổ phần của mình cho người khác Việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần được thực hiện tương đối dễ dàng Sự linh hoạt này tạo điều kiện thuận lợi cho người mua cổ phần và khuyến khích việc đầu tư vào công ty cổ phần

Trang 28

Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần có thể coi là quyền quan trọng nhất của cổ đông trong công ty cổ phần nhằm chấm dứt quan hệ với công ty, thể hiện quyền tự định đoạt của nhà đầu tư đối với phần vốn góp vào công ty

Mặc dù chủ sở hữu cổ phần có thể thay đổi do việc chuyển nhượng cổ phần nhưng vốn điều lệ của công ty vẫn không thay đổi nên công ty cổ phần vẫn tiếp tục tồn tại, không phụ thuộc vào chủ sở hữu cổ phần là ai Tuy được

tự do chuyển đổi cổ phần nhưng để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ cũng như sự tồn tại của công ty mà luật pháp Việt Nam đưa ra hai trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần:

Thứ nhất: Cổ phần ưu đãi biểu quyết không được tự do chuyển nhượng

Những người nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết thường là người nắm giữ vận mệnh của công ty, vì vậy nếu cho phép tự do chuyển nhượng sẽ ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của công ty Có hai loại chủ thể sở hữu cổ phần

ưu đãi biểu quyết là các tổ chức được Chính phủ ủy quyền và các cổ đông sáng lập Tuy nhiên, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong thời hạn ba năm đầu kể từ khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó cổ phần ưu đãi biểu quyết phải chuyển đổi thành cổ phần phổ thông

Thứ hai: Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển

nhượng cho các chủ thể không phải là cổ đông sáng lập trong thời hạn ba năm

kể từ khi thành lập công ty; tuy nhiên sự hạn chế chuyển nhượng cổ phần đối với cổ đông sáng lập chỉ giới hạn đối với số cổ phần đã đăng ký mua tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, không áp dụng đối với số cổ phần mà cổ đông sáng lập mua khi công ty phát hành thêm trong quá trình hoạt động (theo quy định tại khoản 10 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP)

• Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân

Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

Trang 29

+ Được thành lập hợp pháp;

+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

+ Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Như vậy, ta thấy công ty cổ phần đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên nên Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (khoản 2 Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005)

Pháp nhân là một khái niệm mà pháp luật tạo ra nhằm giảm trách nhiệm cho người bỏ vốn kinh doanh, phân biệt với thể nhân, nó có đời sống pháp lý hoàn toàn tách biệt với những người đã lập ra nó và có thể tồn tại lâu dài

Khác với Việt Nam (đề ra các điều kiện để trở thành pháp nhân), ở

Mỹ người ta định nghĩa nó như là một thứ, một cái gì đó do luật pháp đặt ra; không nhìn thấy được, cũng chẳng sờ mó được; tuy nhiên, nó được làm một

số việc giống như một con người bình thường và có cả trách nhiệm lẫn quyền lợi; do vậy, nó có thể đi kiện người khác (cả cá nhân lẫn pháp nhân) và bị người ta kiện [3, tr 34]

Trong khi tính trách nhiệm hữu hạn bảo đảm bảo toàn tài sản cá nhân của các cổ đông trước những rủi ro công ty có thể gặp phải thì tư cách pháp nhân cho phép công ty được sở hữu tài sản một cách độc lập, và do vậy, đóng vai trò như một bảo đảm cho chủ nợ của công ty Sự tồn tại độc lập tách khỏi những người đã bỏ tài sản để lập ra nó là tính chất quan trọng nhất của pháp nhân Những nhà đầu tư vốn khi cam kết tách một phần tài sản thuộc sở hữu của mình để góp vào thành lập công ty cổ phần thì cũng đồng nghĩa với việc nhà đầu tư chấm dứt tư cách là chủ sở hữu của tài sản đó Tài sản mà cổ đông góp vốn vào công ty lúc này sẽ thuộc sở hữu của công ty Ví dụ, nếu 1 cổ đông

Trang 30

góp vào c ông ty một căn nhà, thì công ty phải sang tên và trước bạ căn nhà, trở thành chủ sở hữu mới của căn nhà đó

Như vậy, so với Luật Công ty 1990 thì Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã hoàn thiện hơn trong quy định các đặc trưng pháp lý của công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định các đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần riêng biệt tại Điều 77, chứ không quy định tản mạn như trong đặc điểm chung (Điều 2) và đặc điểm riêng của công

ty cổ phần (Điều 30) như Luật Công ty 1990

Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định rõ hơn về cổ đông: Cổ đông

có thể là cá nhân hoặc tổ chức Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, quyền chuyển nhượng cổ phần cũng được quy định cụ thể hơn, không phụ thuộc vào cổ phiếu ghi tên hay không ghi tên như trong Luật Công ty trước đây

Ngoài ra, trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, quy định về số lượng tối thiểu cổ đông trong công ty cổ phần đã giảm từ bảy xuống còn ba cổ đông Quy định này phù hợp với thực tế, với loại hình công ty cổ phần và nhờ đó đã giúp người dân có thể thuận lợi hơn trong việc thành lập công ty cổ phần Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề còn chưa rõ ràng của Luật Doanh nghiệp năm 2005 Luật Công ty 1990 quy định số thành viên gọi là cổ đông mà công ty cổ phần phải có trong suốt thời gian hoạt động là bảy (khoản 1 Điều 30) Còn tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định số lượng cổ đông tối thiểu là ba, mà chưa đưa

ra cách xử lý đối với trường hợp số lượng cổ đông giảm xuống dưới mức tối thiểu trên Nếu theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện nay, ta có thể hiểu

số lượng cổ đông tối thiểu ở đây gắn liền với lúc thành lập doanh nghiệp

Trang 31

cổ phần để trở thành chủ sở hữu chung của công ty Khi góp vốn vào công ty

cổ phần thì người góp vốn trở thành chủ sở hữu chung đối với công ty, bởi vì theo quy định của pháp luật, công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông trở lên Trong Luật Doanh nghiệp, thuật ngữ góp vốn vào công ty cổ phần được hiểu

là mua cổ phần của công ty cổ phần, không phân biệt đó là trong giai đoạn thành lập công ty hay giai đoạn công ty đã đi vào hoạt động Theo tôi, thuật ngữ góp vốn thường được sử dụng trong giai đoạn thành lập công ty; theo đó, góp vốn là việc các cổ đông góp vốn hoặc cam kết góp tài sản để thành lập công ty cổ phần Còn việc góp vốn trong quá trình công ty đã hoạt động sản xuất kinh doanh chính là khả năng gọi thêm vốn Thuật ngữ huy động vốn thường được sử dụng để mô tả việc góp vốn của các cổ đông - người mua cổ phiếu mà công ty cổ phần phát hành trong giai đoạn này Chính vì vậy, trong phạm vi luận văn này, tôi xin được phép sử dụng thuật ngữ góp vốn gắn với giai đoạn thành lập công ty cổ phần

Khi bàn về góp vốn, Tiến sỹ luật học Nguyễn Ngọc Điện cho rằng, góp vốn vào công ty cổ phần có thể coi như là việc thực hiện hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản có đền bù [16, tr 191-192] Ta thấy quan điểm này rất hợp lý, phản ánh đúng bản chất, đặc điểm pháp lý của việc góp vốn vào công ty cổ phần, vì:

+ Hợp đồng bởi vì nó là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên liên quan Góp vốn vào công ty cổ phần là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất của các cổ đông Khi tham gia góp vốn thành lập công ty cổ phần, các cổ đông thỏa thuận với nhau về các vấn đề liên quan như: mỗi cổ đông góp bao nhiêu vốn, tài sản góp vốn, định giá tài sản góp vốn, nguyên tắc chuyển nhượng vốn góp… Có khi để thành lập một công ty cổ phần, các cổ đông chỉ cần thống nhất với nhau thông qua thỏa thuận bằng miệng hoặc cũng có khi kết quả của sự thỏa thuận đó được thể hiện bằng văn bản, hay cụ thể là hợp đồng thành lập công ty; tuy nhiên, điều này không phủ nhận rằng bất kỳ việc góp vốn thành lập công ty như thế nào, không phụ thuộc vào số vốn góp của

Trang 32

mỗi cổ đông và số lượng cổ đông… phía sau nó vẫn là quan hệ hợp đồng xoay quanh vấn đề góp vốn Thỏa thuận góp vốn giữa các cổ đông trong giai đoạn tiền thành lập công ty tạo nên các nguyên tắc vận hành về lâu dài liên quan đến vấn đề cơ bản của một công ty và là cơ sở của bản Điều lệ công ty sau này

+ Chuyển quyền sở hữu tài sản là vì quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn được chuyển từ bên góp vốn sang cho công ty cổ phần Góp vốn là một hành vi chuyển giao quyền sở hữu tài sản Khi tài sản được sử dụng làm vốn góp vào công ty thì quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn của cổ đông được chuyển sang cho công ty Hệ quả là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản góp vốn được xác lập cho công ty theo quy định của pháp luật Việc đưa tài sản vào công ty thực chất là hành vi đầu tư vốn để kinh doanh nhằm kiếm lợi nhuận

Tuy nhiên, quan điểm trên vẫn chưa được đầy đủ, vì góp vốn vào công

ty cổ phần không nhất thiết là phải chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu đối với tài sản, ví dụ như: A có quyền sử dụng một ngôi nhà trong thời hạn 20 năm thông qua hợp đồng thuê nhà với B Và A đã dùng quy ền sử dụng ngôi nhà trên để góp vốn thành lập công ty cổ phần X, lúc này không có sự chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn, mà A chỉ được chuyển giao quyền

sử dụng ngôi nhà cho công ty X mà thôi; khi đó, công ty chỉ có quyền sử dụng ngôi nhà mà không có quyền định đoạt đối với ngôi nhà đó Có nghĩa là, công ty có quyền khai thác ngôi nhà cho mục đích kinh doanh như sắp đặt làm văn phòng, nhà xưởng… nhưng không có quyền đem bán hay tặng cho người khác Hoặc cổ đông có thể góp vốn vào công ty cổ phần bằng quyền sử dụng đất… Rõ ràng, đối với những trường hợp như trên thì không có sự chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn Như vậy, quyền sử dụng tài sản cũng là một hình thức góp vốn vào công ty cổ phần

+ Là hợp đồng đền bù vì: khi cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần, người đó sẽ được sở hữu một số lượng cổ phần tương ứng, trở thành cổ đông

Trang 33

của công ty và sẽ có quyền lợi đối với công ty Một cổ đông khi góp tài sản thành lập công ty nhằm đổi lại quyền lợi nào đó đối với công ty, đó có thể là quyền tài chính hay quyền điều hành; trong đó, quyền tài chính là quyền được hưởng lợi nhuận, quyền điều hành là quyền đối với các quyết định vận hành và hoạt động của công ty Một người góp vốn có thể có được cả hai quyền, quyền tài chính và quyền điều hành, hoặc có khi chỉ có một trong hai quyền trên

Nghiên cứu các quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 ta thấy, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn Trong Luật Doanh nghiệp 1999, cho phép các cổ đông sáng lập nói riêng và cổ đông phổ thông nói chung được tự thỏa thuận về thời điểm góp vốn và không cần phải thông báo tiến độ góp vốn tới cơ quan đăng ký kinh doanh (Điều 54, Điều 58) Đây thực sự là những điểm hạn chế của Luật Doanh nghiệp 1999, bởi đã trao quyền tự do quá lớn cho các cổ đông trong công ty cổ phần Điều này đã được khắc phục trong Luật Doanh nghiệp năm 2005; theo đó, trong thời hạn 90 ngày

kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập phải thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua (Điều 80, Điều 84)

Và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cuối cùng các cổ đông sáng lập phải thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua, công ty cổ phần phải thông báo tiến độ góp vốn cho cơ quan đăng ký kinh doanh Nghĩa vụ thông báo này là bắt buộc, nếu không thì người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ (khoản 2 Điều 84; khoản 4 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP)

Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, có sự khác biệt về các quy định góp vốn thành lập công ty cổ phần và góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Luật đã ấn định thời hạn là 90 ngày kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh - rất rõ ràng, buộc các cổ đông sáng

Trang 34

lập của công ty cổ phần phải thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua và phải thông báo tiến độ góp vốn cho cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn trên Còn đối với các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì luật cho phép họ được tự do thỏa thuận về thời hạn góp vốn và chỉ bắt công ty phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh về việc góp vốn trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn (Điều 39)

Sở dĩ có sự khác biệt này là vì công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là hai loại hình công ty mang những đặc điểm rất riêng

+ Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn đặc trưng, sự liên kết dựa trên yếu tố cơ bản là góp vốn vào công ty của các cổ đông, không dựa trên cơ sở tình cảm, sự quen biết, uy tín… Trong mô hình công ty này, số lượng cổ đông lớn, có sự tách bạch giữa sở hữu và điều hành, cổ đông chỉ có thể thực hiện quyền của mình tại các Đại hội đồng cổ đông, quyền quản lý và điều hành buộc phải trao cho các thành viên của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư cũng như các chủ thể khác nên pháp luật đã đưa ra các quy định khá nghiêm chỉnh và chặt chẽ điều chỉnh loại hình doanh nghiệp này (từ việc quy định về thời hạn góp vốn, đến cơ cấu

tổ chức nội bộ, nghĩa vụ của người quản lý công ty…)

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty vừa mang tính chất của công ty đối vốn vừa mang tính chất của công ty đối nhân Có nghĩa đây là loại hình công ty mà sự liên kết dựa trên yếu tố cơ bản là sự góp vốn, nhưng các thành viên trong công ty thường có quan hệ quen biết nhau, các thành viên thường tự phân chia các công việc điều hành và quản lý công ty Chính vì vậy mà pháp luật trao cho các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn quyền tự do khá lớn (như được tự thỏa thuận về phương thức và thời hạn góp vốn, tự thỏa thuận về tổ chức quản lý nội bộ trong công ty và ghi nhận các thỏa thuận đó trong Điều lệ công ty), sự điều chỉnh của pháp luật đối với loại hình công ty này ít chặt chẽ hơn so với loại hình công ty cổ phần

Trang 35

1.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ phát sinh khi góp vốn thành lập công ty

cổ phần

Khi góp vốn thành lập công ty cổ phần thì người góp vốn trở thành cổ đông của công ty cổ phần, có các quyền và nghĩa vụ của cổ đông Cổ đông của công ty cổ phần được hưởng các quyền sau:

+ Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông;

cổ đông, các Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông…;

+ Được nhận lại một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty phá sản;

+ Những quyền khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty

Tương ứng với các quyền lợi trên, cổ đông cũng có những nghĩa vụ nhất định, đó là:

+ Thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể

từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần;

+ Tuân thủ Điều lệ và Quy chế quản lý nội bộ công ty;

+ Chấp hành quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; + Phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọi hình thức để thực hiện một trong các hành vi như: vi phạm pháp luật, tiến hành

Trang 36

kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác, thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra với công ty…

+ Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp

và Điều lệ công ty

Ta thấy nhân tố có vai trò rất lớn trong việc thành lập công ty cổ phần đó là các cổ đông sáng lập Trong thực tế, đa số các công ty cổ phần khi thành lập thì toàn bộ số cổ đông tham gia thành lập đều là cổ đông sáng lập Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã định nghĩa: "Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần" (khoản 11 Điều 4) Khái niệm về cổ đông sáng lập sau này đã được quy định chi tiết hơn tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005, theo đó: "Cổ đông sáng lập là người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần" [10] Cổ đông sáng lập là những người đưa ra ý tưởng kinh doanh, đưa ý tưởng đó vào thực hiện, tạo lập nên công ty Chính họ là những người xây dựng nền móng đầu tiên cho sự tồn tại và phát triển của công ty như thỏa thuận về việc góp vốn, soạn thảo bản Điều lệ đầu tiên của công ty điều chỉnh hoạt động nội bộ của công ty, đề

ra các phương án sản xuất kinh doanh… Có lẽ vì vậy mà luật đã quy định cho

họ những quyền và nghĩa vụ rất đặc trưng

Trước hết là về quyền lợi, cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ

có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, sau đó cổ phần ưu đãi biểu quyết này chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Với quy định này, các cổ đông sáng lập phải có trách nhiệm cao hơn đối với công ty, trách nhiệm cao hơn đó cũng tương ứng với quyền hạn Theo đó, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu

Trang 37

quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Tuy nhiên, cổ phần ưu đãi biểu quyết không được phép chuyển nhượng Điều này là phù hợp với quy định về

cổ đông sáng lập - những người có trách nhiệm rất lớn đối với công ty Ngoài

ra, cổ đông sáng lập cũng có các quyền giống như cổ đông khác trong công ty

cổ phần như đã nêu ở trên Quy định này dường như chỉ có ở Việt Nam Ở các nước khác, người ta coi quyền biểu quyết thuộc về cổ phần phổ thông chứ không nằm ở loại đặc ưu Hơn nữa, ở trong công ty, người thực sự quan tâm đến quyền biểu quyết là người sáng lập; họ giữ ưu thế biểu quyết vĩnh viễn chứ không chỉ có 3 năm đầu kể từ khi công ty được thành lập Ở Mỹ hoặc Anh, người lập công

ty chế ra các loại cổ phiếu có quyền biểu quyết khác nhau để đạt được một số mục đích của họ, ví dụ như không cho người ngoài gia đình được quyết định công việc của công ty, chỉ cho người ngoài dòng họ hưởng cổ tức… Để ấn định quyền biểu quyết trong cổ phiếu, người ta có thể làm nhiều cách:

- Phát hành hai loại cổ phần A và B; cổ phần loại A được bầu 10 phiếu; loại B được bầu 1 phiếu; bù lại, loại B được hưởng cổ tức và được chia tài sản còn lại của công ty cao hơn loại A 10%

- Cũng có thể định ra một loại cổ phần có quyền biểu quyết, một loại khác không có quyền gì; hay là loại A được hai phiếu biểu quyết cho mỗi cổ phần trong khi cổ phần loại B chỉ cho một phiếu biểu quyết

- Cách khác nữa là cho một cổ phần loại A được bầu hai thành viên Hội đồng quản trị, trong khi cổ phần loại B được bầu một thành viên

- Có công ty buộc Giám đốc phải nắm loại cổ phần A, còn Phó giám đốc và thủ quỹ phải nắm loại B [50, tr 131-132]

Bên cạnh đó, cổ đông sáng lập còn có những nghĩa vụ nhất định Đó là: + Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng

số cổ phần phổ thông được quyền phát hành tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp Cổ đông sáng lập và cổ đông phổ thông tại thời điểm đăng ký doanh

Trang 38

nghiệp phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể

từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (khoản 3 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cuối cùng các cổ đông sáng lập thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, công ty phải thông báo kết quả góp vốn cổ phần đã đăng ký đến cơ quan đăng

ký kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại đối với công ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ

Về vấn đề này, pháp luật của Philippines, Singapore và Malaysia quy định, các công ty không phải phát hành tất cả các cổ phần, tức là gom đủ vốn khi thành lập Các công ty ở Singapore và Malaysia chỉ cần có hợp đồng đăng ký mua một cổ phần trong số các cổ phần được phát hành; và nếu muốn thành lập công ty thì phải có ít nhất 2 người, nên sẽ có hai người đăng ký, mỗi người mua một phiếu; vậy là công ty chỉ cần có hai cổ phần lúc đầu Còn ở Philippines, công ty phải có hợp đồng đăng ký mua 25% số cổ phần phát hành Ở Thái Lan, công ty phát hành chứng khoán cần tối thiểu 50% số cổ phần được phép phát hành [50, tr 28]

Nếu có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định như sau:

- Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua

cổ phần đó cho người khác;

- Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được quyền chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác;

- Trường hợp cổ đông không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, số cổ phần còn lại được xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 84 của

Trang 39

Luật Doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày cuối cùng cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua; đồng thời công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập theo quy định Cách xử lý như sau:

▪ Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu

cổ phần của họ trong công ty;

▪ Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó;

▪ Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng

ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty

Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa đủ thì các

cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số cổ phần chưa góp đủ đó

+ Trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập không được phép chuyển nhượng

cổ phần phổ thông cho người khác không phải là cổ đông sáng lập, trừ khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận (trong trường hợp này, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập) Theo quy định tại khoản 10 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP thì hạn chế chuyển nhượng cổ phần này chỉ giới hạn đối với số cổ phần mà cổ đông sáng lập đã đăng ký mua tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp Điều này có nghĩa là hạn chế chuyển nhượng cổ phần không áp dụng với số cổ phần mà cổ đông sáng lập mua khi công ty phát hành thêm trong quá trình hoạt động

+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty như chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nhiều cổ đông sáng lập nhận thấy sự hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập lại là một bất

Trang 40

lợi Vì vậy, để tạo điều kiện hơn cho các nhà đầu tư, Nghị định 102/2010/NĐ-CP

đã quy định không nhất thiết các cổ đông tham gia thành lập công ty cổ phần đều phải là cổ đông sáng lập; số lượng cổ đông sáng lập tối thiểu chỉ là 3 (khoản 2 Điều 23) Quy định của Nghị định 102 về số lượng cổ đông sáng lập phải có khi thành lập công ty cổ phần là nhằm cung cấp thông tin rõ hơn cho các nhà đầu tư trong quyết định cơ cấu cổ đông sáng lập và cổ đông phổ thông khác khi thành lập công ty cổ phần Theo đó , khi thành lâ ̣p công ty cổ phần thì số lượng cổ đông sáng lâ ̣p tối thiểu phải là 3 Nói cách khác, không nhất thiết các cổ đông khi tham gia thành lâ ̣p công ty cổ phần đều phải là cổ đông sáng lâ ̣p Viê ̣c xác đi ̣nh số lượng cổ đông sáng lâ ̣p do các cổ đông quyết

đi ̣nh Có thể thấy rằng những quy định về khái niệm và số lượng cổ đông sáng lập tối thiểu của công ty cổ phần là những quy định rất cụ thể và phù hợp thực

tế, giúp cho việc thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 được thống nhất, hiệu quả hơn

Các quy định trên cho thấy, ba năm đầu được coi là thời hạn đầy đủ cho việc đầu tư, hoàn thành và đưa dự án sản xuất kinh doanh vào hoạt động Hạn chế trên với cổ đông sáng lập nhằm:

+ Thúc đẩy cổ đông sáng lập phải xem xét cẩn thận trước khi quyết định thành lập công ty cổ phần để kinh doanh, khắc phục hiện tượng thành lập công ty và đầu tư theo kiểu "phong trào", qua đó hạn chế được những đổ bể gây tổn thất cho chính nhà đầu tư và xã hội

+ Góp phần duy trì sự ổn định cần thiết của công ty trong những năm đầu hoạt động

+ Tăng thêm sự bảo đảm và niềm tin cho những người tham gia mua

cổ phần sau khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Qua Chương 1 của luận văn có thể hiểu một cách đầy đủ về khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp cũng như bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp, những đă ̣c điểm pháp lý của công ty cổ phần được thể

Ngày đăng: 10/07/2015, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đông Ba (2001), "Vấn đề tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp", Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đông Ba
Năm: 2001
2. Nguyễn Mạnh Bách (2006), "Những điều bất cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2005", Thời báo Kinh tế Sài Gòn, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều bất cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2005
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Năm: 2006
3. Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật doanh nghiệp - Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp - Vốn và quản lý trong công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
4. Nguyễn Ngọc Bích - Nguyễn Đình Cung (2008), Công ty vốn, quản lý và tranh chấp, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty vốn, quản lý và tranh chấp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích - Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
5. Bộ Kế hoạch Đầu tư (2003), Báo cáo kết quả 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Kế hoạch Đầu tư
Năm: 2003
6. Lê Thị Châu (2000), "Tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động trong công ty đối vốn ở nước ta", Luật học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động trong công ty đối vốn ở nước ta
Tác giả: Lê Thị Châu
Năm: 2000
7. Lê Thị Châu (2001), Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở nước ta, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở nước ta
Tác giả: Lê Thị Châu
Năm: 2001
8. Chính phủ (1999), Tờ trình về dự án Luật Doanh nghiệp ngày 23/4 lên Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình về dự án Luật Doanh nghiệp ngày 23/4 lên Quốc hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
9. Chính phủ (2007), Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
10. Chính phủ (2010), Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiê ̣p 2005 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiê ̣p 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
11. Ngô Huy Cương (2006), "Một số nội dung pháp lý của hợp đồng thành lập công ty", Journals of Economic - Law, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung pháp lý của hợp đồng thành lập công ty
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2006
12. Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình Luật kinh tế, tập 1 Luật doanh nghiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận các hợp đồng thông dụng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
17. Nguyễn Thanh Hải (2007), Chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Năm: 2007
18. Lê Hồng Hạnh (2000), "Cấu trúc vốn của công ty", Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc vốn của công ty
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Năm: 2000
19. Phạm Hoài Huấn (2011), "Vốn điều lệ của công ty từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP", Nghiên cứu Lập pháp (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn điều lệ của công ty từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Năm: 2011
20. Trần Việt Hùng (2003), "Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa hiện nay", Thời báo Kinh tế Sài Gòn, (83) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa hiện nay
Tác giả: Trần Việt Hùng
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mư ́ c vốn pháp đi ̣nh theo loại hình công ty   của một số nước châu Âu - Những quy định đối với góp vốn thành lập Công ty Cổ phần ở Việt Nam
Bảng 2.1 Mư ́ c vốn pháp đi ̣nh theo loại hình công ty của một số nước châu Âu (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w