Từ bức tranh toàn cảnh của giáo dục đại học NCL Việt Nam đã thể hiện những bất cập cần phải đi sâu nghiên cứ để làm rõ từ quan điểm, khái niệm, xu thế phát triển, mô hình sở hữu, tổ chức
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Trang 2đại học quốc gia hà nội
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 3
3 Cách tiếp cận 3
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 6
1.1 Sự cần thiết thành lập đại học ngoài công lập 6
1.2 Khái niệm đại học ngoài công lập nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 8 1.3 Những chủ trương của Đảng, của Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát triển đại học Ngoài công lập 10
1.4 Mục tiêu phát triển đại học đến năm 2020 11
1.5 Các vấn đề pháp lý phát sinh từ thành lập đại học Ngoài công lập 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP HIỆN NAY 25
2.1 Lược sử phát triển về đại học ngoài công lập 25
2.2 Thực trạng 29
2.3 Thành tựu 35
2.4 Nhận xét chung 37
2.5 Những khó khăn, bất cập 39
2.5.1 Việc ban hành những văn bản pháp luật còn chậm, thiếu tính kế thừa, chưa đồng bộ 39
2.5.2 Việc thực hiện cam kết nêu trong đề án thàng lập trường còn chậm và khó khăn 43
2.5.3 Hạn chế về chất lượng đào tạo 43
2.5.4 Thực hiện quy trình đào tạo không tương xứng 45
2.6 Xác định mô hình hoạt động cho đại học ngoài công lập gặp nhiều khó khăn 46
2.7 Những khó khăn trong thực hiện quyết định 122/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi mô hình từ trường đại học dân lập sang tư thục 47
2.8 Những khó khăn, vướng mắc của trường đại học Lương Thế Vinh trong quá trình chuyển đổi mô hình dân lập sang tư thục 54
Trang 42.9 Bộ Giáo dục và Đào tạo phải vào cuộc 62
2.10 Tìm hiểu một số mô hình đại học tư trên thế giới và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 67
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP 74
3.1.1 Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát triển đại học Ngoài công lập 74
3.2 Hoàn thiện mô hình đại học Tư thục 76
3.2.1 Sớm hoàn thiện Quy chế 61/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 76
3.2.2 Cần xác định rõ chủ sở hữu Nhà trường gồm 2 thành phần 76
3.2.3 Về mô hình tổ chức quản lý theo dạng công ty cổ phần (luật doanh nghiệp 2005) mang đặc thù giáo dục 77
3.3 Các trường đại học ngoài công lập nêu cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm: đề cao quản lý; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất; coi trọng chất lượng 79
3.4 Định hướng chiến lược phát triển 81
3.5 Các giải pháp cơ bản 81
3.5.1 Đối với Chính Phủ 81
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Loại hình trường và các kiểu của đầu tư góp vốn ban đầu 30 Bảng 2.2: Số lượng trường và quy mô sinh viên đại học cao đẳng từ năm học 1988 – 1989; 2007-2008; 2009-2010 35 Bảng 3.1 So sánh trường Đại học tư thục và Doanh nghiệp 78
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào những năm cuối của thập niên 1980 của thế kỷ XX, một mô hình mới về Giáo dục và Đào tạo hệ đại học được Chính phủ cho phép hoạt động thí điểm: Trung tâm đào tạo Thăng Long do GS Hoàng Xuân Sính chủ trì Sau một thời gian hoạt động đã cho ra trường những sinh viên chất lượng, được xã hội chấp nhận và đánh giá tích cực về một mô hình quản lý mới trong giáo dục đại học Đến tháng 8/1994 Thủ Tướng Chính phủ ra Quyết định công nhận nâng cấp Trung tâm thành trường đại học dân lập Thăng Long, đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự ra đời, khởi nguồn mới mô hình đại học Ngoài công lập (NCL) ở Việt Nam
Đến nay, sau gần 20 năm phát triển đã có hơn 50 trường đại học NCL
ra đời, bao gồm các loại hình: trường dân lập, tư thục và có vốn 100% đầu tư nước ngoài Với đặc thù hoạt động tự chủ về tài chính bằng nguồn vốn chủ yếu từ ngoài ngân sách nhà nước để thu hút các nguồn lực xã hội làm giáo dục, tuân thủ pháp luật hiện hành, phù hợp với điều kiện trường đại học Việt Nam, đóng góp 1/5 quy mô đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học nước nhà
Đã có nhiều cố gắng, nhưng nhìn chung đại học NCL nước ta vẫn phát triển chậm, chưa có bước đi vững chắc, chất lượng đào tạo yếu kém, chưa có sức đột phá để phát triển để tương quan với giáo dục khu vực và trên thế giới
Nghị quyết 14/2005/NQ – CP của Chính Phủ “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020: mục tiêu mở rộng quy
mô đào tạo tỷ lệ 200 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên vào năm 2020; trong đó 40% tổng số sinh viên thuộc sơ sở ngoài công lập”[4] chưa thực hiện được
Xã hội cũng như trong hệ thống quản lý giáo dục còn nhiều tư tưởng nhận thức hoài nghi về đại học NCL Nhiều địa bàn thành phố còn định kiến,
vô cảm, phân biệt đối sử thiếu công bằng giữa văn bằng công lập và ngoài
Trang 8công lập, nhiều chính sách chủ chương của Đảng về phát triển đại học NCL chưa được triển khai có hiệu quả
Để củng cố hệ thống đại học NCL của nước ta hiện nay, phù hợp nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng với nền giáo dục khu vực và thế giới, sau nhiều “thăng trầm” ngày 17/1/2005 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định 14/2005 về mô hình hoạt động đại học tư thục, sau này được chỉnh sửa
bổ xung là QĐ 61/2009 ngày17/4/2009
QĐ số 122/2006/QĐ-TTg Quyết định chuyển đổi loại hình trường từ đại học dân lập sang đại học tư thục gồm 19 trường trong phạm vi cả nước với mục đích thực hiện tốt các quyết định trên Đây được coi là bước đột phá của Chính phủ đối với đại học NCL trong giai đoạn hiện nay Việc chuyển đổi phải kết thúc vào ngày 30/6/2007, đến nay sau gần 7 năm thực hiện duy nhất chỉ có 2 trường đã chuyển đổi thành công, số các trường còn lại gặp rất nhiều vướng mắc khó khăn, nhiều nội dung không có hành lang pháp lý để hướng dẫn Hiệp hội các trường đại học NCL(VIPUA) đã chủ trì nhiều cuộc gội thảo
để tìm giải pháp tháo gỡ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản nhưng kết quả đem lại thật khiêm tốn Thời gian gần đây nhiều trường đã sảy mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi do không giải quyết được quyền lợi tài chính của các bên
Đại học NCL là loại hình trường nhằm thực hiện những chủ chương của Đảng về xã hội hóa giáo dục, với mục đích đào tạo 200 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên vào năm 2020, trong đó 40% tổng số sinh viên thuộc sơ sở ngoài công lập đến nay chưa thực hiện được Nguyên nhân thì có nhiều, có thể chỉ ra những căn bản chủ yếu như: Nhiều chủ trương chính sách của Đảng đối với loại hình đại học NCL được triển khai không thấu đáo, xã hội chưa thật sự hiểu hết được vai trò mô hình này; nhiều văn bản pháp luật còn thiếu, không nhất quán, mô hình còn chắp vá, nội dung phương pháp đào tạo còn lạc hậu …
Trang 9Từ bức tranh toàn cảnh của giáo dục đại học NCL Việt Nam đã thể hiện những bất cập cần phải đi sâu nghiên cứ để làm rõ từ quan điểm, khái niệm, xu thế phát triển, mô hình sở hữu, tổ chức, tính tự chủ và các hình thức chính sánh ưu tiên của nhà nước về đất đai, thuế của đại học NCL Việt Nam hiện nay, để từ đó có những kiến nghị hoàn thiện những quy định, chủ chương cho pháp luật dại học NCL
Trong phạm vi một đề tài Cao học tác giả không có tham vọng đề cập đến nhiều vấn đề, chỉ đi sâu nghiên cứu từ thực tiễn việc vận hành hệ thống các trường đại học NCL, từ đó chỉ ra những tồn tại trong quản lý, vận hành, các quy định và những tồn tại của pháp luật về đại học NCL hiện nay, đề xuất
những giải pháp tháo gỡ.Trước tình hình trên đề tài “Hoàn thiện các quy
định pháp luật về đại học ngoài công lập ở Việt Nam” đã được hình thành
2 Mục tiêu đề tài
Qua thực tiễn vận hành của hệ thống đại học NCL sau hơn 20 năm được tác giả tóm lược những thành tựu, chỉ ra những tồn tại hạn chế Đi sâu phân tích làm rõ những yếu tố khách quan, chủ quan Đặc biệt là hệ thống
pháp luật, xây dựng những đề xuất nhằm “Hoàn thiện các quy định pháp
luật về đại học ngoài công lập ở Việt Nam”
3 Cách tiếp cận
-Từ thực tiễn hoạt động và quá trình vận động của đại học NCL;
- Hệ thống các văn bản pháp luật
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đề tài được xây dựng trong quá trình thu thập thông tin từ các trường đại học NCL Việt Nam hiện nay;
- Bộ giáo dục & Đào tạo, các cơ quan chức năng của nhà nước liên quan đến quản lý giáo dục đại học;
- Xu thế phát triển đại học NCL ở một số nước trong khu vực;
- Một số kiến nghị nhằm hoàn triện về pháp luật đại học NCL;
- Tổng quan đại học NCL sau gần 20 năm ra đời và phát triển;
Trang 10* Thời gian: Theo 4 giai đoạn [17]
+ Giai đoạn 1 từ năm (từ 1988 đến 1994) xây dựng mô hình thí điểm về giáo dục đại học Ngoài công lập;
+ Giai đoạn 2 từ năm (1994 đến 1999) Xây dựng và phát triển đại học Ngoài công lập Việt nam theo Quy chế tạm thời số 196/TCCB ngày 21/01/1994 của Bộ giáo dục & Đào tạo;
+ Giai đoạn 3 từ năm (2000- 2005) xây dựng và phát triển trường đại học Ngoài công lập theo Quy chế 86/2000 của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/7/2000
+ Giai đoạn 4 từ 2005 đến nay xây dựng và phát triển đại học Ngoài công lập theo Quy chế 14/2005/TTg của Chính phủ Nay được thay thế bằng quy chế 61/2009/TTG Chính phủ
5 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp kế thừa
Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu, chắt lọc những tiến bộ có tính khoa học, những đánh giá của các chuyên gia từ thực tiễn để phục vụ đề tài như đề tài “Phương hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam” do GS.TS Trần Hồng Quân làm chủ đề tài; tập thể các tác giả là những nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước với nhiều bài viết, tham luận trong cuốn sách “Mô hình trường đại học tư ở Việt Nam thực trạng và triển vọng -2011, nhà xuất bản khoa học kyc thuật” Thu thập các tài liệu của nước ngoài nhằm so sánh, rút
ra bài học kinh nghiệm từ đó có những đề xuất hằm hoàn thiện pháp luật đại học Ngoài công lập của Việt Nam có hiệu quả
b Phương pháp khác
Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm về trường đại học NCL, bản chất và đặc điểm của đại học NCL Ở đây cần làm rõ về chủ sở hữu trường; thế nào là trường hoạt động vì lợi nhuận, không vì lợi nhuận, phân tích những bất cập, khó khăn khi triển khai Quyết định số 122/2006/QĐ ngày
Trang 1129/5/2006 của Thủ tướng về chuyển đổi loại hình trường, làm rõ thực trạng của pháp luật hiện hành điều chỉnh về các trường đại học NCL
Phương Pháp thống kê để làm rõ những kết quả đã đạt được sau hơn 20 năm hoạt động, những yếu tố khó khăn của đại học NCL hiện nay, trên các phương diện: Pháp luật do nhà nước ban hàn và ý chí chủ quan từ các trường đại học NCL
Trên cơ sở những phân tích, thống kê phương pháp tổng hợp được xử dụng để khái quát hoá, từ đó tác giả đưa ra đề xuất, kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 1.1 Sự cần thiết thành lập đại học ngoài công lập
* Sự cần thiết
Thứ nhất, trong thế giới ngày nay, với sự phát triển nhảy vọt của khoa
học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh trên thế giới, trên bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục của
thế kỷ 21 có những biến đổi to lớn, đó là “lấy học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là “học để biết, học
để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người”, nhằm hướng tới xây
dựng “một xã hội học tập” Giáo dục đại học thế giới phát triển nhanh chóng với những xu hướng biểu hiện rõ rệt: đại chúng hóa, thị trường hóa, đa dạng
hóa và quốc tế hóa
Thứ hai, Đảng và Nhà nước Việt nam coi Giáo dục – Đào tạo và Khoa
học công nghệ là quốc sách hàng đầu:
- Phát triển giáo dục đào tạo được coi là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- tất cả vì con người;
- Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo;
- Giáo dục và đào tạo là một trong ba lĩnh vực then chốt cần có đột phá
để làm chuyển động kinh tế- xã hội, tạo bước chuyển mạnh và phát triển về nguồn nhân lực Nó liên quan chặt chẽ đến hai lĩnh vực khác là đổi mới cơ chế chính sách nhằm giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước; cải cách hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh
Thứ ba, sau gần hai thập niên thực hiện đường lối đổi mới, chuyển dịch
từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
Trang 13xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã có nhiều thay đổi về mọi mặt Tuy nhiên trước yêu cầu của phát triển đất nước cùng với nhiều áp lực về hội nhập kinh
tế quốc tế ngày càng tăng, nền giáo dục nước ta bộc lộ nhiều hạn chế, Chính
phủ đã tạo bước đột phá, trong đó có việc “mở rộng khu vực đại học ngoài
công lập” và chuyển các cơ sở công lập hoạt động theo cơ chế sự nghiệp
mang nặng tính hành chính bao cấp sang hoạt động theo cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ, không bao cấp tràn lan, không nhằm lợi nhuận
Thứ tư, Sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế (nông nghiệp - công
nghiệp - dịch vụ) trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế trị trường đã kéo theo yêu cầu phải chuyển dịch mạnh cơ cấu giáo dục đại học Việt Nam
(cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền) [1].
Chủ chương của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa giáo dục là giải pháp mang tính chiến lược để phát triển giáo dục và là điều kiện để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
* Vai trò và ý nghĩa của đại học NCL
Là một mô hình mới trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đóng góp chung cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng phục vụ nền Kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Là điều kiện để mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân, thu hút nguồn lực xã hội làm giáo dục, tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên /1vạn dân vào năm 2020, trong đó có 70- 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp ứng dụng và phấn đấu đạt khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các trường công lập
Khẳng định động lực mạnh mẽ vai trò quản lý mới trong giáo dục, phù hợp với sự phát triển khu vực châu Á và thế giới
Trang 141.2 Khái niệm đại học ngoài công lập nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Đại học NCL Việt Nam là loại hình trường trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường đại học, cao đẳng ngoài công lập gồm các trường đại học, cao đẳng dân lập/tư thục (thuật ngữ tiếng Anh: Private University hoặc Private College) là cơ sở giáo dục đại học do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập(đối với trường dân lập); tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập(đối với đại học tư thục) đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước và
hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp điều lệ trường đại học Việt Nam [17, tr.21]
(Đối với các trường được đầu tư 100% vốn nước ngoài không phải là đối
tượng nghiên cứu của đề tài)
Theo quy định của “Hiến pháp 1992 đại học NCL nằm trong hệ thống
giáo dục quốc dân” [10] Thủ tướng Chính phủ là người ký Quyết định thành
lập trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chủ quản trực tiếp quá trình vận hành và hoạt động, Ủy ban nhân dân địa phương quản lý trên phạm vi địa giới hành chính nơi nhà trường đặt trụ sở
Đại học NCL bao gồm 3 loại hình trường: trường dân lập; tư thục và trường có vốn 100% đầu tư nước ngoài Trường là pháp nhân được tự chủ về
tổ chức bộ máy, tuyển dụng lao động tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi Tài sản của trường thuộc quyền sở hữu tập thể người góp vốn, đầu tư, các giảng viên, cán bộ nhân viên cơ hữu nhà trường(đối với trường dân lập),
Trang 15thuộc sở hữu tư nhân của tổ chức, cá nhân góp vốn theo số lượng cổ phần, tài sản do biếu tặng và tăng lên trong quá trình hoạt động của nhà trường thuộc
sở hữu chung (nếu là trường tư thục)
* Cơ cấu quản trị
Đại học NCL hoạt động theo dạng Công ty cổ phần - Luật doanh nghiệp 2005: có Đại hội đồng cổ đông là tổ chức quyền lực nhất, HĐQT do đại hội đồng cổ đông bầu để chỉ đạo điều hành trường, Hiệu trưởng, ban Giám hiệu, các Khoa, Phòng chức năng trong nhà trường để tổ chức thực hiện những chủ trương của Đại hội đồng cổ đông và HĐQT (là loại hình trường tư thục) Đối với trường dân lập Hội đồng quản trị là chủ sở hữu đại diện cho tất cả các nhà góp vốn để điều hành nhà trường, thành phần HĐQT gồm: Cơ quan đứng tên xin thành lập trường, đại diện cho cán bộ nhân viên, giảng viên; đại diện cấp ủy; đại diện nhà góp vốn Sau HĐQT là Hiệu trưởng, Ban giám hiệu và các Phòng, Khoa chức năng, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội [13]
* Đặc điểm
Qua khái niệm trên có thể thấy đại học NCL có những đặc điểm sau:
- Vai trò chủ sở hữu đại học không còn một chủ thể là Nhà nước, thành phần tư nhân được công nhận là chủ sở hữu mới để tham gia quản lý giáo dục
Xã hội hóa giáo dục đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường, sự nghiệp Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
- Là loại hình mới các trường đại học NCL có vị trí như trường công lập, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân
- HĐQT là tổ chức quyền lực cao nhất (đối với trường dân lập), Đại hội đồng cổ đông (đối với trường tư thục) có vai trò quyết định mọi vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy, tài chính tài sản và sự phát triển của nhà trường
- Sau hơn 20 năm ra đời và hoạt động, trải qua bao (thăng trầm) đến nay đại học NCL vẫn chưa đạt được kết quả đặt ra Quá trình vận hành chưa đồng bộ, còn thiếu nhiều cơ chế, đặc biệt là hành lang pháp lý để điều chỉnh
Trang 16Xã hội còn có nơi, có lúc kỳ thị, phân biệt không công bằng với đại học NCL, cần phải có những chủ chương mới của Đảng và Nhà nước nhằm động viên, củng cố tạo động lực mạnh mẽ để đại học NCL Việt Nam phát triển đúng hướng đạt được “tầm cỡ trong khu vực và châu Á”, góp phần quan trọng thắng lợi trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.3 Những chủ trương của Đảng, của Nhà nước của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về phát triển đại học Ngoài công lập
* Của Đảng
Đại hội Đảng cộng sản Việt nam lần thứ X xác định: Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo rà soát sắp xếp lại mạng lưới trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và doanh nghiệp; đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng, có
lộ trình cụ thể chuyển một số cơ sở giáo dục, đào tạo công lập sang dân lập, tư thục; xóa bỏ hệ bán công Khuyến khích thành lập mới và phát triển các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, Doanh nghiệp ngoài công lập, kể cả trường do Nhà nước đầu tư [17]
sở vật chất,…
Trang 17- Nghị quyết 05/2005NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính Phủ xác định các định hướng phát triển cơ sở giáo dục- đào tạo NCL:
+ Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục dào tạo, dậy nghề ngoài công lập; chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển Không duy trì các cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công
+ Khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo, có chất lượng cao ở nước ngoài; khuyến khích mở các cơ sở giáo dục đào tạo có chất lượng cao, có uy tín bằng 100% vốn đầu tư nước ngoài; khuến khích các nhà khoa học, giáo dục có trình độ cao ở nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài tham gia giảng dạy tại Việt nam
Định hướng đến năm 2010 tỷ lệ học sinh sinh viên ngoài công lập ở trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dậy nghề 60%, đại học, cao đẳng 40%
+ Các giải pháp và chính sách lớn của Chính Phủ tại Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về giáo dục và Đào tạo
Hoàn thiện các quy định về mô hình, quy chế của các đơn vị NCL theo hướng: quy định rõ trách nhiệm, mục tiêu hoạt động, nội dung chất lượng dịch vụ, sản phẩm chế độ sở hữu và cơ chế hoạt động; quy định chế độ tài chính trách nhiệm thực hiện chính sách và nghĩa vụ xã hội của tổ chức hoạt động theo cơ chế phi lợi nhận và áp dụng cơ chế doanh nghiệp đối với các cơ
sở theo cơ chế lượi nhuận [17]
1.4 Mục tiêu phát triển đại học đến năm 2020
Đến năm 2020, giáo dục phải có bước chuyển cơ cấu về chất lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội và nâng cao trí tuệ dân tộc, tiếp cận trình độ tiên tiến khu vực và trên thế giới, nâng một số trường đại học lên tầm cỡ quốc tế, góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước [1,tr.22]
Trang 18* Mục tiêu cụ thể
- Hoàn chỉnh mạng lưới cơ sở giáo dục đại học trên phạm vi toàn quốc,
có sự phân tầng rõ rệt, đảm bảo hợp lý cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, đồng thời phù hợp với quy luật tổng thể của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Dự kiến đến năm 2020 có khoảng 30% trường đại học, cao đảng tư thục/ tổng số trường đại học, cao đẳng theo quy hoạch
- Hoàn thiện việc phân chia các chương trình đào tạo theo hai hướng: nghiên cứu và nghề nghiệp - ứng dụng Sử dụng quy trình đào tạo mềm dẻo, kết hợp mô hình truyền thống với mô hình nhiều giai đoạn và chuyển các cơ
sở giáo dục đại học sang đào tạo theo tín chỉ Đổi mới nội dung phương pháp giảng dậy và học tập ở các trường đại học, coi trọng việc gắn liền học tập với thực tập, học với nghiên cứu khoa học, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp
- Mở rộng quy mô đào tạo, tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010
và 450 sinh viên /1vạn dân vào năm 2020, trong đó có 70- 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp ứng dụng và phấn đấu đạt khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các trường công lập Xây dựng một vài trường đại học đẳng cấp Quốc tế Tăng số lượng học sinh lưu nước ngoài tại Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dậy và quản lý tiên tiến, hiện đại: đảm bảo đến năm 2010
có ít nhất 40% có trình độ thạc sĩ và 25% có trình độ tiến sĩ Tỷ lệ sinh viên /giảng viên của hệ thống giáo dục đại học không quá 20, đối với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ không quá 15; các ngành kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn không quá 25
- Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nhệ trong các cơ sở giáo dục đại học Các trường đại học lớn phải là trung tâm nghiên cứu kkoa học mạnh của cả nước Nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất và dịch vụ đạt tối thiểu 15% tổng nguồn thu của trường vào năm 2010 và 25% năm 2020
Trang 19- Đạt được thỏa thuận về công nhận bằng cấp với các nước trong khu vực và trên thế giới; các trường đại học của Việt Nam có được các thỏa thuận
về tương đương chương trình đào tạo với các trường đại học của các nước, tạo
cơ sở cho việc tham gia hệ thống chuyển đổi tín chỉ ASEAN và quốc tế
- Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đại học và có cơ chế đảm bảo chất lượng; tất cả các trường đại học cao đẳng đều tiến hành kiểm địnhh một cách định kỳ và công khai kết quả kiểm định
- Sử dụng các phương thức và công nghệ quản lý hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông trong các cơ sở giáo dục đại học; hình thành trung tâm dữ liệu quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học và hệ thống thư viện điện tử
- Xây dựng chính sách phát triển giáo dục và đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường về đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và dịch vụ, về tổ chức nhân sự, về tài chính, về huy động các nguồn lực đầu tư; đảm bảo được quản lý Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với các hoạt động của nhà trường
1.5 Các vấn đề pháp lý phát sinh từ thành lập đại học Ngoài công lập
* Quyết định số 07/2009/QĐ TTG ngày 15/01/2009 của Thủ tướng
Chính phủ quy định điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sát nhập, chia, tách, giải thể trường đại học [6]
Về điều kiện thành lập: Đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch
mạng lưới trường đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 121/2007/QĐ- TTg ngày 27/7/ 2007
Cơ quan đứng tên xin thành lập trường là tổ chức xã hội, nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế Có dự án thành lập trường đại học trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung chương trình, ngành nghề, quy mô đào tạo, cơ cấu tổ chức quản
lý, quy hoặch đất đai, nguồn vốn xây dựng trường, kế hoạch và lộ trình đầu tư phát triển, bảo đảm phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và địa phương
Trang 20Việc thành lập các trường đại học phải được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi đặt trụ sở chính của trường cho ý kiến chấp thuận bằng văn bản và cấp giấy chứng nhận cho dự án thành lập trường
Có đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý phải đủ về số lượng, đồng bộ
về cơ cấu, phù hợp với ngành nghề đào tạo, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và trình độ đào tạo đảm bảo thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục: đáp ứng yêu cầu theo quy định hiện hành của Bộ Giảo dục& Đào tạo: không quá 10 sinh viên/1 giảng viên đối với các nghành đào tạo năng khiếu; 15 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo kỹ thuật và công nghệ; 25 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế – quản trị kinh doanh
Có tổng diện tích đất xây dựng trường tối thiểu 5ha; thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25m2/1 sinh viên, tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo đông sinh viên nhất trong 10 năm đầu kể từ khi thành lập; có
cơ sở vật chất, thiết bị bảo đảm dáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường Địa điểm xây dựng trường đại học phải đảm bảo về môi trường giáo dục, an toàn cho người học, người dậy, người lao động trong nhà trường
Vốn điều lệ chỉ dành riêng cho đầu tư xây dựng trường không kể giá trị về đất đai, phải có tối thiểu là 50 tỷ VNĐ được góp bằng các nguồn vốn hợp pháp
* Quy trình thành lập
Việc thành lập trường đại học do Thủ tướng Chính phủ quyết định Dự
án thành lập trường được thực hiện theo 2 bước:
Bước thứ nhất: Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận Dự án đầu tư thành
lập trường, thẩm định các điều kiện và trình Thủ tướng Chính Phủ xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường
Bước thứ hai: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm
Trang 21định dự án đầu tư thành lập trường và các điều kiện được quy định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Hồ sơ đề nghị phê duyệt chủ trương thành lập trường gồm có:
Tờ trình đề nghị thành lập trường đại học của tổ chức, cá nhân, trong
đó cần nêu rõ: tên trường bằng tiếng Việt và tiếng Anh Tên của trường phải gắn với địa danh nơi trường đặt trụ sở hành chính của trường hoặc gắn với lĩnh vực đào tạo hoặc danh nhân văn hóa, lịch sử
Văn bản của ủy ban nhân dân cấp Tỉnh chấp thuận về việc thành lập trường tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Văn bản của cấp Tỉnh cần phải nêu rõ về sự cần thiết, tính phù hợp của việc thành lập trường so với quy hoạch kinh tế phát triển xã hội của địa phương; dự kiến địa điểm, đất đai xây dựng trường và khả năng phối hợp, tạo điều kiện của địa phương với việc xây dựng và phát triển trường
Dự án đầu tư thành lập trường đại học NCL đáp ứng yêu cầu chất lượng nội dung, hình thức Nội dung Dự án cần làm rõ về sự cần thiết thành lập trường; tính phù hợp với Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp thực hiện; ngành nghề quy mô đào tạo, tuyển sinh trong từng giai đoạn; dự kiến cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý, điều hành; số lượng, trình độ giảng viên, cán bộ quản lý; đất đai, vốn điều lệ; dự thảo Quy chế tổ chức và hoạt động; quy hoạch và kế hoạch xây dựng, phát triển trường trong từng giai đoạn
Trong dự án cần nêu rõ dự kiến tổng số vốn để thực hiện các kế hoạch
và bảo đảm hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học trong 3 năm đầu thành lập và các năm tiếp theo; có thuyết minh về tính khả thi và hợp pháp của các nguồn vốn đầu tư xây dựng và phát triển nhà trường trong từng giai đoạn
Đối với văn bản pháp lý cần có xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản của ủy ban nhân dân tỉnh thể hiện về chủ trương giao đất để xây dựng trường trong đó cần nói rõ về địa điểm, ranh giới của khu đất
Trang 22Bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế sơ bộ các công trình kiến trúc xây dựng trên khu đất xây dựng trường, bảo đảm phù hợp với quy mô đào tạo và tiêu chuẩn diện tích sử dụng phục vụ việc học tập, giảng dậy Văn bản xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền về khả năng tài chính
và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của người đầu tư thành lập trường
Hồ sơ thành lập trường đại học NCL phải đầy đủ các văn bản được lập theo mẫu thống nhất do Bộ Giáo dục& Đào tạo quy định
Các quy trình tiếp theo bao gồm những bước như sau:
+ Bộ giáo dục và đào tạo có trách nhiệm tiếp nhận Dự án đầu tư thành lập trường, thẩm định, đối chiếu với các điều kiện được quy định và trình Thủ tướng chính phủ xem xét phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường
Trường hợp cần thiết Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể tổ chức để chủ đầu
tư Dự án báo cáo trực tiếp, làm rõ các nội dung của Dự án Thời gian hoàn thành việc thẩm định là không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ Dự án đầu tư thành lập trường và Bộ Giáo dục & Đào tạo có trách nhiệm thông báo kết quả quả thẩm định hồ sơ cho chủ đầu tư Dự án xin thành lập trường
+ Ủy ban nhân dân Tỉnh có trách nhiệm xem xét và cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định theo các dự án đầu tư thành lập trường đại học NCL trên địa bàn, sau khi có văn bản phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ Giấy chứng nhận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần được gửi cho Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Kế hoạch & đầu tư
Trang 23chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hồ sơ trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, ra quyết định thành lập trường
+ Hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường gồm:
- Văn bản phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường đại học của Thủ tướng Chính phủ;
- Giấy chứng nhận đầu tư thành lập trường đại học và bản chấp nhận giao đất xây dựng trường, trong đó xác định rõ diện tích, mốc giới đất của khu vực Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc các văn bản pháp lý về quyền sử dụng khu đất dành để xây dựng trường;
- Văn bản báo cáo chi tiết về tình hình triển khai dự án đầu tư thành lập trường của cơ quan chủ quản (Ban quản lý dự án) cùng ý kiến của ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi trường đặt trụ sở chính, trong báo cáo cần làm rõ những công việc cụ thể đã hoàn thành hoặc đang thực hiện về đất xây dựng trường,
số lượng và các điều kiện chuẩn bị về phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện; trang thiết bị; khu thực hành, ký túc xá, khu thể thao và các công trình khác đã được xây dựng trên khu đất; các cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo; đội ngũ giảng viên, cán bộ, công tác tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên; tài chính chuẩn bị cho các hoạt động của trường, phù hợp với các nội dung, kế hoạch triển khai thực hiện của Dự án, giấy phép đầu tư đã được phê duyệt các nội dung công việc, giải pháp tổ chức thực hiện cần được triển khai trong từng giai đoạn phát triển nhà trường;
- Quy hoạch xây dựng phát triển trường và thiết kế tổng thể đã được ủy ban dân tỉnh phê duyệt;
- Bản dự kiến danh sách bố trí và các văn bản cam kết tham gia của các cán bộ giữ chức danh cán bộ chủ chốt của trường như: Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, Chủ nhiệm khoa, Trưởng các Phòng, Ban, Bộ môn;
- Dự kiến các chương trình đào tạo, giáo trình và tài liệu phục vụ giảng dậy, phù hợp với các ngành đào tạo của trường Chương trình đào tạo phải
Trang 24được xây dựng trên cơ sở các chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Danh sách các trang thiết bị đã chuẩn bị được;
- Danh sách cán bộ, giảng viên cơ hữu, thỉnh giảng của trường, trong
đó cần nêu rõ về trình độ, chuyên ngành đào tạo, quy mô tuyển sinh của trường trong từng giai đoạn, nhất là giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động sau khi có quyết định thành lập trường; làm rõ kế hoạch giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên và các giai đoạn sau khi thành lập;
- Danh mục số lượng các phòng học, phòng làm việc và cơ sở vật chất phục vụ học tập, giảng dậy thí nghiệm, thực hành, thư viên, ký túc xá;
- Các văn bản pháp lý xác nhận số tiền hiện có của Ban quản lý Dự án đang được giao quản lý, bảo đảm tính hợp pháp và cam kết sễ đầu tư để xây dựng trường và chỉ chi phí cho các hoạt động thường xuyên của trường sau khi được thành lập kềm theo thuyết minh rõ về tổng kinh phí, nguồn vốn đã đầu tư; phương án huy động vốn và cân đối vốn tiếp theo để bảo đảm duy trì
ổn định hoạt động của trường trong giai đoạn 5 năm, bắt đầu trường được tuyển sinh khóa đầu tiên
Đối với vốn có sự đóng góp của nhiều thành viên thì trong hồ sơ cần có kèm theo các văn bản cam kết, bảo đảm tính chặt chẽ, có minh chứng tính pháp lý đầy đủ của các thành viên và biên bản chấp nhận của Ban sáng lập trường đồng ý về việc góp vốn, trong biên bản phải làm rõ tên và địa chỉ trụ
sở của trường; tên và địa chỉ của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị các tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị của tài sản đó trong vốn điều lệ của trường; ngày giao, nhận; chữ ký của người góp vốn và người được các thành viên góp vốn cử làm đại diện chịu trách nhiệm trước pháp luật đứng tên xin thành lập trường Vốn góp phải được nộp vào tài khoản của Ban quản lý dự án xây dựng trường
Đối với các tài sản sử dụng để góp vốn phải được định giá cụ thể, chính xác theo quy định Việc định giá phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện và được tất cả các thành viên góp vốn nhất trí Việc góp vốn chỉ được công nhận
Trang 25khi quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn đóng góp đã được chuyển cho Ban Quản lý dự án xây dựng trường
Đối với đất đai, nhà ở được sử dụng để góp vốn thì nhà ở, đất đai đó phải có giấy chứng nhận hợp pháp và phải được làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất hoặc sở hữu nhà ở cho nhà trường theo quy định và việc này phải được hoàn thành trước khi trường chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở mã ngành, tuyển sinh đào tạo
* Quy Trình ra Quyết định thành lập trường đại học
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức thẩm định hồ sơ đề nghị ra quyết định thành lập trường của các tổ chức và cá nhân và thông báo kết quả xử lý, thẩm định hồ sơ cho chủ dự án đầu tư trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể trừ ngày nhận được hồ sơ
Việc thẩm định hồ sơ đề nghị ra quyết định thành lập trường đại học được tổ chức thực hiện theo hình thức thành lập Hội đồng thẩm định gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Kế hoạch & Đầu
tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở chính và một số cơ quan liên quan, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập và cử đại diện lãnh đạo
Bộ làm Chủ tịch Hội đổng
Hội đồng thẩm định bao gồm từ 7 đến 9 thành viên: có nhiệm vụ giúp
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét đanh giá toàn diện về hồ sơ dự án
đề nghị ra Quyết định thành lập trường: Làm rõ về sự cần thiết, phù hợp của việc thành lập trường, tính hợp lệ của hồ sơ, tính khả thi của dự án trên cơ sở xem xét các báo cáo và kiểm tra thực tế để làm căn cứ báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về thẩm quyền và quy trình làm việc của Hội đồng thẩm định nêu trên và có trách nhiệm hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ trong quá trình xử lý và thông báo về kết quả cho chủ đầu tư dự án biết đối với những hồ sơ không được phê duyệt
Trang 26* Thu hồi chủ trương thành lập và giải thể trường
Sau 3 năm, kể từ ngày dự án đầu tư thành lập trường được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt về chủ trương, nếu việc triển khai thực hiện dự án chưa hoàn thành theo kế hoạch đề ra: chưa trình được hồ sơ đề nghị ra quyết định thành lập trường, đáp ứng các điều kiện đề ra thì Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xem xét để kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ ra văn bản hủy bỏ chủ trương đầu tư và Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hủy Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp
Sau 2 năm, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập trường, nếu trường không chuẩn bị đủ các điều kiện để được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh thì Bộ Giáo dục và Đào tạo
có trách nhiệm xem xét trình Thủ tướng Chính phủ việc thu hồi Quyết định thành lập trường
Việc đình chỉ hoạt động đối với trường đại học được thực hiện theo hình thức có thời hạn hoặc không thời hạn tùy theo các mức độ vi phạm một trong các lý do sau đây:
- Vi phạm các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục ở mức độ phải đình chỉ;
- Vì lý do khách quan nhà trường không thể đảm bảo được hoạt động bình thường, đáp ứng yêu cầu của trường đại học
Bộ giáo dục và đào tạo có trách nhiệm xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc đình chỉ hoạt động đối với trường đại học Đối với việc đình chỉ hoạt động có thời hạn, sau khi đã khắc phục được hậu quả của các lỗi vi phạm dẫn đến việc bị đình chỉ thì Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm thẩm tra, đánh giá để trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định cho phép nhà trường tiếp tục hoạt động
* Giải thể trường đại học
Việc giải thể trường đại học thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính
phủ quyết định nếu trường vi phạm một trong các trường hợp sau đây:
Trang 27- Vi phạm nghiêm trọng các quy định về quản lý tổ chức hoạt động của trường đại học;
- Quyết định đình chỉ hoạt động có thời hạn đã hết hiệu lực, nhưng vẫn không khắc phục được hậu quả của các vi phạm dẫn đến việc đình chỉ nêu trên;
- Mục tiêu và nội dung hoạt động của trường đại học không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Do nhu cầu xắp xếp lại mạng lưới cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế;
- Theo đề nghị của tổ chức, cá nhân thành lập trường
* Quản lý Nhà nước đối với trường đại học: Nghị định số 115/NĐ-
CP, ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục
Trường đại học NCL chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục & Đào tạo; chiu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trường đặt trụ sở
* Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể
Tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập và hoạt động trong trường đại học NCL theo hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các tổ chức Chính trị- xã hội, tổ chức Xã hội được thành lập và hoạt động trong trường đại học NCL theo quy định của hiến pháp và pháp luật [7]
* Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học
bản nhằm thực hiện Quyết định số 58/2010/QĐ- TTG ngày 23/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành điều lệ trường đại học Các trường đại học xây dựng Quy chế về tổ chức và hoạt động của trường trình cơ quan chủ quản
là Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
Trang 28* Nhiệm vụ và quyền hạn của trường đại học [8]
1 Xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược và kế hoạch tổng thể phát triển nhà trường qua từng giai đoạn, kế hoạch hoạt động hằng năm
2 Tổ chức giảng dậy, và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận và cấp văn bằng chứng chỉ theo thẩm quyền
3 Tuyển dụng, quản lý công chức, viên chức: xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu nghành nghề, cơ cấu độ tuổi và giới, đạt chuẩn về trình độ được đào tạo; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ nhân viên
4 Phát hiện bồi dưỡng nhân tài trong đội ngũ công chức, viên chức và người học của trường
5 Tuyển sinh và quản lý người học
6 Huy động quản lý các nguồn lực theo quy định của pháp luật: sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế đầu tư xây dựng vơ sở vật chất của nhà trường, mở rộng sản xuất kinh doanh và chi các hoạt động giáo dục theo quy định cuả pháp luật
7 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa
8 Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, các nhân trong hoạt động giáo dục đào tạo
9 Tổ chức cho công chức, viên chức và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với nghành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội
10 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chụi sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền: xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng của nhà trường; tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng
và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
11 Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội của đại phương và đất nước; thực hiện dịch
vụ koa học, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trang 2912 Liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với sử dụng, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội, bổ xung nguồn tài chính cho nhà trường
13 Xây dựng, quản lý và xử dụng cơ sơ dữ liệu về đội ngũ công chức, viên chức, các hoạt động đào tạo, khoa học và công nhệ và hợp tác quốc tế của nhà trường, về quá trình học tập và phát triển sau tốt nghiệp của người học; tham gia dự báo nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo của trường
14 Đươc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ịch hợp pháp của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường
15 Được nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất; được miễn giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật
16 Chấp hành pháp luật về giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục
17 Giữ gìn phát triển di sản và bản sắc văn hóa dân tộc
18 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
*/ Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học [8]
Trường đại học được quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội theo quy định của pháp luật và điều lệ này về quy hoạch, kế hoạch phát triển trường, tổ chức các hoạt động đào tạo khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc
tế, tổ chức và nhân sự Cụ thể là:
1 Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dậy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; xây dựng hệ thống chuyển đổi tín chỉ với các cơ sở đào tạo khác
2 Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng
Trang 303 Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa thể dục thể thao, y tế, khoa học và công nhệ ở trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với việc làm
4 Lựa chọn tổ chức kiểm định chất lượng để đăng ký kiểm định; được quyền khiếu lại tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các quyết định kết luận, hành vi tổ chức, cá nhân thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục khi có đủ căn cứ chứng minh là vi phạm
5 Tham gia tuyển chọn và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp; hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, y
tể, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ
6 Tổ chức bộ máy nhà trường; tuyển dụng qản lý, sử dụng, đãi ngộ công chức, viên chức của nhà trường; bồi dưỡng nâng cao trình độ cho công chức, viên chức và định kỳ thực hiện đánh giá công chức, viên chức
7 Báo cáo các hoạt động của trường với cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định
8 Công khai và giải trình với xã hội, các bên liên quan về hoạt động của nhà trường và kết quả của các hoạt động đó; có trách nhiệm thực hiện các cam kết với cơ quan quản lý Nhà nước, với các bên liên quan và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động để đạt được cam kết ấy
9 Không để bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào lợi dụng danh nghĩa và
cơ sở vật chất của trường để tiến hành các hoạt động trái với quy định của pháp luật và Điều lệ này
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI HỌC NGOÀI
CÔNG LẬP HIỆN NAY 2.1 Lược sử phát triển về đại học ngoài công lập
* Quá trình hình thành và phát triển đại học NCL CHXHCN Việt Nam có 4 giai đoạn[17]
- Giai đoạn 1: Từ năm 1988 đến 1994 xây dựng mô hình thí điểm về Giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam
Từ những năm 1980 của thế kỷ XX, nhằm thu hút nguồn nhân lực ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục, để thỏa mãn nhu cầu học tập ngày càng gia tăng của nhân dân Đảng và Nhà nước đã chủ trương xã hội hóa giáo dục Bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp có quyết định số 16867/KHTV ngày 15/12/1988 cho phép thành lập Trung tâm đại học Thăng Long, một trung tâm thí điểm hoạt động độc lập bằng nguồn tài chính không phải từ ngân sách Quốc gia, với một số đặc điểm
Các cơ sở tự chủ về nguồn tài chính để đảm bảo quá trình hoạt động của nhà trường, với mục đích không kinh doanh, không vụ lợi cá nhân Chịu
sự quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo
Như vậy từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa Giáo dục đã được triển khai đa dạng hóa các loại hình đào tạo, loại hình trường; chính sách và biện pháp đổi mới giáo dục đại học được thể hiện bằng Hiến pháp, luật pháp và những văn bản dưới luật đã tạo cho cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập phát triển; các nhà cung ứng mới về dịch vụ giáo dục đại học xuất hiện: Đó là các tổ chức, cá nhân, các tổ chức kinh tế- chính trị-
xã hội nghề nghiệp góp vốn thành lập cơ sở giáo dục đại hoc bán công, dân lập, tư thục Các tổ chức cá nhân ngoài nước đứng ra thành lập các cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam
Xét ở tầm vĩ mô, giáo dục đại học nói riêng, giáo dục và đào tạo Việt Nam nói chung trong đổi mới đã chuyển từ mô hình nhà nước độc quyền sang
Trang 32mô hình hình đa dạng hóa loại hình sở hữu, thích hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Giai đoạn 2: Từ 1994 - 1999 đại học ngoài công lập hoạt động theo quy chế tạm thời số 196/TCCB ngày 21/1/1994 của bộ Giáo dục và Đào tạo
Ngày 21/01/1994 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế tạm thời đại học dân lập”, Quy chế này quy định “Đại học dân lập (ĐHDL) là cơ sở đại học được Nhà nước cho phép thành lập do cá nhân, tập thể hoặc tổ chức kinh tế, xã hội đầu tư vốn với mục đích không kinh doanh, không vụ lợi cá nhân Kinh phí hoạt động chủ yếu do từ nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước
Việc thành lập ĐHDL do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Đại học dân lập thuộc hệ thống đại học nhà nước CHXHCN Việt Nam, năm 1989 Luật Giáo dục đã chính thức đưa loại hình đại học cao đẳng NCL vào hệ thống nhà trường giáo dục quốc dân
- Giai đoạn 3: từ 2000 đến 2005 đại học ngoài công lập Việt Nam hoạt
động theo Quy chế chính thức số 86/2000/TTg, ngày 18/7/2000 của Thủ
tướng Chính phủ
Các trường đại học, cao đẳng đang hoạt động theo quy chế 196/TCCB được sửa đổi thành “Quy chế tổ chức và hoạt động trường đại học dân lập” thực hiện theo Quy chế 86/2000/TTg chính phủ ngày 18/7/2000 Điều mới của Quy chế bắt buộc mỗi trường đều phải có một tổ chức chính trị, chính trị
xã hội đứng tên xin thành lập Phần đa các trường thành lập về trước đều phải tìm cho mình một tổ chức, khi là Mật trận tổ quốc, hay Hội khuyến học tại địa phương để hợp pháp hóa chủ trương này
Nhận định, căn cứ vào các tiêu chí được quy định để mở trường cho
thấy, điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất ban đầu là hết sức quan trọng Các trường không thể thiếu những cá nhân có uy tín (đây được coi là mấu chốt
Trang 33thành công): họ có mối quan hệ tốt với bộ chủ quản, tại địa phương những cá nhân này có tầm ảnh hưởng lớn, có uy tín để được ủng hộ trên mọi phương diện như xin kinh phí, đất đai, kêu gọi tài trợ, vv
Theo trình tự, sau khi đề án mở trường được Chính phủ đồng ý, tại địa phương HĐND tỉnh họp ra chủ trương thành lập trường, UBND tỉnh triển khai tổ chức chỉ đạo; phê duyệt dự án, làm thủ tục cấp đất, cấp kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất ban đầu; Chọn cử một tổ chức đứng tên xin thành lập trường, thành lập Ban kiến thiết lâm thời để tiếp tục vận động những nhà giáo, những nhà đầu tư tâm huyết tham gia, đảm bảo về cơ số giảng viên, cơ cấu tổ chức, bộ máy, vốn pháp định tối thiểu, các điều kiện khác để trường đủ điều kiện thành lập
Đại đa số những cá nhân sáng lập trường dân lập là những cán bộ chủ chốt của Trung ương, của tỉnh là Chủ tịch, Bí thư tỉnh đã nghỉ hưu Bộ máy nhiệm kỳ đầu do trưởng ban kiến thiết xắp đặt, đây cũng chính là những rào cản về sau, là nguyên nhân của mâu thuẫn nội bộ, làm cản trở sự phát triển của các trường dân lập nói chung Nội dung sau tác giả xin trở lại khi phân tích về những tồn tại của các trường dân lập hiện nay
- Giai đoạn 4: từ 2005 đến nay đại học ngoài công lập hoạt động theo
quy chế 14/2005/TTg của Chính phủ, sau đó thay thế bằng Quy chế
61/2009/TTg ban hành ngày 17/4/2009
Các trường đại học tư thục ra đời theo Quy chế 14/2005/TTg, ban hành ngày 17/1/2005 của Chính phủ, sau đó thay thế bằng Quy chế 61/2009/TTg, ban hành ngày 17/1/2005 của Chính phủ vận hành theo mô hình doanh nghiệp
Chuyển đổi các trường đại học cao đẳng dân lập được thành lập theo
QĐ 86/2000 và các trường bán công sang theo mô hình tư thục Đối với việc chuyển đổi các trường từ dân lập sang loại hình trường tư thục, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 122/2006/QĐ-TTg cho phép 19 trường đại học đang hoạt động theo Quy chế 86/2000 được chuyển sang hoạt động theo Quy
Trang 34chế tư thục, giao cho Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp các cơ quan chủ quản hướng dẫn thực hiện, kết thúc trước ngày 30/6/2007
Lộ trình chuyển đổi gồm các bước: Xây dựng phương án chuyển đổi; sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt; giải quyết về tài chính, trong đó làm rõ giá trị vốn góp ban đầu khi chuyển đổi thì giá trị tương ứng thế nào, đối với những người sáng lập trường công của họ được lượng hóa cụ thể; tổ chức xin thành lập trường những quền lợi, nhĩa vụ về sau được giải quyết ra sao? Đây là những nội dung chủ yếu khi chuyển đổi loại hình trường, cũng phát sinh nhiều khó khăn Nhiều nội dung không có văn bản luật hướng dẫn, đặc biệt là những phát sinh tranh chấp trong tài chính giữa nhà đầu tư góp vốn (tài sản hữu hình) và những người có công sức trí tuệ(tài sản vô hình ), những nội dung này cần được bàn bạc cụ thể đối với từng trường để có những giải pháp “thấu tình đạt lý”, nhiều trường trong quá trình chuyển đổi đã mâu thuẫn đỉnh điểm buộc Bộ Giáo dục và Đào tạo phải vào cuộc để giải quyết Tính đến nay sau sau gần 7 năm thực hiện QĐ122 của Chính phủ kết quả đạt được khiêm tốn, chỉ một vài trường chuyển đổi thành công
Nhận xét Như vậy, sự hình thành và phát triển trường đại học cao đẳng
NCL Việt Nam là kết quả của công cuộc đổi mới giáo dục đại học XHHCN Việt Nam theo 4 tiền đề quan trọng
Một là, giáo dục đại học không chỉ đào tạo cho biên chế Nhà nước, kinh tế quốc doanh mà nay còn phải đào tạo cho tất cả các thành phần kinh tế khác, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của tất cả mọi người muốn
có học vấn đại học ở mức độ khác nhau
Hai là, giáo dục đại học không chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước,
mà nay huy động mọi nguồn lực xã hội như: học phí, hợp đồng đào tạo,của các
tổ chức kinh tế xã hội thông qua các hợp đồng nghiên cứu, triển khai với trường đại học; những dự án quốc gia, quốc tế, những sự hỗ trợ của các hội, các
cá nhân hảo tâm trao học bổng giúp đỡ sinh viên nghèo, giúp nhà trường…
Trang 35Ba là, giáo dục đại học không chỉ thực hiện kế hoạch Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng mà nay còn phải tự lực thăm dò trong xã hội, có tính dự báo để chủ động đáp ứng đào tạo ngoài kế hoạch nhà nước
Bốn là, ngày nay người tốt nghiệp đại học, ngoài một số bộ phận được Nhà Nước phân công công tác, còn phần lớn phải tự tìm việc làm, tự tạo công việc trong xã hội, trường đại học giúp họ đào tạo lại để họ có thêm năng lực
cơ động, thích ứng thị trường sức lao động [11, tr.4]
Từ quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước đã dược thể chế hóa về
đa dạng loại hình đào tạo, loại hình trường Hiến pháp, pháp luật và văn bản dưới luật là cơ sở để giáo dục đại học NCL hoạt động và phát triển; xuất hiện chủ sở hữu mới về dịch vụ giáo dục đại học là các tổ chức, cá nhân, các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội nghề nghiệp góp vốn thành lập trường NCL
Xét về vĩ mô, đại học NCL là quá trình đổi mới của giáo dục Việt Nam chuyển từ mô hình Nhà nước độc quyền sang mô hình đa dạng hóa loại hình
sở hữu thích hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.2 Thực trạng
* Các kiểu đầu tư và loại hình trường
Sau hơn 20 mươi năm ra đời và phát triển giáo dục đại học NCL đến tháng 10/2012 đã có 81 trường đại học cao đẳng với nhiều loại hình trường và kiểu cách đầu tư khác nhau (xem bảng 2.1)
Trang 36Bảng 2.1: Loại hình trường và các kiểu của đầu tư góp vốn ban đầu [17, tr.42]
TT Loại hình
trường
Chủ sở hữu vốn đầu tư
Kiểu cách góp vốn đầu tư ban đầu
hoạt động đại học tư thục số 14/2005/TTg, sau đó được
Điều 4 các hình thưc NCL Nghi định 73/1999/NĐ_ CP ngày 19/8/1999 về khuyến khích xã hội hóa …
Trang 37Vì chưa có quy định cụ thể do vậy hiện nay tồn tại 4 mô hình góp vốn ban đầu
Thứ nhất, Trường huy động các cổ đông góp vốn ban đầu theo 2
hình thức:
- Cổ đông chịu rủi ro: cổ đông đóng tiền và không được rút tiền ra khi tham gia góp vốn vào trường Với cổ đông này thường được hưởng lãi cao và hằng năm được tính giá trị tăng thêm khi giá trị tài sản có định tăng lên (mô hình đại học Lương Thế Vinh áp dụng)
- Cổ đông không chịu rủi ro: Trường huy động vốn vay dài hạn, (lãi thấp), cổ đông có thể rút cả vốn lẫn lãi nếu cần (mô hình được áp dụng tại trường đại học Phương Đông)
Thứ hai, Trường huy động cổ đông góp vốn ban đầu theo 2 hình thức:
cổ đông sáng lập góp vốn và cổ đông sở hữu
- Cổ đông sáng lập góp vốn cũng là dạng cổ đông chịu rủi ro (như trường đại học Phương Đông)
- Cổ đông sở hữu: loại cổ đông này góp vốn vào trường và được quyền chuyển bán cổ phần cho HĐQT, các cổ đông khác và người ngoài(phải được
sự nhất trí của HĐQT - mô hình trường Bà Rịa - Vũng Tàu)
Ba là, cá nhân tự bỏ tiền thành lập trường do vậy họ được hưởng những
thành quả đạt được và chịu rủi ro vốn đã đầu tư (mô hình trường đại học Hồng Bàng)
Bốn là, mô hình góp vốn không hưởng lãi: cổ đông không được rút
vốn, hằng năm được tính giá trị tăng thiêm khi giá trị tài sản cố định tăng lên Thu nhập của cán bộ công nhân viên nhà trường quá cao Đây là trường đưa
ra mục tiêu nhà trường hoạt động phi lợi nhuận (Đại học Thăng Long) [17]
* Về loại hình trường
- Loại hình trường Đại học Tư thục
Các trường đại học tư thục ra đời theo Quy chế 14/2005/TTg, ban hành ngày 17/1/2005 của Chính phủ, sau đó thay thế bằng Quy chế 61/2009/TTg, ban hành ngày 17/1/2005 của Chính phủ
Trang 38Trường đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo bằng kinh phí ngoài ngân sách Nhà nước, hoạt động theo Quy chế và điều lệ trường đại học, các quy định của pháp luật [17]
Thời gian qua các trường đại học tư thục phát triển nhanh số lượng, một số thành lập mới, một số chuyển từ trường bán công sang tư thục, và chuyển từ mô hình dân lập sang tư thục (tính đến tháng 10/2012 có 81 trường trong đó đại hoc là 41) Tuy nhiên Quy chế 61/2009/QĐ-TTg [7] chỉ đạo định hướng các trường vận hành theo mô hình doanh nghiệp, chủ sở hữu là những nhà đầu tư góp vốn, điều này đang gặp phải nhiều ý kiến trái chiều từ đội ngũ các nhà giáo, nhà khoa học
Nhận định: Một số đại biểu cho rằng Quy chế 61/2009 của Chính phủ
đang dần loại họ khỏi bộ máy vận hành của nhà trường tư thục Đây phải chăng là những quan niệm vẫn mang nặng tư duy của thời bao cấp, trong xu thế hòa nhập kinh tế tri thức thì những quan điểm như vậy không phù hợp
Qua khảo sát các trường NCL tác giả nhận thấy khi trường chuyển đổi sang mô hình tư thục những vị trí chủ chốt như chủ tịch HĐQT, hiệu trưởng nhà trường đại đa số bị thay thế vì họ không đáp ứng các yêu cầu cần và đủ của các trường trong giai đoạn mới, như tiêu chí về vốn, về độ tuổi theo quy định Ở nhiệm kỳ đầu thành lập trường đây là những thành phần đương nhiên trong HĐQT, Giám hiệu nhà trường, đại diện cho tổ chức đứng tên xin thành lập trường, cấp ủy Đảng, cán bộ giảng viên nhà trường, họ không phải góp vốn (nhiều người đủ khả năng tài chính nhưng vẫn không góp, vì chính họ sợ rằng góp vốn vào trường gặp rủi ro cao) Với đặc thù là trường NCL nhà trường hoạt động bằng nguồn vốn góp tự có, là thành viên HĐQT đại diện chủ sở hữu nhà trường nhưng pháp luật không yêu cầu họ phải góp vốn, chính yếu tố này đã đi ngược với quy vận động của trường, là một phần nguyên nhân cho bất ổn sau này
Trang 39Trường vận hành theo mô hình doanh nghiệp, vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận, quan điểm trên đã được bàn luận rất nhiều qua các cuộc hội thảo do
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hiệp hội các trường đại học NCL tổ chức, truyền thông đã tốn nhiều giấy mực nhưng các ý kiến vẫn chưa thống nhất
Thực tế đang diễn ra có 2 loại hình trường đại học tư thục theo nhận định của Hiệp hội các trường NCL:
Trường phi lợi nhuận: là những trường không chia lợi nhuận nhiều hơn lãi xuất tiết kiệm cho cá nhân các nhà đầu tư, nhà sáng lập, mà phần thu tăng lên trong quá trình hoạt động được tiếp tục đầu tư để phát triển, hỗ trợ học tập của sinh viên
Trường lợi nhuận là những trường có hạch toán phần lợi nhuận để chia lời cho các nhà đầu tư, có trường chia lời nhiều theo lợi ích tối đa, có trường theo mức độ vừa phải, dành một phần đầu tư phát triển trường
Nhận định này chưa phản ánh đúng bản chất của vấn đề, chưa đánh giá
về thực trạng tình hình kinh tế xã hộ của Việt nam, mặt khác phản ánh không đúng với chính sách của Đảng về chủ trương khuyến khích nhà đầu tư trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay
Xét trên thực tế các nhà đầu của Viêt nam cho Giáo dục chưa phải là những nhà đầu tư có số tài sản thặng dư lớn (nếu đem so với các nhà đầu tư thế giới), về mục đích họ không phải những nhà từ thiện, do vậy đại học NCL hoạt động vì lợi nhuận là tất yếu, đúng với bản chất của nó Hiện tại các trường đều tuyên bố hoạt động là phi lợi nhuận, nhưng vẫn tìm mọi cách thu, chia lợi nhuận càng nhiều càng tốt, việc tuyên bố chỉ để trốn thuế doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác
Không thể máy móc lấy mô hình đại học NCL của các nước ngoài, đặc biệt là những nước tư bản để áp dụng vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Nếu tại Việt Nam đại học NCL hoạt động theo tiêu chí phi lợi nhuận thì sẽ không có nhà đầu tư tham gia, trường không tồn tại Vậy phướng án hoạt động có lợi nhuận là tất yếu, nhưng lợi nhuận sao cho phù hợp để nhà trường
Trang 40vẫn duy trì phát triển, mặt khác thu hút ngày một tăng nhà đầu tư không ngừng tham gia
- Loại hình trường đại học Dân lập
Các trường dân lập ra đời theo Quy chế tạm thời ngày 21/1/1994, hoạt động theo điều lệ trường đại học số 153/2003-TTG ngày 30/7/2003, sau đó theo Quy chế chính thức số 86/2000/TTg ngày 18/7/2000
Đặc điểm: Cần có một tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế đứng ra xin thành lập trường và đứng ra huy động các nhà giáo, nhà khoa học, nhà đầu tư cùng đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước Trường đại học dân lập là pháp nhân bình đẳng với các trường đại học công lập, quyền hạn của nhà trường được tự chủ về tổ chức bộ máy, chủ động về tài chính Tài sản của trường thuộc sở hữu tập thển những người góp vốn đầu tư, của giảng viên, cán bộ và nhân viên nhà trường
Nhận định: Có 19 trường đại học hoạt động theo mô hình dân lập
Ngày 29/5/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hàng Quyết định số 122/QĐ- TTg [5] chuyển đổi 19 trường sang hoạt động theo loại hình trường tư thục, thời hạn hoàn thành trước ngày 30/6/2007 Đến nay sau gần 6 năm thực hiện chỉ
có 3 trường chuyển đổi còn lại 16 trường không thành công Để hướng dẫn các trường thực hiện chuyển đổi Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì nhiều cuộc hội thảo với Hiệp hội và các trường đại học dân lập để tìm các tháo ngỡ Nguyên nhân chính vẫn không có cơ chế chính sách phù hợp để áp dụng Do những đặc thù riêng về tổ chức bộ máy, tổ chức quản trị trường dân lập còn nhiều bất cập không được pháp luật điều chỉnh, nên khi chuyển đổi loại hình mỗi đơn vị đều có khó khăn riêng, lớn nhất vẫn là giải quyết (Chia tài chính) tăng lên trong quá trình nhà trường hoạt động Thông tư 20/2010/TT-BGĐT
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 16/7 2010 để hướng dẫn chuyển đổi vẫn không đem lại kết quả [2] Hiện nhiều trường đã xảy ra những mâu thuẫn nội bộ nghiêm trọng, nhiều đơn thư đã gửi tới các cấp chủ quản đề nghị chỉ đạo tháo gỡ Theo đanh giá của các chuyên gia giáo dục và các trường dân lập thì mô hình này đang có rất nhiều “khuyết tật”, đặc biệt những bất cập về hành lang pháp lý trong đó với những sai lầm cốt lõi như: Quy định về chủ sở