Những thuật ngữ “tín dụng chứng từ” và “thư tín dụng dự phòng” dưới đây gọi chung là Tín dụng có nghĩa là bất cứ một một thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như thế nào, theo đó m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO XUÂN QUẢNG
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ :
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - NĂM 2007
Trang 2I.1.2 Khái niệm thư tín dụng
I.1.3 Vai trò của thư tín dụng
I.1.4 Bản chất pháp lý của thư tín dụng
I.2 Các loại thư tín dụng
I.3 Các nguyên tắc, đặc trưng của phương thức thanh toán bằng thư tín dụng I.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của phương thức thanh toán bằng thư tín dụng I.3.2 Các đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ
I.4 Các bên tham gia và quá trình thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng I.4.1 Các bên tham gia, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quá trình thanh
toán bằng thư tín dụng theo các quy định của UCP và các quy định có liên quan
II.4 Quan hệ giữa thư tín dụng và hợp đồng mua bán
II.5 Quan hệ giữa người mua (người yêu cầu mở thư tín dụng) và ngân hàng
phát hành
II.6 Quan hệ giữa ngân hàng phát hành, người thụ hưởng và ngân hàng trung
gian
I.4.2 Quy trình thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng
I.5 Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng trước yêu cầu của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế
I.5.2 Pháp luật về thanh toán bằng L/C – cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các
quan hệ thanh toán bằng L/C
I.5.2 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và những yêu cầu đặt ra
đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam
Chương II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIÊN NAY
II.1 Các quy định quốc tế điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng L/C
Trang 3II.1.1 Các UCP
II.1.2 eUCP và ISBP – các phụ bản của UCP
II.2 Các văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng L/C ở Việt Nam II.3 Các dạng tranh chấp phổ biến phát sinh từ hoạt động thanh toán bằng L/C
và giải quyết tranh chấp
II.3.1 Các tranh chấp liên quan đến chứng từ xuất trình
II.3.2 Tranh chấp phát sinh do cách hiểu không đúng về điều kiện phi chứng từ II.3.3 Các tranh chấp liên quan tới trách nhiệm của các bên tham gia vào phương
III.1 Cơ sở cho việc định hướng hoàn thiện pháp luật về thư tín dụng
III.2 Hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng
Trang 4MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài :
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra rất sôi động và mạnh mẽ, Đảng
và Nhà nước ta chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quan hệ giao lưu, buôn bán với các nước Tham gia sân chơi chung tức là chúng ta phải chấp nhận những quy tắc, luật lệ chung trong đó có các quy tắc trong thanh toán thương mại quốc tế bằng thư tín dụng (L/C)
Trên thực tế, thư tín dụng là một công cụ rất cổ điển trong thanh toán thương mại quốc tế, nhưng hiểu và vận dụng cho đúng và hiệu quả lại là một vấn
đề không hề đơn giản
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, chúng ta chịu ảnh hưởng và chủ yếu quan
hệ với Liên Xô và các nước trong khối Đông Âu Việc giao thương buôn bán cũng tương đối trầm lắng, chủ yếu dùng phương thức nhờ thu với đồng tiền thanh toán
là đồng Rúp Nhưng từ sau năm 1986, với chủ trương mới và đặc biệt sau những năm đầu thập kỷ 90 đầy biến động của thế kỷ trước, chúng ta đã có những thay đổi lớn về nhận thức và quan điểm quan hệ quốc tế, trong đó có thương mại quốc tế Người ta vẫn nói, toàn cầu hoá là một cuộc chơi mà ở đó phần thắng luôn thuộc về những người hiểu rõ luật chơi Vì vậy, nắm được luật chơi chung là yêu cầu rất bức thiết
Hiện nay, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, đã và đang tích cực tham gia, gia nhập những tổ chức thương mại lớn (một trong những thành quả lớn nhất và mới nhất là việc chúng ta vừa trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO trong năm 2006) Vì vậy, việc nắm rõ về phương thức thanh toán bằng thư tín dụng, đặc biệt trong thương mại quốc tế là rất cần thiết, tránh những thiệt hại, yếu thế không đáng có
Đã hơn 20 năm bước vào thời kỳ đổi mới, 15 năm bước vào kinh tế thị trường với rất nhiều cơ hội tham gia các quan hệ thương mại quốc tế nhưng thực thế các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của chúng ta vẫn chưa thực sự hiểu biết và vận dụng hiệu quả phương thức thanh toán bằng thư tín dụng – một trong những phương thức thanh toán quan trọng của thương mại quốc tế
Hiện nay, các quy định về thanh toán bằng L/C ở Việt Nam là rất thiếu và yếu, cần được nghiên cứu, phân tích để tìm nguyên nhân và các giải pháp hoàn thiện
Trang 5Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng, thực tế đã có một số bài báo, báo cáo khoa học và một số nghiên cứu, giáo trình, sách…như : Một số giáo trình của trường Đại học Ngoại thương Hà Nội1
, của các tác giả đã hoặc đang làm Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam 2
, ngoài ra còn một số bài báo, tài liệu của những người đang làm các công tác liên quan tại các Ngân hàng…Dù vậy, chưa có nhiều công trình
đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ và hoàn chỉnh cả về cơ sở lý luận và thực tiễn cho các quy định này
Với những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “ Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp cao học
II Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thanh toán bằng L/C, đồng thời xem xét đánh giá thực trạng các quy định hiện nay ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này, tôi mong muốn làm sáng tỏ cơ
sở lý luận, bản chất của các quy định về thanh toán bằng thư tín dụng, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định này
III Nhiệm vụ của Luận văn
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần có những nhiệm vụ cụ thể sau :
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thư tín dụng, vị trí
vai trò của nó trong hoạt động thanh toán của các doanh nghiệp (đặc biệt trong thanh toán quốc tế)
- Nghiên cứu bản chất của thư tín dụng, các bên tham gia và bản chất mối
quan hệ giữa các bên, các bộ phận cấu thành thư tín dụng
- Nghiên cứu thực trạng các quy định, các quy tắc đang được áp dụng
hiện nay ở Việt Nam điều chỉnh vấn đề thanh toán bằng thư tín dụng
Từ đó đề ra các phương hướng hoàn thiện các quy định này
Trang 6IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy
định hiện hành đang được sử dụng để điều chỉnh các phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là thư tín dụng Đồng thời cũng nghiên cứu giá trị thực tiễn của các quy định này
- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài chỉ đi vào nghiên cứu các khía cạnh pháp lý
của vấn đề mà không đi sâu vào khía cạnh kinh tế hay các khía cạnh có tính nghiệp vụ
V Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nay, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài
VI Đóng góp của việc nghiên cứu đề tài
- Làm sáng tỏ bản chất và quy trình thực hiện của thư tín dụng, giúp các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu rõ giá trị và quy trình thực hiện của thư tín dụng
- Nghiên cứu một cách tổng thể các quy định hiện được áp dụng về vấn
đề thư tín dụng, tìm ra những mặt được và mặt chưa được, những khía cạnh đã được quy định, những khía cạnh còn bỏ ngỏ hay còn yếu
- Đưa ra được những đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện những quy định về
thư tín dụng, giúp những nhà xuất khẩu thực sự có một công cụ thanh toán hiệu quả trong thương mại quốc tế
VII Bố cục của Luận văn :
Ngoài các phần Lời cam đoan, Lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 03 chương
Trang 7CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
I.1 Khái niệm về Thư tín dụng và thanh toán bằng thư tín dụng.
I.1.1 Nguồn gốc hình thành thư tín dụng
Trong giai đoạn đầu tiên hình thành lịch sử loài người, có một số mốc được coi là rất quan trọng Chẳng hạn, việc con người đứng thẳng lên đi bằng hai chân
là đánh dấu việc con người chuyển từ vượn sang người Khi con người bắt đầu biết sử dụng công cụ lao động là chính thức bước từ giai đoạn thụ động sử dụng các sản phẩm thiên nhiên mà đã chính thức khai thác thiên nhiên một cách chủ động Có lửa, con người bước từ ăn sống nuốt tươi sang giai đoạn ăn chín Và khi sản phẩm dư thừa, nhu cầu trao đổi xuất hiện, dẫn đến sự ra đời của thương mại
Có thể nói, việc xuất hiện hoạt động thương mại đánh dấu một bước phát triển lớn trong tiến trình lịch sử loài người
Thương mại quốc tế gần như là xuất hiện và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của “loài người” theo đúng nghĩa Và như là một quá trình tất yếu, trong sự phát triển của thương mại, con người dần dần đúc kết, xây dựng những quy tắc, tập quán, tục lệ để hoạt động này ngày càng hoàn thiện hơn, phục
vụ tốt hơn nhu cầu của loài người
Cùng với những thuận lợi có thể mang lại, các hoạt động thương mại quốc
tế cũng chứa đựng những rủi ro Khả năng xảy ra rủi ro là có với cả người mua và người bán, đặc biệt là trong những giai đoạn như vận chuyển, thanh toán Thư tín dụng ra đời chính từ nhu cầu hạn chế những rủi ro phát sinh trong thực tiễn Những rủi ro này thường xảy ra khi hai bên tham gia giao dịch ở cách xa nhau về mặt địa lý, thiếu thông tin về đối tác, và hàng hoá phải vận chuyển qua những phương tiện chuyên chở đường dài có nhiều rủi ro như tàu biển, máy bay hay tàu hoả Thực tế cho thấy, mặc dù đôi khi người bán không thể đánh giá hết khả năng thanh toán của người mua qua các thông tin mình có, hay người mua có thể phải thanh toán khi không có một đảm bảo nào với việc hàng được xuất đi, cũng như có phù hợp với yêu cầu không, họ vẫn có nhu cầu tham gia giao dịch Như vậy, không thể vì những rủi ro có thể xảy ra mà không tiến hành các hoạt động thương mại, vấn đề là phải nghĩ ra các công cụ, phương tiện, biện pháp để hạn chế nó
Mặt khác, một lý do dẫn đến sự ra đời của thư tín dụng là nhu cầu được thanh toán nhanh chóng của người bán Hầu hết các hoạt động thương mại quốc tế đều được thực hiện với những khoảng cách rất xa, chính điều này mang lại nhiều khó khăn cho vận chuyển và thanh toán Chẳng hạn, một tầu hàng từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ hay Braxin bằng đường biển có thể mất nhiều tháng và phải qua
Trang 8rất nhiều quốc gia, bến cảng Trong trường hợp này phương thức thanh toán cổ điển “giao hàng - trả tiền”: thường khiến cho cả người bán lẫn người mua không chủ động được về mặt vốn cũng như điều hành kinh doanh Để bán một tầu hàng,
có khi người bán phải chịu “đọng vốn” cả năm trời Ngay cả người mua cũng khó
mà chủ động kế hoạch kinh doanh
Thực tế đó phát sinh đòi hỏi phải có một phương thức thanh toán vừa đảm bảo cho người bán được nhanh chóng nhận tiền sau khi xuất hàng đi, đồng thời lại đảm bảo cho người mua nhận hàng đúng và đủ với yêu cầu Phương thức thanh toán đó phải giản tiện, linh hoạt và phải dựa trên những bằng chứng thuyết phục
về việc người bán đã thực hiện nghĩa vụ của mình Trong những tài liệu giao dịch,
có một loại tài liệu có thể chứng minh sự tồn tại của hàng hoá, xác nhận hiện trạng hàng hoá cũng như việc chuyển giao hàng hoá từ người bán sang người vận chuyển … trong mọi trường hợp đều cần phải có trong việc giao hàng, đó là chứng
từ Chứng từ dưới dạng một hay nhiều văn bản xác nhận việc chuyển giao hàng hoá, đóng một vai trò quan trọng làm đại diện thay thế cho hàng hoá trong quá trình thanh toán
Nhưng người bán và người mua không thể tự mình thực hiện mọi công việc liên quan Đến đây, xuất hiện nhu cầu của những người trung gian, đó là các ngân hàng Khi đó, dựa trên chứng từ, Ngân hàng của người mua sẽ tiến hành chi trả khi chứng từ thoả mãn những điều kiện và tiêu chuẩn đã được quy định Việc tiến hành thanh toán thông qua ngân hàng dựa trên chứng từ được xuất trình trở thành một giải pháp cho cả hai vấn đề nêu trên và là cơ sở hình thành hình thức thanh toán bằng thư tín dụng trong quan hệ thương mại quốc tế
I.1.2 Khái niệm thư tín dụng
Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng còn được gọi là phương thức tín dụng chứng từ Đây là một trong nhiều phương thức thanh toán không sử dụng tiền mặt trong thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế
Về bản chất, tín dụng chứng từ được thực hiện dựa trên sự can thiệp của ngân hàng vào một giao dịch thương mại theo yêu cầu của một bên tham gia giao dịch, cho phép thanh toán cho người bán trên cơ sở xuất trình chứng từ viết
Có nhiều cách để định nghĩa về thư tín dụng, nhưng định nghĩa được thừa nhận rộng rãi và được coi là chuẩn mực nằm tại Điều 2 của bộ Các quy tắc và thực
hành thống nhất tín dụng chứng từ, xuất bản phẩm số 500 (UCP 500) (vấn đề các
UCP sẽ được trình bày chi tiết tại chương II) Theo đó, UCP 500 đã đưa ra một
định nghĩa như sau:
Trang 9Những thuật ngữ “tín dụng chứng từ” và “thư tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi chung là Tín dụng) có nghĩa là bất cứ một một thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như thế nào, theo đó một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình:
- phải tiến hành việc trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của một người thứ ba
(Người thụ hưởng lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người thụ hưởng lợi ký phát,
hoặc
- phải uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán như thế hoặc
chấp nhận và trả tiền các hối phiếu như thế
hoặc
- uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu
khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng được thực hiện đúng”
Theo quy định tại Điều 16 của Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 03 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (“ quyết định 226” )thì :
“Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó, Ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) để :
- Trả tiền hoặc ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tíndụng; hoặc
- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho Ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng”
Như vậy, nếu theo quy định trên, về phạm vi, thư tín dụng được dùng để thanh toán giữa người mua và người bán cả trong quan hệ thương mại trong nước
và nước ngoài Tuy nhiên, trong thực tế ở Việt Nam, thư tín dụng chủ yếu được dùng trong các quan hệ thương mại quốc tế mà hầu như không bao giờ được sử dụng cho các quan hệ thương mại nội địa Điều này do nhiều nguyên nhân Có thể
là do trong các quan hệ thương mại nội địa, các thương nhân còn có rất nhiều công
cụ thanh toán khác hiệu quả Và điều quan trọng hơn có lẽ và do chưa có sự nhận thức về vai trò của thư tín dụng cũng như chưa có thói quen sử dụng nó cho thương mại trong nước
Trang 10Ngoài quy định nêu trên về thư tín dụng nói chung, vai trò của thư tín dụng trả chậm được đặc biệt quy định riêng tại Điều 1 Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định số 711/2001/QĐ – NHNN ngày 25/5/2001, theo đó:
“Thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm (sau đây gọi là “nghiệp vụ L/C trả chậm”) là một phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có kỳ hạn do ngân hàng thực hiện để phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp”
Có thể nói thư tín dụng là một vấn đề không mới Nó đã được thừa nhận và
sử dụng rộng rãi trên thế giới, đồng thời, những nguyên tắc, tập quán cũng như những vấn đề liên quan đã được tổng hợp, đúc kết thành những văn bản, tài liệu được thừa nhận rộng rãi
Ở Việt Nam, dù các quy định pháp luật chưa đầy đủ và hoàn chỉnh, nhưng thực tế các doanh nghiệp và đơn vị cơ quan Nhà nước ở Việt Nam trong quan hệ thương mại quốc tế từ trước đến nay vẫn thừa nhận thư tín dụng cũng như các vấn
đề liên quan dựa trên các thông lệ và tập quán quốc tế, cụ thể nhất là Các quy tắc
và thực hành thống nhất tín về dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế soạn thảo và ban hành
Quy chế Mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm ban hành kèm theo Quyết định số 711/2001/QĐ – NHNN ngày 25/5/2001, tại khoản 2 Điều 6 đã quy định rằng ngoài trách nhiệm phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, việc mở thư tín dụng trả chậm để nhập khẩu hàng hoá phải bảo đảm phù hợp với Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương mại Quốc tế (Theo phiên bản mà Ngân hàng lựa chọn để thực hiện)
Điều 19, Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán
qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cũng quy định : “ việc mở, phát
hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra chứng từ, thanh toán, quyền, nghĩa
vụ của các bên liên quan trong thanh toán thư tín dụng thực hiện theo các quy tắc chung về tín dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành, do các bên tham gia thanh toán thỏa thuận áp dụng và theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam”
Như vậy, bằng quy định này, Ngân hàng nhà nước đã thừa nhận một cách chính thức định nghĩa cũng như các vấn đề liên quan khác theo như tập quán thương mại quốc tế được thừa nhận rộng rãi (quy định trong các UCP)
Trang 11Do đó, từ những phân tích nêu trên, trong luận văn này, thuật ngữ “thư tín dụng” sẽ được hiểu đầy đủ và trọn vẹn theo định nghĩa về “thư tín dụng” được quy định trong các UCP do Phòng Thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo và ấn hành Các nội dung cơ bản 3
của một Thư tín dụng bao gồm :
- Tên ngân hàng thông báo (Advising Bank)
- Hình thức tín dụng chứng từ, tức L/C (form of documentary credit) (Ví dụ : không hủy ngang, chuyển nhượng, xác nhận…)
- Ngày phát hành (Date of issue) hay ngày mở (opening date)
- Ngày và nơi hết hiệu lực (Date and place of expiry)
- Người mở L/C (Applicant), tức người xuất khẩu
- Người thụ hưởng (Beneficiary), tức người xuất khẩu, người bán
- Số tiền L/C (L/C Amount): bằng số và chữ giống nhau, loại ngoại tệ được thanh toán tại (Available with) : - NH thông báo (Advising Bank) – Bất kỳ
NH nào (Any Bank), bằng một trong ba cách : (i) Chiết khấu (Negotiation); (ii) Chấp nhận hối phiếu (Acceptance); và (iii) Thanh toán (Payment)
- Giao hàng từng phần (Partial shipment) : được phép (allowed) hay không được phép (not allowed)
- Chuyển tải (Transhipment) : Được phép (allowed) hay không được phép (not allowed)
- Ngày gửi hàng chậm nhất (Latest date of shipment) hay ngày gửi hàng phải được thực hiện không trễ hơn…(shipment must effected not later than….)
- Mô tả hàng hóa (Description of goods) : các chứng từ cần xuất trình theo yêu cầu (Documents required);
- Thời hạn xuất trình chứng từ (Period of Presentation) hay việc xuất trình các chứng từ phải được thực hiện trong vòng… ngày sau khi vận đơn (presentation of documents should be made within….days after B/L date) Các nội dung nêu trên sẽ được làm rõ ở các phần sau của luận văn này
3
Các nội dung cơ bản sẽ được phân tích cụ thể hơn ở các phần sau
Trang 12I.1.3 Vai trò của thư tín dụng
Trong việc thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu, có nhiều phương thức tồn tại, đó là :
- Phương thức ghi sổ (Open account)
- Phương thức chuyển ngân (Remittance); hoặc bằng điện TT (Telegraphic Transfer)
- Phương thức nhờ thu ngân chứng từ (Doccumentary collection : Encaisement documentaire) gồm : phương thức “chứng từ đổi thanh toán” D/P (Documents against payment); phương thức “ chứng từ đổi chấp nhận” D/A (Documents against acceptance)
- Phương thức “ Trả tiền mặt đổi chứng từ” CAD (cash against documents)
- Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng
Trong đó, phương thức thanh toán bằng tín dụng thư là phương thức ít rủi
ro nhất và cũng hay được sử dụng nhất do các ưu thế của nó so với các phương
thức khác (sẽ được phân tích nhiều hơn ở các phần sau)
Như đã phân tích trong phần nguồn gốc và định nghĩa, trước hết, thư tín
dụng có vai trò là phương tiện thanh toán Nó tạo điều kiện cho việc thanh toán
giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu được thực hiện nhanh chóng qua đó thúc đẩy
sự luân chuyển của đồng vốn cũng như thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế
Việc thanh toán được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (thanh toán ngay, chấp nhận và thanh toán hối phiếu, chiết khấu hối phiếu …) Quyết định 226 quy định thư tín dụng là một thể lệ thanh toán qua ngân hàng bên cạnh các thể lệ thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi - chuyển tiền, uỷ nhiệm thu, ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán …
Thư tín dụng còn có vai trò bảo đảm Đối với nhà xuất khẩu, bảo đảm này
xuất phát từ cam kết của ngân hàng Tuy nhiên, khác với bảo lãnh, những bảo đảm này là song phương Dù cho cơ chế này phát sinh để bảo vệ quyền lợi của người bán, thì người mua vẫn được đảm bảo rằng việc thanh toán chỉ xảy ra khi có sự xuất trình các chứng từ phù hợp với yêu cầu của người mua và của ngân hàng khi ngân hàng kiểm tra theo trách nhiệm của mình Nghĩa là, thư tín dụng không đơn
Trang 13thuần bảo đảm quyền lợi cho người bán hoặc người mua, mà quan trọng hơn, nó bảo đảm cho hoạt động thương mại diễn ra bình thường và an toàn
Cũng phải nói rõ, phương thức thanh toán bằng L/C không những chỉ có thể
áp dụng đối với hoạt động thanh toán quốc tế trong xuất nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài mà còn có thể áp dụng ngay trong quá trình thanh toán của hoạt động thương mại trong một quốc gia Tuy nhiên, do trong hoạt động buôn bán trong một quốc gia, có nhiều phương thức khác có thể sử dụng hiệu quả hơn cho nên người
ta không hay dùng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng Vì vậy, trong luận văn này, khi đề cập đến phương thức thanh toán bằng L/C, mặc nhiên sẽ được hiểu
là một phương thức dùng trong thanh toán quốc tế và mọi trình bày trong luận văn cũng sẽ chỉ theo hướng này
I.1.4 Bản chất pháp lý của Thư tín dụng
Cốt lõi của cơ chế thanh toán bằng Thư tín dụng là quyền được bảo đảm
thanh toán của người thụ hưởng tương ứng với cam kết thanh toán mang tính chắc
chắn, trực tiếp và độc lập của ngân hàng
Tính chất chắc chắn thể hiện ở chỗ ngân hàng phải thanh toán, chấp nhận
hoặc chiết khấu hối phiếu theo đúng thời hạn quy định phù hợp với các điều khoản của Thư tín dụng (UCP 500, Điều 9a) Ngân hàng chỉ có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu mở thư tín dụng sửa đổi hoặc huỷ bỏ cam kết của mình trong trường hợp có ý chí chấp thuận của tất cả các bên, bao gồm cả người thụ hưởng và ngân hàng xác nhận
Tính chất trực tiếp thể hiện ở chỗ cam cam kết của ngân hàng là trực tiếp
đối với người thụ hưởng Người thụ hưởng có quyền xuất trình chứng từ hợp lệ để ngân hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho mình
Tính chất độc lập là tính chất quan trọng nhất của tín dụng chứng từ, thể
hiện ở nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành, và trong nhiều trường hợp của cả ngân hàng xác nhận Cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng là độc lập với quan hệ giữa ngân hàng và người yêu cầu mở thư tín dụng Việc người yêu cầu mở thư tín dụng chết, phá sản không cho phép ngân hàng được giải phóng khỏi nghĩa vụ thanh toán Mặt khác, ngân hàng cũng không thể viện dẫn việc người yêu cầu mở thư tín dụng không có những biện pháp bảo đảm để từ chối thanh toán Tại Pháp, Toà Phá án đã phán quyết rằng ngân hàng thậm chí vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán dù các quy định về hối đoái không cho phép ngân hàng thực hiện việc chi trả
Cam kết của ngân hàng cũng độc lập với quan hệ giữa người mua - người yêu cầu mở thư tín dụng và người bán – người thụ hưởng (UCP, Điều 3a) Ngân
Trang 14hàng không thể viện dẫn bất cứ một ngoại lệ nào liên quan đến việc không thực hiện Hợp đồng mua bán nhằm không thực hiện Thư tín dụng Người yêu cầu mở thư tín dụng không thể yêu cầu ngân hàng từ chối thanh toán với lý do không thực
hiện Hợp đồng mua bán Điều 3a UCP 500 quy định rằng “sự cam kết của một
ngân hàng để trả tiền, chấp nhận và trả tiền các hối phiếu hoặc chiết khấu và/hoặc thực hiện bất cứ một nghĩa vụ nào khác của mình quy định trọng Tín dụng không bị ràng buộc bởi các khiếu nại hoặc sự bảo vệ nào của người xin mở Tín dụng phát sinh từ quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng lợi”
Vấn đề bản chất của Thư tín dụng đã được xem xét nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhưng đều không đạt được câu trả lời đầy đủ toàn diện Nếu giả định bản chất của Thư tín dụng là quan hệ bảo lãnh, chúng ta sẽ bị mắc tại tính chất nghĩa
vụ phụ của bảo lãnh Nghĩa vụ bảo lãnh chỉ được thực hiện khi nghĩa vụ chính không được thực hiện, nghĩa là thực hiện có điều kiện, phụ thuộc và việc thực hiện nghĩa vụ trực tiếp theo Hợp đồng mua bán giữa các bên của người được bảo lãnh Trong khi đó, cam kết của ngân hàng trong cơ chế thư tín dụng là cam kết thanh toán độc lập, vô điều kiện đối với người được thụ hưởng khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hợp lệ với yêu cầu của Thư tín dụng,
Giả định Thư tín dụng là một cơ chế uỷ quyền không hoàn toàn đã từng được các nhà nghiên cứu đánh giá cao vì nó cho phép giải thích tính độc lập giữa hai mối quan hệ: giữa ngân hàng (người được uỷ quyền) và người thụ hưởng, và giữa người yêu cầu mở thư tín dụng (người uỷ quyền) và ngân hàng (người được
uỷ quyền) Tuy nhiên đến nay giả định này đã không còn phù hợp vì UCP 500 đã cho phép ngân hàng thực hiện Thư tín dụng vì quyền lợi của chính mình
Nhìn chung, thư tín dụng dựa trên các quan hệ phát sinh giữa ít nhất ba chủ thể (hoặc có thể nhiều hơn) gồm người yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng và người thụ hưởng
Phân loại căn cứ theo hiệu lực cam kết của ngân hàng, ta có:
Trang 15- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C) là loại Thư tín dụng
sau khi đã được mở Ngân hàng phát hành không có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, ngoại trừ trường hợp được tất cả các bên
liên quan chấp thuận
UCP 500 đã quy định rõ “Một tín dụng không ghi rõ thuộc loại nào, thì tín
dụng đó được coi là không thể huỷ ngang” Một dạng cụ thể của Thư tín dụng
không thể huỷ ngang chính là Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận Đây
là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng đó.Loại thư tín dụng này bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho bên bán.Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là một sự cam kết như vậy sẽ phải được thanh toán bằng tiền hoa hồng cho ngân hàng xác nhận (thường thì chi phí hoa hồng này rất cao) Trên thực tế, nhu cầu xác nhận thư tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng
Một dạng phổ biến của Thư tín dụng không thể huỷ ngang là Thư tín dụng
không thể huỷ ngang, miễn truy đòi.(Irrevocable without recourse L/C) Đây là
loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở thư tín dụng không có quyền đòi lại tiền trong bất kỳ trường hợp nào Khi dùng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi lên hối phiếu câu
“miễn truy đòi người ký phát (without recourse to drawers) và trong thư tín dụng
cũng phải ghi như vậy
Nói chung, Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại được áp dụng phổ biến nhất trong thương mại quốc tế ngày nay.Theo quy định trong bản “ quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” được phòng thương mại quốc tế (ICC)
sửa đổi năm 1993, ấn phẩm số 500 (gọi tắt là UCP 500) thì : nếu không có ghi chú
gì đặc biệt khác thì loại thư tín dụng sẽ được hiểu là thư tín dụng không thể huỷ ngang
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C):
Điều 6 UCP 500 quy định về Thư tín dụng có thể hủy ngang hoặc không thể hủy ngang Đồng thời Điều 8 UCP 500 quy định :
A Thư tín dụng hủy ngang có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ bởi ngân hàng
phát hành vào bất kỳ lúc nào mà không cần thông báo trước cho Người hưởng
B Tuy nhiên ngân hàng phát hành phải
i hoàn trả cho ngân hàng mà tại đó Thư tín dụng hủy ngang có giá trị
theo phương thức trả tiền ngay, chấp nhận hoặc chiết khấu – đối với bất
kỳ viêc trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu nào mà ngân hàng đó đã
Trang 16thực hiện – trước khi họ nhận được thông báo sửa đổi hoặc hủy bỏ, đối với các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Thư tín dụng
ii Hoàn trả cho ngân hàng khác mà tại đó Thư tín dụng hủy ngang có giá
trị theo phương thức trả tiền sau, nếu ngân hàng đó, trước khi nhận được thông báo sửa đổi hoặc hủy bỏ, đã nhận được các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Thư tín dụng.”
Như vậy, theo Điều 8 UCP 500, Thư tín dụng huỷ ngang có thể được ngân hàng phát hành tự mình hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu mở Thư tín dụng sửa đổi hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần phải thông báo trước cho người thụ hưởng Trong trường hợp này địa vị của người thụ hưởng rất bấp bênh và có nhiều rủi ro Tuy nhiên để hạn chế rủi ro, người bán có thể thoả thuận với người mua về những điều kiện sửa đổi và/hoặc huỷ bỏ Thư tín dụng trong Hợp đồng mua bán Trên thực tế, loại Thư tín dụng này hầu như không tồn tại vì nó chứa đựng
quá nhiều rủi ro
Phân loại căn cứ theo thời hạn thực hiện, ta có:
- Thư tín dụng thanh toán ngay: Thư tín dụng trường hợp đơn giản nhất là thanh toán ngay Việc thanh toán cho người thụ hưởng được ngân hàng thực hiện ngay trên cơ sở chứng từ được xuất trình và đã được kiểm tra
- Thư tín dụng thanh toán có thời hạn: Đối với Thư tín dụng loại này, ngân hàng thanh toán cho người thụ hưởng khi hết một thời hạn nhất định, thường là sau ngày vận chuyển Cụ thể hơn, việc thanh toán chỉ xảy ra sau khi người yêu cầu
mở thư tín dụng nhận hàng hoá Vì vậy, trên thực tế có những trường hợp người yêu cầu mở thư tín dụng từ chối thanh toán vì hàng hoá được giao không phù hợp với hợp đồng mua bán
Phân loại căn cứ theo cách thức thực hiện đặc biệt, ta có:
- Thư tín dụng có thể chuyển nhượng (Transferable Document Credit): là loại thư tín dụng có thể được chuyển từ người thụ hưởng ban đầu sang một hay nhiều người khác (người thụ hưởng thứ hai) trong thời gian hiệu lực của thư tín dụng Loại Thư tín dụng này chỉ được chuyển nhượng một lần (cho một hay nhiều người khác) nghĩa là người thụ hưởng thứ hai không được quyền chuyển nhượng tiếp Khi người mua cho phép mở thư tín dụng có thể chuyển nhượng là họ đã đồng ý cho người bán chỉ định người khác làm thay việc giao hàng và xuất trình chứng từ Việc chuyển nhượng chứng từ không có nghĩa là chuyển nhượng hợp đồng mua bán, người thụ hưởng ban đầu vẫn chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của mình đối với người mua theo quy định của hợp đồng
Trang 17- Thư tín dụng không thể chuyển nhượng: trong trường hợp Thư tín dụng không nêu rõ là “có thể chuyển nhượng được” (transferable) thì Thư tín dụng luôn được coi là không thể chuyển nhượng (Điều 48g UCP 500) Tính chất không được chuyển nhượng của thư tín dụng đương nhiên không ảnh hưởng đến quyền của người thụ hưởng được chuyển nhượng mọi khoản tiền mà mình nhận được hay có thể nhận được theo thư tín dụng (Điều 49 UCP 500)
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại thư tín dụng không thể tất toán ngay sau khi thực hiện xong hoặc đến hết thời hạn hiệu lực sẽ tự động có giá trị hiệu lực như cũ, và cứ như vậy tuần hoàn đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi ngày hết hạn cuối cùng và ghi số lần tuần hoàn, giá trị tối thiểu của mỗi lần đó Thư tín dụng tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp khi hai bên có cung cấp hàng với số lượng lớn thường xuyên, giao nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn Loại thư tín dụng này có tính ưu đãi đối với người mua vì nó giúp cho quá trình sử dụng vốn của họ có hiệu quả, đơn giản thủ tục mở thư tín dụng
Có ba cách tuần hoàn: tuần hoàn tự động, tuần hoàn bán tự động và tuần hoàn hạn chế (i) Tuần hoàn tự động : tức là nó tự động có giá trị như cũ, không cần có sự thông báo của Ngân hàng phát hành L/C cho người hưởng lợi; (ii)Tuần hoàn hạn chế : tức là chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/C thông báo cho người hưởng lợi thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực (iii)Tuần hoàn bán tự động : tức
là sau khi L/C trước sự dụng xong, nếu sau một vài ngày mà Ngân hàng phát hành L/C không có ý kiến gì về L/C kế tiếp thì nó lại tự động có giá trị như cũ
Khi tiến hành sửa L/C tuần hoàn, cần phải tuyên bố rõ ràng nội dung sửa có giá trị tuần hoàn hay không hay chỉ có giá trị cho một lần sửa.Thư tín dụng tuần hoàn thường được dùng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, khối lượng lớn và trong thời hạn dài và hàng hóa phải đồng nhất về chủng loại, phẩm chất, cách đóng gói bao bì
- Thư tín dụng thanh toán dần: là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang trong đó ngân hàng phát hành thư tín dụng hay ngân hàng xác nhận thư tín dụng cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán dần toàn bộ số tiền của thư tín dụng trong những thời hạn quy định rõ trong thư tín dụng Loại thư tín dụng này thường
sử dụng hối phiếu có kỳ hạn, mỗi lần thanh toán ghi số tiền thanh toán lên mặt sau của hối phiếu, áp dụng với những hợp đồng có giá trị lớn, giao nhiều lần, người mua không có khả năng thanh toán một lần toàn bộ
Đây là loại thư tín dụng thích ứng với các hợp đồng giao hàng nhiều lần
- Thư tín dụng giáp lưng: là loại thư tín dụng mà bên bán căn cứ vào thư tín dụng do người mua mở cho mình, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng khác
Trang 18cho người khác hưởng.Trong phương thức mua bán trung gian, chuyển khẩu, loại thư tín dụng này thường được áp dụng nhiều
Về cơ bản, L/C gốc và L/C giáp lưng có nhiều điểm giống nhau, tuy nhiên,
có những điểm sau cần phân biệt :
+ Hai L/C gốc và L/C giáp lưng là hoàn toàn độc lập với nhau
+ Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc
+ Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này
do người trung gian hưởng dùng để chi trả phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ
+ Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc
- Thư tín dụng đối ứng (reciprocal L/C) : Là loại thư tín dụng chỉ có giá trị hiệu lực khi thư tín dụng của bên đối tác được mở ra Trong hai thư tín dụng này
sẽ có một thư tín dụng mở trước, nó thường được ghi như sau : “ Tín dụng này chỉ
có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một thư tín dụng đối ứng cho người mở thư tín dụng này ” Đồng thời, bên mở thư tín dụng đối ứng sẽ ghi : “ Tín dụng này đối ứng với thư tín dụng số mở ngày tại ngân hàng ” và thông báo kịp thời cho bên đối tác biết
Thư tín dụng đối ứng thường dùng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng (barter), ngoài ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công xuất khẩu Tuy nhiên, việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp
- Thư tín dụng với Điều khoản Đỏ
Từ “Red Clause” ngày nay được dùng bởi nhiều thuật ngữ khác nhau : “ Advance Clause” (Điều khoản ứng trước) hoặc “Special Clause” (Điều khoản đặc biệt) hay Anticipatory L/C… Theo đó, Người mở Thư tín dụng cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi Thư tín dụng được mở Hai bên đối tác phải có quan
hệ song phương truyền thống và uy tín Phía nhập khẩu phải là công ty lớn và đủ vốn, phía xuất khẩu có nguồn hàng hóa sản xuất nhưng thiếu vốn
Gọi là L/C Điều khoản đỏ vì trước kia trong nội dung của L/C có một điều khoản ứng trước tiền in bằng mực đỏ Ngày nay, người ta thay điều khoản in bằng mực đỏ bằng dòng chữ in nghiêng và đậm Tuy nhiên, tên gọi cũ thì vẫn còn tồn tại
Trang 19Với “ Điều khoản đỏ”, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định (30 hoặc 50%) của giá trị Thư tín dụng khi nhận được các chứng từ, thông thường là : (i) Hối phiếu của số tiền ứng trước; (ii) Hóa đơn; và (iii) cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng
Rất nhiều trường hợp, Người mở chỉ ứng trước tiền hàng cho Người hưởng dưới sự bảo lãnh của ngân hàng Người hưởng (Advance Guarantee) Như vậy, Người hưởng sẽ thương lượng với ngân hàng mình để phát hành bảo lãnh trước khi nhận được tiền theo Điều khoản Đỏ
Một số người ngộ nhận rằng, với Thư tín dụng có Điều khoản Đỏ, Người hưởng sẽ được ngân hàng thông báo cấp tín dụng ngay sau khi nhận được Thư tín dụng Điều cần hiểu là tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của người mở, nghĩa là Thư tín dụngơng mại, mà không phải khoản tín dụng của ngân hàng thông báo hay ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báo chỉ thực hiện các thủ tục theo điều khoản của Thư tín dụng mà không cam kết hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó Việc ứng tiền được ngân hàng phát hành ủy quyền cho ngân hàng thông báo thực hiện Sau đó (hoặc trước đó), ngân hàng phát hành sẽ (hoặc đã) trích tài khoản của người mở chuyển (hoặc hoàn trả) cho ngân hàng thông báo
I.3 Các nguyên tắc, đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ
I.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của phương thức tín dụng chứng từ
Trong phương thức tín dụng chứng từ có hai nguyên tắc cơ bản là nguyên
tắc “độc lập của thư tín dụng” (Independence of the Credit) và nguyên tắc “tuân
thủ chặt chẽ của chứng từ” (Strict compliance of documents)
- Nguyên tắc độc lập của thư tín dụng : Thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu dể thanh toán tiền hàng cho số hàng người xuất khẩu đã giao cho người nhập khẩu theo hợp đồng thương mại đã ký kết Nhưng khi ra đời, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp động thương mại hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ
sở cho thư tín dụng, thậm chí ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó
Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người thụ hưởng không phụ thuộc vào việc người hưởng lợi có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với người nhập khẩu theo đúng hợp đồng mua bán hay không Thay vào đó, nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với thư tín dụng của người xuất khẩu Ngân hàng mở thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thư tín dụng với lý do người xuất khẩu đã giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tương tự Các tranh chấp giữa người xuất khẩu và người
Trang 20nhập khẩu phát sinh từ hợp đồng mua bán cơ sở sẽ phải được giải quyết một cách độc lập với giao dịch thư tín dụng Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người này xuất trình được các chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C
Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề này có thể được nhìn nhận linh hoạt hơn Thư tín dụng suy cho cùng chỉ là một khâu quan trọng cuối cùng trong hàng loạt giao dịch của hai phía trong buôn bán quốc tế Logic của mối quan hệ nhân quả biện chứng là : hợp đồng/thỏa thuận dược ký kết mới có Thư tín dụng, ngược lại, Thư tín dụng được phát hành nhằm thực hiện hợp đồng thương mại Nói cách khác, Thư tín dụng vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của các giao dịch thương mại Đối với người mua và người bán, Thư tín dụng phải là những giao dịch liên quan chặt chẽ với các giao dịch của hợp đồng thương mại, mặc dù trong quan hệ với ngân hàng họ phải thừa nhận hai giao dịch là tách biệt Do vậy, tính độc lập cảu Thư tín dụng, xét về tổng thể, cũng mang tính tương đối
- Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ : Khi kiểm tra các chứng từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của thư tín dụng Có quan điểm cho rằng, ngân hàng không nên quá chặt chẽ khi có sự khác biệt thông thường, không nghiêm trọng và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa là phải tìm ra
sự khác biệt do in ấn, do kỹ thuật trong tạo lập chứng từ Tuy nhiên, cách
an toàn nhất cho các ngân hàng vẫn là tiến hành tuyệt đối nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ Bất kỳ sự đi chệch khỏi nguyên tắc này, cho dù
là được phép đi nữa, đều có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng và có thể dẫn đến các vụ kiện tốn nhiều thời gian và tiền bạc
I.3.2 Các đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ
a) Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến hai quan
hệ hợp đồng độc lập
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập là quan hệ hợp đồng giữa người mở thư tín dụng (người nhập khẩu) với ngân hàng phát hành và quan hệ hợp đồng giữa người nhập khẩu với người xuất khẩu
Thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng (người nhập khẩu) và ngân hàng phát hành là một hợp đồng Người nhập khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng, trả một khoản phí mở thư tín dụng và ký quỹ một khoản tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng Trong đơn xin mở thư tín dụng phải ghi rõ nội dung cụ thể về hàng hóa, điều kiện xuất trình chứng từ Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người nhập khẩu xuất trình Nếu chứng từ hoàn toàn phù
Trang 21hợp với nội dung, điều kiện của thư tín dụng thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng
Bản thân thư tín dụng là một cam kết trả tiền có điều kiện của ngân hàng phát hành đối với người hưởng lợi nếu người này thực hiện đúng những quy định
đề ra trong thư tín dụng Người xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từ phù hợp với yêu cầu cầu của thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn quy định Sau khi kiểm tra, nếu thấy chứng từ hoàn toàn phù hợp với các quy định của L/C, ngân hàng phải thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu
b) Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa
Các chứng từ xuất trình là căn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi thư tín dụng, đồng thời, cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng Nếu người xuất khẩu trình được các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các quy định của Thư tín dụng thì sẽ được ngân hàng trả tiền Ngân hàng không chịu trách nhiệm về các vấn đề khác liên quan đến hàng hóa mà bất cứ chứng từ nào đại diện Như vậy trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng
từ có tầm quan trọng to lớn, nó là minh chứng cho giá trị hàng hóa mà người bán
đã giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng chấp nhận hay từ chối thanh toán cho người xuất khẩu
Các đặc trưng trên đã đem lại cho phương thức tín dụng chứng từ những ưu điểm riêng biệt mà các phương thức thanh toán khác không thể nào có được và cũng là lý do để giải thích tại sao trong thanh toán quốc tế hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ vẫn được các doanh nghiệp lựa chọn và chiếm tỷ lệ cao trong các phương thức thanh toán
c) Phương thức tín dụng chứng từ bảo đảm một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động thương mại
Trong quan hệ mua bán, người mua luôn muốn nhận được hàng hóa rồi mới trả tiền, còn người bán lại muốn giao hàng xong là được thanh toán ngay Trong ngoại thương, việc giải quyết mối quan hệ này gặp nhiều khó khăn hơn so với mua bán nội địa do khoảng cách về không gian giữa người mua và người bán
Để giải quyết vướng mắc nói trên, người bán và người mua buộc phải chọn một phương thức thanh toán nào đó sao cho có thể đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên Chứng từ trong phương thức thanh toán bằng L/C chính là bằng chứng có thể tin cậy nhất : khi người bán lập được bộ chứng từ xem như đã hoàn thành nghĩa vụ
Trang 22giao hàng, còn người mua nhận được chứng từ có thể yên tâm là hàng hóa đã được giao Đồng thời các ngân hàng với khả năng tài chính dồi dào, uy tín cao được yêu cầu tham dự với tư cách bên thứ ba trung gian cho cả bên mua và bên bán cam kết
sẽ trả tiền khi người bán xuất trình chứng từ phù hợp với các quy định mà hai bên mua bán đã thỏa thuận và ghi trong L/C Với việc sử dụng chứng từ làm căn cứ trả tiền và theo yêu cầu của người mua, ngân hàng là người cam kết trả tiền cho người bán, phương thức này đảm bảo một cách hợp lý quyền lợi chính đáng của cả hai bên Đồng thời, đó cũng là lý do làm cho phương thức thanh toán này được sử dụng với phạm vi rộng, nó giúp cho các doanh nghiệp bất kỳ ở nước nào, dù chưa hiểu biết nhiều về nhau nhưng vẫn có thể tham gia giao dịch, trao đổi mua bán hàng hóa
Ở đây nói rằng phương thức này bảo đảm một cách “tương đối” quyền lợi của người mua và người bán vì phương thức này sẽ chỉ thực sự phát huy hiệu quả
khi hai bên tiến hành các giao dịch một cách trung thực và thiện chí (Về vấn đề
này sẽ được đề cập nhiều hơn ở chương II)
I.4 Các bên tham gia và quy trình thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng
I.4.1 Các bên tham gia, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quá trình thanh toán bằng thư tín dụng
Tham gia vào phương thức thanh toán thanh toán tín dụng chứng từ, có các chủ thể chủ yếu sau đây :
- Người yêu cầu mở thư tín dụng (applicant) : là người nhập khẩu, người mua;
- Người hưởng lợi (beneficiary) : là người xuất khẩu, người bán hay người được hưởng lợi chỉ định;
- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank) : là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu;
- Ngân hàng thông báo (Advising Bank) : là ngân hàng ở nước ngoài hưởng lợi;
- Ngoài ra, còn có thể có ngân hàng xác nhận và ngân hàng trả tiền
Ta sẽ xem xét kỹ hơn về các chủ thể tham gia :
- Đầu tiên là người nhập khẩu, người mua :
Trang 23Là một bên,chính xác là bên mua, bên nhập khẩu trong hợp đồng thương mại là cơ sở của Thư tín dụng
Nếu hợp đồng thương mại đòi hỏi áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thì việc mở thư tín dụng của người mua là điều kiện tiên quyết để người bán thực hiện hợp đồng
Muốn mở Thư tín dụng, người bán phải làm đơn (thường theo mẫu của ngân hàng), gửi tới ngân hàng phục vụ mình
Phải trả một khoản phí thủ tục (theo tỷ lệ phụ thuộc số tiền và thời hạn của thư tín dụng)
Người mua có quyền đề nghị ngân hàng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ thư tín dụng (đương nhiên phải theo đúng những quy định)
Người mua cũng có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho ngân hàng, nếu xét thấy (vẻ bề ngoài) bộ chứng từ không phù hợp với những điều kiện mà họ đã nêu ra trong thư tín dụng
Khi tham gia vào quá trình thanh toán bằng L/C người mua, người nhập khẩu sẽ phải chịu một số tác động sau :
(i) Trong hoạt động tín dụng chứng từ, các bên liên quan (người
mua, ngân hàng phát hành, ngân hàng giao dịch và người bán) giao dịch với nhau chỉ bằng các chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa (in documents not in goods), nghĩa là ngân hàng mở chỉ phải trả tiền khi bộ chứng từ hàng hóa phù hợp với L/C, không cần biết tình trạng hàng hóa cụ thể
(ii) Theo bản chất, L/C là một nghiệp vụ độc lập, tách biệt với
hợp đồng thương mại, mặc dù khi mở L/C, người nhập khẩu phải căn cứ vào hợp đồng và các ngân hàng không liên quan hoặc không bị ràng buộc vào các hợp đồng đó Ngân hàng chỉ quan tâm đến việc ngân hàng được phép thanh toán tiền đối với các chứng từ được lập phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C
(iii) Nếu người mua khám phá hàng cung cấp không hoàn toàn
đúng với hợp đồng mua bán; hai bên mua bán sẽ giải quyết trực tiếp, ngân hàng không biết đến Hơn nữa, người mua chịu trách nhiệm đối với ngân hàng mở L/C về mọi thanh toán tiền
Trang 24hàng, bao gồm cả tiền hoa hồng và phí ngân hàng phát sinh từ L/C
(iv) Các ngân hàng không chịu ràng buộc hoặc không chịu trách
nhiệm đối với các chứng từ ngụy tạo hoặc giả mạo (false documents) và không chịu trách nhiệm đối với bất cứ sự chậm trễ hay mất mát trong việc chuyển gửi bất cứ thông điệp, thư
từ hay chứng từ
(v) Vì người mua chịu rủi ro và chi phí trong việc cung cấp tín
dụng để hoàn thành hợp đồng bán hàng, người mua phải hiểu
rõ tình hình tài chính và sự trung thực của người bán trước khi
ký hợp đồng hoặc mở L/C Bảng báo cáo về tình hình tài chính của khách hàng ở nước ngoài, thường có thể nhận được thông báo qua các ngân hàng và đại lý ở nước ngoài
- Người xuất khẩu, người bán :
Là một bên bên, chính xác là người bán, người xuất khẩu trong hợp đồng thương mại là cơ sở của Thư tín dụng
Khi nhận được thư tín dụng do ngân hàng thông báo chuyển đến phải tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng xem có phù hợp nội dung của hợp đồng thương mại không Nếu phát hiện những nội dung không phù hợp, không rõ ràng và bất lợi cho mình có quyền yêu cầu người mua đề nghị ngân hàng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
Người bán chỉ chuyển giao hàng hoá cho người mua sau khi đã có được thư tín dụng đáp ứng yêu cầu Sau khi giao hàng, bên bán khẩn trương lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của Thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của nó
Người bán chỉ thanh toán tiền nếu ngân hàng kiểm tra thấy bộ chứng từ phù hợp về hình thức với các điều kiện của thư tín dụng
Đối với người nhập khẩu, khi tham gia quá trình thanh toán bằng L/C, họ sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn sau :
(i) Thuận lợi :
+ Nếu là L/C không hủy ngang (Irrevocable L/C), ngân hàng cam kết với người xuất khẩu là thanh toán tiền đổi lấy chứng từ và hối phiếu do người xuất khẩu được lập phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C
Trang 25+ Một khi L/C không hủy ngang đã được mở, người xuất khẩu sẽ không thể sửa đổi hay hủy bỏ nếu không có sự đồng ý của người bán
+ Người mua không thể từ chối thanh toán tiền với bất cứ lý do nào, nếu người bán xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C
+ Người bán có thể dùng L/C như một phương thức tài trợ cho xuất khẩu (finance for export) vì người bán sẽ nhận được tiền thanh toán có thể trước khi hàng hóa tới cảng đến của người mua
Kiểm tra bộ chứng từ thanh toán của người bán gửi đến xem có phù hợp với những quy định trong L/C không Nếu phù hợp thì trả tiền cho người bán, nếu không, có quyền từ chối việc thanh toán
Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra “bề ngoài” của các chứng từ chứ không chịu trách nhiệm kiểm tra tính xác thực pháp lý của chứng từ.Mọi sự tranh chấp của chứng từ sẽ do hai bên mua – bán tự giải quyết
Với ngân hàng mở L/C, một loại rủi ro cần tránh đó là rủi ro liên quan đến việc xử lý hàng hóa khi nhà nhập khẩu bỏ cuộc Nhà nhập khẩu xin mở Thư tín dụng, nhưng khi ngân hàng mở L/C thanh toán cho nhà xuất khẩu và lấy bộ chứng
Trang 26từ gửi hàng; nhà nhập khẩu bỏ cuộc, không lấy bộ chứng từ để lãnh hàng và tất nhiên sẽ không trả tiền ngân hàng Ngân hàng buộc phải bán lại hàng và có khả năng bị lỗ vì : (i) Ngân hàng không phải là nhà kinh doanh hàng nhập khẩu: (ii) Hàng nhập khẩu có khi phải chế biến mới bán được; (iii) Nếu là thực phẩm, ngân hàng còn bị lỗ nhiều hơn, vì loại hàng này dễ bị mất giá trên thị trường
Ngân hàng được miễn trách nhiệm trong trường hợp rơi vào các rủi ro bất khả kháng như : chiến tranh, đình công, nổi loạn, động đất, lụt lội
- Ngân hàng thông báo :
Khi nhận được thông báo về L/C đã mở và bản gốc của L/C đó thì chuyển ngay cho bên bán
Khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của bên bán gửi đến, phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó đến ngân hàng mở L/C
Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh do sự chậm trễ hoặc mất mát chứng từ trên đường vận chuyển đi đến ngân hàng mở L/C (chỉ cần chứng minh rằng mình đã chuyển nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó qua bưu điện)
- Ngân hàng trả tiền :
Có thể là ngân hàng mở L/C hoặc một ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C ủy nhiệm Nếu địa điểm trả tiền được quy định tại nước người bán thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng thông báo
Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người bán chuyển đến
- Ngân hàng xác nhận :
Thường là một ngân hàng có uy tín trong lĩnh vực tài chính tiền tệ quốc tế Chịu trách nhiệm thanh toán L/C cho người thụ hưởng.Ngân hàng này được hưởng phí xác nhận khá cao và nó thường yêu cầu ngân hàng mở L/C phải đặt tiền ký quỹ có khi tới 100% trị giá của L/C
Với ngân hàng xác nhận, cũng có những rủi ro cần tránh Nếu ngân hàng đại diện đã xác nhận (confirmed) tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C, sẽ
có trách nhiệm thanh toán cho nhà xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào : như ngân hàng mở L/C phá sản chẳng hạn Vì vậy, ngân hàng xác nhận thường cân nhắc kỹ lưỡng, cẩn thận tình trạng tài chính, uy tín của ngân hàng mở trước khi xác nhận tín dụng hoặc buộc họ ký quỹ 100% số tiền (L/C amount) chẳng hạn
Trang 27I.4.2 Quy trình thực hiện thanh toán bằng Thư tín dụng :
Sơ đồ cơ bản của phương thức thanh toán bằng thư tín dụng như sau :
(1) Người nhập khẩu, căn cứ vào hợp đồng thương mại, làm đơn xin mở Thư
tín dụng (Letter of Credit - LC) cho người xuất khẩu hưởng tại ngân hàng
phục vụ mình
(2) Căn cứ vào nội dung đơn xin mở Thư tín dụng, nếu đáp ứng yêu cầu, ngân
hàng mở sẽ lập Thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở
nước người xuất khẩu, thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển bản chính
của Thư tín dụng cho người xuất khẩu
(3) Khi nhận được thông báo về việc mở thư tín dụng, ngân hàng thông báo sẽ
thông báo và chuyển ngay thư tín dụng cho người xuất khẩu
(4) Người xuất khẩu, nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì giao
hàng; nếu không thì đề nghị ngân hàng mở sửa đổi, bổ sung thư tín dụng
cho phù hợp với nội dung hợp đồng rồi giao hàng
Ngân hàng thông báo
Ngân hàng phát hành L/C
Trang 28(5) Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu lấy bộ chứng từ thanh toán theo quy định của thư tín dụng qua ngân hàng thông báo, xuất trình cho ngân hàng mở để yêu cầu được thanh toán tiền
(6) Ngân hàng mở kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với quy định trong thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng
từ hàng hoá cho người nhập khẩu
(8) Người nhập khẩu kiểm tra toàn bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu thầy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền
Tuy nhiên, ngoài sơ đồ cơ bản nêu trên với các loại L/C khác nhau 4
lại có tồn tại những quy trình mà không phải giữa các quy trình này không có sự khác biệt do sự đặc thù của từng loại L/C Thực ra, dù có những đặc trưng riêng nhất định nhưng tất cả các quy trình này nói chung đều dựa trên cơ sở quy trình cơ bản
ở trên
Dưới đây, ta sẽ xem xét một số quy trình tương đối điển hình (chưa phải là toàn bộ các quy trình có thể có), đó là Quy trình thư tín dụng giáp lưng (Back – to – back L/C), quy trình thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C và quy trình thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C)…
Công ty P (Nhà cung cấp/nhà sản xuất)
Trang 29Bank I (NH thông báo)
Công ty C
(Người mua
cuối)
Công ty M (người trung gian – Người thụ hưởng 1)
Công ty P (Nhà cung cấp/nhà sản xuất – người thụ hưởng 2)
Bank A (Ngân
hàng phát hành)
Bank C (NH xác nhận, NH phát hành)
Bank I (NH thông báo)
Nhà XK nước
ngoài
(Cá basa)
Trang 30ứng trước
I.5 Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng trước yêu cầu của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
I.5.1 Pháp luật về thanh toán bằng L/C – cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ thanh toán bằng L/C
Như đã phân tích ở trên, phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng là một trong những phương thức rất hiệu quả trong hoạt động thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Để điều chỉnh tốt vấn đề này, để tạo ra hành lang pháp lý hoạt động cho các đối tượng liên quan, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Nhìn vào lịch sử, từ thời xưa, dù có những lúc thăng lúc trầm, lúc mang tên này lúc mang tên khác, địa giới hành chính cũng có những xáo trộn qua từng giai đoạn, nhưng chúng ta luôn là một nước nông nghiệp Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi nhìn vào vị trí địa lý cũng như những đặc điểm tự nhiên, xã hội của Việt Nam
Là một nước nông nghiệp nên sự phát triển về thương mại của Việt Nam là rất hạn chế Dù có lúc chúng ta đã có những thương cảng sầm uất nhất nhì khu vực với những mối quan hệ giao thương với nhiều nền kinh tế lớn lúc bấy giờ, nhưng
có thể nói, chưa bao giờ chúng ta có một nền thương mại phát triển Điều này dẫn đến một thiệt thòi là chúng ta không có dịp tiếp cận những thói quen, với những tập quán thương mại quốc tế trên thế giới
Cũng do đặc điểm của nền văn minh lúa nước, chúng ta cũng không có một
hệ thống pháp luật phát triển Có người ví von Việt Nam trong thời kỳ bị đô hộ cũng như thời kỳ phong kiến là một ngôi làng lớn được tập hợp từ những ngôi làng nhỏ Trong những ngôi làng đó, người ta ít cần luật thành văn mà chủ yếu điều chỉnh các quan hệ bằng những thói quen, tập quán sinh hoạt Văn bản có giá trị cao và gần gũi nhất với người dân chính là các hương ước Mỗi làng đều có một hương ước Đó chính là tập hợp những quy ước, những thỏa thuận của dân làng
mà mọi người đều phải tuân thủ
Sau này, các triều đình phong kiến của Việt Nam cũng có ý thức xây dựng các văn bản pháp luật nhưng thành tựu cũng không nhiều Các văn bản này còn khá đơn sơ và chủ yếu là các văn bản về hình sự với nội dung quan trọng nhất là
Bank A (Ngân
hàng phát hành)
Bank C (NH thông báo và xác nhận)
Kho hàng
Trang 31tội và hình phạt Hai bộ luật đáng chú ý nhất trong thời phong kiến ở Việt Nam chính là Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long Các lĩnh vực khác như dân sự, kinh tế không được chú trọng xây dựng văn bản
Đến thời Pháp thuộc, ở Việt Nam cũng nhen nhóm hình thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Điều này là hoàn toàn dễ hiểu Thời gian đó, Pháp là một trong những quốc gia phát triển mạnh đồng thời đây cũng là quốc gia có truyền thống về xây dựng văn bản pháp luật với nhiều thành tựu đáng kể Ngoài ra, người Pháp muốn dùng hệ thống pháp luật để bình ổn, để dễ bề cai trị Bởi vậy, dù
hệ thống pháp luật lúc đó vẫn nặng về hình sự nhưng đã có xuất hiện nhiều văn bản, quy định trong các lĩnh vực khác, như dân sự , kinh tế, thương mại, ngân hàng…
Sau năm 1945, khi nước nhà đã giành được độc lập, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật bởi nhận thức rõ tầm quan trọng của hệ thống pháp luật đến sự tồn tại và phát triển của một quốc gia Hệ thống pháp luật chính là xương sống, là điểm tựa cho sự vận hành của bất kỳ một nước nào Đến giai đoạn này, chúng ta đã cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực trong đó có cả kinh tế, tài chính, ngân hàng, thương mại…Tuy nhiên, do lúc đó chúng ta chưa có nhu cầu nhiều về việc giao thương buôn bán cũng như chưa đó đủ trình độ về ngân hàng và thương mại, nên phương thức thanh toán bằng thư tín dụng vẫn chưa được biết tới và được sử dụng
Như chúng ta đã biết, các văn bản pháp luật điều chỉnh về những mối quan
hệ xã hội nào đó sẽ ra đời khi các điều kiện kinh tế xã hội chín muồi, khi nhu cầu điều chỉnh các mối quan hệ đó trở nên cấp bách và thiết thực
Sau này, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế “non trẻ”, với sự xuất hiện của các ngân hàng cũng như nhu cầu giao thương buôn bán trong và ngoài nước, chúng ta mới dần dần có những văn bản điều chỉnh về quan hệ thanh toán
bằng thư tín dụng (Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống văn bản này
sẽ được trình bày kỹ hơn tại phần II.2)
Đến cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ 20, chúng ta bắt đầu
có những văn bản đầu tiên Nhưng do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, suốt một thời gian dài, chúng ta cũng không có nhu cầu sử dụng phương thức thanh toán này, cho nên kéo theo là cũng chẳng có nhiều những văn bản điều chỉnh nó, nếu không muốn nói là hầu như không có
Phải cho đến giữa những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của kinh tế nước nhà và những nhu cầu giao lưu kinh tế với các nước khác, dần dần chúng ta mới có nhiều hơn những văn bản điều chỉnh về lĩnh vực này
Trang 32Như vậy có thể nói, trong bất kỳ một quốc gia nào, các quy phạm pháp luật
sẽ là cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Các quy phạm pháp luật này ra đời do yêu cầu của xã hội trong việc điều chỉnh các mối quan hệ đó, hướng đến việc phát triển xã hội
Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng cũng vậy Nó chính là cơ sở pháp
lý cho việc điều chỉnh các quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng Nó ra đời khi nhu cầu của xã hội trong việc điều chỉnh mối quan hệ này đã trở nên chín muồi và mục đích của nó là tạo ra một hành lang pháp lý cho mối quan hệ này tồn tại và phát triển
I.5.2 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế hiểu một cách đơn giản nhất là quá trình Việt Nam
“tìm tiếng nói chung”, làm bạn với các nước trên thế giới để cùng phát triển, hoà nhập cùng sân chơi với các nước trong khu vực và trên thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội, vừa có thách thức Thách thức là sức ép trực tiếp, còn cơ hội tự nó không chuyển thành lực lượng vật chất trên thị trường mà phải thông qua hoạt đông của chủ thể Cơ hội và thách thức cũng luôn vận động, biến đổi Tận dụng được cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át, triệt tiêu cơ hội
Đại hội IX của Đảng đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản chất của toàn cầu hóa và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham gia quá trình
này : “ Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm
hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế”5
Như vậy, bằng quan điểm này, Đảng ta đã chỉ rõ rằng, “toàn cầu hóa” là xu thế khách quan Tức là sẽ không thể đi ngược lại mà chúng ta phải tìm những con đường phù hợp, những cách thức phù hơp để hòa cùng quá trình đó
Trước đó, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xác định xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới hướng mạnh về xuất khẩu
5 Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 157.
Trang 33Vấn đề đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như pháp luật liên quan đến kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng… xuất phát từ chính yêu cầu phục vụ công tác đổi mới đồng bộ và toàn diện các lĩnh vực của đời sống
xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khởi xướng và phát động từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) Pháp luật điều chỉnh các quan hệ thanh toán bằng L/C cũng nằm trong dòng chảy chung đó
Trong thời kỳ từ 1975 đến 1986, đất nước chuyển sang hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, do cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài, đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống, trong đó có hoạt động của các ngân hàng cũng như các hoạt động xuất nhập khẩu Vì thế, tuy đã có một
số chuyển biến nhưng công tác xây dựng pháp luật vẫn chưa được chú trọng đúng mức
Kể từ năm 1986, khi Đảng đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì công tác xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng pháp luật liên quan đến hoạt động thanh toán bằng Thư tín dụng nói riêng đã có những chuyển biến Kể từ đó, tầm quan trọng, yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật đã được thể hiện một cách có hệ thống trong các Văn kiện Đại hội Đảng
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII xác định : “ Cơ chế vận hành nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”.6
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới đã khẳng định một số nhận thức về cơ chế quản lý mới, đồng thời nhấn
mạnh, phải tiếp tục “ hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế…hình thành khuôn
khổ pháp lý đồng bộ, cần thiết cho các hoạt động kinh tế”.7
Hơn lúc nào hết, chúng ta đã nhận ra vai trò quan trọng của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước và yêu cầu hoàn thiện nó để phục vụ quá trình này
Nhìn lại lịch sử phát triển của mình, thực chất nền kinh tế Việt Nam đã mở cửa giao thương, tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khá lâu Cách đây
Trang 34nhiều thế kỷ, những Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ…đã nhìn thấy tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế, giao lưu buôn bán với nước ngoài Tuy nhiên, chính sự hạn chế của thời đại cũng như hạn chế từ đặc điểm kinh tế xã hội của đất nước vào thời gian đó, nên những nhận thức về sự hội nhập còn khá non nớt và
mờ nhạt Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chỉ thực sự tác động sâu rộng đến nền kinh tế của đất nước kể từ sau khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới Chúng ta đã mạnh dạn tham gia vào quá trình hội nhập, đường hoàng đón những cái mới, những cái tiến bộ và loại bỏ những cái xấu, cái hạn chế Chúng ta không còn giống cha ông nhìn “những cái mới” với con mắt của kẻ sỹ phu nhìn thấy “đèn cầy treo ngược”.8
Hệ thống pháp luật, chính sách quản lý, đặc biệt là pháp luật về kinh tế - thương mại, tài chính – ngân hàng…còn thiếu nhiều, chưa đồng bộ, chưa đủ rõ ràng và thông thoáng để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh Nhiều biện pháp, chính sách tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước được quốc tế thừa nhận vẫn chưa được ban hành Trong khi đó chúng ta vẫn đang áp dụng nhiều biện pháp, chính sách không có trong thông lệ quốc tế hoặc không phù hợp với các nguyên tắc kinh tế quốc tế Điều này là do hạn chế của lịch sử và việc khắc phục không thể một sớm một chiều Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng, trong quá trình toàn cầu hóa, việc hiểu và vận dụng mềm mại các quy luật của nó sẽ chỉ đem lại lợi ích
mà thôi
Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, điều không tránh khỏi là sẽ phát sinh nhiều điểm xung đột giữa hệ thống luật hiện tại với hệ thống luật quốc tế mà chúng ta sẽ tham gia Dù không phải mọi quy định pháp luật quốc tế cũng là phù hợp và trong nhiều trường hợp chúng ta vẫn có quyền có những quy định nghiêng
về những lợi ích có tính đặc thù của xã hội và đất nước Nhưng phải nghiêm túc
mà nhìn nhận rằng, khi chúng ta gia nhập sân chơi chung, tức là mặc nhiên chúng
ta phải chấp nhận những luật chơi chung nếu không muốn mình trở nên lạc lõng Cho nên, về cơ bản, chúng ta phải có trách nhiệm làm cho hệ thống pháp luật của
chúng ta phù hợp một cách “tương đối” với các quy định pháp luật quốc tế đang
được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới Điều này đặt ra một trách nhiệm nặng nề với các cơ quan có trách nhiệm lập pháp và lập quy Việt Nam
Một ví dụ nhỏ là : Kết quả công tác rà soát, đối chiếu nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới cuối năm 2003 cho thấy, trong số 263 văn bản pháp luật được xem xét, có tới 52 văn bản pháp luật được kiến nghị sửa đổi và 42 văn bản quy phạm pháp luật được kiến nghị ban hành mới Điều này cho thấy rằng, Việt Nam sẽ còn rất nhiều việc phải
8
Ở đây muốn đề cập đến lời trình của Nguyễn Trường Tộ với vua nhà Nguyễn sau chuyến công du nước Pháp
Trang 35làm để hệ thống pháp luật của chúng ta (đặc biệt là hệ thống pháp luật liên quan tới kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng…) phù hợp một cách tương đối với pháp luật quốc tế
Ví dụ này một lần nữa gióng lên hồi chuông về chất lượng các văn bản pháp luật ở nước ta Lâu nay, chúng ta vẫn thừa nhận với nhau rằng hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta rối rắm và chồng chéo Có khi có rất nhiều văn bản nhưng lại không điều chỉnh hết các vấn đề Rồi thì khi làm văn bản, các cơ quan
có liên quan có xu hướng bảo vệ quyền lợi của mình chứ ít quan tâm đến lợi ích chung
Chính quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình toàn cầu hóa cho chúng
ta thêm một cơ hội rà soát lại các văn bản pháp luật của mình Bỏ bớt đi những cái thừa, bổ sung thêm những cái thiếu và nâng cao chất lượng những văn bản hiện có cũng như những văn bản sẽ ban hành
Người ta vẫn nói, khi chúng ta hội nhập tức là chúng ta phải chịu nhiều sức
ép từ quá trình hội nhập đó Nhưng nếu đặt câu hỏi, chúng ta phải chịu sức ép đó
là vì lý do gì? Xin thưa, đó là vì chính chúng ta Biết rằng hội nhập kinh tế quốc tế
là chịu nhiều sức ép, là phải vượt qua khó khăn nhưng hầu như ít có nước nào từ chối hoặc đứng ngoài quá trình hội nhập đó Mà ngược lại, lại cố gắng để tham gia quá trình hội nhập đó Vì sao vậy? Xin thưa đó là vì chính những lợi ích mà quá trình hội nhập đó mang lại Vì đó là cách để chúng ta thực sự trở thành một phần của nền kinh tế thế giới và hưởng những điều mà nó đem lại
Pháp luật suy cho cũng cũng là để phục vụ và bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của nhân dân Vì vậy, nếu thực tế đã chỉ ra quá trình hội nhập là tất yếu là cần thiết thì đương nhiên pháp luật cũng phải hoàn thiện mình để phục vụ quá trình này
Vậy quá trình hội nhập đặt ra những yêu cầu gì đối với quá trình xây dựng
và hoàn thiện ở pháp luật ở nước ta nói chung và pháp luật điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng?Xin thưa, nếu nói một cách ngắn gọn thì các yêu cầu đó là đủ và phù hợp!
Thế nào là đủ, đó là chúng ta phải có đủ các quy phạm pháp luật điều chỉnh đầy đủ các quan hệ xã hội xuất hiện và có nhu cầu được điều chỉnh Những quan hệ đó có thể là những quan hệ nội tại đang có hoặc những quan hệ xuất hiện
từ quá trình hội nhập (chẳng hạn sự phát triển của mạng Internet, của thương mại điện tử kéo theo nhu cầu phải có các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ này) Như vậy, chúng ta phải nắm bắt được sự xuất hiện và phát triển của các mối quan hệ trong xã hội Và khi mối quan hệ nào xuất hiện những yêu cầu bức bách
Trang 36phải có các quy phạm điều chỉnh, chúng ta phải lập tức ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội đó, lĩnh vực đó
Thế nào là phù hợp? Tức là các quy định pháp luật của ta phải phù hợp với thông lệ quốc tế Đa phần các thông lệ quốc tế là đã được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở các quốc gia khác, như vậy, tính hợp lý của nó chắc chắn rất cao Bởi vậy, khả năng phù hợp với chúng ta là không thấp Tất nhiên, phù hợp không có nghĩa là chúng ta phải hoàn toàn sao chép lại một cách máy móc các quy định pháp luật quốc tế Chúng ta phải có sự sửa đổi, chỉnh lý cho phù hợp hơn với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta Có vậy, hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm này mới cao hơn
Ở đây, có một vấn đề có tính thực tế, đó là sức ép về việc hoàn thiện văn bản pháp luật khi hội nhập kinh tế quốc tế là rất mạnh mẽ với hầu hết các quốc gia Vì vậy, đã có nhiều cách lựa chọn khác nhau, giải pháp khác nhau để xử lý vấn đề này Có quốc gia thì lựa chọn giải pháp cho ra đời ào ạt các văn bản bằng cách thuê các chuyên gia nước ngoài “sản xuất” văn bản sao cho đủ và kịp tiến trình Có quốc gia lại chọn giải pháp cho ra đời vội vã những văn bản mà tính khả thi thấp….Việt Nam không lựa chọn hành xử như vậy Chúng ta thừa nhận các yêu cầu và sức ép của quá trình hoàn thiện pháp luật khi hội nhập Chúng ta ý thức
rõ đó là việc phải làm nhưng cũng ý thức rõ là không phải làm bằng mọi cách và trả bằng mọi giá Chúng ta có cách lựa chọn riêng để phù hợp với tình hình kinh
tế, xã hội, trình độ lập pháp cũng như những điều kiện hiện có khác của mình
Từ hai yêu cầu đủ và phù hợp trên đặt ra cho chúng ta nhiều nhiệm vụ nặng
nề Trước tiên là phải rà soát và hệ thống lại hệ thống văn bản pháp luật Loại bỏ những văn bản thừa, mâu thuẫn Sau đó phải so sánh đối chiếu với các quy định pháp luật quốc tế và về cơ bản làm cho pháp luật nước ta phù hợp với chúng Tất nhiên, như đã nói ở trên, chúng ta sẽ bảo lưu, sẽ giữ lại những quy phạm phù hợp Các quy định pháp luật quốc tế muốn được thừa nhận ở Việt Nam thì phải phù hợp với những nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng Rất nhiều vấn đề trong số đó đặt ra từ những cam kết gia nhập WTO của Việt Nam cũng như những nghĩa vụ phải thực hiện khác khi trở thành thành viên của tổ chức này
Một ví dụ nhỏ chính là việc theo như cam kết, Việt Nam sẽ phải có một lộ trình để mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài vào hoạt động một cách bình đẳng
ở Việt Nam
Như vậy có nghĩa là những hạn chế đối với sự hiện diện hiện nay của các ngân hàng nước ngoài cũng như các điều kiện khó khăn để phát triển các chi
Trang 37nhánh của họ sẽ bị dỡ bỏ Và như vậy chúng ta hoàn toàn có thể hình dung thấy trước viễn cảnh sự tham gia mạnh mẽ của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam, một thị trường vốn được đánh giá cao về sự phát triển trong thời gian gần đây Sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài sẽ kéo theo sự xuất hiện của một loạt cách dịch vụ mới mẻ và chuyên nghiệp Điều này buộc các ngân hàng Việt Nam phải hoàn thiện mình, nâng cao số lượng cũng như chất lượng sản phẩm nếu không muốn thua ngay trên sân nhà của mình
Ngoài ra, theo quy định tại tiểu mục d mục B phần 7 của Biểu cam kết dịch
vụ khi gia nhập WTO của Việt Nam, thì các dịch vụ thanh thanh toán (trong đó có thanh toán quốc tế) của ngân hàng nằm trong phần mở cửa mà không có hạn chế hoặc giới hạn gì đặc biệt, nghĩa là sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài đến đâu (dù dưới hình thức nào) thì về cơ bản họ sẽ được triển khai các dịch này đến đấy Nghĩa là ngay từ lúc này, sức ép đối với việc hoàn thiện các sản phẩm liên quan đến thanh toán quốc tế của các ngân hàng đã là rất lớn
Để tạo ra một môi trường chuyên nghiệp và bình đẳng, pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này cũng phải có sự hoàn thiện để thực sự tạo ra một hành lang pháp lý đủ “rộng”, đáp ứng được yêu cầu sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng
đã, đang và sẽ xuất hiện, phát triển
Vấn đề nói ra thì đơn giản, nhưng thực hiện lại là một công việc hết sức nặng nề Trách nhiệm này đặt lên vai những cơ quan quản lý nhà nước, những người làm chính sách, những cơ quan làm công tác xây dựng pháp luật, những người làm công tác xây dựng pháp luật, các chuyên gia, học giả…
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƯ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY II.1 Các quy định quốc tế điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng L/C
II.1.1 Các UCP
Quyết định thành lập Phòng thương mại quốc tế (dưới đây viết tắt là ICC) được thông qua tại Hội nghị quốc tế về thương mại, họp tại thành phố Atlantic-city vào tháng l0/1919, với sự tham gia của đại diện giới thương mại và công nghiệp của 5 nước Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ và Ý Ngày 24/10/1919 ngày thông qua quyết định thành lập ICC được coi là ngày thành lập ICC Tháng 6/1920, tại Pa-ri
đă tiến hành họp Ðại hội sáng lập (Constituent Congress) ICC với sự tham gia của gần 500 đại diện của 5 nước nói trên Tại Ðại hội này, người ta đã thông qua Ðiều
lệ, thành lập các cơ quan chức năng và quyết định lấy Pa ri làm trụ sở chính của ICC
Trang 38Hiện nay đã có hơn 130 nước ở khắp các lục địa có đại diện ở ICC Số hội viên của ICC gồm trên 10.000 hãng công ty tư nhân có hoạt động gắn liền với việc kinh doanh quốc tế (Intemational business) và gần 5000 tổ chức kinh tế (các liên doanh công nghiệp, các phòng thương mại, các hiệp hội ngân hàng khác nhau …) liên kết, hợp hàng nghìn xí nghiệp kinh doanh tư nhân
Mục đích và nhiệm vụ chính thức của ICC, như điều lệ qui định là: thông qua việc tác động tới tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, công nghiệp, vận tải và tài chính) nhằm cải thiện các điều kiện quan
hệ kinh tế giữa các nước và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc tế, thiết lập các mối giao tiếp quốc tế và sự hiểu biết tương hỗ giữa các giới kinh tế và các tổ chức của chúng để trên cơ sở đó "gìn giữ hòa bình và củng cố các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc"
Với mục đích và nhiệm vụ này, cộng với số lượng hội viên khá đông đảo, ICC có nhiều hoạt động có tác động tích cực tới sự phát triển của kinh tế và thương mại thế giới Và một trong những hoạt động của họ là tập hợp và đưa ra các chuẩn mực về thanh toán bằng thư tín dụng trong các “Các quy tắc và thực hành thống nhất về thư tín dụng” và các phụ bản
HIện nay trên thế giới, các chế định pháp lý chủ yếu điều chỉnh về Thư tín dụng chủ yếu tập trung trong “Các quy tắc và thực hành thống nhất về thư tín dụng” (UCP – The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits) - là tập hợp các tập quán và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực tín dụng, được soạn thảo bởi các nhà thực hành (chủ yếu là các ngân hàng) dưới sự chủ trì của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) vào năm 1933 Theo ý kiến của các chuyên gia, UCP là bản quy tắc (thông lệ quốc tế) thành công nhất trong lĩnh vực thương mại UCP đã góp phần đơn giản hóa, hoà hợp các kỹ thuật và tập quán hoạt động ngân hàng ở các vùng khác nhau cũng như tạo ra chuẩn mực cho hoạt động thanh toán trong thương mại quốc tế
Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, Phòng Thương mại quốc tế ban hành các UCP nhằm “làm cho việc buôn bán giữa các công ty của các quốc gia khác nhau thuận tiện hơn”, dựa trên nguyên tắc của ICC là “kinh doanh tự điều chỉnh” Do đó, việc áp dụng các quy định của Các quy tắc và thực hành thống nhất thư tín dụng được quyết định bởi các bên trong giao dịch thương mại và ngân hàng Tuy nhiên trong một số trường hợp ngân hàng trung ương của một số nước
có thể can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp để các thư tín dụng phải bị điều chỉnh bởi các UCP
Trang 39Ngoài ra, cần lưu ý rằng dù cho UCP có thể đưa ra giải pháp cho phần lớn các khó khăn trong lĩnh vực Thư tín dụng, các bên vẫn phải quy định luật áp dụng đối với hợp đồng cơ sở Nếu không, luật quốc gia của ngân hàng phát hành thư tín dụng và của nơi thực hiện thanh toán thư tín dụng có khuynh hướng được áp dụng
UCP 500
Sau khi được sửa đổi nhiều lần vào các năm 1951, 1962, 1974 và 1983, bản
áp dụng từ 1/1/1994 - xuất bản của ICC số 500 – là kết quả của công việc biên soạn sửa đổi từ 1989 Hiện nay, UCP 500 là bản đang được sử dụng trên thế giới
và được đánh giá là mang nhiều ưu điểm như thích ứng tương đối tốt với những kỹ thuật mới, đặc biệt trong vận tải và truyền tin, thích ứng với tính xác thực của chứng từ cũng như với những thực tế mới phát sinh
Theo Điều 1 của UCP thì “ Các quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, bản sửa đổi năm 1993, Phòng Thương mại quốc tế, xuất bản số
500 sẽ áp dụng cho tất cả các tín dụng chứng từ (bao gồm cả Thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các điều khoản này có thể được áp dụng) khi mà các điều khoản này là các bộ phận cấu thành thư tín dụng Các điều khoản này ràng buộc tất cả các bên tham gia trừ phi có quy định khác rõ ràng trong thư tín dụng”
UCP 500 gồm 7 phần 49 điều và là kết quả của rất nhiều lần sửa đổi trước
đó UCP 500 được đánh giá là văn bản pháp lý rất có giá trị điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng
Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP 500 không được tự động
áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ mà mang tính chất tùy ý Các bên có quyền lựa chọn sử dụng hay không sử dụng UCP 500 để điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ Nhưng khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP 500 thì các điều khoản của UCP 500 sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các bên tham gia, trừ khi có sự thỏa thuận khác giữa hai bên, nhưng sự thỏa thuận đó phải được quy định rõ ràng trong L/C
sử dụng bản này Vì vậy, một điều rất quan trọng khi dẫn chiếu đến các UCP là
các ngân hàng và các bên phải chỉ rõ năm sửa đổi và số ấn phẩm Ví dụ : “ Thư tín
dụng này chịu sự điều chỉnh của Các quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín
Trang 40dụng chứng từ, bản sửa đổi năm 1993, ấn phẩm số 500 của Phòng Thương mại Quốc tế”
Vào tháng 05 năm 2003, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã ủy quyền cho
Ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng (ICC Commission on Banking Technique and Practice) bắt đầu nghiên cứu việc sửa đổi UCP 500 Cũng như những lần sửa đổi trước, mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được
sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm Hơn nữa, cũng cần thiết xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để có thể loại bỏ những yếu tố có thể gây hiểu nhầm về mặt diễn đạt
Khi bắt tay vào nghiên cứu, Ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ ngân hàng nhận thấy có rất nhiều chứng từ xuất trình theo thư tín dụng đã bị từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì có sai sót Điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán bằng thư tín dụng vì tất yếu dẫn đến việc gia tăng chi phí do phải xử lý những vấn đề phát sinh Điều đáng tiếc là nhiều khi lý do từ chối lại do những cách hiểu không rõ ràng hoặc không thống nhất về các thuật ngữ
ICC đã cho triệu tập một Ban soạn thảo gồm 09 thành viên để nghiên cứu
và sửa đổi UCP 500 Đồng thời, Ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và
vận tải đến từ 26 quốc gia trên thế giới Và từ 01/07/2007, UCP 600 (với 39 điều khoản) đã có hiệu lực
Tuy nhiên, do luận văn này được viết lúc UCP 600 mới có hiệu lực, vì vậy,
về cơ bản, tác giả sẽ vẫn sử dụng UCP 500 như là một trong những văn bản pháp
lý quốc tế cơ bản điều chỉnh vấn đề thanh toán bằng thư tín dụng trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, với những điều khoản, quy định quá bất cập, nếu cần, tác giả
sẽ có sự so sánh đối chiếu cụ thể với những quy định mới có hiệu lực của UCP
600
So với UCP 500, UCP 600 có một số thay đổi cơ bản như :
- Thứ nhất, về hình thức, UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so
với 49 điều khoản của UCP 500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong UCP 500 Chẳng hạn, điều 2 “ Định nghĩa” (Definitions) của UCP 600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như : Advising Bank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirmation Bank, Credit, Honour, Negotiation, Presentation…;
- Thứ hai, UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp
nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm