1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam

127 703 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đưa ra các số liệu minh họa cụ thể về tình trạng kê khai và nộp thuế của các Doanh nghiệp, từ đó đưa ra những nhận định đánh giá và tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thất thu thuế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ THÙY LINH

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HàN – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ THÙY LINH

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Hà nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài: 4

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu: 4

7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ 6

1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế 6

1.1.1 Khái niệm quản lý thuế 6

1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế 9

1.1.3 Yêu cầu của quản lý thuế 13

1.2 Những nội dung cơ bản của Pháp Luật quản lý thuế 18

1.2.1Nguyên tắc quản lý thuế 18

1.2.2 Tổ chức thu thuế 19

1.2.3 Biện pháp chống thất thu thuế 31

1.2.4 Bảo vệ quyền lợi của người nộp Thuế 35

1.3 Áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên tài nguyên đá 36

1.3.1 Sự cần thiết QLT đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá 36

1.3.2 Đặc điểm của QLT đối với hoạt động khai thác khai thác tài nguyên đá 38 _Toc357153352

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ

NAM 41

2.1 Khái quát về tình hình khai khai thác đá trên địa bàn Tỉnh Hà Nam 41

2.1.1 Một số nét về tỉnh Hà Nam và tình hình khai thác khoáng sản của Tỉnh 41

2.1.2 Hiện trạng phân bổ và khai thác đá tại địa bàn tỉnh Hà Nam 45

2.1.3 Sự cần thiết phải tiến hành thu thuế đối với các hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn Tỉnh Hà Nam 52

2.2 Tổ chức thu thuế tài nguyên đá theo quy định của Pháp Luật quản lý thuế tại Tỉnh Hà Nam 55

2.2.1 Mục đích đánh thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá 55

2.2.2 Tổ chức thu thuế tài nguyên đá 59

2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng Pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá tại Tỉnh Hà Nam 77

2.3.1 Những kết quả đạt được 77

2.3.2 Về hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 80

2.3.3 Về tình hình nộp thuế 81

2.4 Những vấn đề tồn tại khi áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với khai thác tài nguyên đá 84

2.5 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá89 2.5.1 Nguyên nhân từ những bất cập của hệ thống pháp luật 89

2.5.2 Nguyên nhân từ người nộp thuế 94

2.5.3 Nguyên nhân từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền 95

Trang 5

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ

NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 97

3.1 Quan điểm của Tỉnh Hà Nam về công tác quản lý thuế đối với khai thác tài nguyên đá 97

3.1.1 Quản lý thuế là nhiệm vụ chung của các cấp chính quyền địa phương và các cơ quan, sở, ban, ngành có liên quan 97

3.1.2 Đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể khai thác, sản xuất, chế biến tài nguyên đá 99

3.1.3 Phát triển nguồn thu bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức năng của từng sắc thuế và cả hệ thống thuế 101

3.2 Một số kiến nghị 102

3.2.1 Đối với các cơ quan Thuế 102

3.2.2 Xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước co thẩm quyền trong việc quản lý thu thuế đối với tài nguyên đá 108

3.2.3 Đối với các Doanh nghiệp khai thác tài nguyên đá 112

3.2.4 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế 113

3.2.5 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 115

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

"Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN", hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu ngân sách của nước ta Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước ta đã từng bước thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế, bộ máy ngành thuế cũng được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến các quận, huyện Công tác quản lý thuế theo đó cũng được đổi mới căn bản, từng bước hiện đại hóa và phát huy được vai trò tích cực đối với việc thực hiện các chính sách thuế

Trong quản lý thuế ở các lĩnh vực, hoạt động khai thác khoáng sản luôn

là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm, bởi với nền kinh tế như nước ta hiện nay, việc sử dụng tài nguyên khoáng sản để sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu đã đóng góp không nhỏ cho nguồn ngân sách nước nhà Tuy nhiên, hiện nay hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra ngày một nhiều và với tốc độ nhanh dẫn đến nguy cơ trữ lượng khoáng sản của nước ta ngày càng cạn kiệt, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng, tình trạng xuống cấp của các

hệ thống giao thông cũng bắt đầu diễn ra Để quản lý có hiệu quả việc khai thác khoáng sản cũng như bảo vệ môi trường, Nhà nước đã quy định các nghĩa vụ, trong đó có các nghĩa vụ về thuế, phí và lệ phí đồng thời đề ra các

cơ chế quản lý thu và nộp thuế đối với các chủ thể khai thác, sử dụng khoáng sản trên phạm vi cả nước

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, do những đặc thù về điều kiện vị trí địa lý nên nguồn tài nguyên khoáng sản không có sự phong phú Tuy nhiên, tỉnh Hà Nam đặc biệt chú trọng khai thác một loại tài nguyên có trữ lượng khá lớn phục vụ chủ yếu cho xây dựng và sản xuất xi măng - đó là tài nguyên đá Hàng năm, nguồn thu thuế từ khai thác đá chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Qua khảo sát, việc khai thác tài nguyên đá đều do các

Trang 7

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện Các doanh nghiệp tự kê khai và nộp các loại thuế theo quy định của Pháp luật, dưới sự kiểm tra, giám sát của các

cơ quan chuyên môn, trực tiếp là các cơ quan thuế Bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện quản lý thuế theo các lĩnh vực, hoạt động quản lý thuế cũng đã bộc lộ những bất cập về quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ, bố trí nguồn nhân lực, thêm vào đó, tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế vẫn còn diễn ra tại nhiều đơn vị trong tỉnh Trước những vấn đề đặt ra như trên, đòi hỏi phải có những nghiên cứu cơ bản từ lý luận đến thực tiễn để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện hệ thống thuế nói chung và hoạt động quản lý thuế nói riêng đối với hoạt động khai

thác đá tại địa bàn Tỉnh Hà Nam Do vậy, việc chọn đề tài: “Thực tiễn áp

dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam” có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực

tiễn, phần nào giải quyết những vấn đề nêu trên

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về thuế - công tác quản lý thu thuế Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau Có thể kể đến một số đề tài như:

- “Những vấn đề Lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hoàn thiện pháp

luật thuế ở Việt Nam” (Luận án tiến sĩ luật học của Trần Trung Nhân – Hà

Nội, năm 2006)

- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện pháp

luật thuế của Việt Nam trong tiến trình Hội nhập Kinh tế Quốc tế” (Đề tài

khoa học - Trường ĐH Luật Hà Nội (2007), Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Ánh Vân.)

Trang 8

- “Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

hiện nay- những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Luận án tiến sĩ của Vũ Văn

Cương- Trường Đại học luật Hà Nội, năm 2012)

- “Những định hướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta”

(Bài viết của TS Võ Đình Toàn – Tạp chí Luật học số 5, 1995);

Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu bàn về vấn đề quản lý thu thuế đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản, cụ thể là tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam Vì vậy, việc luận văn đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực trên là điều cần thiết, qua đó chỉ ra những hạn chế trong quản lý thu thuế khai thác tài nguyên đá, đề xuất những giải pháp quản lý thuế mang tính khả thi ở địa bàn tỉnh Hà Nam, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thống thuế tại địa phương

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Tìm hiểu thực trạng khai thác tài nguyên đá của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh

Trang 9

- Đưa ra các số liệu minh họa cụ thể về tình trạng kê khai và nộp thuế của các Doanh nghiệp, từ đó đưa ra những nhận định đánh giá và tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thất thu thuế

- Đề xuất các giải pháp để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước trên địa bàn Tỉnh và đưa các Doanh nghiệp khai thác đá hoạt động theo các quy định của pháp luật, tự giác thực hiện trách nhiệm của mình với cơ quan chức năng

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài:

- Hiện nay, đã có các công trình nghiên cứu về quản lý thuế, về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản…nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào về vấn đề kiểm soát hoạt động quản lý thuế trong quá trình khai thác tài nguyên đá tại Tỉnh Hà Nam Đề tài nghiên cứu mang tính cụ thể, thời sự

- Chuyên đề làm rõ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về mặt hành chính đối với các hoạt động khai thác tài nguyên đá mà cụ thể là hoạt động thu thuế, quản lý nguồn thu đối với hoạt động khai thác tài nguyên trên địa bàn tỉnh Hà Nam, nêu lên những thực trạng đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị có tính khả thi để nâng cao hiệu quả của hoạt động này

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Về phạm vi: Việc thực hiện các quy định luật của nhà nước trong lĩnh vực quản lý các hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam

- Về đối tượng: Các cơ quan chính quyền địa phương, các cơ quan quản

lý nhà nước chuyên ngành quản lý hoạt động khai thác tài nguyên đá và các tổ chức hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam

6 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 10

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích các số liệu, thống kê thông qua xử lý các nguồn tài liệu thu thập và khảo sát thực tế Các phương pháp này sẽ giúp cho việc giải quyết các yêu cầu đề tài một cách thuận lợi hơn

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu thành 03 chương

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN

LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN ĐÁ 1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế

1.1.1 Khái niệm quản lý thuế

QLT là lĩnh vực quản lý chuyên nghành, vì vậy, để tiếp cận khái niệm QLT, trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý Khái niệm quản lý xuất hiện

từ khi có hoạt động chung của con người Tuỳ theo yêu cầu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và những đối tượng bị quản lý ở chừng mực nhất định [19,tr.11]

Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”

Theo một cách hiểu khác, quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường [23, tr.6]

Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác:

“Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục

đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [13, tr.61]

Hoặc “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp

tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [22, tr.136]

Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều đưa đến một quan điểm thống nhất rằng, quản lý là hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã

Trang 12

định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát

và thúc đẩy những hoạt động của con người trong tổ chức đó

Quản lý thuế là một dạng quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắn liền với quyền lực Nhà nước Khái niệm QLT cũng đã là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã có nhiều cách tiếp cận.Mỗi quan niệm đều nhìn nhận QLT ở một góc độ, phạm vi khác nhau, với những mục đích và ý nghĩa thực tiễn khác nhau

Tổng cục Thuế Latvia cho rằng “QLT là một hệ thống những quá trình

có quan hệ ch t ch với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và

c ng bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao g m các hoạt động thu nhận h sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đ n đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế”

Theo Luật QLT Trung Quốc: “QLT là một chuỗi các hoạt động bảo

đảm mục tiêu thu NSNN bao g m: quản lý đăng ký thuế, quản lý sổ sách chứng từ, quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách nhiệm pháp luật về thuế” [18, tr.18]

Theo Giáo trình quản lý tài chính nhà nước của trường đại học Tài chính (2000) thì QLT được xem như là quản lý thu thuế bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Khái niệm QLT theo Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mới của Tổng cục Thuế được hiểu là “hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo cho người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp

thuế vào Ngân sách nhà nước theo quy định của Pháp luật”

Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới khía cạnh nào thì QLT cũng đều được xác định là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành được thực hiện bởi những chủ thể mang quyền lực nhất định, được nhà nước giao phó nhằm hướng tới mục đích

đã đặt ra trong quá trình quản lý hành chính và quản lý kinh tế của đất nước

Trang 13

Có thể tiếp cận khái niệm QLT dưới hai góc độ sau:

Theo nghĩa rộng : QLT là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá

trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế; thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế

Theo nghĩa hẹp : QLT là quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực thuế,

là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu - nộp thuế theo một trình tự nhất định, là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế, sự hỗ trợ của cơ quan thuế cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan

Luật QLT số 78/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 (sau đây viết tắt là luật QLT) tiếp cận vấn đ ề QLT theo nghĩa hẹp Luật không đưa ra khái niệm

cụ thể về QLT mà chỉ nêu ra các nội dung trong QLT tại Điều 3 của luật

Theo đó, nội dung quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế,

ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật QLT bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhà nước Đối tượng tác động của QLT bao gồm: người nộp thuế, cơ quan QLT và các cơ quan, tổ chức có liên quan Trong đó, mỗi đối tượng giữ một vai trò và vị trí khác nhau nhằm đảm bảo cho các luật thuế được thi hành nghiêm chỉnh và thuận lợi, cụ thể

Người nộp thuế (NNT) là đối tượng được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về chính sách thuế Các tổ chức có trách nhiệm nộp thuế thay người nộp thuế, tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN cũng được coi là người nộp thuế, chịu sự điều chỉnh của luật QLT và có các quyền

Trang 14

hạn, trách nhiệm như tổ chức, cá nhân nộp thuế Các chính sách thuế có được thực thi nhanh chóng hay không phụ thuộc vào ý thức tự giác và trung thực của NNT Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định mở tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ của mình một cách thuận tiện nhất như: cơ chế tự kê khai nộp thuế, kê khai thuế qua mạng…Đó cũng là yếu tố tạo nên tính hiện đại của QLT trong giai đoạn hiện nay

Theo Luật QLT, cơ quan QLT thuế bao gồm hệ thống các cơ quan thuế và cơ quan hải quan, được tổ chức theo ngành dọc thống nhất từ Trung ương đến địa phương để quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinh trong nội địa (đối với cơ quan thuế) và quản lý các khoản thuế, thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan (đối với cơ quan hải quan) Pháp luật giao cho các cơ quan QLT các chức năng, nhiệm vụ nhất định để tổ chức thực hiện chính sách thuế hiệu quả nhất

Các tổ chức, cá nhân có liên quan bao gồm các CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát sinh nghĩa vụ nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan thuế Họ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của cộng đồng xã hội trong việc thực thi và giám sát chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, có thể kể đến như Kho bạc Nhà nước, cơ quan Tài Nguyên- môi trường, Công an, Tòa án…

Sự phối hợp giữa các nhóm đối tượng trong hoạt đông thu- nộp thuế được đặt dưới sự tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế với mục đích đảm bảo yếu tố nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước, tránh tình trạng thất thoát nguồn thu do trốn thuế, nợ thuế gây ra

1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế

Vấn đề QLT là nội dung được ghi nhận tại một văn bản độc lập- Luật QLT Về tổng thể, Luật QLT thuế hướng tới việc thiết lập khung pháp lý

Trang 15

chung, áp dụng thống nhất trong quá trình thực thi tất cả các chính sách thuế, khắc phục được tình trạng chia cắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế, tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp Về bản chất, QLT là quản lý hành chính nhà nước về Thuế Do đó, bên cạnh các đặc điểm chung về tính bắt buộc và cưỡng chế thi hành, QLT mang những đặc điểm đặc trưng sau:

Thứ nhất, QLT là một hệ thống thống nhất giữa các cơ quan quản lý

Nhà nước với nhau, giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu Điều

đó có nghĩa là quản lý thuế vừa là hoạt động ban hành các văn bản pháp luật

về thuế, về quy trình thu- nộp thuế, vừa là quá trình các CQNN có thẩm quyền đưa các quy định đó vào thực tế trên cơ sở có sự trao đổi, phối hợp giữa các cơ quan với mục đích vừa duy trì ổn định nguồn thu cho NSNN vừa đảm bảo được quyền lợi cho các đối tượng nộp thuế

Với tính chất là hoạt động quản lý hành chính trong một lĩnh vực cụ thể, QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đ òi hỏi phải đảm bảo lợi ích của cả hai bên: nhà nước và NNT Đặc điểm này đ ặt ra yêu cầu đổi với các

cơ quan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, tránh tuỳ tiện đề

ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán Lịch sử đã chứng minh những bức xúc với chế độ thuế khoá có thể kéo theo những chuyển biến chính trị rất căn bản Việc đóng thuế trước hết ảnh hưởng tới thu nhập của đối tượng chịu thuế, do đó, các quy định về thuế phải căn cứ trên tình hình kinh tế- xã hội của từng thời kì để

có sự điều chỉnh thích hợp, mặt khác, không ngừng đổi mới, nâng cao cách thức thu- nộp thuế để người dân dễ dàng tiếp cận với các quy định của nhà nước, tạo điều kiện cho người dân thực hiện nghĩa vụ của mình một cách nhanh chóng, thuận lợi mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả, chính xác, hạn chế, tiến tới xóa bỏ tình trạng trốn thuế, nợ đọng hay thất thu thuế

Thứ hai, QLT là quản lý bằng pháp luật và các biện pháp nghiệp vụ,

biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn

Trang 16

mực bắt buộc đối với mọi đối tượng thuộc sự điều chỉnh của luật QLT thuế,

dù là người thu thuế hay người nộp thuế Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các loại thuế trong

hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế Giải pháp này đã từng được áp dụng tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975( Xem: Bộ luật thuế vụ, Nguyễn Hùng Trương sao lục, Sài G òn, 1972) Hiện tại, giải

pháp này cũng đang được áp dụng tại Cộng òa Pháp (25) Ngược lại, có một

số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi loại thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về QLT bằng một đạo luật riêng biệt so với các đạo luật thuế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, xu hướng chung của các nước là ban hành những đạo luật riêng về từng loại thuế, từng bước tách bạch các quy định về hành chính thuế ra khỏi các đạo luật về thuế, gọi là luật về QLT Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế Luật QLT ra đời vừa là công cụ chủ yếu để xác định phạm vi, giới hạn hoạt động cũng như yêu cầu

đối với hoạt động QLT

Ở Việt Nam, trước năm 2006, nước ta chưa có một văn bản luật thống nhất về QLT, các quy định về QLT nằm rải rác trong nhiều các văn bản pháp luật khác nhau như: trong các văn bản pháp luật ở từng sắc thuế có những quy định riêng về thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, thủ tục về mua hoá đơn, chứng từ,thủ tục về kê khai thuế, thời hạn nộp thuế, thủ tục về quyết toán thuế, thời hạn nộp quyết toán thuế Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật

Trang 17

khác có những quy định liên quan đến QLT như : các văn bản pháp luật về kế toán, về hoá đơn chứng từ; các văn bản về khiếu nại, tố cáo; các văn bản về thanh tra, kiểm tra; các văn bản về xử phạt hành chính Điều đó đã dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, thậm chí chồng chéo nhau, gây khó khăn cho việc thực hiện

Sự ra đời của luật QLT năm 2006 đã khắc phục được tình trạng chia cắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế; tạo nền tảng cho việc

áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại theo hướng tự tính thuế, tự khai thuế, tự nộp thuế đồng thời tạo lập khung pháp lý chung để thực thi tất

cả các luật thuế, pháp lệnh thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN Đây là một cơ chế đề cao quyền và trách nhiệm của các chủ thể chấp hành pháp luật thuế So với các quy định hiện hành về thuế của Nhà nước, luật QLT có phạm

vi điều chỉnh rộng và thống nhất cho toàn bộ các loại thuế, các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan QLT quản lý thu theo quy định của pháp luật Luật quy định rõ 4 nhóm đối tượng áp dụng bao gồm: người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế Các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế

Thứ ba, hiệu quả của công tác QLT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : ý

thức chấp hành pháp luật thuế của người dân, trình độ năng lực của cán bộ, công chức QLT, cơ sở vật chất của ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh tế - xã hội (quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán ) Đặc điểm này đặt ra yêu cầu: mọi cuộc cải cách hệ thống thuế phải được tiến hành đồng

bộ, có chiến lược tổng quát, tránh lối cải cách khập khiễng, chắp vá

Trang 18

1.1.3 Yêu cầu của quản lý thuế

 Thứ nhất: Hoạch định mục tiêu

Mục tiêu là trạng thái tương lai, là đích mà hệ thống quản lý mong muốn đạt tới Nó có vai trò chi phối và định hướng hoạt động của toàn hệ thống Mục tiêu quản lý luôn được xác định trước, nó chi phối, dẫn dắt cả chủ thể và đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động Xác định mục tiêu đúng

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý

Mục tiêu của QLT nói chung được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể như:

số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuế vào ngân sách Nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch so với thời ký trước; tỷ trọng các sắc thuế cần đạt được trong từng thời kỳ…Tuy nhiên, vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xét đến cùng, mục tiêu của QLT là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình phải đóng, đồng thời Nhà nước thực hiện được các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế

Mục tiêu cụ thể của QLT đối với các đối tượng nộp thuế là làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện kịp thời, đầy đủ các nghĩa vụ luật định về thuế trên

cơ sở mức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là số thuế thu được từ đối tượng nộp thuế sẽ tiến dần đến số thuế tiềm năng hay thất thu thuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0; số thu ngân sách nhà nước từ đối tượng nộp thuế sẽ là lớn nhất trong điều kiện chính sách ổn định đồng thời chi phí của cơ quan thuế cũng sẽ giảm khi mức độ tuân thủ của đối tượng nộp thuế ngày càng tăng Theo đó, mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế cũng được thực hiện Bên cạnh mục tiêu quản lý đối với các đối tượng nộp thuế, mục tiêu và phương hướng hoạt động cho các cơ quan thuế và cán bộ thuế cũng được đặt ra Đó chính là việc xây dựng một đội ngũ thuế trong sạch, vững

Trang 19

mạnh, có chuyên môn nghiệp vụ cao, đảm bảo thực hiện một cách đúng đắn

và nghiêm túc các quy định về thuế để có thể hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế, góp phần vào việc giảm thiểu hành vi vi phạm của đối tượng nộp thuế và tình trạng thất thu thuế

từ đó cũng được giảm dần Mặt khác, cần đặt mục tiêu phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như: ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của nhà nước đã định trong từng thời kỳ

Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế là mục tiêu cơ bản để đạt được các mục tiêu còn lại trong QLT Bởi vì, khi sự tuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao nhất (nộp đầy đủ, đúng hạn và tự nguyện) chính là cơ sở để duy trì những nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu trong tương lai Khi sự tuân thủ thuế của người nộp được thực hiện một cách tự nguyện, tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan quản lý thuế và chi phí của người nộp thuế Một số công trình nghiên cứu về QLT gần đây cho rằng: Hệ thống QLT có hiệu lực, hiệu quả là phải đạt được

sự vui lòng hợp tác của đa số những người nộp thuế Cơ quan QLT sẽ có lợi nhiều hơn khi giúp đỡ người nộp thuế tuân thủ, đáp ứng những yêu cầu của

họ, tạo điều kiện cho họ tuân thủ nghĩa vụ thuế hơn là tiêu tốn quá nhiều nguồn lực vào việc dùng sức mạnh quyền lực để ngăn chặn và hạn chế đối tượng trốn thuế, gian lận Trong nhiều công trình nghiên cứu đều khẳng định:

“QLT có mục tiêu quan trọng nhất là phải làm sao cho người nộp thuế tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện, đầy đủ và kịp thời trên cơ sở tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hóa sự miễn cưỡng thực hiện nghĩa

vụ thuế của người nộp thuế, kích thích sự tuân thủ thuế tiềm năng” [40] Từ vệc xác định được mục tiêu chính này, một số quốc gia đã định ra chiến lược đổi mới quản lý thuế theo hướng: Lấy người nộp thuế làm trung tâm, coi

Trang 20

người nộp thuế là khách hàng mà cơ quan quản lý thuế phải phục vụ, tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế thực hiện tốt các quyền và nghĩa

vụ của họ [25]

 Thứ hai: Phân cấp quản lý đối với ĐTNT

Hệ thống quản lý là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều tầng nấc, mỗi tầng nấc là một hệ thống nhỏ có sự độc lập tương đối, có mục tiêu hoạt động riêng và điều kiện vận động dặc thù Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống thuế được tổ chức phù hợp với tổ chức của Nhà nước như thuế Liên Bang, thuế Bang (như Hoa Kỳ, Úc), hoặc thuế Trung ương và thuế địa phương (như Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin) Đối với Việt Nam, hệ thống cơ quan thuế được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến quận, huyện (từ năm 1990), chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa Việc phân cấp quản lý trong ngành thuế mang lại nhiều lợi ích, một mặt đảm bảo

sự tập trung, thống nhất vào những nhiệm vụ quan trọng của các chủ thể quản

lý cấp cao, mặt khác phát huy tính năng động, sáng tạo của cấp dưới, mở rộng dân chủ hóa trong quản lý, từ đó tạo nên bầu không khí tâm lý dân chủ và lành mạnh trong tập thể của hệ thống quản lý, mở rộng dân chủ hóa trong quản lý

Việc phân cấp trong ngành thuế thường căn cứ vào đối tượng quản lý Một đối tượng có thể phải nộp nhiều loại thuế khác nhau nhưng hầu hết chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan thuế Điều này tránh được sự phiền hà cho các đối tượng nộp thuế (chỉ phải liên hệ với một cơ quan thuế) Trong tổng số đối tượng nộp thuế hiện nay: khoảng hơn 140.000 doanh nghiệp, gần 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, hơn 10 triệu hộ nộp thuế nhà đất, hành trăm nghìn đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác, tất yếu phải được phân cấp quản lý cho từng cấp trong nghành thuế một cách phù hợp Có như vậy mới tạo ra sức mạnh tổng hợp để quản lý thu có hiệu quả

Trang 21

 Thứ ba: Xây dựng, ban hành và thực hiện các quy trình quản lý thu

đối với các đối tượng nộp thuế

Quy trình quản lý thu thuế quy định trình tự, thủ tục, các bước cần tiến hành để quản lý thu thuế Việc ban hành quy trình quản lý giúp cho cơ quan thuế chỉ đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hóa, công khai minh bạch và rõ ràng để đối tượng nộp thuế dễ thực hiện và kiểm soát cơ quan thuế Mỗi loại đối tượng nộp thuế có đặc điểm khác nhau, các sắc thuế áp dụng cũng khác nhau Vì vậy, quy trình quản lý thuế cũng có quy định phù hợp với từng đối tượng VD: Quy trình quản lý thu đối với các doanh nghiệp bao gồm các quy trình nhỏ như: đăng ký thuế, kê khai nộp thuế, kiểm soát thuế, thông báo thuế, thu thuế, tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế, cưỡng chế thu nợ thuế, thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật Đối với mỗi khâu, vai trò của cơ quan thuế và cán bộ thuế là rất quan trọng, trực tiếp quyết định tới việc đảm bảo tuân thủ pháp luật của đối tương nộp thuế và số thuế thu được trong mỗi kỳ Việc xây dựng, ban hành và thực hiện các quy trình quản lý thu đối với các đối nộp thuế là một

trong các nội dung nằm trong nội dung cơ bản của luật quản lý thuế

 Thứ tư : xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

- Về cơ cầu tổ chức: Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu khác nhau, thực hiện chức năng quản lý được chuyên môn hóa nhằm đạt được những mục tiêu nhất định (26) Hầu hết mô hình tổ chức quản lý của cơ quan thuế gồm 3 cấp: Trung ương, vùng, địa phương Ở nhiều quốc gia, có sự phân chia thuế Trung ương và thuế địa phương hoặc thuế Liên bang, thuế Bang Thông thường, bộ máy thuế Trung ương hay Liên bang có nhiệm vụ thu những loại thuế quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu của Quốc gia, ngược lại, bộ máy

Trang 22

thuế địa phương hoặc Bang thu những khoản thu nhỏ hơn gắn với chính quyền địa phương…

Về mô hình tổ chức cụ thể, có 3 hình mẫu phổ biến nhất, đó là tổ chức theo sắc thuế, tổ chức theo chức năng và tổ chức theo đối tượng nộp thuế Trong đó, mô hình tổ chức bộ máy theo sắc thuế là mô hình tổ chức các phòng, ban riêng biệt để quản lý một số loại thuế cụ thể (VD: cục hay phòng thuế thu nhập doanh nghiệp, phòng thuế GTGT…), từng phòng ban thực hiện các khâu công việc quản lý của sắc thuế đó; mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng là việc tổ chức các phòng thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý thu thuế (phòng dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, phòng xử lý tờ khai, phòng thanh tra, kiểm tra…); mô hình tổ chức

bộ máy theo nhóm đối tượng nộp thuế là tổ chức các đơn vị (Cục) theo nhóm đối tượng, mỗi cục chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ các chức năng quản lý thuế cho nhóm đối tượng như cục quản lý các doanh nghiệp lớn, cục quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cục quản lý tiền công và lương hưu…Hiện nay, trên thế giới ¾ cơ quan thuế các nước đang hoạt động với cơ cấu tổ chức theo chức năng hoặc hỗn hợp các mô hình, trong đó có Việt Nam Các quốc gia đều cần nghiên cứu kỹ những ưu và nhược điểm của mỗi mô hình cũng như đặc điểm của đất nước mình để tổ chức cơ quan thuế cho phù hợp

- Về cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý bao gồm tất cả các cá nhân thực hiện chức năng quản lý nhất định trong bộ máy quản lý của một hệ thống Đội ngũ cán bộ nói chung gồm 2 thành phần chính: cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ Để nâng cao hiệu lực của bộ máy nói chung và thuế nói riêng, việc lựa chọn, bố trí , quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu công việc có vai trò hết sức quan trọng Chất lượng của quản lý thuế phụ thuộc vào trình độ cán bộ, việc bố trí nhân lực cho các khâu để quản

lý các đối tượng nộp thuế trong quy trình hợp lý Đối với các nước có trình độ

Trang 23

quản lý thuế tiên tiến thì tỷ lệ cán bộ bố trí cho khâu xử lý tờ khai và kế toán thuế chiếm từ 14-22%, khâu tuyên truyền và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp chiếm từ 12-24%, khâu thanh tra chiếm từ 24-40%, khâu cưỡng chế thu nợ thuế chiếm từ 12-17% ( Nguồn: Quỹ tiền tệ Quốc tế năm 2009) Cùng với việc xác định tỷ lệ cán bộ ở các khâu thì cũng cần bố trí cán bộ có trình độ phù hợp vào quản lý các đối tượng tương ứng Việc đào tạo và quản lý cán bộ thuế phải được tiến hành thường xuyên, theo hướng hiện đại trên cơ sở tham khảo mô hình của các nước tiên tiến trên thế giới

1.2 Những nội dung cơ bản của Pháp Luật quản lý thuế

1.2.1Nguyên tắc quản lý thuế

Đối với mỗi hoạt động nói chung và hoạt động QLT nói riêng, để đạt được mục tiêu đã đặt ra được phát triển đúng phương hướng, cần xác định những nguyên tắc hoạt động cụ thể, coi đó là yêu cầu xuyên suốt trong từng hành động của các chủ thể Những nguyên tắc của QLT được Luật QLT quy định cụ thể tại điều 4 với những nội dung sau:

 Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có trách nhiệm tham gia QLT;

 Việc QLT được thực hiện theo quy định của luật QLT và các quy định của pháp luật có liên quan

 Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

Những nguyên tắc của QLT không chỉ một lần nữa làm rõ bản chất, vai trò của thuế- là nguồn thu của NSNN mà còn làm nổi bật lên phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình QLT tức quy định trình tự, thủ tục, cách thức, phương pháp QLT hay nói cách khác quy định việc tổ chức thực hiện các luật thuế cũng như các quy định có liên quan Dựa trên những

Trang 24

nguyên tắc nhất định, pháp luật QLT đã xây dựng thành những nhóm các quy định: Nhóm quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện QLT; nhóm các quy định về quy trình thu- nộp thuế, các biện pháp thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế, thu nợ thuế và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của luật pháp; nhóm các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật thuế Mỗi một nhóm đều có những quy định chi tiết, cụ thể và từng bước thể hiện được những nội dung cơ bản, quan trọng của những nguyên tắc QLT

1.2.2 Tổ chức thu thuế

1.2.2.1 Một số khâu cơ bản trong quy trình quản lý Thuế

 Đăng ký, kê khai, ấn định thuế và nộp thuế

Đăng ký thuế: là việc người nộp thuế thực hiện khai báo với cơ quan

QLT về sự hiện diện của mình, theo đó, họ có trách nhiệm nộp một (hoặc một số) loại thuế nhất định theo quy định của pháp luật

Khi đăng ký thuế, NNT kê khai những thông tin của mình theo mẫu quy định và nộp tờ khai những thông tin của mình theo mẫu, sau đó nộp tờ khai cho cơ quan QLT và được cấp một mã số thuế để thực hiện quyền và nghĩa vụ

về thuế Cơ quan QLT thiết lập đầu mối quan lý thông qua việc cấp mã số thuế cho NNT Theo quy định của pháp luật, những người có nghĩa vụ thuế mang tính thường xuyên, định kỳ mới phải đăng ký thuế Pháp luật QLT quy định cụ thể về đăng ký thuế, thời hạn đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế và chấm dứt hiệu lực mã

số thuế của người nộp thuế

Kê khai thuế: là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát

sinh trong thời kỳ kê khai thuế theo quy định của từng loại luật thuế NNT sử

dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ

Trang 25

quan thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác trong số liệu của hồ sơ khai thuế

Cơ quan thuế tôn trọng việc tự tính thuế và kê khai thuế của người nộp thuế đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa đảm bảo khuyến khích

sự tuân thủ tự nguyện của NNT, vừa đảm bảo phát hiện, ngăn chặn những trường hợp vi phạm pháp luật thuế

Ấn định thuế: là việc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp và yêu cầu

NNT chấp hành nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan thuế trong trường hợp NNT không kê khai hoặc kê khai không trung thực

Nộp thuế: Pháp luật QLT quy định cụ thể về thời hạn nộp thuế, đồng tiền

nộp thuế, địa điểm và hình thức nộp thuế, thứ tự thanh toán tiền thuế, xử lý số tiền thuế nộp thừa, gia hạn thời gian nộp thuế

Trường hợp NNT tự tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế Thời hạn nộp thuế được quy định gắn liền với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế vừa bảo đảm phù hợp với tính chất của từng loại thuế, vừa tạo thuận lợi cho NNT dễ thực hiện các thủ tục hành chính

về thuế, giảm phiền hà cho NNT Trường hợp cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan QLT

 Xử lý tờ khai và kế toán thuế

Xử lý tờ khai và kế toán thuế là một khâu quan trọng trong quá trình quản

lý thuế, theo đó, các bộ phận được phân công thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nhận tờ khai thuế, phát hiện các lỗi kê khai và hướng dẫn đối tượng nộp thuế sửa lỗi kịp thời, xác định nghĩa vụ theo kê khai của người nộp thuế

- Theo dõi tình hình thực hiện kê khai của người nộp thuế và cung cấp thông tin này cho các khâu quản lý tiếp theo có biện pháp xử lý phù hợp như: hướng dẫn người nộp thuế để tránh các lỗi đã mắc trong kê khai nếu việc mắc lỗi là do chưa hiểu rõ, xem xét sửa đổi mẫu tờ khai thuế nếu tờ khai chưa phù

Trang 26

hợp hoặc đó là một dấu hiệu để xem xét, lựa chọn các trường hợp thanh tra, kiểm tra

- Nhận chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của đối tượng nộp thuế, theo dõi thanh toán thuế, đảm bảo đúng nợ thuế của đối tượng nộp thuế theo từng khoản thuế phải nộp để khâu cưỡng chế thu nợ thuế thực hiện đôn đốc và cưỡng chế người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước

 Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

Miễn thuế, giảm thuế: là việc NNT được cơ quan thuế miễn hoặc giảm

một phần thuế phải nộp vào NSNN khi đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định của pháp luật về QLT Cơ quan thuế trực tiếp kiểm tra hồ sơ và quyết định miễn, giảm thuế đối với các trường hợp khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật QLT như: miễn hoặc giảm thuế thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế sử dụng đất nông nghiệp cho NNT gặp khó khăn do thiên tai, dịch họa, tai nạn bất ngờ, bị thua lỗ hoặc không có khả năng nộp thuế NNT phải làm hồ sơ gửi lên cơ quan thuế đề nghị miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 64 luật QLT, thời hạn giải quyết hồ sơ miễn, giảm thuế là 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế nhận đủ sồ sơ xin miễn, giảm Cơ quan thuế ra quyết định miễn thuế, giảm thuế theo mẫu số 03/MGTH hoặc thông báo cho NNT lý do không thuộc diện miễn, giảm thuế theo mẫu quy định Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thời hạn ra quyết định miễn thuế, giảm thuế là 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ

Hoàn thuế: là việc cơ quan QLT hoàn lại số thuế mà NNT vào NSNN khi

đáp ứng đủ các yêu cầu mà pháp luật QLT quy định, VD như các tổ chức, cá nhân thuộc diện được hoàn thuế GTGT theo quy định của luật thuế GTGT; tổ chức, cá nhân thuộc diện hoàn thuế xuất nhập khẩu theo quy định của luật

Trang 27

thuế xuất nhập khẩu; tổ chức, cá nhân nộp các loại thuế khác có số tiền thuế

đã nộp vào NSNN lớn hơn số tiền thuế phải nộp

Hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bản yêu cầu hoàn thuế; chứng từ nộp thuế; các tài liệu khác có liên quan đến yêu cầu hoàn thuế Với mỗi loại thuế, pháp luật đều có những quy định hướng dẫn cụ thể về hồ sơ hoàn thuế Hồ sơ hoàn thuế được nộp tại cơ quan QLT trực tiếp hoặc tại cơ quan Hải quan có thẩm quyền hoàn thuế

 Thanh tra, kiểm tra thuế

Kiểm tra, thanh tra có liên quan đến mọi cấp quản lý, nhằm đo lường và điều chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới căn cứ vào mục tiêu và kế hoạch

đã định Mục đích của kiểm tra nhằm đảm bảo kế hoạch thành công, nhờ phát hiện kịp thời những sai sót, tìm nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời sai sót đó Vì vậy cần tiến hành thường xuyên, linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra Kiểm tra là việc làm bình thường, không được cản trở đối tượng thực hiện mục tiêu [26]

Kiểm tra, thanh tra là một nội dung quan trọng quản lý thuế Lịch sử phát triển của công tác quản lý của các nước trên thế giới đã chứng minh chức năng thanh tra thuế là tất yếu và là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế để đảm bảo chính sách thuế được thi hành nghiêm túc Pháp luật quản lý thuế hiện nay cùng các văn bản hướng dẫn quy định khá cụ thể về nội dung thanh tra, kiểm tra thuế, trong đó:

- Đối tượng của kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, Kiểm tra, thanh tra thuế nói chung và kiểm tra, thanh tra thuế đối với đối tượng nộp thuế nói riêng đều nhằm hướng vào các mục tiêu chủ yếu đã vạch ra từ trước [28, tr.38]

- Mục đích của hoạt động trên là phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế như khai man, trốn thuế, nợ

Trang 28

đọng thuế, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế cho Nhà nước và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế; làm cho người nộp thuế tin rằng mọi vi phạm về thuế, đặc biệt

là các trường hợp trốn thuế sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và xử phạt Từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế Bên cạnh

đó, thanh tra, kiểm tra còn là một trong những phương pháp để phát hiện những nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp quy về thuế, những điểm bất hợp lý trong quy trình quản lý thuế, cơ cấu tổ chức, từ đó kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiện chính sách thuế và quản lý thuế

- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế đối với người nộp thuế: kiểm tra, thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khai và nộp thuế, việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn, chứng từ của đối tượng nộp thuế

- Về hình thức thanh tra: nếu xét theo thời gian có thanh tra đột xuất và thanh tra theo kế hoạch Trong đó:

Thanh tra theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với DN có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần Việc thanh tra thuế được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin

về người nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệu bất thường trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra Kế hoạch thanh tra của cơ quan thuế cấp dưới phải được gửi đến cơ quan thuế cấp trên Trường hợp có sự trùng lặp về đối tượng thanh tra thì cơ quan thuế cấp trên sẽ thực hiện kế hoạch thanh tra với đối tượng thanh tra đó Trường hợp cơ quan thanh tra nhà nước có kế hoạch thanh tra về thuế

Trang 29

trùng với kế hoạch thanh tra của cơ quan thuế thì ưu tiên kế hoạch thanh tra thuế của cơ quan thanh tra nhà nước

Thanh tra không theo kế hoạch được áp dụng cho các đối tượng sau:

+ Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế Trong trường hợp này cơ quan thuế chỉ được tiến hành thanh tra khi có căn cứ xác định người nộp thuế khai thiếu nghĩa vụ thuế, trốn thuế, gian lận thuế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Cơ quan Hải quan thực hiện thanh tra thuế trong trường hợp phát hiện người nộp thuế có một trong những dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế như: Người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế nhưng đã vi phạm nhiều lần, vi phạm tại nhiều địa bàn khác nhau, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân hoặc có dấu hiệu trốn thuế; Hoặc trong khi kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế, người nộp thuế có dấu hiệu tẩu tán tài liệu, tang vật liên quan nhằm trốn thuế, gian lận thuế; Hoặc sau khi tiến hành kiểm tra thuế hoặc sau khi gia hạn thời gian kiểm tra thuế, cơ quan hải quan có căn cứ về việc người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm mới, hoặc vụ việc kiểm tra có tính chất phức tạp, nghiêm trọng

+ Thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Luật QLT và các văn hướng dẫn thi hành có quy định chi tiết về thẩm quyền ra quyết định thanh tra thuế; các nội dung cần có trong quyết định thanh tra; thời hạn thanh tra thuế; nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế; nghĩa vụ và quyền của đối tượng thanh tra thuế và kết luận thanh tra thuế Đặc biệt, Luật Quản lý thuế quy định rõ các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, cụ thể: Khi người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến tổ chức,

cá nhân khác hoặc khi dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế có tính chất phức tạp

Trang 30

Các biện pháp áp dụng bao gồm: Thu thập thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế; tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế; khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế

 Cưỡng chế thu nợ thuế

Mục tiêu của công tác cưỡng chế thu nợ thuế là kịp thời phát hiện và xử

lý các đối tượng nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước, phù hợp với pháp luật Thuế

Nội dung của công tác cưỡng chế thu nợ thuế bao gồm:

- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của đối tượng nộp thuế, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt việc kê khai, chậm nộp thuế của doanh nghiệp theo quy định của luật thuế

- Theo dõi được số thuế nợ của đối tượng nộp thuế theo từng loại thuế, mức

nợ, tuổi nợ, nguyên nhân của từng khoản nợ thuế và kết hợp với việc phân tích thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của đối tượng nộp thuế để xây dựng kế hoạch và có biện pháp tổ chức thu nợ phù hợp

Điều 92 luật QLT quy định về các trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bao gồm: Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt trong trường hợp quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ thuế, tiền phạt; hết thời hạn gia hạn tiền nộp thuế; có hành vi phát tán tài sản hoặc bỏ trốn

Trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thuộc về thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định hành chính thuế, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng thuộc diện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng

Trang 31

chế thi hành quyết định hành chính thuế Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế được quy định cụ thể tại điều 93 luật QLT

 Tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế

Cơ quan thuế thực hiện tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư trong xã hội để các cấp, các ngành và mọi người dân đều hiểu biết về thuế, thực hiện luật thuế và lên án những hành vi

vi phạm pháp luật thuế, hỗ trợ các cơ quan thuế trong quản lý thu thuế

Cơ quan thuế nắm bắt nhu cầu và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế sát với yêu cầu, đặc điểm của nhóm đối tượng nộp thuế với những nội dung, hình thức phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của người nộp thuế nhanh nhất và đầy đủ nhất, nhằm hỗ trợ tối đa để người nộp thuế hiểu biết pháp luật thuế và kê khai nộp thuế đúng quy định của Pháp luật

1.2.2.2 Các hình thức quản lý thu thuế

 Cơ quan thuế tính thuế

- Là hình thức quản lý thu trong đó các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra tờ khai và tính thuế, thông báo số thuế phải nộp gửi đối tượng nộp thuế Trong khoảng thời hạn theo thông báo, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuế theo thông báo vào KBNN Theo cơ chế này, tất cả các đối tượng nộp thuế đều được cơ quan kiểm tra, tính thuế do đó đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp trên cơ sở tờ khai của các đối tượng, phù hợp với một nền kinh tế trong đó ý thức và trình độ hiểu biết về pháp luật nói chung và luật thuế của đối tượng nộp thuế chưa cao Tuy nhiên, khối lượng công việc mà cơ quan quản lý thuế đảm nhiệm sẽ rất nhiều, đặc biệt khi số lượng đối tượng nộp thuế tăng lên nhanh chóng sẽ gây áp lực lên cơ quan quản lý thuế đồng thời trong một số trường hợp, cách quản lý này gây lãng phí nguồn nhân lực; hơn nữa cơ chế này không tạo điều kiện và khuyến khích

Trang 32

các đối tượng nộp thuế tân thủ tốt nghĩa vụ thuế (vì 100% đối tượng nộp thuế đều được kiểm soát như nhau) Mặt khác, với cơ chế này cách thức quản lý thuế mang nặng tính áp đặt, sử dụng quyền lực nhà nước là chủ yếu để quản

lý thuế đối với người nộp thuế và tiến độ thu thuế thường chậm Việc xác định số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan quản lý thuế, không khuyến khích người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế, số lượng của người nộp thuế gia tăng nhanh chóng,

để QLT có hiệu quả đòi hỏi nguồn nhân lực của cơ quan QLT phải gia tăng tương ứng, chi phí quản lý thuế cũng tăng cao

Trên thế giới hầu hết các nước phát triển đã trải qua cơ chế quản lý này Tuy nhiên, đến nay các nước phát triển đã chuyển sang cơ chế đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế

 Đối tượng nộp thuế tự kê khai- tự nộp thuế

Đối tượng nộp thuế tự kê khai- tự nộp thuế hay còn gọi là tự khai- tự nộp là cơ chế quản lý thuế trong đó các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh căn cứ nghĩa vụ thuế được quy định tại luật thuế, tự kê khai thuế và tự nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào NSNN Theo cơ chế này cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai , nộp thuế của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà chỉtăng cường tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trên cơ sở kỹ thuật thanh tra, kiểm tra theo rủi ro (tức là thanh tra, kiểm tra các đối tượng có nguy cơ trốn lậu thuế thông qua việc phân tích các thông tin) nhằm tạo kiện cho đối tượng nộp thuế hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế có hiệu quả hơn đối với các đối tượng nộp thuế có khả năng rủi ro cao (khả năng trốn lậu thuế lớn)

Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ

Trang 33

nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến các quy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế

- Ưu điểm của cơ chế tự khai- tự nộp:

+ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế: mục đích của cơ chế này là nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế trên cơ sở tăng cường tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế và đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, do đó tỷ lệ đối tượng nộp thuế tuân thủ tự nguyện thực hiện các quy định pháp luật về thuế ngày càng cao, có nghĩa là số thu ngày càng lớn, thất thu ngày càng giảm Hiệu quả quản lý còn được thể hiện ở chỗ: khi đối tượng nộp thuế tăng lên nhanh chóng, sẽ không gây áp lực cho cơ quan QLT do cơ quan thuế không phải kiểm tra và tính thuế đối với tất cả các tờ khai như cơ chế cơ quan thuế tính thuế mà trách nhiệm kê khai tính thuế là của đối tượng nộp thuế Cơ quan thuế chỉ tập trung tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế và kiểm tra, thanh tra các đối tượng nộp thuế có dấu hiệu nghi ngờ, gian lận thuế, vì vậy có điều kiện phân bổ nguồn lực có hiệu quả hơn, tiết kiệm được chi phí quản lý chi phí giấy, mực, in ấn, cước phí bưu điện… nhờ việc hàng tháng không phải gửi thông báo Mặt khác, theo cơ chế này, đối tượng nộp thuế phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu kê khai và cả tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp hay nói cách khác, đối tượng nộp thuế được nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc

kê khai thuế với Nhà nước

- Một số hạn chế

+ Nguy cơ trốn lậu, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp và không

có biện pháp quản lý phù hợp như công tác thanh tra, kiểm tra không kịp thời, việc phổ biến pháp luật kém hiệu quả… Trong trường hợp do hiểu biết các luật thuế của đối tượng nộp thuế kém và công tác hướng dẫn của cơ quan

Trang 34

Thuế không hiệu quả thì có thể có tình trạng kê khai sai số thuế phải nộp một cách vô ý Với trình độ dân trí của nước ta còn thấp ,ý thức tự giác và tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao thì nguy cơ thất thoát thuế là rất lớn [33] + Đòi hỏi cao về cơ sở vật chất và trình độ quản lý của Nhà nước

Để áp dụng cơ chế mới một cách hiệu quả, đòi hỏi cơ sở vật chất của ngành Thuế phải được hiện đại hóa, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất phục

vụ cho công tác thông tin, hỗ trợ cho việc kiểm tra, đối chiếu số liệu có thể được thực hiện nhanh chóng và chính xác Nghĩa là, cần có sự đầu tư ban đầu rất lớn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn hẹp Mặt khác, trình độ quản lý của các cơ quan hành pháp hiện nay chưa cao, nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng có thể xảy ra tình trạng thả nổi, buông lỏng công tác quản lý thuế [29]

1.2.2.3 Các phương thức kê khai nộp thuế

Các phương thức kê khai nói chung hiện nay bao gồm có: Kê khai thuế trên giấy và kê khai thuế thông qua các phương tiện điện tử, chủ yếu là qua mạng Internet, sau đây gọi là kê khai thuế qua mạng

 Kê khai thuế trên giấy: Là phương thức kê khai trong đó đối tượng nộp thuế kê khai vào các mẫu tờ khai bằng giấy (viết tay hoặc sử dụng máy tính)

và gửi đến cơ quan thuế trực tiếp hoặc qua đường bưu điện Với phương thức

kê khai này, cơ quan Thuế phải nhập toàn bộ dữ liệu trên tờ khai vào máy tính

để lập sổ thuế và theo dõi thu nộp Do đó, vào kỳ kê khai thuế, lượng tờ khai phải nhập rất lớn đòi hỏi cơ quan Thuế phải làm thêm giờ, tăng nhân lực và

dễ có sai sót Tuy nhiên, đây là phương thức truyền thống mà nhiều nước đã

và đang áp dụng

 Kê khai thuế qua mạng Internet

Kê khai thuế qua mạng Internet là quá trình truyền tờ khai thuế hoặc thông tin liên quan tới cơ quan quản lý thuế thông qua mạng Internet Việc kê khai

Trang 35

này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Kê khai thuế, kê khai hải quan, kê khai xuất nhập cảnh, đăng ký kinh doanh…

Ở Việt Nam, kê khai qua mạng đầu tiên được áp dụng thí điểm trên một số lĩnh vực và địa phương như: Bắt đầu thí điểm kê khai Hải Quan ở một số cục Hải quan từ thàng 9/2004, học tập theo mô hình của Trung Quốc: thay việc mang nộp hồ sơ đến khai báo ở cở quan Hải quan, doanh nghiệp chỉ cần khai báo các số liệu tờ khai theo mẫu rồi truyền dữ liệu qua mạng đến cơ quan Hải quan Tiếp theo, doanh nghiệp phải trình bộ tờ khai giấy tại cơ quan Hải quan

để đối chiếu và tiếp nhận làm thủ tục Quy trình khai báo hải quan điện tử có khả năng rút ngắn thời gian làm thủ tục Hải quan còn 15 phút so với thời gian

từ 3-4 ngày trước đây

Những ưu điểm của kê khai thuế qua mạng Internet

- Đối với cơ quan thuế: thực hiện kê khai thuế qua mạng Internet, cơ quan thuế không còn phải nhập dữ liệu bằng tay, khắc phục được sự nhầm lẫn, sai sót; thông tin được nhận nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn cho công tác quản lý; tiết kiệm được thời gian và nhân lực của khâu nhập dữ liệu để tăng cường bố trí cho các khâu quản lý trọng yếu khác hoặc giảm biên chế cơ quan Thuế

- Đối với đối tượng nộp thuế: thực hiện kê khai qua mạng Internet, đối tượng nộp thuế chỉ cần từ văn phòng truyền dữ liệu lên mạng Internet gửi tới

cơ quan thuế Cơ quan thuế cũng thông qua mạng Internet để tiếp nhận và thông cho đối tượng nộp thuế biết nhanh chóng và thuận tiện Do đó, đối tượng nộp thuế cũng tiết kiệm được cả thời gian và vật chất

- Điều kiện để được thực hiện kê khai thuế qua mạng Internet: trước hết phải có quy định hợp pháp hóa các giao dịch điện tử dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật, có hệ thống công nghệ thông tin tương đối phát triển,

Trang 36

trong đó cơ sở vật chất và hệ thống tin học của cơ quan thuế cũng như của đối tượng nộp thuế đạt đến một trình độ nhất định

Vì vậy, hiện nay chỉ có các nước phát triển và một số nước đang phát triển có nền công nghệ thông tin ở mức tương đối cao đã áp dụng phương thức kê khai thuế qua mạng Internet Đặc biệt phương thức này mới phát triển mạnh trong những năm gần đây và trở thành xu hướng tất yếu của kê khai thuế trong quản lý thuế hiện đại Việt Nam là một trong những nước đã bước đầu triển khai hình thức kê khai thuế qua mạng Internet Đó là một trong những nội dung nằm trong chiến lược cải cách, hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020, nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính nói chung và thủ tục thuế nói riêng Năm 2009, Tổng cục thuế đã triển khai thí điểm dịch vụ khai thuế qua mạng tại 4 địa bàn : Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Bà Rịa – Vũng Tàu Đến thời điểm hiện nay, hình thức kê khai thuế qua mạng đã được áp dụng rộng rãi trên các Tỉnh, Thành và mục tiêu đến năm 2015 sẽ thực hiện triển khai trên toàn bộ các Tỉnh, Thành phố trên cả nước

1.2.3 Biện pháp chống thất thu thuế

Trước năm 2006, trình độ quản lý thuế ở Việt Nam được đánh giá là còn lạc hậu khá xa so với trình độ quản lý thuế ở những nước tiên tiến trong khu vực Nhận thức được vấn đề đó, Đảng, Nhà nước ta đã định ra chiến lược

cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là: “Hiện đại hoá toàn diện c ng

tác quản lý thuế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, kiểm soát cho được tất cả các đối tượng nộp thuế, chịu thuế, hạn chế thất thu thuế ở mức thấp nhất, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thu cho NSNN.” [31]

Ngày 29/11/2006 Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế để thống nhất các quy định về quản lý thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chủ động

Trang 37

trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế của mình theo đúng quy định của pháp luật đồng thời tích cực triển khai các biện pháp chống thất thu thuế Pháp luật quản lý thuế hiện hành không dành ra các chương hoặc các điều khoản về các biện pháp chống thất thu thuế, tuy nhiên, việc đưa ra những quy trình quản lý thuế, chính sách hỗ trợ người nộp thuế, thông qua việc mở rộng

và nâng cao các khâu của quá trình nộp thuế giúp người nộp thuế dễ dàng thực hiện được các thủ tục hành chình trong thuế, quy định về sự phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể trong quá trình thực hiện quyền thu cũng như đưa ra các quy trình về thanh tra, kiểm tra thuế … đã góp phần đáng kể vào quá trình chống thất thu NSNN

Luật QLT hiện nay đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể trong hoạt động thu- nộp thuế tại từng chương, bao gồm nghĩa vụ của người nộp thuế, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thuế, các cán bộ thuế cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động thu thuế Theo đó, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về đăng ký, kê khai, nộp thuế và kế toán thuế…, đảm bảo tính “trung thực, đầy đủ”; các cán bộ thuế và cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn cho các đối tượng nộp thuế về các trình tự liên quan đến hoạt động nộp thuế của đối tượng nộp thuế, kiểm tra, giám sát tính trung thực của các đối tượng nộp thuế, áp dụng các biện pháp cần thiết để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các đối tượng, hạn chế được tình trạng thất thu, nợ đọng thuế của các chủ thể

Một trong những biện pháp được luật quản lý thuế chú trọng nhằm chống thất thu NSNN, đó là việc đưa ra các quy định về hình thức kiểm tra, thanh tra tại điều 75 đến điều 87- chương X của Luật Ngay từ khi xây dựng

Luật QLT, nội dung “Kiểm tra, thanh tra thuế” đã đặt ra yêu cầu là: “Phải làm

thế nào để việc kiểm tra, thanh tra thuế trở thành một c ng cụ hữu hiệu nhằm

Trang 38

hạn chế thất thu cho NSNN, nhưng cũng kh ng bị lợi dụng để gây khó khăn, cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế” [34, tr.219] Để giải quyết

yêu cầu này, pháp luật quản lý thuế phải quy định rõ: “Các trường hợp tiến

hành kiểm tra, thanh tra; thủ tục kiểm tra,thanh tra phải chi tiết; căn cứ để ra kết luận kiểm tra, thanh tra phải khách quan; thẩm quyền của đoàn kiểm tra, thanh tra phải đủ mạnh” Trên cơ sở đó, Pháp luật quản lý thuế đã đưa ra

những nguyên tắc của thanh tra, kiểm tra nhằm định hướng cho đổi mới và nâng cao công tác kiểm tra, thanh tra thuế; quy định về trình tự cũng như nội dung kiểm tra, thanh tra thuế tại địa chỉ của người nộp thuế và tại trụ sở cơ quan thuế… Trên cở sở các quy định của luật, một số văn bản dưới luật được ban hành với mục đích hướng dẫn cụ thể các chủ thể tham gia vào quá trình kiểm tra, thanh tra thuế như Quyết định 528/QĐ-TCT năm 2008 quy trình kiểm tra thuế , Quyết định 460/QĐ-TCT năm 2009 về quy trình thanh tra thuế…Chính sự đổi mới và tiến bộ trong công tác thanh tra, kiểm tra đã mang lại những dấu hiệu tích cực Trong 4 năm qua, cơ quan thuế đã thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế bình quân 29.583 doanh nghiệp/năm; phát hiện truy thu bình quân 3.513 tỷ đồng/năm, phạt bình quân 530 tỷ đồng/năm [35, tr.2] Đó là một kết quả cho thấy sự tiến bộ vượt bậc trong công tác chống thất thu thuế của cơ quan thuế so với thời gian trước năm 2006

Từ các quy định của Pháp luật, các cơ quan thuế đã triển khai nhiều biện pháp nhằm phát huy hiệu quả các các quy định trên thực tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong từng giai đoạn, cụ thể như:

- Tổ chức, đánh giá tổng kết công tác chống thất thu, nợ đọng thuế để xác định thất thu thuế, nợ đọng thuế nằm ở khu vực nào, lĩnh vực kinh doanh nào, đối tượng nộp thuế nào để lập danh sách các doanh nghiệp cần thanh tra, kiểm tra, tập trung thu nợ thuế Tập trung vào sáu lĩnh vực chủ yếu: kiểm tra, thanh tra chống chuyển giá; hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT; thu thuế với lĩnh

Trang 39

vực bất động sản, thuế thuê và sử dụng đất; chống thất thu đối với kinh doanh thương mại, dịch vụ du lịch, khai thác mỏ; chống thất thu thuế với loại hình kinh doanh mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng,

- Triển khai đồng bộ các biện pháp thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy định của pháp luật đảm bảo tổng số tiền nợ thuế; thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt; đẩy manh việc ứng dụng và phát triển kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác thanh tra, kiểm tra, phân loại người nợ thuế, các khoản nợ thuế, ; tổ chức xử lý miễn, giảm, hoàn thuế kịp thời, đuún quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; Tiếp nhận và phản hồi đầy

đủ, kịp thời các khiếu nại, kiến nghị của người nộp thuế đối với các kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế theo đúng quy định của pháp luật, đúng chức trách nhiệm vụ được giao

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ cho người nộp thuế như tổ chức hội nghị đối thoại với người nộp thuế, phối hợp cung cấp thông tin với các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên tuyền, phổ biến chính sách thuế, tổng hợp đẩy đủ các thông tin liên quan đến công tác thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng và coi đây là các ý kiến phản hồi khách quan

về cơ chế, chính sách, quy trình quản lý thuế: đối với những vấn đề mà dư luận phản ánh đúng thì tiếp thu và giải quyết kịp thời; đối với những vấn đề phản ánh chưa đúng thì phải giải thích, tuyên truyền cho đúng đường lối chính sách pháp luật,

- Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan thông tin đại chúng trong việc quản lý người nộp thuế, công tác chống trốn thuế, gian lận thuế, thanh tra đối với hoạt động chuyển giá, xử lý nợ đọng thuế như: phối hợp với Kho bạc nhà nước để tăng cường quản lý thuế nhà thầu đối với hoạt động xây dưng cơ bản, thực hiện thi công các công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đa được bố trí trong dự

Trang 40

toán chi ngân sách nhà nước; phối hợp với Ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại trong việc quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, đấu tranh đối với các hành vi vi phạm trong việc lập doanh nghiệp “ma”, mở tài khoản giao dịch chuyển tiền qua ngân hàng nhằm “hợp pháp hoá” các thủ tục để khấu trừ thuế; phối hợp với cơ quan quản lý đất đai, tài nguyên để quản lý thu đúng, thu đủ, thu kịp thời đối với khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các khoản thu phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản

Việc triển khai tích cực các biện pháp nêu trên cùng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và tinh thần đoàn kết, đồng lòng của ngành Thuế cả nước bước đầu đã đem lại những hiệu ứng tích cực Theo báo cáo của Tổng cục Thuế năm 2012, công tác thuế năm 2012 đã đạt được kết quả thu NSNN với tổng thu ước được 607.844 tỷ đồng, bằng 104,5% so dự toán Quốc Hội giao, tăng 12.4% so với thực hiện năm 2011 Trong đó thu nội địa ước đạt 467.737 tỷ đồng, bằng 94.6% so dự toán năm Ngoài ra, có 47/63 địa phương tỉnh, thành phố ước hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán [36] Trong giai đoạn tiếp theo, những biện pháp chống thất thu thuế sẽ ngày càng được triển khai rộng rãi và triệt để nhằm đạt được ở mức cao nhất những mục tiêu của Nhà nước đã đặt ra với ngành thuế nói chung và thu ngân sách nói riêng

1.2.4 Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế

NNT là chủ thể một bên đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội Cũng như các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải hội đủ năng lực chủ thể - năng lực hành vi Nghĩa là tổ chức, cá nhân có thể là NNT khi họ thực hiện một hoặc một số hành

vi nhất định để thiết lập mối quan hệ với các giá trị vật chất, đánh dấu quyền sở hữu với giá trị mà mình tạo lập để từ đó, nhà nước có cơ sở để điều tiết thuế

Ngày đăng: 09/07/2015, 20:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 2. Nghị định 85/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 "2
7. Nghị quyết 68/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính8. Luật Khoáng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 68/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính "8
13. Học viện Hành chính Quốc gia, “Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước”, (dùng cho công chức cao cấp) Hà Nội, 1998, trang 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Hành chính Quốc gia, “Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước
18. Đặng Tiến Dũng (2003), “Tìm hiểu khái niệm quản lý và quản lý thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Tiến Dũng (2003), “"Tìm hiểu khái niệm quản lý và quản lý thuế
Tác giả: Đặng Tiến Dũng
Năm: 2003
19. Vũ Thị Hồng Nhung , “Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay và những vẫn đề cần hoàn thiện”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Thị Hồng Nhung , “"Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay và những vẫn đề cần hoàn thiện
21. Thu Trang, “Nhiều nội dung kh ng còn phù hợp trong Luật Quản lý thuế”, Website:http://www.baohaiquan.vn/Pages/Nhieu-noi-dung-khong-con-phu-hop.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu Trang, “"Nhiều nội dung kh ng còn phù hợp trong Luật Quản lý thuế
22. Học viện Hành chính Quốc gia, “Thuật ngữ hành chính”, Viện nghiên cứu hành chính, Hà nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Hành chính Quốc gia, “"Thuật ngữ hành chính”
23. PGS . TS . Nguyễn Ngọc Hùng , Giáo trình “Quản lý ngân sách nhà nước”, đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS . TS . Nguyễn Ngọc Hùng , Giáo trình “Quản lý ngân sách nhà nước
25. “Luật Quản lý thuế dưới góc nhìn của người nộp thuế”, http://www.camnangphapluat.com/viVN/Home/thongtin/tintuc/2012/06/6110.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Luật Quản lý thuế dưới góc nhìn của người nộp thuế
26. Ngô Quan Minh (2000), “Đề cương bài giảng đào tạo cao học và nghiên cứu sinh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Quan Minh (2000), “"Đề cương bài giảng đào tạo cao học và nghiên cứu sinh
Tác giả: Ngô Quan Minh
Năm: 2000
28. Vũ Hồng Long (2005),“ Hoàn thiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam” , Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội} Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Hồng Long (2005),“ "Hoàn thiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Hồng Long
Năm: 2005
29. Trịnh Hoàng Cơ (2004) “Nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”- Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Hoàng Cơ (2004) “"Nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới
30. “Báo cáo một năm trang thông tin điện tử ngành Thuế”, Tổng cục Thuế, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo một năm trang thông tin điện tử ngành Thuế
31. “ Tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu và giảm nợ đọng thuế” - báo điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu và giảm nợ đọng thuế
32. “Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010”, (Ban hành kèm quyết định định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010
33. Trần Bình Minh, (2012) , “Giới thiệu về quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Bình Minh, (2012) , “"Giới thiệu về quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp
35. Chính phủ (2012) “Báo cáo đánh giá tác động của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế”Website http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT.., ngày 20/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2012) “"Báo cáo đánh giá tác động của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế
36. “Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2012 và giải pháp thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm 2013”- Tổng cục thuế, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2012 và giải pháp thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm 2013
37. Theo báo điện tử- Cục Thuế Hà Nam 15 năm xây dựng và trưởng thành 38. “Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thuế”- Ths Trần Vũ Hải- Tạp chínghiên cứu Lập pháp điện tử) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo báo điện tử- Cục Thuế Hà Nam 15 năm xây dựng và trưởng thành "38. " “"Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thuế
39. Xuân Toàn, “Cải cách thủ tục nộp thuế”, Báo thanh niên online ngày 18/07/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Toàn, “"Cải cách thủ tục nộp thuế”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vật liệu xây dựng khai thác giai đoạn 2006-2010 - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Bảng 1 Vật liệu xây dựng khai thác giai đoạn 2006-2010 (Trang 47)
Bảng 7. Cơ cấu tổ chức Cục Thuế Hà Nam  (Phân theo văn phòng cục và các chi cục) - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Bảng 7. Cơ cấu tổ chức Cục Thuế Hà Nam (Phân theo văn phòng cục và các chi cục) (Trang 66)
Bảng 9: Bảng thể hiện số nộp NSNN của DN khai thác đá năm 2011  và 2012 - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Bảng 9 Bảng thể hiện số nộp NSNN của DN khai thác đá năm 2011 và 2012 (Trang 87)
Bảng 8: Bảng thể hiện kết quả thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ  môi trường đối với hoạt động khai thác đá từ năm 2007 đến năm 2010 - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Bảng 8 Bảng thể hiện kết quả thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác đá từ năm 2007 đến năm 2010 (Trang 87)
Nhìn  vào  02  bảng  số  liệu  trên,  có  thể  nhận  thấy,    số  thuế  và  phí  thu  được từ các doanh nghiệp khai thác đá tăng lên nhanh chóng qua các năm, đặc  biệt là từ 02 năm 2010 và 2011 - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
h ìn vào 02 bảng số liệu trên, có thể nhận thấy, số thuế và phí thu được từ các doanh nghiệp khai thác đá tăng lên nhanh chóng qua các năm, đặc biệt là từ 02 năm 2010 và 2011 (Trang 88)
Bảng  10:  Bảng  so  sánh  số  liệu  thực  tế  năm  2009  của  Công  ty  Vimeco - Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên đá trên địa bàn tỉnh Hà Nam
ng 10: Bảng so sánh số liệu thực tế năm 2009 của Công ty Vimeco (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w