1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

88 894 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu nhập của đối tượng nộp thuế không phân biệt thu nhập đó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ AN

THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ AN

THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Giang Thu

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị An

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

5

1.1 Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân 7

1.2 Những quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân 12 1.2.1 Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân 12 1.2.2 Nội dung của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân 15

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

33

2.1 Công tác thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân 33

2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện luật thuế

thu nhập cá nhân

44

Trang 5

2.2.1 Về đội ngũ cán bộ chuyên trách lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân 44 2.2.2 Quản lý thu nhập và kê khai người phụ thuộc 45 2.2.3 Tuyên truyền pháp luật thuế thu nhập cá nhân cho nhân dân 46 2.3 Những nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc trong quá trình

thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

58

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về

thuế thu nhập cá nhân

thuế thu nhập cá nhân

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Số người có thu nhập từ tiền công tiền lương phải nộp thuế 37

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

biểu đồ

2.1 Biểu đồ tổng số lao động và mã số thuế đã cấp đến năm 2012 36 2.2 Biểu đồ tỷ lệ số người nộp thuế ở bậc 1, bậc 2 với số thuế

đã nộp

38

2.3 Biểu đồ số thuế thu nhập cá nhân thu được bổ sung điều

tiết đối với các khoản thu nhập

39

2.4 Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi

huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước trong 3 năm

41

2.5 Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi

so với tổng thuế thu nhập cá nhân cả nước trong 3 năm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng là nguồn thu quan trọng và chủ yếu cho ngân sách nhà nước trong quá trình xây dựng đất nước cũng như hội nhập kinh tế quốc tế

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, số người nước ngoài đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam cũng như công dân Việt Nam làm việc và sinh sống ở nước ngoài ngày càng tăng Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường, sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Việc nhà nước ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân đã góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời nhà nước sẽ nắm bắt được thông tin về thu nhập cá nhân Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực cho ngân sách nhà nước, vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế mới ở Việt Nam

vì thế trong quá trình ban hành và triển khai thực hiện bất cập và vướng mắc

là điều khó có thể tránh khỏi

Để thực hiện Luật thuế có hiệu quả, việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở phân tích khó khăn, vướng mắc để

Trang 8

đưa các ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân là hết sức cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu lý luận

và thực tiễn, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu "Thực tiễn thực hiện pháp

luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" làm luận văn

tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, tìm

hiểu về thuế thu nhập cá nhân như: "Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ ngành kinh tế chính trị của Phạm Thị Phương Mai, 2008; "Kiểm soát thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập do cục thuế Thành phố Đà Nẵng thực hiện", Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của Bùi Công Phương, 2011; "Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại chi cục thuế quận 2", Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành luật kinh tế của Lê Phương Thảo, 2010 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên hoàn thành từ năm

2011 trở về trước và chủ yếu nghiên cứu, phân tích những quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân chứ không phải thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân tại địa phương Bên cạnh đó, từ năm 2011 đến nay pháp luật

về thuế thu nhập cá nhân đã có nhiều thay đổi quan trọng và những yêu cầu thực tiễn cũng có sự thay đổi Do đó vấn đề này vẫn cần được tiếp tục nghiên

cứu để hoàn thiện

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích

Việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân thời gian qua ở Việt Nam và các địa phương là yêu cầu cấp thiết, góp phần hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân Mục đích của luận văn là tìm hiểu thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở địa phương

Trang 9

trên cơ sở đó đề ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân , góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của Luật thuế thu nhập

cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là những quy định chủ yếu điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thuế thu nhập cá nhân Luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đây là cơ sở để đánh giá tính hiệu quả, sự tác động của Luật thuế thu nhập cá nhân thời gian qua và kết quả thu được sau quá trình thực hiện luật thuế trên thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thuế thu nhập cá nhân

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê Đồng thời tác giả cũng sử dụng nguồn thông tin

dự liệu từ nhiều nguồn như: từ các khảo sát, nghiên cứu khoa học về thuế thu nhập cá nhân của các nhà nghiên cứu, các dự liệu từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục thuế Quảng Ngãi, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi, các bài báo, tạp chí, báo điện tử, tài liệu hội thảo liên quan đến vấn đề thuế thu nhập cá nhân

6 Ý nghĩa của luận văn

- Đây là công trình nghiên cứu khoa học cụ thể về những quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thực hiện tại địa phương cụ thể

- Đánh giá sự phù hợp của pháp luật đối với hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tế, rút ra những điểm bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện quy định cụ thể của pháp luật, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của Luật này trong thời gian tới, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, tạo lập công bằng xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và những

quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên

địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp

luật về thuế thu nhập cá nhân

Trang 11

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, việc đánh thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của một nhà nước Mỗi nhà nước ở một giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau Nhưng để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi tiêu để duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà nhà nước đó cai quản, chi cho các công việc thuộc chức năng nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, nhà nước thường sử dụng các hình thức động viên khác nhau Hình thức nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình - đó chính

Trang 12

Thu nhập cá nhân trong kinh tế là thuật ngữ đề cập đến các khoản thu nhập của một cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác, nó là tổng hợp của tất cả các thu nhập thực nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình Còn theo cách hiểu thông thường thì "thu nhập cá nhân" là khoản thu nhập mà một người có được bằng hoạt động của mình

Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh

Đối với những quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng trong việc huy động nguồn thu ngân sách và thực hiện công bằng xã hội

Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841), sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) Trung Quốc, thuế thu nhập cá nhân ra đời từ năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành sắc thuế độc lập; Ở Pháp, thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1961; Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc 1974 và cho đến nay theo thống kê của ERNT&YOUNG tại "the global Excutive" hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế suất thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh

và cá nhân không kinh doanh Thuế này được coi là sắc thuế đặc biệt vì có lưu

ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt

Theo quy định của Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân thì "đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch có thu nhập phát sinh theo quy định tại Điều 3 Luật thuế thu

nhập cá nhân đều phải nộp thuế" [55] Như vậy, thuế thu nhập cá nhân cũng là

thuế đánh trên khoản thu nhập của chủ thể nhất định nhưng thuế thu nhập cá

Trang 13

nhân khác với thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào những cá nhân có thu nhập quy định tại Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân còn thuế thu nhập doanh nghiệp thì đánh vào mọi doanh nghiệp có thu nhập Vì vậy đối tượng miễn thuế thu nhập cá nhân là những khoản thu nhập của cá nhân chứ không phải cá nhân có thu nhập, đối tượng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp có thu nhập được miễn thuế chứ không phải khoản thu nhập của doanh nghiệp

1.1.2 Đặc trƣng của thuế thu nhập cá nhân

Sự ra đời của thuế thu nhập cá nhân bắt nguồn từ hai yêu cầu cơ bản là đảm bảo nhu cầu xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Thuế thu nhập cá nhân có những đặc trưng cơ bản sau:

- Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân Do đó đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế sang cho đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế

- Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện ở hai khía cạnh:

Một là, thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu nhập của đối

tượng nộp thuế không phân biệt thu nhập đó phát sinh có nguồn gốc trong nước hay nước ngoài Chính vì vậy, nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ thuế thu nhập cá nhân là rất lớn

Hai là, đối tượng kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân là những người

có thu nhập, bao gồm cả công dân của nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc,

có thu nhập theo mức độ quy định của luật thuế thu nhập cá nhân Với quy định này việc bỏ sót đối tượng nộp thuế rất ít xảy ra Nhà nước dễ dàng quản

lý được thu nhập của dân cư và áp dụng các chính sách thuế phù hợp

Trang 14

- Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế thu nhập doanh nghiệp ở chỗ thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên khoản thu doanh nghiệp có được sau khi trừ chi phí phát sinh từ hoạt động doanh nghiệp còn thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập tính thuế là khoản thu của cá nhân không những được khấu trừ chi phí cuộc sống của đối tượng nộp thuế (tái tạo sức lao động) mà còn được loại trừ một số khoản thu nhập khác như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, chi phí nuôi con, nuôi dưỡng cha mẹ già, lưu ý đến hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt Đây là những khoản khấu trừ mang tính chất nghĩa vụ của người nộp thuế được pháp luật quy định vì các nghĩa

vụ này các chủ thể chỉ thực hiện được khi gắn liền với thu nhập của mỗi cá nhân Việc thực hiện quy định này cũng nhằm đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật khác mà nhà nước đã ban hành

- Góc độ kỹ thuật tính thuế thu nhập cá nhân khá phức tạp, áp dụng phương pháp lũy tiến bởi diện đánh thuế rất rộng, việc tính thuế gắn liền với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể mới đảm bảo được công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp hơn khi chưa nộp thuế Đây là điều kiện khuyến khích các cá nhân tích cực lao động sản xuất để tăng thu nhập đồng nghĩa với việc nhà nước tăng nguồn thu từ thuế

1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế trực thu có diện đánh thuế rộng, nên việc ban hành sắc thuế ảnh hưởng rất lớn đến nhà nước cũng như đối tượng nộp thuế

1.1.3.1 Đối với nhà nước

Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân trở thành công cụ vô cùng cần thiết

và hữu hiệu trong việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện

Trang 15

công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để kiểm soát thu nhập dân cư nhà nước sử dụng đồng thời hai cơ chế là cơ chế tự kê khai nộp thuế và cơ chế quản lý tiền công, tiền lương, báo cáo quyết toán kinh doanh tuy chưa thực sự chính xác nhưng là căn cứ thống kê thu nhập của nhân dân phục vụ cho định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước phù hợp hơn

Hiện nay trên thế giới sự phân chia giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội ngày càng rõ rệt Mặc dù các khoản thu nhập cá nhân có được là do năng lực

và sức lao động của mình bỏ ra, tuy nhiên các cá nhân không có thu nhập cao (không phải nộp thuế) phải chịu ảnh hưởng trực tiếp những hệ lũy xã hội phát sinh từ người có thu nhập cao hơn như sinh hoạt phí, giá điện, xăng, phí môi trường, chi phí về y tế, giáo dục tăng cao và các loại thuế khác phục vụ cho nhu cầu tái cấu trúc xã hội Đây là những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn đối kháng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế thu nhập cá nhân được xem như công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của người có thu nhập cao, nhằm đảm bảo công bằng xã hội Thuế thu nhập cá nhân góp phần đáng kể đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bởi lẽ thuế thu nhập cá nhân là một giải pháp

để tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư là cho tổng cầu của xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hoặc kích thích kinh tế phát triển

Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng của ngân sách

nhà nước Dù không phải là mục tiêu chủ yếu song việc thực hiện chính sách thuế nói chung và chính sách thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã tạo nguồn thu vững chắc cho hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới Cùng với xu hướng phát triển kinh tế ngày càng tăng, thu nhập ngày càng nhiều thì việc cải thiện nguồn ngân sách nhà nước bằng việc thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân là không thể phủ nhận

Trang 16

Thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân

góp phần hoàn thiện, khắc phục nhược điểm của một số chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhiều nhược điểm là

có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa mọi người không phân biệt giàu nghèo đều phải chịu một mức thuế như nhau Việc tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp lũy tiến từng phần khắc phục được nhược điểm này

Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu

nhập doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì cá nhân hưởng những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thuế thu nhập

cá nhân đối với thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân

1.1.3.2 Đối với người nộp thuế

Trong xu hướng hiện nay, thu nhập của dân cư có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập thấp nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập cao, nhất là các cá nhân làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, ngành nghề giải trí hoặc cá nhân nước ngoài làm việc tại Việt Nam Tuy nhiên chỉ những cá nhân có thu nhập chịu thuế được quy định trong thuế thu nhập cá nhân mới phải nộp thuế Đồng thời việc xác định

Trang 17

thu nhập chịu thuế luôn trên nguyên tắc khấu trừ trước khi tính thuế Quy định nêu trên đã thể hiện nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế của người có thu nhập Cụ thể, tất cả các cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp miễn, giảm thuế) không kể người Việt Nam hay nước ngoài, công chức hay hành nghề tự do đều phải nộp thuế; người có thu nhập thấp hơn chưa phải nộp thuế, người có thu nhập cao hơn thì hưởng các nguồn lợi nhiều hơn, làm phát sinh chi phí chung xã hội lớn hơn nên phải nộp thuế nhiều hơn; người

có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì phải nộp thuế khác nhau

Để thấy rõ vai trò trên của thuế thu nhập cá nhân có thể sử dụng đường cong Lorenz dưới đây (hình 1.1)

Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập

Đồ thị trên cho thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự phân phối công bằng Điều đó được trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua việc thực hiện thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo rút ngắn

khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội

`Cũng như những sắc thuế khác, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế mang lại nguồn ngân sách khá lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới Cho

Thu nhập được phân phối công bằng Thu nhập trước thuế Thu nhập sau thuế

Dân cư % GDP %

Trang 18

đến nay có hơn 180 nước trên thế giới đã áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân, tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 13-40% tổng số thu ngân sách tùy theo quan điểm đánh thuế của từng nước Chẳng hạn như ở Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức là 30-40%; Các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippines chiếm khoảng 13-14% [51] Ở Việt Nam thuế thu nhập cá nhân ra đời muộn và nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng 3-7% tổng thu ngân sách [28] Tuy là nguồn thu không lớn, nhưng đây cũng là nguồn thu quan trọng để nhà nước sử dụng tái đầu tư vào các công trình như điện, đường, trường, trạm và các hoạt động xã hội cũng như xây dựng an ninh quốc phòng góp phần nâng cao đời sống của bản thân người nộp thuế nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn như hiện nay

Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế đánh trực tiếp trên thu nhập cá nhân nên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoàn cảnh gia đình của người nộp thuế Hơn nữa việc xác định thu nhập chịu thuế hiện nay rất khó nhất là đối với những thu nhập từ ngành, nghề tự do, vì vậy chưa đảm bảo được nhu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế, chưa đáp ứng được công bằng xã hội, tạo tâm lý phân bua trong một số bộ phận người nộp thuế

1.2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.2.1 Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập

cá nhân

Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam được nêu rõ trong Tờ trình Quốc hội số 134/TTr-CP ngày 17 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ

Trang 19

1.2.1.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân

Thứ nhất, đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp

dân cư trong xã hội Tính công bằng trong chính sách thuế thu nhập cá nhân biểu hiện ở chỗ: các cá nhân có thu nhập ngang nhau thì phải được nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang); các cá nhân có thu nhập khác nhau thì phải nộp thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc) Đối với thuế thu nhập cá nhân, công bằng theo chiều dọc nghĩa là điều tiết thu nhập nhiều hơn đối với những người có thu nhập cao hơn Muốn thực hiện sự công bằng trong thực thi thuế thu nhập cá nhân cần xác định đúng đắn đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, mức thuế phải nộp và các khoản giảm trừ

Thứ hai, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến

khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng Việc ban hành thuế thu nhập cá nhân phải thể hiện được tính hợp lý đối với tất cả các khoản thu nhập dân cư, chỉ đánh thuế sau khi đã tính toán các khoản khấu trừ cho cá nhân phù hợp, đồng thời mức thuế suất phản ánh được quyền lợi cá nhân nhận được sau khi đánh thuế Nếu mức thuế suất quá cao, tức là khoản thu nhập còn lại sau khi nộp thuế quá thấp sẽ dẫn đến tâm lý không muốn làm việc để có thêm thu nhập hoặc tìm cách trốn các nghĩa vụ thuế

Thứ ba, ban hành và áp dụng thuế thu nhập cá nhân có tính đến bước

đi phù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa những quy định

có tính chọn lọc những quy định trong chính sách thuế hiện hành Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam ra đời muộn so với nhiều quốc gia trên thế giới, song nguồn thu nhập bình quân đầu người dân cư chưa cao, việc quản lý thu nhập của dân cư cũng rất khó khăn Vì vậy khi ban hành luật thuế, nhà nước phải tính đến các đặc trưng riêng của thu nhập dân cư, các quy định pháp luật hiện hành trong nước nhằm đạt hiệu quả thi hành luật cao Tuy nhiên, do nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam

Trang 20

tham gia hoặc ký kết, các chính sách thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng cũng phải tính đến sự phù hợp với thông lệ quốc tế

Thứ tư, đảm bảo huy động nguồn lực để nhà nước giải quyết tốt hơn

các vấn đề xã hội Thuế là công cụ quan trọng có khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của nhà nước và giải quyết các vấn đề xã hội Nhất là trong điều kiện hiện nay khi vai trò của nhà nước không chỉ đơn thuần điều chỉnh kinh tế - xã hội bằng các biện pháp hành chính và ngày càng sử dụng nhiều biện pháp kinh tế để can thiệp và điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội Đối với thuế thu nhập cá nhân, có hai cách để đảm bảo tăng mức thu thuế cho ngân sách nhà nước là tăng thuế suất

và mở rộng diện đánh thuế Trong đó, cách thứ hai đảm bảo tính khả thi và hiệu quả hơn vì xu hướng mở rộng diện đánh thuế, giảm bớt thuế suất tối đa hiện nay đang là trào lưu cải cách chung của các nước trên thế giới và đã được chứng minh qua thực tiễn thành công ở nhiều quốc gia

1.2.1.2 Yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá nhân

Một là, nắm thông tin về thu nhập dân cư, từng bước quản lý tiến tới

kiểm soát thu nhập, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước trong từng thời kỳ Hiện nay, việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn là do nhiều nguyên nhân, trong đó việc nhà nước chưa có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát thu nhập và nắm thông tin thu nhập dân cư là một trong những nguyên nhân quan trọng Việc thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong những giải pháp hữu hiệu để nhà nước có thể thể nắm thông tin và tiến tới kiểm soát thu nhập Bởi vì, muốn thu thuế thu nhập cá nhân thì nhà nước phải biết được các khoản thu mà cá nhân có được trong quá trình hoạt động của mình Việc kiểm soát thu nhập thông qua chính sách thuế sẽ có hiệu quả hơn nhiều so với việc điều tra thu nhập thông qua các kênh thông tin, khảo sát xã hội và các báo cáo mang tính định ước của các cơ quan, tổ chức

Trang 21

Hai là, đảm bảo đơn giản dễ thực hiện, dễ kiểm tra, minh bạch và

Ba là, phù hợp với thực tiễn và hệ thống pháp luật của Việt Nam, phù

hợp với thông lệ quốc tế Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam ra đời trong điều kiện nhiều sắc thuế trong nước đã phát triển và tương đối hoàn thiện, thuế thu nhập cá nhân của các nước trên thế giới chiếm vai trò quan trọng trong tổng thu nhập quốc dân và việc đẩy mạnh kinh tế quốc tế cũng như sự chuyển dịch lao động giữa các quốc gia diễn ra mạnh mẽ Việc ban hành một chính sách thuế mới phải phù hợp với chính sách pháp luật trong nước và thông lệ quốc

tế là yêu cầu quan trọng đảm bảo tính khả thi khi được ban hành và tạo điều kiện thuận lợi hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2 Nội dung của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân

1.2.2.1 Đối tượng nộp thuế

Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng chính là đối tượng nộp thuế Việc xác định đối tượng nộp thuế là cơ

sở để vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Đối với cá nhân thì "nguồn phát sinh thu nhập" và "nơi cư trú" có thể là ở các quốc gia khác nhau Vì vậy, để xác định đối tượng nộp thuế, thông thường dựa vào hai tiêu thức là "nguồn phát sinh thu nhập" và "nơi cư trú"

Trang 22

Tiêu thức "nơi cư trú" quy định một cá nhân phải nộp thuế đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ mọi nơi trên thế giới tại nước mà cá nhân được xác nhận là cư trú

Tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" lại quy định, một cá nhân chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Quốc gia phát sinh nguồn thu nhập đó

Từ trước đến nay, việc tính thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia trên thế giới chủ yếu dựa vào tiêu thức "nơi cư trú" Bởi vì việc tính thuế thu nhập cá nhân theo tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" rất phức tạp đối với việc xác định thu nhập cá nhân, khoản miễn trừ khi cá nhân đó có nguồn thu nhập và nơi cư trú ở nhiều quốc gia khác nhau Dựa vào tiêu thức "nơi cư trú" việc tính thuế thu nhập cá nhân đơn giản hơn rất nhiều vì dù các khoản thu nhập đó thường được chuyển về nơi cư trú hoặc thông qua hợp đồng lao động, vì vậy nhà nước vẫn có thể kiểm soát được thu nhập Đồng thời các khoản khấu trừ thông thường phát sinh từ nơi cư trú nên việc tính thuế thu nhập cá nhân cũng tương đối chính xác đối với những đối tượng này Tuy nhiên, trong Luật thuế thu nhập cá nhân của mỗi nước lại có khái niệm khác nhau về nơi cư trú:

Nhật Bản đưa ra một định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú, cụ thể là: Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục trong vòng 5 năm;

cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật Bản nhưng có nơi cư trú ở Nhật Bản từ 1 năm trở lên nhưng không quá 5 năm; cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm Các cá nhân nước ngoài đến Nhật Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bản trừ khi các hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ khác ghi rõ rằng họ sẽ ở lại Nhật Bản ít hơn 1 năm Các cá nhân

cư trú thường xuyên bị đánh thuế trên thu nhập từ mọi nguồn; các cá nhân cư

Trang 23

trú không thường xuyên bị đánh thuế trên thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài nhưng được trả tại Nhật Bản hoặc được chuyển đến Nhật Bản; các cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồn gốc từ Nhật Bản Ở Pháp, một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt tại Pháp hơn 06 tháng trong một năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập Ở Hàn Quốc, cá nhân cư trú tại Hàn Quốc là người có nhà ở Hàn Quốc hoặc cư trú tại Hàn Quốc 01 năm trở lên Ở Hồng Kông, mọi cá nhân không phân biệt "cư trú" hay "không cư trú" chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở Hồng Kông đối với các khoản thu nhập phát sinh ở nước này Luật thuế thu nhập cá nhân của Mỹ lại quy định: cá nhân cư trú là công dân Mỹ và

những người cư trú ở Mỹ tối thiểu 330 ngày đêm [62, tr 13-14]

Như vậy, tùy theo chính sách và trình độ quản lý mà mỗi quốc gia sẽ đưa ra quy định của mình cho phù hợp

Đối với những cá nhân không cư trú mà có phát sinh thu nhập tại nước

đó thì hầu hết các quốc gia sử dụng tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" để đánh thuế thu nhập cá nhân Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, hầu như không đánh thuế đối với công dân nước họ đi làm hoặc đầu tư ở nước ngoài vì nếu đánh thuế với những đối tượng này thì công dân nước họ bị đánh thuế thu nhập cá nhân hai lần

Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân thì đối tượng nộp thuế là cá nhân có cư trú tại Việt Nam đáp ứng hai điều kiện:

(1) có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; và (2) có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn [55]

Trang 24

Luật thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 đã bổ sung quy định

"thời hạn của hợp đồng thuê nhà để ở trên hợp đồng là 183 ngày trở lên" [60], nhưng quá trình triển khai vẫn phát sinh bất cập là người Việt Nam có nơi ở thường trú tại Việt Nam mà đi công tác, học tập, lao động tại nước ngoài từ

183 ngày trở lên, người nước ngoài là đối tượng cư trú tại nước ngoài đến Việt Nam từ 183 ngày trở lên đều có thể là đối tượng cư trú của 2 nước và là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trên thu nhập toàn cầu Mặc dù không dẫn đến tình trạng cá nhân là đối tượng cư trú của 2 nước như nêu trên bị đánh thuế trùng và không làm tăng thêm số thuế thu được (do đã được khắc phục bằng việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết), tuy nhiên quy định này vẫn phát sinh thủ tục

hành chính gây phiền hà cho người nộp thuế và phức tạp trong quản lý thu thuế

1.2.2.2 Thu nhập chịu thuế

Để đánh giá đúng và chính xác tiêu chí của việc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân mà từng nước áp dụng như: Sắc thuế này có thực sự công bằng không, thuế này đem lại nguồn thu như thế nào cho ngân sách thì việc xác định các loại thu nhập chịu thuế là vấn đề mang tính quyết định Thu nhập chịu thuế là một khoản thu nhập nằm trong diện chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân của từng quốc gia Để tính được thuế thu nhập cá nhân mà đối tượng nộp thuế phải nộp, trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là thu nhập chịu thuế và cách tính thu nhập, sau đó trừ các khoản miễn trừ, khấu trừ (nếu có) cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, áp dụng thuế suất theo quy định sẽ xác định được số thuế phải nộp

Thu nhập cá nhân được hiểu là giá trị vật chất cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là 01 năm) sau khi đã khấu trừ các chi phí

để tạo ra thu nhập đó

Trang 25

Thu nhập được phân loại theo các căn cứ khác nhau để xác định đối tượng tính thuế:

- Theo thời gian: Thu nhập được chia thành thu nhập thường xuyên và không thường xuyên

- Theo nguồn tạo ra thu nhập: Thu nhập từ lao động, thu nhập từ đầu

tư và thu nhập khác

+ Thu nhập từ lao động: Là khoản thu nhập thường xuyên nhận được dưới dạng như thu nhập từ tiền công, tiền lương, kinh doanh, hành nghề tự do hoặc các khoản thù lao cá nhân nhận được trong quá trình lao động

+ Thu nhập từ đầu tư: Lãi cổ phần, lãi cho vay,

+ Thu nhập khác: Lãi từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ quà biếu, quà tặng, tiền nhuận bút, trúng xổ số,

- Theo chủ thể hưởng thu nhập: Thu nhập công ty, thu nhập Chính phủ, thu nhập cá nhân

Thu nhập cá nhân có rất nhiều loại, nhưng không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Việc quy định thu nhập và mức độ chịu thuế phụ thuộc vào quan điểm, mục tiêu điều tiết thu nhập, mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội của từng quốc gia trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Thu nhập từ lao động hầu như bị đánh thuế ở tất cả các quốc gia trên thế giới tuy mức độ chịu thuế có thể khác nhau, thu nhập

từ đầu tư và thu nhập khác thì pháp luật mỗi quốc gia có những quy định khác nhau Vì vậy cùng một khoản thu nhập có thể ở quốc gia này bị đánh thuế thu nhập cá nhân nhưng quốc gia khác có thể là không

Thu nhập chịu thuế được quy định tại Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 và Khoản 1 Điều 1 Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế cá nhân Theo quy định tại các điều này, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được chia thành các nhóm thu nhập:

Trang 26

Thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh

hộ gia đình, cá nhân; thu nhập từ đầu tư vốn; chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng xổ số, casino và trúng thưởng khác; thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng [55], [60] Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế thu nhập cá nhân là đối tượng tính thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một

số giới hạn nhất định Tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà quy định những khoản khấu trừ phù hợp Tuy nhiên, về cơ bản các nước đều

áp dụng nguyên tắc chung là: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ một số khoản mang tính chất xã hội trước khi tính thuế

- Các khoản khấu trừ có tính chất kinh tế: Cá nhân có các khoản thu

sẽ phải trả những chi phí này Do vậy, sẽ có một khoản tiền trong các khoản thu của cá nhân mà cá nhân chỉ tạm thời sở hữu chứ không được toàn quyền

sử dụng tương ứng với chi phí này Khoản tiền này sẽ nhanh chóng được chuyển quyền sở hữu khi người đó chi trả các chi phí trên Như vậy, các chi phí để tạo ra thu nhập cần được khấu trừ để xác định thu nhập của mỗi cá nhân

+ Đối với thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch

vụ của các hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp Nguyên tắc khấu trừ là tất các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp

đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã thực hiện bao gồm: lương công nhân, chi phí thuê mướn, tiền trợ cấp,

Trang 27

chi phí mua vật tư, nguyên liệu, chi phí bảo hiểm, các chi phí về dịch vụ cung cấp từ bên ngoài, khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng

Quy định chung về khấu trừ các phí tổn này là chi phí đã thực sự chi trả và cần thiết liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra thu nhập Trong thực tế, rất khó xác định ranh giới được khấu trừ hay không được khấu trừ nên thông thường phải có những khống chế hay giới hạn tối đa rất tỷ mỉ, chặt chẽ thì mới có thể quản lý được Về nguyên tắc một cá nhân phải có các chứng từ hợp lệ để chứng minh được các chi phí mà mình phải bỏ ra liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập Tuy nhiên, việc quản lý được chi phí rất khó Nhiều trường hợp cá nhân không có đủ chứng từ hợp lệ để chứng minh chi phí mình

bỏ ra, đối với những trường hợp này Nhà nước sẽ khoán một chi phí định mức cho cá nhân theo một số tiêu chuẩn nhất định gọi là thuế khoán Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức thuế khoán cũng không có một quy định cụ thể nên hầu hết chỉ dựa vào tính áp đặt chủ quan của cơ quan thuế

+ Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội và các khoản thu nhập tương tự Để xác định tính thuế đối với những loại thu nhập

này thông thường pháp luật quy định cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp như các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tuổi già Vì đây là những khoản thu nhập cố định và là thu nhập chính của cá nhân, những khoản thu nhập này cá nhân chỉ có được trong một khoảng thời gian nhất định (thường ở độ tuổi lao động), đối với các cá nhân có thu nhập từ các ngành nghề đặc biệt như ca sĩ, diễn viên, bác sĩ thì thời gian thực hiện công việc có thu nhập ngắn hơn và mức độ rủi ro nghề nghiệp cũng cao hơn

vì vậy mức chi phí được tính nhiều hơn

+ Đối với thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay Đối tượng tính thuế là

số lãi thu được sau khi trừ chi phí Đối với khoản thu nhập này cá nhân có thu nhập phải bỏ ra một khoản vốn nhất định để đầu tư, vì vậy chỉ có thể đánh

Trang 28

thuế sau khi cá nhân đã trừ đi khoản đầu tư ban đầu (bao gồm cả vốn và chi phí) Trong trường hợp đầu tư không có lãi thì không thể đánh thuế vì cá nhân không có thu nhập

+ Đối với thu nhập từ thừa kế Đây là khoản thu nhập tính thuế có tính

chất đặc biệt do người thừa kế phải chịu trách nhiệm cả về những khoản nợ của người để lại di sản thừa kế Do đó, đối tượng tính thuế là số chênh lệch dương giữa tài sản thừa kế và các khoản nợ của người để lại di sản thừa kế, ngoài ra tùy theo quan hệ thừa kế, người thừa kế có thể được miễn hoặc trừ thêm một khoản không phải tính thuế Đây là khoản thu nhập cá nhân có được

mà không phải bỏ sức lao động hay bỏ vốn ban đầu, vì vậy di sản thừa kế là khoản thu mà cá nhân nhận được Tuy nhiên có nhiều trường hợp người thừa

kế phải thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai với người để lại di sản như nghĩa vụ thờ cúng hoặc phần di sản cá nhân được hưởng lại không được tự sử dụng mà phục vụ mục đích chung, trong trường hợp này mặc dù có thu nhập nhưng khoản thu đó được miễn hoặc giảm trừ là hợp lý

- Các khoản chi tiêu mang tính chất xã hội, khoa học, những thu nhập mang tính chất trợ cấp xã hội, giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo không nơi nương tựa, người tàn tật Những khoản chi của cá

nhân được xem xét để khấu trừ để xác định thu nhập nộp thuế là:

+ Những chi phí đặc biệt Chi phí có tính chất tiêu dùng như khấu trừ

cho bản thân người nộp thuế, khấu trừ cho người phụ thuộc, bảo hiểm y tế, các khoản đóng góp bắt buộc theo luật định như tiền nuôi dưỡng bố mẹ, tiền nuôi dưỡng con cái, những khoản chi này được xem là những khoản chi phí đặc biệt bởi vì đây là những khoản chi phí không phát sinh trực tiếp trong quá trình tạo ra thu nhập mà là những khoản chi phí phục vụ tái tạo sức lao động

để tạo ra thu nhập cho cá nhân nộp thuế hoặc những khoản chi phí chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ thể khác Những khoản chi phí này là

Trang 29

những khoản chi bắt buộc chủ thể phải thực hiện thông thường được pháp luật quy định trong giới hạn nhất định

+ Các khoản phúc lợi xã hội như những chi phí bắt buộc bao gồm

những khoản về thuốc chữa bệnh, thiên tai, dịch họa hoặc chi phí của người tàn tật thu nhập được sử dụng trong các trường hợp này thường được miễn thuế thu nhập cá nhân, những quy định này là để bảo đảm có sự bình đẳng với những người không phải chi những chi phí này

Tất cả các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể gọi là "suất miễn thu" Các quốc gia trên thế giới quy định

cụ thể những khoản thu được miễn thuế, ngoài những khoản thu miễn thuế đó

ra thì tất cả các khoản thu còn lại đều bị đánh thuế Việc quy định này giúp cơ quan nhà nước dễ dàng quản lý các khoản thu của cá nhân đồng thời xác định chính xác thu nhập chịu thuế, tránh trường hợp "đánh thuế sót" Còn cách quy định của pháp luật Việt Nam nêu rõ thu nhập chịu thuế, cách quy định này có thể giúp cơ quan có thẩm quyền dễ dàng xác định được các loại thu nhập chịu thuế nhưng không thể quản lý được các khoản thu Đồng thời có nhiều khoản thu nhập phát sinh mà nhà làm luật không thể trù liệu trước hoặc phát sinh sau khi ban hành luật thuế lại không phải nộp thuế, dẫn đến hệ quả là "đánh thuế sót" Nếu muốn thu thuế đối với các khoản thu này cơ quan có thẩm quyền lại phải sửa đổi luật đã ban hành làm tốn kém ngân sách nhà nước và gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan thuế và nhân dân

Trang 30

một mức thuế suất Vì vậy căn cứ vào nguồn gốc, đặc điểm thu nhập để điều chỉnh mức thuế suất cho phù hợp

- Thuế thu nhập cá nhân tổng hợp: Loại thuế này được tính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại Với cách tính này thì người có thu nhập cao hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn

Để xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp phải dựa vào thu nhập tính thuế và thuế suất Tùy theo quan điểm về mục đích sử dụng thuế thu nhập

cá nhân của mỗi quốc gia, thuế thu nhập cá nhân được tính theo bảng tính thuế lũy tiến hoặc tính thuế bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định Để áp dụng mức thuế phù hợp với từng loại thu nhập cần phải sử dụng các phương pháp tính thuế khác nhau

Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân được áp dụng chủ yếu ở Việt Nam là phương pháp tính thuế theo lũy tiến từng phần và phương pháp tính thuế theo lũy tiến toàn phần

- Phương pháp tính thuế lũy tiến từng phần: Thuế suất được sử dụng trong phương pháp này là phương pháp lũy tiến từng phần, theo phương pháp này thì thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở thuế Với cách tính thuế này, cơ sở tính thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần Ứng với mỗi lần tăng lên trong từng bậc thuế là một mức thuế suất biên

Số thuế mà đối tượng phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng bậc Tuy việc tính toán và kiểm tra thuế phải nộp theo phương pháp này là khá phức tạp nhưng cách tính này lại đảm bảo số thuế phải nộp tăng dần, không bị đột biến cùng với tốc độ tăng của cơ sở thuế, đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập

Phương pháp tính thuế này được áp dụng đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số

Trang 31

ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, quỹ hưu trí tự nguyện, các khoản giảm trừ gia cảnh và giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện nhân đạo

Bảng 1.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần

Nguồn: Luật thuế thu nhập cá nhân, 2007

- Phương pháp tính thuế lũy tiến toàn phần: Theo phương pháp này, biểu thuế cũng được chia thành nhiều bậc ứng với mỗi mức tăng lên của thuế suất nhưng toàn bộ cơ sở thuế được áp dụng một thuế suất chung tương ứng Phương pháp tính thuế suất lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp đơn giản nhanh chóng Tuy nhiên, cách tính này có nhược điểm là gây ra

sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế Mặc dù giá trị cơ sở thuế thay đổi không đáng kể nhưng người chịu thuế lại phải nộp một thuế suất tương ứng tăng lên cho toàn bộ cơ sở thuế Do

đó, số thuế phải nộp tăng cao, sự tăng thuế này dẫn đến phản ứng tiêu cực từ phía đối tượng nộp thuế, làm giảm vai trò của thuế

Phương pháp tính thuế này được áp dụng đối với những khoản thu nhập mang tính chất đột biến gồm đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng

Trang 32

Bảng 1.2: Biểu thuế toàn phần

Thu nhập tính thuế Thuế suất (%)

đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều

13 của Luật thuế thu nhập cá nhân 2007

20

Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 2

e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2

Điều 14 của Luật thuế thu nhập cá nhân 2007

2

Nguồn: Luật thuế thu nhập cá nhân, 2007

Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 quy định có 10 khoản thu nhập chịu thuế Có nhiều loại thu nhập có hai phương pháp tính thuế như: thu nhập hộ gia đình, cá nhân kinh doanh; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán [55]

Đối với thu nhập từ kinh doanh hộ gia đình, cá nhân kinh doanh Có

hai phương pháp tính thuế: Phương pháp thứ nhất áp dụng với hộ gia đình, cá nhân thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thì thuế thu nhập cá nhân được xác định trên cơ sở doanh thu trừ (-) chi phí; trừ (-) gia cảnh; trừ (-) các khoản nộp bảo hiểm xã hội; trừ (-) các khoản đóng góp quỹ từ thiện, nhân đạo, khuyến học; nhân (x) với thuế suất (gồm 7 bậc theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần) Phương pháp thứ hai áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh chưa áp dụng đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thì thuế thu nhập cá nhân được xác định trên cơ sở: Doanh thu ấn định, nhân (x) tỷ lệ

Trang 33

thu nhập chịu thuế của từng ngành, nghề (quy định cho 6 khu vực) trừ (-) gia cảnh và các khoản giảm trừ khác; nhân (x) với thuế suất (gồm 7 bậc theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần)

Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán:có hai phương pháp

tính thuế, thị trường chứng khoán từ năm 2009 đến nay luôn giảm điểm so với giá chuyển nhượng chứng khoán giảm; các nhà đầu tư chuyển nhượng chứng khoán lỗ nhưng vẫn phải nộp thuế trên thuế suất 0,1% giá chuyển nhượng (khấu trừ tại nguồn) Rất ít nhà đầu tư là cá nhân thực hiện việc quyết toán và

áp dụng mức thuế suất 20% chênh lệch giữa giá bán và giá mua do phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và rất khó xác định giá bán bình quân mỗi mã chứng khoán bán ra khi quyết toán thuế

Đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản (nhà, đất)

Có hai phương pháp tính thuế, trên thực tế hầu hết các trường hợp chuyển nhượng nhà đất đều áp dụng phương pháp nộp 2% trên giá trị chuyển nhượng, các bên thường làm hợp đồng có giá tương đương với giá đất ấn định của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm chuyển nhượng để trốn thuế; trường hợp nộp thuế 25% trên giá trị chênh lệch không nhiều do người chuyển nhượng không đủ hóa đơn chứng từ chứng minh giá mua và các chi phí liên quan; việc xác định giá chuyển nhượng gặp nhiểu khó khăn cho người bán, người mua thanh toán với nhau bằng tiền mặt, vàng, ngoại tệ khi kê khai thuế thường kê khai giá thấp hơn so với giá chuyển nhượng thực tế Ngoài ra nhiều trường hợp trốn thuế bằng cách làm hợp đồng đổi nhà, đổi đất

Như vậy, việc pháp luật quy định hai phương pháp tính thuế đối với một khoản thu nhập là không đảm bảo minh bạch, dễ phát sinh lợi dụng, tiêu cực Trên thực tế để quản lý loại thu nhập này cơ quan thuế phải ban hành trên 40 thủ tục về thuế, điều đó không những làm tăng áp lực công việc cho cán bộ ngành thuế mà còn tăng gánh nặng hành chính cho người dân khi thực hiện luật thuế

Trang 34

1.2.2.4 Miễn, giảm thuế

Tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, tình hình biến động kinh tế ở mỗi thời điểm mà các nước quy định việc miễn thuế, giảm thuế cho phù hợp

Ví dụ ở Mỹ quy định "suất miễn, giảm thu nhập" cho người nộp thuế trong trường hợp này phải chứng minh được rằng mình phải cung cấp quá nửa

sự hỗ trợ cho cá nhân ăn theo thì sẽ được miễn thu 2350 USD/năm Mức này được xác định theo tỷ lệ lạm phát từng năm có sự điều chỉnh [29]

- Ở Việt Nam việc miễn thuế không xác định trên tiêu chí chi phí của người nộp thuế mà xác định trên thu nhập chịu thuế Theo đó, Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam phân ra làm 2 loại thu nhập là thu nhập chịu thuế và thu nhập miễn thuế

Trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 và Luật thuế thu nhập cá nhân

số 26/2012/QH13 Theo quy định tại điều này nhiều khoản thu nhập có tính

chất tương tự như các khoản thu nhập chịu thuế quy định trong luật nhưng

không phải nộp thuế

Thứ nhất, Khoản 2 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân quy định: Miễn

thuế đối với thu nhập từ nhà ở, quyền sử dụng đất ở gắn với tài sản trên đất của cá nhân chỉ có một nhà ở, đất duy nhất" [55] Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước khó có thể xác định được nhà ở, đất mà cá nhân chuyển nhượng là duy nhất mà chủ yếu dựa vào tờ khai thuế và cam kết của cá nhân chuyển nhượng nhà ở, đất ở nên không tránh khỏi việc trốn thuế

Thứ hai, việc quy định không đánh thuế từ lãi tiền gửi đối với người

gửi tiền tại tổ chức tín dụng là không phù hợp, vì đây cũng là một khoản thu nhập của cá nhân, gửi tiền tại ngân hàng cũng là một hình thức đầu tư phát sinh lợi nhuận cũng giống như tổ chức tín dụng cho vay tiền phải nộp thuế lãi cho vay

Trang 35

Thứ ba, Khoản 6 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân quy định: "Thu

nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước

giao để sản xuất" là thu nhập miễn thuế" [55] Đây là những quy định phù hợp

nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho nông dân khi tiến hành chuyển đổi đất nông nghiệp để phát triển các ngành nghề có thu nhập cao nhằm nâng cao đời sống của họ so với các cá nhân làm ngành nghề khác Song trên thực tế quản lý thu cho thấy có trường hợp chưa hợp lý đó là hộ gia đình, cá nhân không phải là nông dân mà trước đây được nhà nước giao đất nông nghiệp hoặc nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp để sản xuất nhưng không trực tiếp sản xuất mà thuê người sản xuất nông nghiệp, nay chuyển đổi đất nông nghiệp có phát sinh thu nhập nhưng không nộp thuế

- Giảm thuế là một hình thức giảm nhẹ trách nhiệm thuế đối với đối tượng nộp thuế, hình thức giảm thuế được áp dụng trong từng trường hợp và từng thời điểm nhất định theo quy định của pháp luật Việc giảm thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng ở Việt Nam thường được áp dụng chung cho một nhóm đối tượng trong từng thời điểm nhất định Đối với từng

cá nhân riêng biệt chỉ giảm thuế khi cá nhân đó chứng minh mình thuộc đối tượng giảm thuế theo quy định

Điều 5 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 quy định: "Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức

độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp" [55] Đây là quy định cần thiết để giảm gánh nặng và chia sẻ một phần khó khăn với đối tượng nộp thuế khi họ gặp rủi ro Nhưng quy định nêu trên chưa thực sự rõ ràng giữa trường hợp miễn thuế và giảm thuế Bởi vì nếu mức độ thiệt hại mà cá nhân gặp phải ít thì

số tiền nộp thuế được giảm một phần Nếu mức độ thiệt hại mà cá nhân gặp phải nhiều thì mức độ giảm là bằng số thuế phải nộp (tức không phải nộp thuế) gọi là miễn thuế Hơn nữa Luật quy định mức độ giảm thuế tương ứng với mức độ

Trang 36

thiệt hại, tức là bản thân cá nhân được giảm thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền phải xác minh thiệt hại Tuy nhiên, thẩm quyền xác minh thiệt hại hiện nay vẫn chưa được quy định rõ, đồng thời thiệt hại xảy ra và thời điểm quyết toán thuế thu nhập cá nhân không phải lúc nào cũng xảy ra đồng thời Vì thế trong quá trình triển khai quy định đã gây lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền và cá nhân được giảm thuế trong việc xác định mức độ thiệt hại ở trường hợp nêu trên

1.2.2.5 Kỳ tính thuế

Việc xác định thời gian tính thuế là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện Luật thuế bởi vì thời điểm tính thuế phải là thời điểm thuận lợi cho công tác quản lý thu cũng như việc kê khai và nộp thuế của người dân và phải đảm bảo giá trị của đồng tiền nộp thuế trước tình trạng lãm phát, đảm bảo việc chi tiêu theo kế hoạch của nhà nước, tránh được việc chiếm đoạt tiền thuế

Thông thường, các nước xác định mức thuế phải nộp từng năm Ưu điểm của việc sử dụng khoảng thời gian năm là đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên của Chính phủ để trang trải các chi phí vì các kế hoạch kinh tế -

xã hội của Chính phủ được đặt ra và thực hiện trong từng năm Dự kiến nguồn thu ngân sách cũng được đặt ra hàng năm Đây là khoảng thời gian hợp lý cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện vì hệ thống kế toán ở các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế thường tiến hành hạch toán, quyết toán thu chi của đơn

vị vào thời điểm cuối năm tài chính

Kỳ tính thuế được quy định tại Điều 7 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 Theo đó kỳ tính thuế được chia làm hai trường hợp là đối với

cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

Tùy theo từng loại thu nhập mà áp dụng kỳ tính thuế cho cá nhân cư trú theo năm hoặc theo lần phát sinh thu nhập Một số trường hợp đặc biệt, tùy thuộc vào sự lựa chọn của đối tượng nộp thuế hoặc cơ quan nhà nước có

Trang 37

thẩm quyền có thể áp dụng kỳ tính thuế theo năm hoặc theo lần phát sinh thu nhập Những quy định này là phù hợp với đối với cả cơ quan nhà nước và đối tượng nộp thuế vì thu nhập chịu thuế có nhiều loại khác nhau, có loại phát sinh định kỳ, đồng đều như tiền lương, tiền công, thu nhập từ sản xuất kinh doanh đối với những khoản thu nhập này thì kỳ tính thuế hàng năm là phù hợp nhất vì những khoản thu nhập này là các khoản thu nhập thường xuyên, gắn liền với điều kiện đời sống của người nộp thuế (cơ sở chính xác định thu nhập bình quân một người/năm) hơn nữa các khoản thu này liên tục thay đổi

và không hoàn toàn cân bằng giữa các thời điểm Đối với những khoản thu nhập phát sinh đột biến, không thường xuyên như thu từ trúng xổ số, quà tặng, quà biếu, thừa kế thì kỳ tính thuế phù hợp là tính thuế theo lần phát sinh thu nhập Vì đây là những khoản thu "tăng thêm" của cá nhân chứ không phải khoản thu thường xuyên từ hoạt động của một người

Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế trong đó có khoản thu

từ tiền công, tiền lương Thu nhập của cá nhân không cư trú không mang tính chất "đột biến" nhưng việc áp dụng kỳ tính thuế trên từng lần thu nhập là phù hợp Vì cá nhân không cư trú chỉ có mặt ở Việt Nam dưới 183 ngày/năm hoặc

có hợp đồng thuê nhà có thời hạn dưới 183 ngày/năm nếu áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì khó có thể thu thuế nếu cá nhân đó hết hạn hợp đồng làm việc và cư trú tại Việt Nam trước thời điểm quyết toán thuế thu nhập cá nhân

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trước nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, việc Quốc hội ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là hoàn toàn phù hợp, không những mang lại nguồn ngân sách tương đối lớn cho nhà nước trong bối cảnh kinh tế trong nước còn khó khăn mà đã góp phần đảm bảo công bằng và điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư

Trang 38

Trong quá trình thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân thời gian qua, các cơ quan nhà nước đã liên tiếp ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành thay thế những văn bản chưa phù hợp như: Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số:85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP Bộ Tài chính ban hành gần 20 thông tư hướng dẫn cụ thể và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện Quốc hội có Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 06/8/2011, Nghị quyết số 29/2012/QH13 về việc ban hành một số giải pháp bổ sung về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011, 2012, Luật

số 26/2012/QH13 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập

cá nhân và Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã kịp thời có các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam vẫn còn không ít bất cập, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện pháp luật

về thuế thu nhập cá nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công dân

Trang 39

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 CÔNG TÁC THỰC HIỆN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Quảng Ngãi là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ước đến ngày 30 tháng 6 năm 2012, trên địa bàn tỉnh có 3.638 doanh nghiệp, trong đó

có 3.529 doanh nghiệp nhỏ và vừa Thu nhập bình quân đầu người GĐP năm

2012 là 1726 USD/ người/năm (GĐP cả nước năm 2012 khoảng 1540 USD/người/năm) [49]

Xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội nêu trên, Qua hơn ba năm triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả sau đây

2.1.1 Công tác triển khai

Công tác triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân được tiến hành từ đầu năm 2008 và có nhiều thuận lợi do có sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ Tài chính và sự phối hợp của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp Ngay sau khi có chỉ thị 22/2008/CT-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân Tỉnh Quảng Ngãi đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân Theo đó ban chỉ đạo đã ban hành kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện Mặc dù Luật thuế thu nhập cá nhân mới

Trang 40

được triển khai, còn nhiều hạn chế và khó khăn, song việc triển khai và thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân đã đạt được một số kết quả nhất định:

Trong việc nâng cao nhận thức về thuế thu nhập cá nhân Thông qua

công tác tuyên truyền phổ biến, tập huấn Luật thuế thu nhập cá nhân tại cục thuế và các chi cục thuế nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân cho cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại cơ quan thuế

và đơn vị trực thuộc từng bước được nâng cao Cụ thể: Đã tổ chức 87 lớp về chính sách thuế thu nhập cá nhân cho 100% cán bộ công chức ngành thuế, 100% cán bộ phụ trách thuế thu nhập cá nhân là chuyên trách Tạo sự thống nhất đồng bộ của cán bộ ngành thuế trên địa bàn tỉnh về cách hiểu, cách áp dụng các văn bản pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, giúp cho việc triển khai

và thực thi pháp luật về thuế thu nhập cá nhân nhanh chóng và hiệu quả [1] Tuy nhiên để đánh giá nhận thức của cán bộ ngành thuế về thuế thu nhập cá nhân cần phải tiến hành khảo sát ý kiến trực tiếp, song cho đến nay ở Quảng Ngãi vẫn chưa thực hiện cuộc khảo sát nào để lấy ý kiến cán bộ ngành thuế về vấn đề này nên không thể đánh giá chính xác trình độ nhận thức của cán bộ ngành thuế về thuế thu nhập cá nhân

Trong việc tuyên truyền, phổ biến nâng cao kiến thức về thuế thu nhập

cá nhân cho đối tượng nộp thuế Đối với việc tuyên truyền, hướng dẫn, nâng

cao ý thức pháp luật về thuế thu nhập cá nhân cho các tổ chức và cá nhân: Trong hơn ba năm triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân Ban chỉ đạo nói riêng và Cục thuế Quảng Ngãi nói chung đã phối hợp với các cơ quan, cơ quan truyền thông, đài phát thanh truyền hình đăng tải tin, bài, ảnh, phóng sự những nội dung của Luật thuế thu nhập cá nhân; Thực hiện các hình thức tuyên truyền khác như: áp phích, băng rôn, khẩu hiệu trên đường phố, xe hoa cổ động ; triển khai "Ki-ốt thông tin thuế", thiết lập các đường dây nóng ở Cục thuế và Chi cục thuế trực thuộc Phân công cán bộ có năng lực chuyên môn tiến hành hướng dẫn cho người nộp thuế các thủ tục hành

Ngày đăng: 09/07/2015, 20:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân tỉnh Quảng Ngãi (2011), Báo cáo kết quả 3 năm triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 3 năm triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2011
2. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 55/2007/TT-BTC ngày 29/5 về hướng dẫn miễn thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện Chương trình, dự án viện trợ phi Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 55/2007/TT-BTC ngày 29/5 về hướng dẫn miễn thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện Chương trình, dự án viện trợ phi Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
3. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6 về hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6 về hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
4. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 157/2007/TT-BTC ngày 24/12 về hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 157/2007/TT-BTC ngày 24/12 về hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
5. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9 về hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9 về hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
6. Bộ Tài chính (2008), Quyết định số 102/2008/QĐ-BTC ngày 12/11 về việc ban hành mẫu chứng từ thu thuế thu nhập cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 102/2008/QĐ-BTC ngày 12/11 về việc ban hành mẫu chứng từ thu thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
7. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 10/2009/TT-BTC ngày 21/01 về hướng dẫn đăng ký thuế, khấu trừ thuế, khai thuế và quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 10/2009/TT-BTC ngày 21/01 về hướng dẫn đăng ký thuế, khấu trừ thuế, khai thuế và quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
8. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 42/2009/TT-BTC ngày 09/3 về hướng dẫn khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm đại lý xổ số và cá nhân thu nhập từ trúng thưởng xổ số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 42/2009/TT-BTC ngày 09/3 về hướng dẫn khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm đại lý xổ số và cá nhân thu nhập từ trúng thưởng xổ số
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
9. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 57/2009/TT-BTC ngày 24/3 về hướng dẫn miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân Việt Nam làm việc tại văn phòng đại diện của các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 57/2009/TT-BTC ngày 24/3 về hướng dẫn miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân Việt Nam làm việc tại văn phòng đại diện của các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
10. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3 hướng dẫn Thông tư 84 và Nghị định 100 về thuế thu nhập cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3 hướng dẫn Thông tư 84 và Nghị định 100 về thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
11. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8 về hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8 về hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
12. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/8 về hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại điểm vui chơi giải trí có thưởng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/8 về hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại điểm vui chơi giải trí có thưởng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
13. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 176/2009/TT-BTC ngày 21/11 về việc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 176/2009/TT-BTC ngày 21/11 về việc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
14. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/1 về hướng dẫn bổ sung Thông tư 84 về thuế thu nhập cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/1 về hướng dẫn bổ sung Thông tư 84 về thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
15. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19/01 về hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19/01 về hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
16. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02 về hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế thu nhập cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02 về hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
17. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 37/2010/TT-BTC ngày 18/3 về hướng dẫn phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 37/2010/TT-BTC ngày 18/3 về hướng dẫn phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
18. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 38/2010/TT-BTC ngày 19/3 về hướng dẫn Quy định về thuế đối với tổ chức, cá nhân chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 38/2010/TT-BTC ngày 19/3 về hướng dẫn Quy định về thuế đối với tổ chức, cá nhân chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
19. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 814/QĐ-BTC ngày 15/4 về đính chính Thông tư 37/2010/TT-BTC hướng dẫn về phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 814/QĐ-BTC ngày 15/4 về đính chính Thông tư 37/2010/TT-BTC hướng dẫn về phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
20. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 71/2010/TT-BTC ngày 7/5 về hướng dẫn ấn định thuế đối với cơ sở kinh doanh xe ôtô, xe hai bánh gắn máy ghi giá bán xe ôtô, xe hai bánh gắn máy trên hóa đơn giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá giao dịch thông thường trên thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 71/2010/TT-BTC ngày 7/5 về hướng dẫn ấn định thuế đối với cơ sở kinh doanh xe ôtô, xe hai bánh gắn máy ghi giá bán xe ôtô, xe hai bánh gắn máy trên hóa đơn giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá giao dịch thông thường trên thị trường
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Hình 1.1 Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập (Trang 17)
Bảng 1.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 1.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần (Trang 31)
Bảng 1.2: Biểu thuế toàn phần - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 1.2 Biểu thuế toàn phần (Trang 32)
Bảng 2.1: Số người có thu nhập từ tiền công tiền lương phải nộp thuế - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 2.1 Số người có thu nhập từ tiền công tiền lương phải nộp thuế (Trang 43)
Biểu đồ 2.4: Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi   huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước trong 3 năm - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
i ểu đồ 2.4: Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước trong 3 năm (Trang 47)
Biểu đồ 2.5: Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi - Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
i ểu đồ 2.5: Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w