1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo Luật trọng tài thương mại 2010

109 580 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai: Đánh giá, làm rõ các điểm hợp lý, tích cực và các điểm vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

THIẾT LẬP PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

THIẾT LẬP PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

5

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của trọng tài thương mại 5

1.1.5 Thẩm quyền của trọng tài thương mại 20

1.3 Thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Trang 5

1.5 Cơ sở pháp lý của phương thức giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài

32

Chương 2: CƠ CHẾ THIẾT LẬP PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

35

2.1.2 Các tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài 38

2.1.5 Nội dung cơ bản của thỏa thuận trọng tài 48 2.1.6 Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài 49

Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

73

3.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

hiện nay tại Việt Nam

73

Trang 6

3.1.1 Đánh giá về tình hình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

3.2 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh

chấp bằng trọng tài thương mại

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GQTC : Giải quyết tranh chấp TTTM : Trọng tài thương mại

Trang 8

3.1 Số lượng vụ tranh chấp giải quyết qua các năm tại VIAC

(1993 đến 2013)

76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Để quá trình hội nhập kinh tế này được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, và thành công, Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách phù hợp để có thể thúc đẩy mọi hoạt động trong nền kinh tế đặc biệt là các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các hoạt động, nhất là các hoạt động kinh tế không tránh khỏi những bất đồng, mâu thuẫn có thể dẫn tới tranh chấp Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào các lĩnh vực trong quá trình phát triển nền kinh tế, cần thiết phải có một phương thức giải quyết tranh chấp (GQTC) công bằng, nhánh chóng và hiệu quả Đáp ứng yêu cầu này, một trong những phương thức được đánh giá có vai trò quan trọng là GQTC bằng trọng tài thương mại (TTTM)

Từ cơ sở pháp lý ban đầu là Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế, đến Pháp lệnh TTTM

số 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25/02/2003 về TTTM và tiếp đó là Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010 (Luật TTTM 2010), pháp luật về GQTC bằng TTTM đã có sự phát triển không ngừng Tuy nhiên, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp nên pháp luật không thể tránh khỏi những bất cập, thiếu sót dẫn đến những vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng Chính vì thế, việc nghiên cứu phương thức GQTC bằng TTTM theo Luật TTTM 2010 là rất cần thiết Thông qua việc nghiên cứu, có thể xác định được những ưu điểm, hạn chế của phương thức GQTC bằng TTTM, đồng thời, xác định được các vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành về phương thức GQTC bằng TTTM, nhằm khuyến nghị cho các bên tranh chấp và tìm ra các biện pháp, chính sách tháo gỡ có ý nghĩa quan trọng và cấp bách để ngày càng hoàn thiện khung pháp lý về phương thức GQTC bằng TTTM Vì vậy, Tôi chọn

Trang 10

đề tài "Thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương

mại theo Luật trọng tài thương mại 2010" làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực tế, trọng tài không phải là một đề tài mới, vì trong suốt thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ làm về lĩnh vực trọng tài Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu tập trung vào một vấn đề nhất định của trọng tài như vấn đề thẩm quyền GQTC của trọng tài, pháp luật GQTC bằng trọng tài, điểm mới của Luật TTTM 2010, thỏa thuận trọng tài, trong đó các tác giả phân tích, so sánh giữa quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam với quy định trước đây, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề đó, từ đó, đưa ra các biện pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện các vấn đề này trong hệ thống pháp luật Việt Nam về trọng tài

Về phương thức GQTC bằng TTTM, theo tìm hiểu của tác giả, kể từ khi Luật TTTM 2010 ra đời và có hiệu lực, chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu toàn diện về phương thức GQTC bằng TTTM theo Luật TTTM 2010 với

tư cách là một phương thức GQTC

Trong phạm vi của luận văn này, tác giả nghiên cứu về phương thức GQTC bằng TTTM theo Luật TTTM 2010, như thẩm quyền của trọng tài, thỏa thuận trọng tài, trình tự, thủ tục GQTC của trọng tài và nghiên cứu pháp luật của một số nước về GQTC bằng trọng tài

Trên cơ sở nội dung nghiên cứu về phương thức GQTC bằng TTTM theo Luật TTTM 2010 và pháp luật của một số nước, luận văn nêu ra một số hạn chế của pháp luật Việt Nam trong việc quy định về phương thức GQTC bằng TTTM và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về trọng tài

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung và phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học, gồm:

Trang 11

Các phương pháp nghiên cứu chung bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê;

Các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp phân tích tình huống, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp xã hội học pháp luật

5 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Thứ nhất: Làm rõ vấn đề lý luận chung về phương thức giải quyết

tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Thứ hai: Đánh giá, làm rõ các điểm hợp lý, tích cực và các điểm

vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Thứ ba: Đánh giá được thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

thương mại hiện nay tại Việt Nam và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Trang 12

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Cung cấp những nghiên cứu, so sánh, phân tích, đánh giá về phương thức GQTC bằng TTTM theo quy định của Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh TTTM 2003 và quy định trong pháp luật của một số nước

Cung cấp những so sánh, đánh giá về thực trạng GQTC bằng TTTM hiện nay tại Việt Nam và các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về phương thức GQTC bằng TTTM

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn phân tích và nêu bật được đặc trưng của phương thức GQTC bằng TTTM, đánh giá và phát hiện những vấn đề nội bật về phương thức GQTC bằng TTTM và chỉ ra các vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành Phân tích những ưu điểm, chỉ ra những nhược điểm của phương thức GQTC bằng TTTM theo quy định của pháp luật hiện hành so với quy định trước đây

và pháp luật của một số quốc gia khác

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy pháp luật về trọng tài cho cán bộ, giảng viên đang công tác trong lĩnh vực pháp luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về phương thức giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài thương mại

Chương 2: Cơ chế thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010

Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

hiện nay tại Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của trọng tài thương mại

Trên thế giới, phương thức GQTC bằng trọng tài ra đời và phát triển rất sớm Hình thái đầu tiên về trọng tài có thể bắt nguồn từ các quốc gia thành bang cổ Hy Lạp, La Mã Dần dần, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các nước đã thừa nhận địa vị pháp lý của trọng tài

Trong hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh, phương thức GQTC bằng trọng tài được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật trọng tài năm 1697 Từ đầu thế kỷ XX, các nước, trong đó có Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ đã bắt đầu thông qua các Đạo luật trọng tài

Ở Việt Nam, trọng tài lần đầu tiên được ghi nhận trong Nghị định số 20/TTg ngày 14/11/1960 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức trọng tài kinh

tế Nhà nước (Nghị định số 20/TTg) Theo Nghị định số 20/TTg, Trọng tài kinh tế cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế

Tiếp đó, Nghị định số 75-CP của Hội đồng Chính Phủ ngày 14/4/1975 ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài kinh tế Nhà nước (Nghị định số 75-CP); Quyết định số 263-TTg ngày 28/7/1979 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Quyết định số 263-TTg) Đến Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/8/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) (Nghị định số 24/HĐBT), tên gọi của Hội đồng trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là trọng tài kinh tế, cụ thể,

Trang 14

Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước cấp Trung ương gọi là Trọng tài kinh tế Nhà nước, Hội đồng trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục gọi là Trọng tài kinh

tế Bộ, Tổng cục, Hội đồng trọng tài kinh tế cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương gọi là Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu

Ngày 17/4/1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 62-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh và huyện (Nghị định số 62-HĐBT) Theo đó có thêm một cấp trọng tài kinh tế nữa đó là trọng tài kinh tế huyện

Đến ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh trọng tài kinh tế Theo Pháp lệnh, trọng tài kinh tế là cơ quan GQTC hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế và thực hiện quản lý nhà nước về chế độ hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật Về tổ chức, trọng tài kinh tế gồm có: trọng tài kinh tế Nhà nước, trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, trọng tài kinh tế huyện, quận và cấp tương đương Như vậy, theo Pháp lệnh trọng tài kinh tế, trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục đã không còn tồn tại

Có thể thấy, với Nghị định số 20/TTg, trọng tài kinh tế chỉ là cơ quan nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế, đến Nghị định số 75-CP, Nghị định số 62/HĐBT, và Pháp lệnh trọng tài kinh tế, trọng tài đã phát triển thêm chức năng là thực hiện quản lý nhà nước về chế

độ hợp đồng kinh tế Cùng với sự phát triển của hoạt động kinh tế nói chung, hợp đồng kinh tế nói riêng, trọng tài kinh tế cũng có những bước phát triển nhất định và ngày càng mở rộng, được các bên tranh chấp biết đến nhiều hơn

Khi đất nước bắt đầu bước thực hiện phương thức kinh tế mới, sự tồn tại của trọng tài kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý nhà nước không còn phù hợp Sự phát triển của nền kinh tế, dẫn đến các tranh chấp phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, phương thức GQTC

Trang 15

cũng yêu cầu phải đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của các tranh chấp Trước yêu cầu này, từ ngày 28/12/1993, với Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, thì Tòa kinh tế chuyên trách được hình thành trong hệ thống Tòa án nhân dân để giải quyết các tranh chấp kinh

tế Đồng thời, hệ thống trọng tài kinh tế được giải thể

Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hóa các hình thức và phương thức GQTC trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của phương thức thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài kinh tế (Nghị định số 116-CP) Theo các quy định của Nghị định này, Trọng tài kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tức là tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo quy định, hoàn toàn tách rời với chức năng quản

lý nhà nước như trước đây Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã

có 6 trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng là một cơ quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Tòa án trong việc GQTC Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài số 08/2003/PL-UBTVQH (Pháp lệnh TTTM 2003) và ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh TTTM 2003 Có thể nói, Pháp lệnh TTTM

2003 đã mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho trọng tài ở nước ta so với thẩm quyền của trọng tài theo Nghị định số 116-CP; quy định đầy đủ, rõ ràng

về thỏa thuận trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trở thành trọng tài viên; ghi nhận hình thức trọng tài mới là trọng tài vụ việc; mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa trọng tài với tòa án; nâng cao vị thế của trọng tài bằng việc ghi nhận

Trang 16

tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài; quy định nhiều phương thức mới để đảm bảo cho việc thành lập các trung tâm trọng tài được chặt chẽ hơn, từ đó mà nâng cao chất lượng và uy tín của trung tâm trọng tài

Những quy định mới của Pháp lệnh TTTM 2003 thương mại đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho sự phát triển của TTTM ở nước ta, giúp giải quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại, giảm bớt gánh nặng của cơ quan Tòa án… Đồng thời, cùng với các quy định pháp luật khác, pháp luật về trọng tài đã góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật trong sạch, vững mạnh, phục vụ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước

Như vậy, có thể nhận thấy tại Việt Nam trọng tài đã xuất hiện từ thời

kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là trọng tài kinh tế Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của phương thức kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức năng GQTC; do đó, trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời

đó không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa Chính sách đổi mới đã dẫn đến sự phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm dứt tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu cầu thành lập các trung tâm trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam

1.1.2 Khái niệm trọng tài

Trên phương diện quốc tế cũng như quốc gia, khi đề cập tới trọng tài,

có rất nhiều cách tiếp cận cũng như quan điểm khác nhau, do đó, dẫn đến khái niệm về trọng tài cũng khác nhau Sự khác nhau này diễn ra trên phạm vi thế giới, thể hiện ở sự không giống nhau trong quy định pháp luật về trọng tài của các quốc gia, và trong phạm vi một quốc gia, thể hiện ở sự không thống nhất trong quan điểm về trọng tài của các chuyên gia pháp lý, các nhà nghiên cứu, hay các quy định pháp luật về trọng tài của quốc gia đó trong từng thời kỳ

Trang 17

Với cách tiếp cận trọng tài như một phương thức GQTC độc lập so với các phương thức khác như thương lượng, hòa giải, tòa án, có một số quan điểm cơ bản về trọng tài như sau:

Trong Đại từ điển Kinh tế thị trường, trọng tài được định nghĩa:

"Trọng tài là phương thức giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp cho người thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên" [15] Theo định nghĩa này, trọng tài được hiểu là một phương thức GQTC, trong đó các bên cùng tự nguyện, thống nhất đệ trình tranh chấp tới trọng tài để giải quyết Tranh chấp

sẽ được xét xử bởi một trọng tài viên theo quan điểm của các bên là có tư cách chính trực và phán quyết của trọng tài viên sẽ ràng buộc đối với các bên

Từ điển Luật của Oxford, định nghĩa trọng tài là: "Trọng tài có nghĩa

là phán quyết về vụ tranh chấp được quyết định bởi một hoặc các bên thứ ba độc lập (các trọng tài viên) mà không phải là tòa án" [61] Theo định nghĩa này, số lượng trọng tài viên tham gia giải quyết vụ tranh chấp có thể là một hoặc nhiều theo lựa chọn của các bên tranh chấp Quan điểm về hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong Từ điển Luật của Oxford là mở hơn so với Đại từ điển Kinh tế thị trường Tuy nhiên, với định nghĩa này về trọng tài, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa phương thức GQTC bằng trọng tài với các phương thức GQTC không mang tính tài phán như thương lượng, hòa giải

Theo Okezie ChukWumerije thì: "Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với nhau, được thể hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên" [19] Theo quan điểm này, trọng tài là một cơ chế GQTC, trong đó các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn trung tâm trọng tài hoặc trọng tài viên cũng như thủ tục tố tụng trọng tài

Cùng cách tiếp cận với Okezie ChukWumerije, James và Nicolas cho rằng: "Trọng tài được coi như là một tiến trình tư được mở ra theo sự thỏa

Trang 18

thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên" [19] Với quan điểm này, hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp sẽ do các bên lựa chọn và trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài cũng do các bên thỏa thuận

Trong khi đó, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ có quan điểm: "Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành" [15] Theo quan điểm này, các bên cùng thống nhất đệ trình vụ tranh chấp tới một bên thứ ba có thể là một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân để được giải quyết và quyết định của bên thứ ba này sẽ là quyết định cuối cùng và có tính thi hành

Điểm a, Khoản 2, Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực" [38]

Trong khi đó, quan điểm của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) về trọng tài được thể hiện cụ thể như sau:

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên tranh chấp đưa tranh chấp của mình ra một bên trung gian thứ

ba (trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài) và bên trung gian này sẽ xem xét các tài liệu và lập luận của các bên sau đó sẽ đưa ra quyết định về tranh chấp của các bên [38]

Như vậy, theo các quan điểm nêu trên, trọng tài tồn tại song song với các phương thức GQTC khác mang tính tài phán như tòa án và không mang tính tài phán như thương lượng, hòa giải Theo đó, trọng tài được nhìn nhận là một phương thức GQTC trong đó, các bên tranh chấp cùng tự nguyện thỏa thuận và thống nhất với nhau để trao quyền GQTC phát sinh giữa các bên cho bên thứ ba (một cá nhân hoặc một hội đồng) độc lập và chấp nhận sự ràng buộc quyết định của bên thứ ba do các bên lựa chọn

Trang 19

Ở Việt Nam, trọng tài cũng được tiếp cận với tư cách là một phương thức GQTC, với một số quan điểm, quy định cơ bản như sau:

Theo tác giả Nông Quốc Bình: "Trọng tài thương mại là một phương pháp giải quyết tranh chấp, mà trong đó các bên tranh chấp thỏa thuận hoặc lập ra, hoặc chỉ định ra một bên thứ ba và giao cho bên thứ ba đó quyền được phán xét tranh chấp của họ, phán xét này buộc các bên tranh chấp phải thực hiện" [Dẫn theo 20] Theo quan điểm này, trọng tài là phương thức GQTC, trong đó các bên có quyền trong việc thỏa thuận hoặc thiết lập trình tự, thủ tục

tố tụng trọng tài, quyết định hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp và phán quyết của hội đồng này là quyết định cuối cùng và các bên phải thực hiện

Theo Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh TTTM 2003: "Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật này giải quyết" [52]

Đến Luật TTTM 2010, Khoản 1, Điều 3 quy định: "Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo các quy định của luật này" [35] Như vậy, mặc dù kế thừa quy định của Pháp lệnh TTTM 2003, nhưng định nghĩa về trọng tài của Luật TTTM

2010 có một số điều chỉnh Cụ thể, Luật TTTM 2010 sử dụng thuật ngữ

"trọng tài thương mại" thay vì "trọng tài" như Pháp lệnh TTTM 2003 Tuy nhiên, phạm vi tranh chấp đề cập trong Khoản 1, Điều 2 của Pháp lệnh TTTM chỉ là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, nhưng theo Luật TTTM 2010 quy định chung là "tranh chấp", nghĩa là phạm vi tranh chấp các bên được thỏa thuận, đệ trình tới trọng tài để giải quyết là rộng hơn

Qua việc phân tích một số quan điểm, quy định về trọng tài như trên, tác giả cũng có quan điểm tiếp cận trọng tài như một phương thức GQTC độc lập với các phương thức khác như thương lượng, hòa giải, tòa án Tuy nhiên, trọng tài là phương thức GQTC được bắt đầu bằng sự thỏa thuận của các bên

Trang 20

tranh chấp, theo đó, tranh chấp được các bên thống nhất đệ trình tới một hội đồng trọng tài, có thể gồm một hoặc nhiều trọng tài viên tùy thuộc vào lựa chọn và quyết định của các bên, theo một trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài nhất định Phán quyết của hội động trọng tài này là phán quyết cuối cùng và

có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên

1.1.3 Đặc điểm của trọng tài

Trọng tài có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Một là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các bên Trọng tài được hình thành trên cơ sở tự nguyện,

thỏa thuận, thống nhất của các bên tranh chấp Nếu các bên không có thỏa thuận rõ ràng về việc tranh chấp đang hoặc sẽ phát sinh được giải quyết bởi trọng tài, thì trọng tài sẽ không có thẩm quyền để giải quyết vụ tranh chấp Trong phương thức GQTC bằng trọng tài, các bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn các vấn đề liên quan như trung tâm trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài, luật áp dụng mà không bị hạn chế bởi địa chỉ trụ sở chính, địa chỉ thường trú của một trong các bên hay thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo cấp của tòa án Đây là đặc trưng cơ bản thể hiện sự khác biệt của trọng tài so với phương thức GQTC bằng tòa án Thẩm quyền của tòa án là thẩm quyền đương nhiên và tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp được xác định theo các quy định của pháp luật Ngoài ra, với tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng và các bên đương sự, người liên quan sẽ bị ràng buộc bởi các quy tắc tố tụng luật định, các bên tham gia tranh chấp không thể tự do thỏa thuận hay lựa chọn tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, hội đồng xét xử, luật áp dụng, hay địa điểm xét xử Theo quan điểm của tác giả, đây là một ưu điểm của phương thức GQTC bằng trọng tài so với tòa án

Hai là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có thủ tục giải quyết đơn giản, thuận tiện cho các bên làm cho việc giải quyết tranh chấp

Trang 21

được nhanh gọn Trên thực tế, đối với các bên tranh chấp đặc biệt là các chủ

thể kinh doanh như các công ty, doanh nghiệp, thời gian, cơ hội là một trong các yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Nếu việc GQTC bị kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm hay trì hoãn chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh bình thường, thậm chí là lỡ mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp S.Lazarus Et al cho rằng: "Trong suốt thời gian dài trong quá khứ cũng như hiện nay, trọng tài được coi như một phương thức giải quyết tranh chấp có tốc độ" [Dẫn theo 20] Thực tế, quá trình tố tụng trọng tài từ giai đoạn khởi kiện cho đến khi có phán quyết trọng tài có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn tùy theo thỏa thuận và yêu cầu của các bên tranh chấp Điều này sẽ khó thực hiện được nếu tranh chấp được giải quyết bằng con đường tòa án Với tòa án, các bên sẽ phải tuân thủ theo đúng quy trình, trình tự tố tụng luật định, từ việc nộp đơn khởi kiện, xác định luật áp dụng, cung cấp bằng chứng, chứng cứ, hòa giải, xét xử, đó là chưa kể đến việc bản án của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xem xét, xét xử lại theo các thủ tục phúc đáp, tái thẩm, giám đốc thẩm Thời gian giải quyết ngắn, thủ tục, trình tự nhanh gọn cũng là một lợi thế của phương thức GQTC bằng trọng tài so với tòa án

Ba là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo tính bí mật của các bên tham gia tranh chấp Với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt

của các đối thủ kinh doanh, việc đảm bảo bí mật kinh doanh của từng doanh nghiệp đã trở thành một trong những nguyên tắc sống còn, nhất là các bí mật liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ như bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, lĩnh vực bảo mật thông tin, hay các bí mật thuộc về tài chính, đầu tư, huy động vốn, hoặc nhân sự cấp cao của doanh nghiệp Trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận, yêu cầu của các bên Theo đó, các bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài, lựa chọn trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài cũng như nguyên tắc xét xử của trọng tài Nguyên tắc xét xử kín của trọng tài là một trong những

Trang 22

nguyên tắc hấp dẫn các bên tranh chấp Nguyên tắc này đối lập với nguyên tắc xét xử công khai của tòa án Việc xét xử công khai sẽ không tránh khỏi sự theo dõi, quan tâm, đánh giá bình luận của các đối thủ kinh doanh khác, của người tiêu dùng cũng như các tổ chức, cá nhân khác Thực tế, nếu giải quyết tranh chấp bằng tòa án, trong suốt quá trình xét xử, tính bảo mật của các bên tham gia tranh chấp sẽ khó thực hiện được

Bốn là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chuyên nghiệp Các trung tâm trọng tài được thành lập lâu đời, có trụ sở, có quy trình

thủ tục tố tụng đơn giản, hiệu quả cùng đội ngũ trọng tài viên là các chuyên gia nghiên cứu pháp lý, các luật sư am hiểu sâu sắc về chuyên môn nghiệp vụ của từng lĩnh vực cụ thể cùng kinh nghiệm giải quyết tranh chấp là những yếu

tố thể hiện đặc trưng này Trong phương thức GQTC bằng trọng tài, Các bên hoàn toàn có thể tự lựa chọn cho mình một hoặc các trọng tài viên theo tiêu chuẩn, điều kiện của bên đó trên cơ sở các thông tin, tham chiếu về trọng tài viên tại các trung tâm trọng tài Đối với từng lĩnh vực tranh chấp, các bên sẽ lựa chọn trọng tài viên theo từng tiêu chí, điều kiện cụ thể Trong khi đó, với tòa án, các bên sẽ không được lựa chọn thẩm phán Thông thường một thẩm phán sẽ phụ trách một hoặc một số lĩnh vực nhất định, nhưng không phải tất

cả các thẩm phán đều am hiểu sâu sắc về chuyên môn của lĩnh vực tranh chấp

đó cũng như kinh nghiệm thực tế xét xử tranh chấp Yếu tố chuyên nghiệp của trọng tài là một trong những lý do thể hiện các phán quyết của trọng tài thường chính xác và mang tính khách quan hơn so với các bản án, quyết định của tòa án Đây cũng là một lợi thế của trọng tài so với tòa án

Năm là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tài phán Các phán quyết của trọng tài có giá trị bắt buộc đối với các bên;

trường hợp các bên không tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài thì sẽ bị cưỡng chế thi hành Đây chính là điểm khác biệt của trọng tài so với phương thức thương lượng hay hòa giải Đối với các phương thức thương lượng hay hòa giải, các bên tranh chấp tự bàn bạc, thỏa thuận hoặc nhờ bên thứ ba để

Trang 23

cùng giải quyết và thống nhất cách giải quyết, tuy nhiên, quyết định cuối cùng không mang tính bắt buộc, thi hành đối với các bên Việc thi hành kết quả thương lượng, hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, thiện chí, hợp tác của các bên mà không có cơ chế cưỡng chế thi hành

Sáu là, các phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm Về nguyên

tắc, phán quyết trọng tài là chung thẩm và bắt buộc các bên tham gia tranh chấp phải thi hành Các phán quyết của trọng tài sẽ được thi hành với sự hỗ trợ của nhà nước, trừ trường hợp phán quyết trọng tài bị hủy do vi phạm thủ tục về tố tụng về trọng tài Tòa án chỉ xem xét phán quyết trọng tài khi có vi phạm về thủ tục tố tụng, tức là không xét lại nội dung trong phán quyết trọng tài Trong khi đó, các bản án của tòa án thường rất hay bị kháng cáo, kháng bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm, thậm chí là xét

xử lại từ đầu Nội dung các bản án của tòa án qua các thủ tục tố tụng khác nhau rất có thể là khác nhau

Bẩy là, sự công nhận quốc tế Phán quyết của tòa án thường khó đạt

được sự công nhận quốc tế Phán quyết của tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo các quy tắc rất nghiêm ngặt Trong khi đó, quyết định trọng tài đạt được sự công nhận quốc

tế thông qua rất nhiều công ước quốc tế và đặc biệt là Công ước New York năm 1958 về Công nhận và thi hành Quyết định trọng tài nước ngoài Hiện,

có khoảng 120 quốc gia đã tham gia Công ước New York

1.1.4 Phân loại trọng tài

Theo pháp luật ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam, trọng tài tồn tại dưới hai hình thức: trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)

 Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc)

Trọng tài vụ việc là một phương thức trọng tài được quản lý theo những quy tắc trọng tài do chính các bên tham gia trọng tài xây dựng nên [20] Như

Trang 24

vậy, trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài trong đó các bên tham gia tranh chấp cùng tự nguyện thỏa thuận thành lập để GQTC giữa các bên Sau khi tranh chấp được giải quyết, trọng tài vụ việc chấm dứt tồn tại Ngoài ra, theo hình thức này, các bên sẽ có quyền chủ động để lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài, mà không bị hạn chế hay buộc yêu cầu tuân theo một quy tắc tố tụng trọng tài cụ thể của các trung tâm trọng tài; có quyền chủ động thỏa thuận về cách thức lựa chọn, bổ nhiệm trọng tài viên

Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài xuất hiện sớm và được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Pháp luật về trọng tài của rất nhiều quốc gia như Thụy Điển, Nhật Bản, Singapore đều tồn tại hình thức trọng tài ad-hoc

Trọng tài vụ việc có một số đặc trưng sau: thứ nhất, trọng tài ad-hoc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự giải tán khi hoàn thành việc GQTC; tính vụ việc của hình thức này thể hiện bằng việc trọng tài chỉ được thành lập theo thỏa thuận của các bên tranh chấp cho mục đích GQTC cụ thể giữa các bên Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có

cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành, không có điều lệ hoạt động, quy tắc tố tụng

và không có danh sách trọng tài viên

So với trọng tài thường trực, trọng tài vụ việc có một số ưu điểm cơ bản như: có thể đáp ứng được yêu cầu của các bên thông qua việc GQTC một cách nhanh chóng và ít tốn kém Căn cứ vào thực tế và tính chất của tranh chấp, các bên sẽ xem xét, cân nhắc và lựa chọn quy tắc tố tụng cho phù hợp các bên có thể thỏa thuận để rút gọn thủ tục tố tụng, giảm bớt chi phí, tiết kiệm thời gian Ngoài ra, với trọng tài vụ việc, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận để lựa chọn trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài viên nào mà các bên đánh giá là phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của các bên tranh chấp

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, so với trọng tài thường trực, trọng tài vụ việc cũng bộc lộ một số hạn chế xuất phát từ chính đặc trưng của trọng tài vụ việc, cụ thể: trọng tài vụ việc không bắt buộc các bên tham gia tranh

Trang 25

chấp phải tuân thủ theo một quy tắc tố tụng trọng tài cụ thể Do đó, khi phát sinh các vấn đề trong quá trình giải quyết như chỉ định trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên, xác định thẩm quyền của trọng tài viên mà các bên không thống nhất hoặc thỏa thuận được để giải quyết thì sẽ không có quy tắc tố tụng trọng tài để áp dụng Trong trường hợp này, các bên sẽ phải nhờ đến sự can thiệp của tòa án các nước Như vậy, sẽ gây mất thời gian cho các bên và việc can thiệp của tòa án vào quá trình giải quyết vụ việc là điều các bên không mong muốn khi lựa chọn phương thức trọng tài Đối với trọng tài vụ việc, sẽ không có biểu phí trọng tài cụ thể như trọng tài thường trực, do đó, các bên sẽ phải thỏa thuận về cách tính phí trọng tài là phí trọn gói, hay phí theo giờ, hay phí theo kết quả cuối cùng của vụ tranh chấp Việc thỏa thuận tính phí trọng tài theo giờ hay theo kết quả cuối cùng của vụ tranh chấp có thể sẽ làm thay đổi mức phí mà các bên tranh chấp dự kiến, cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng xét xử của trọng tài vì thời gian xét xử sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thù lao của trọng tài Ngoài ra, trọng tài vụ việc không có cơ quan hỗ trợ, giám sát quá trình tố tụng cũng như quá trình xét xử của trọng tài viên, do đó, quyết định cuối cùng giải quyết vụ tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của trọng tài viên Điều này rất dễ xảy ra việc vi phạm trong quá trình tố tụng trọng tài Khi đó, tòa án có thể sẽ xem xét tính hiệu lực của phán quyết của trọng tài và sẽ tuyên vô hiệu nếu việc xét xử

vi phạm thủ tục tố tụng mà các bên đã lựa chọn

Để khắc phục các hạn chế của trọng tài vụ việc, các bên tham gia giao dịch khi đàm phán nội dung về trọng tài nên thống nhất một quy tắc tố tụng trọng tài cụ thể của một tổ chức trọng tài uy tín, ví dụ như UNCITRAL, và có thể quy định luôn cơ quan có thẩm quyền chỉ định trọng tài Các bên có thể tham khảo và sử dụng Điều khoản mẫu về trọng tài vụ việc của UNCITRAL như sau:

Bất kỳ tranh chấp, mâu thuẫn hoặc khiếu nại phát sinh từ, hoặc liên quan đến hợp đồng này, hoặc sự vi phạm, chấm dứt hoặc

Trang 26

vô hiệu của hợp đồng, sẽ được giải quyết bởi trọng tài theo Quy tắc

tố tụng trọng tài hiện hành đang có hiệu lực của UNCITRAL

Lưu ý - Các bên có thể thỏa thuận để bổ sung các nội dung sau: (a) Cơ quan có thẩm quyền chỉ định là…(tên của tổ chức hoặc cá nhân);

(b) Số lượng trọng tài viên sẽ là (một hoặc ba);

(c) Địa điểm tố tụng trọng tài sẽ là … (thành phố hoặc quốc gia); (d) Ngôn ngữ/các ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng trọng tài sẽ là… [38]

 Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)

Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức bằng hình thức đa dạng như trung tâm trọng tài, hiệp hội trọng tài, hội đồng, các viện trọng tài, trong đó trung tâm trọng tài vẫn là chủ yếu và phổ biến hơn

cả Cụ thể, các nước tổ chức trọng tài thường trực dưới hình thức trung tâm trọng tài như: Singapore: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC); Trung tâm Trọng tài Kuala Lumpur; Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (HKIAC); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Australia (AIC); dưới hình thức hiệp hội trọng tài có Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA); Hiệp hội Trọng tài Thương mại Nhật Bản (JCAA); dưới hình thức hội đồng có Hội đồng Trọng tài Kinh tế Quốc tế và Ngoại thương Trung Quốc (CIETAC); dưới hình thức viện trọng tài có Viện Trọng tài Stockhomm - Thụy Điển

Về bản chất, trọng tài ở các nước trên thế giới chủ yếu tồn tại là trọng tài phi chính phủ (thường là tổ chức xã hội nghề nghiệp), không phải là một

cơ quan trong bộ máy nhà nước Ví dụ: ở Thụy Điển, các tổ chức trọng tài là

do các phòng thương mại thành lập; ở Nhật Bản các hiệp hội trọng tài là các

tổ chức xã hội và hiện nay, tố tụng trọng tài không còn là một phần của Bộ luật tố tụng dân sự mà được điều chỉnh bởi luật về thủ tục thông báo công

Trang 27

khai và thủ tục trọng tài Tuy nhiên, trên thực tế cũng có một số ngoại lệ như tại Trung Quốc, CIETAC được thành lập với sự bảo trợ của Ủy ban khuyến khích ngoại thương Trung Quốc và các ủy ban trọng tài hợp đồng kinh tế là những cơ quan nhà nước thuộc cục quản lý hành chính công thương các cấp

So với trọng tài vụ việc, trọng tài thường trực có khá nhiều ưu điểm: trước hết, mỗi tổ chức trọng tài thường trực đều có bộ quy tắc tố tụng trọng tài riêng Do đó, trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, nếu phát sinh các vấn đề như chỉ định trọng tài viên, thành lập Hội đồng trọng tài, sự có mặt của các bên tham gia tranh chấp, thì sẽ áp dụng quy tắc tố tụng trọng tài để giải quyết

mà không mất thời gian hay phải nhờ đến sự can thiệp của tòa án như trọng tài vụ việc Trong Điều 8.2 của quy tắc tố tụng của SIAC thể hiện rõ điều này:

"nếu một bên không chỉ định một trọng tài viên trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày nhận được chỉ định trọng tài viên của bên kia hoặc một cách thức khác theo thỏa thuận của các bên, Chủ tịch trọng tài sẽ thay mặt bên đó chỉ định trọng tài viên" [65] Thứ hai, các trung tâm trọng tài đều có danh sách trọng tài viên và có đội ngũ nhân viên hành chính, tổng hợp hỗ trợ các công việc liên quan trong quá trình tố tụng Điều này sẽ giúp các bên tranh chấp tiết kiệm thời gian cũng như hạn chế việc vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử của trọng tài Tuy nhiên, bên cạnh đó, trọng tài thường trực cũng tồn tại một số hạn chế như phí trọng tài thường đắt hơn trọng tài vụ việc, thủ tục trọng tài đôi khi còn mất khá nhiều thời gian chưa đáp ứng được yêu cầu của các bên tranh chấp

Ở Việt Nam, theo Luật TTTM 2010, trọng tài thường trực được tổ chức bằng hình thức trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định

Hiện nay, ở Việt Nam có 7 trung tâm trọng tài, gồm: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) được thành lập theo Quyết định số 204/TTg,

Trang 28

trên cơ sở hợp nhất hai Hội đồng Trọng tài là Hội đồng Trọng tài Hàng hải và Hội đồng Trọng tài Ngoại thương; Trung tâm Trọng tài Thương mại Á Châu (ACIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (HCMCAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ (CCAC), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương (PIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Tài chính Ngân hàng (VIFIBAR), Trung tâm Trọng tài Thương mại Tài chính (FCCA) [4]

1.1.5 Thẩm quyền của trọng tài thương mại

Trọng tài là một cơ quan tài phán, do đó, việc xác định thẩm quyền của trọng tài là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Thẩm quyền của trọng tài xuất phát từ thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp Không có thỏa thuận trọng tài thì thẩm quyền của trọng tài sẽ không xuất hiện Theo tác giả Alan Redfern và Martin Hunter thì đây được coi là hòn đá tảng của trọng tài Khi tồn tại một thỏa thuận trọng tài giữa các bên tranh chấp

và thỏa thuận trọng tài này có hiệu lực, thì tòa án của quốc gia đó sẽ không có thẩm quyền GQTC

Về vấn đề này, theo Điều II Công ước New York 1958:

Tòa án của một quốc gia thành viên khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi tòa án thấy rằng thỏa thuận trọng tài này không có hiệu lực, không có hiệu quả hoặc không thể thực hiện được [38]

Điều 8.1 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định:

Tòa án khi nhận được đơn kiện về một vấn đề tranh chấp thuộc đối tượng của một thỏa thuận trọng tài, sẽ đưa các bên tới trọng tài nếu một bên yêu cầu như vậy vào thời điểm không muộn

Trang 29

hơn khi bên đó đệ trình bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung của tranh chấp trừ khi tòa án nhận định rằng thỏa thuận đó là

vô hiệu và không có hiệu lực, không có hiệu quả hoặc không có khả năng thực hiện [38]

Có thể nói, thẩm quyền GQTC của trọng tài là rất rộng, nhưng tranh chấp đó có được giải quyết bằng trọng tài hay không cần xem xét các điều kiện sau: năng lực chủ thể của các bên tham gia lập thỏa thuận trọng tài và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Đối với vấn đề về năng lực chủ thể: các bên tham gia lập thỏa thuận trọng tài phải có đầy đủ năng lực giao kết, thực hiện hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài Ngoài ra, thỏa thuận trọng tài này phải được thiết lập trên cơ sở tự do, ý chí chung của các bên, không phải trên cơ sở đe dọa, ép buộc từ một trong các bên Điều V Công ước New York 1958 quy định:

"Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng các bên của thỏa thuận ở Điều II trên, theo luật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực…" [38] Năng lực chủ thể của các bên tham gia thỏa thuận trọng tài là một trong các yếu tố quan trọng để xác định thẩm quyền GQTC của trọng tài Đối với hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Về vấn đề này, pháp luật của một số quốc gia yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, tuy nhiên, điều này là không bắt buộc tại một số quốc gia khác Các quốc gia yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản như Trung Quốc, Pháp, Việt Nam hay Luật Mẫu của UNCITRAL 1985, cụ thể:

Điều 3 của CIETAC quy định: "Một thỏa thuận trọng tài có nghĩa là một điều khoản trọng tài trong một hợp đồng được ký kết giữa các bên hoặc bất kỳ dạng thỏa thuận bằng văn bản nào khác quy định giải quyết tranh chấp bằng trọng tài" [Dẫn theo 20] Điều 1443 Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp quy định: "Để được xác định là có hiệu lực, một điều khoản trọng tài

Trang 30

phải được lập thành văn bản và được chứa đựng trong hợp đồng hoặc trong một tài liệu nào đó" [Dẫn theo 20]

Điều 7.2 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Một thỏa thuận trọng tài sẽ được coi là làm bằng văn bản nếu nó được chứa đựng trong một tài liệu được ký kết bởi các bên hoặc trong các thư, điện tín, telex hoặc các phương thức

liên lạc khác mà ghi nhận thỏa thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện…" [38]

Có thể thấy, đối với các quốc gia yêu cầu thỏa thuận trọng tài bằng văn bản đều yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được ghi nhận hoặc được thể hiện bằng văn bản hoặc hình thức pháp lý khác tương đương được công nhận

là văn bản theo pháp luật của quốc gia đó

Các quốc gia không yêu cầu thỏa thuận trọng tài bằng văn bản, mà chấp nhận thỏa thuận trọng tài bằng lời nói là Úc, Hồng Kông, Đan Mạch, Úc Tuy nhiên, số lượng các nước chấp nhận thỏa thuận trọng tài bằng lời nói là rất hạn chế và không phải là khuynh hướng phổ biến hiện này

Đối với hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, hầu hết các nước đều ghi nhận điều khoản trọng tài có hiệu lực pháp lý độc lập với hiệu lực của các điều khoản khác của hợp đồng

Điều 8 Luật trọng tài Brazin 1996 quy định: "Điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng chứa đựng nó, có nghĩa rằng sự vô hiệu của hợp đồng không

ám chỉ tới sự vô hiệu của điều khoản trọng tài" [Dẫn theo 20] Điều 16.1 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Một điều khoản trọng tài là một phần của hợp đồng sẽ được là một thỏa thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Quyết định của Hội đồng trọng tài rằng hợp đồng bị vô hiệu không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo"[38]

Ngoài ra, khi nhắc đến thẩm quyền của trọng tài, cần lưu ý vấn đề thẩm quyền của thẩm quyền Thẩm quyền của thẩm quyền có thể được hiểu là khi có một đơn hay một yêu cầu phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài đối với một tranh chấp nào đó, thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về chủ

Trang 31

thể nào? Hầu hết pháp luật các nước đều thừa nhận theo nguyên tắc thẩm quyền của chính các Hội đồng trọng tài trong việc xem xét chính Hội đồng có thẩm quyền giải quyết hay không Điều 21 (1) Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL 1976 quy định: "Hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền quyết định

sự phản đối rằng Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền, bao gồm bất kỳ sự phản đối nào đối với sự tồn tại hoặc tính hiệu lực của điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài độc lập" [38]

Khoản 1, Điều 30 của Luật trọng tài Anh 1996 quy định:

Trừ khi có những thỏa thuận khác của các bên, Hội đồng trọng tài có thể quyết định thẩm quyền thực chất của mình về: (a) Liệu có một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực pháp lý không; (b) Liệu

có một Hội đồng trọng tài được thành lập phù hợp không, và (c) Mọi vấn đề được đệ trình tới trọng tài có phù hợp với thỏa thuận trọng tài không [Dẫn theo 20]

Như vậy, có thể nói, trọng tài có quyền GQTC nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài đó có hiệu lực Việc xác định năng lực chủ thể của các bên tham gia thỏa thuận trọng tài và tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật từng nước

Pháp luật các nước quy định không giống nhau về thẩm quyền GQTC của trọng tài, có quốc gia quy định theo phương pháp liệt kê, có quốc gia quy định theo phương pháp loại trừ

Ở Trung Quốc, Điều 2 Luật trọng tài Trung Hoa năm 1994 quy định

về thẩm quyền của trọng tài như sau: "Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên

cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài" [Dẫn theo 20] Điều 3 của Luật này quy định các dạng tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài gồm: "(1) Tranh chấp liên quan đến hôn nhân, nhận nuôi con nuôi, giám

hộ và thừa kế; (2) Tranh chấp hành chính phải được giải quyết bởi cơ quan có

Trang 32

thẩm quyền về hành chính" [Dẫn theo 20] Như vậy, pháp luật Trung Quốc quy định về thẩm quyền GQTC của trọng tài theo phương pháp loại trừ Theo

đó, ngoại trừ các tranh chấp quy định tại Điều 3 của Luật Trọng tài Trung Hoa, thì tất cả các dạng tranh chấp khác phát sinh giữa các cá nhân, pháp nhân, tổ chức với nhau đều có thể được giải quyết bằng trọng tài Như vậy, thẩm quyền GQTC của trọng tài Trung Quốc là rất rộng

Điều 5 Luật trọng tài Liên bang Thụy Sĩ năm 1999 quy định: "Mọi quyền tùy thuộc vào các bên có thể được giải quyết bằng trọng tài trừ trường hợp phụ thuộc vào quyền xét xử bắt buộc dành riêng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật" [Dẫn theo 20] Điều này có nghĩa rằng theo pháp luật Thụy Sĩ, chỉ trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt và duy nhất của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Thụy Sĩ, thì tất cả các tranh chấp khác đều có thể được giải quyết bằng trọng tài

Điều 1 Luật trọng tài Brazin năm 1996 quy định: "Những người có khả năng ký kết hợp đồng có thể đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các quyền về tài sản mà họ có quyền quyết định" [Dẫn theo 20] Như vậy, toàn bộ các tranh chấp liên quan đến quyền về tài sản của các bên tham gia giao dịch đều có thể được giải quyết bằng trọng tài

Có thể nói, pháp luật các nước quy định không giống nhau về thẩm quyền của trọng tài, tuy nhiên, việc quy định thẩm quyền GQTC của trọng tài theo hướng loại trừ các tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài là phổ biến hơn so với quy định theo xu hướng liệt kê các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài

1.2 TRANH CHẤP

Cùng với sự phát triển của kinh tế và xu hướng hội nhập, các tranh chấp ngày càng gia tăng và theo hướng ngày càng phức tạp Do đó, việc giải quyết các tranh chấp này có ý nghĩa thực sự quan trọng, thúc đấy và tạo điều

Trang 33

kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bên cũng như góp phần vào việc thực hiện việc hội nhập của các quốc gia

1.2.1 Khái niệm tranh chấp

Trong khoa học pháp lý, tranh chấp được hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong quan hệ hợp đồng hoặc ngoài quan hệ hợp đồng và được các bên bày tỏ, thể hiện ra bên ngoài thông qua các bằng chứng cụ thể và xác định được

1.2.2 Phân loại tranh chấp

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tranh chấp, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể Trong phạm vi luận văn này, tác giả phân loại tranh chấp theo một số tiêu chí nhất định nhằm mục đích xác định những tranh chấp nào có thể được giải quyết bằng trọng tài

Dựa vào quan hệ phát sinh tranh chấp, có thể phân chia tranh chấp thành hai loại cơ bản như sau:

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng: Trên cơ sở khái niệm về tranh

chấp, có thể hiểu tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là tình trạng pháp lý trong quan hệ hợp đồng, mà ở đó, các bên bày tỏ sự mâu thuẫn, bất đồng, không hài lòng, hay xung đột với nhau về các quyền, nghĩa vụ, lợi ích phát sinh từ hợp đồng Một hợp đồng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng, mâu thuẫn, không hài lòng về phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua những bằng chứng cụ thể

và xác định được Hai điều kiện này có mối quan hệ với nhau, là những yếu tố cấu thành tranh chấp, nếu chỉ có một trong hai yếu tố đó thì không thể làm phát sinh tranh chấp hợp đồng giữa các bên

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có thể là tranh chấp trong quá trình giao kết, ký kết và thực hiện hợp đồng Hợp đồng này có thể là hợp đồng mua bán tài sản ví dụ như bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, bên mua vi phạm

Trang 34

nghĩa vụ thanh toán, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng ủy quyền

• Tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng: Cũng trên cơ sở khái niệm

tranh chấp, tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng có thể được hiểu là tình trạng pháp lý của các quan hệ ngoài hợp đồng, trong đó các bên thể hiện sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột với nhau và giữa các bên tranh chấp không có quan hệ hợp đồng Một quan hệ ngoài hợp đồng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng, mâu thuẫn, không hài lòng về phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Hai điều kiện này có mối quan hệ với nhau, là những yếu tố cấu thành tranh chấp, nếu chỉ có một trong hai yếu

tố đó thì không thể làm phát sinh tranh chấp giữa các bên Các tranh chấp này

có thể là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ví dụ như một bên

vi phạm quy định của pháp luật gây thiệt hại, tổn thất cho bên kia, tranh chấp

về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp, tranh chấp về việc xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân, tranh chấp về hôn nhân, gia đình, quyền nuôi dạy con, tranh chấp về thừa kế

Dựa vào lĩnh vực tranh chấp, có thể phân chia tranh chấp thành:

• Tranh chấp từ hợp đồng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: tranh chấp

phát sinh từ vi phạm của một hoặc các bên liên quan đến các hợp đồng xăng, chuyển giao công nghệ, chuyển quyền sử dụng như vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên nhận chuyển nhượng quyền sở hữu/sử dụng, vi phạm phạm vi, hình thức sử dụng, vi phạm về việc không hoàn thành thủ tục chuyển giao, chuyển nhượng của bên có quyền chuyển giao, chuyển nhượng

li-• Tranh chấp từ các hợp đồng mua bán: tranh chấp này thường phát

sinh từ việc bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng như không giao hàng, giao hàng chậm, giao hàng không đúng với tiêu chuẩn, chất lượng mà các bên đã

Trang 35

thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên mua do không thanh toán hoặc thanh toán chậm theo quy định của hợp đồng Liên quan đến việc xác định một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, Điều 7.1.1 các Nguyên tắc về Hợp đồng Thương mại UNIDROIT quy định như sau: "Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không hoàn thành một hay nhiều nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, bao gồm cả việc thực hiện không đúng cách thức hoặc thực hiện chậm" [51]

Trên thực tế, dạng tranh chấp này là rất phổ biến Ví dụ như:

+ Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ bàn giao nhà ở của Chủ đầu tư cho Khách hàng mua căn hộ theo các hợp đồng mua bán nhà chung cư; hay liên quan đến nghĩa vụ thanh toán tiền mua căn hộ của Khách hàng;

+ Tranh chấp liên quan đến việc bên bán giao hàng không đúng quy cách trong hợp đồng, giao hàng không đảm bảo chất lượng

• Tranh chấp trong hoạt động xây dựng: Tranh chấp có thể phát sinh

giữa Chủ đầu tư với Nhà thầu, giám sát liên quan đến việc thi công và hoàn thiện công trình, hay thiết kế công trình Ngoài ra, có thể do Nhà thầu chậm tiến độ thi công, giám sát, thiết kế không đảm bảo theo các quy định, quy chuẩn xây dựng, hoặc Chủ đầu tư chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán

• Tranh chấp trong hoạt động đầu tư: Tranh chấp giữa các nhà đầu tư

trong nước với nhau, hoặc với nhà đầu tư nước ngoài, hoặc giữa các nhà đầu

tư với Cơ quan quản lý nhà nước Tranh chấp có thể phát sinh do nhà đầu tư

vi phạm nghĩa vụ góp vốn, rút vốn, thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nhà đầu tư với Nhà nước

• Tranh chấp từ hợp đồng lao động: Tranh chấp giữa người sử dụng

lao động với người lao động, hoặc giữa người sử dụng, người lao động với Cơ quan quản lý nhà nước Tranh chấp có thể phát sinh do người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lương, tiền công cho người lao động, hay người lao động có hành vi vi phạm các quy định nội bộ, Nội quy, Hợp đồng lao động đã ký gây hậu quả cho bên sử dụng lao động

Trang 36

• Tranh chấp từ hợp đồng thuê, cho thuê tài sản: Tranh chấp giữa bên

cho thuê và bên thuê hoặc tranh chấp giữa bên cho thuê, bên thuê với cơ quan nhà nước Tranh chấp này có thể phát sinh do Bên cho thuê vi phạm nghĩa vụ bàn giao tài sản, nghĩa vụ bảo trì, bảo dưỡng tài sản, hay Bên thuê vi phạm nghĩa

vụ thanh toán, hoặc phá hủy tài sản cho thuê gây thiệt hại cho Bên cho thuê

Dựa vào chủ thể tranh chấp, có thể phân chia tranh chấp thành:

• Tranh chấp giữa thương nhân với thương nhân: tranh chấp phát sinh

giữa các bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh với nhau Ví dụ, tranh chấp này có thể là tranh chấp giữa hai Công ty trách nhiệm hữu hạn về hợp đồng thuê văn phòng, trung tâm thương mại, tranh chấp giữa hai Công ty cổ phần về hợp đồng mua bán nhà ở

• Tranh chấp giữa thương nhân với tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân: tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó chỉ có một bên là

thương nhân Ví dụ như tranh chấp giữa một Công ty cổ phần với người mua căn hộ về hợp đồng mua bán căn hộ, hay hợp đồng mua bán điện, nước

• Tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân:

tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó các bên đều không phải là thương nhân Ví dụ như tranh chấp giữa chủ nhà và người giúp việc, tranh chấp giữa hai cá nhân về hợp đồng vay tiền

Ngoài ra, dựa vào tính chất của tranh chấp, có thể phân chia thành tranh chấp có yếu tố nước ngoài và tranh chấp không có yếu tố nước ngoài

1.3 THIẾT LẬP PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.3.1 Thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Khái niệm thiết lập phương thức GQTC bằng TTTM có thể được hiểu

là quá trình tạo lập, thiết kế, hay xây dựng phương thức GQTC bằng TTTM

Trang 37

thông qua việc Nhà nước ban hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc do Các Bên thiết lập, vận dụng các quy định của pháp luật

1.3.2 Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Là tổng hợp các quy định của pháp luật cùng các chính sách của Nhà nước áp dụng để GQTC tại TTTM Quy định này sẽ điều chỉnh và giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc GQTC tại TTTM như các tranh chấp thuộc thẩm quyền GQTC của trung tâm trọng tài, các nguyên tắc trong GQTC bằng trọng tài, việc thành lập Hội đồng trọng tài, trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài, hiệu lực của phán quyết trọng tài, việc thi hành phán quyết trọng tài,

sự hỗ trợ của tòa án đối với tố tụng trọng tài…

1.4 NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên

Nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên được coi là nguyên tắc nền tảng của trọng tài Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ quá trình giải quyết của trọng tài phù hợp với thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp

Cụ thể, các bên tham gia tranh chấp có quyền tự do lựa chọn trung tâm trọng tài, trọng tài viên, số lượng trọng tài viên, luật áp dụng trong quá trình xét xử trọng tài, địa điểm xét xử trọng tài, ngôn ngữ tố tụng và thủ tục tố tụng trọng tài Nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên được pháp luật nhiều quốc gia và pháp luật, tập quán quốc tế ghi nhận

Ví dụ về việc lựa chọn luật áp dụng, Khoản 1, Điều 28 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 và Khoản 1, Điều 46 Luật trọng tài Anh 1996 quy định:

"Hội đồng trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp theo luật được lựa chọn bởi các bên với tư cách là luật áp dụng cho nội dung tranh chấp" [Dẫn theo 20] Điều 2 của Luật trọng tài Brazin cũng ghi nhận nguyên tắc này: "Luật áp dụng trong quá trình trọng tài sẽ theo thỏa thuận của các bên miễn là sự lựa chọn đó không vi phạm chuẩn mực đạo đức và chính sách công cộng" [Dẫn theo 20]

Trang 38

Về việc lựa chọn thủ tục chỉ định trọng tài viên và số lượng trọng tài viên, Khoản 2, Điều 10 của Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Các Bên được tự do thỏa thuận về thủ tục chỉ định trọng tài hoặc các trọng tài theo quy định tại Đoạn (4) và (5) của Điều này" [38] Điều 8.2 Quy tắc tố tụng trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) quy định: "Khi các bên không

có quy định về số lượng trọng tài viên, tòa án sẽ chỉ định trọng tài viên duy nhất" [38] Khoản 1, Điều 16 Luật trọng tài Anh cũng quy định: "Các bên được tự do thỏa thuận về thủ tục bổ nhiệm trọng tài viên hoặc các trọng tài viên, bao gồm cả việc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng trọng tài" [Dẫn theo 20]

Về việc lựa chọn thủ tục tố tụng, Khoản 1, Điều 19 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Phù hợp với quy định của Luật này, các bên được tự do thỏa thuận về thủ tục sẽ được thực hiện bởi Hội đồng trọng tài khi tiến hành tố tụng" [38], hay theo Khoản 1, Điều 20 thì: "Các bên được tự do thỏa thuận về địa điểm xét xử trọng tài" [38] hay theo Khoản 1, Điều 22: "Các bên được tự do thỏa thuận về ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ sẽ được sử dụng trong tố tụng trọng tài" [38]

Như vậy, trong phương thức GQTC bằng trọng tài, hầu hết pháp luật các quốc gia đều ghi nhận và tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp Đây thực sự là ưu điểm của phương thức giải quyết bằng trọng tài so với tòa án Tuy nhiên, nguyên tắc thỏa thuận không có nghĩa là các bên có thể thỏa thuận toàn bộ các vấn đề mà không có giới hạn, hạn chế, theo đó, việc thỏa thuận của các bên cần tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật của nước - nơi tiến hành tố tụng trọng tài và nước mà phán quyết trọng tài sẽ được thi hành Điều này xuất phát từ lý do là các phán quyết của trọng tài nước ngoài muốn được thi hành tại quốc gia khác cần thực hiện thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài

Nguyên tắc bình đẳng, độc lập và vô tư khách quan

Về nguyên tắc bình đẳng, Điều 18 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 quy định: "Các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải

Trang 39

được trao đầy đủ cơ hội để trình bày về vụ việc của mình" [38] Hay Điều 24 Luật trọng tài Thụy Điển quy định: "Trọng tài sẽ, trong phạm vi cần thiết, trao cho các bên một cơ hội để trình bày về vụ việc của họ bằng văn bản hoặc lời nói" [Dẫn theo 20] Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở việc trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài phải dành cho các bên sự đối xử như nhau, đảm bảo các bên đều được trình bày đầy đủ về lý lẽ cũng như các vấn

đề liên quan đến vụ việc của họ

Về nguyên tắc vô tư và khách quan, nội dung của nguyên tắc này yêu cầu các trọng tài viên phải độc lập với các bên tham gia tranh chấp, GQTC trên cơ sở khách quan, không thiên vị bất kỳ bên nào Nguyên tắc này liên quan trực tiếp đến các trọng tài viên và ảnh hưởng trực tiếp tới phán quyết của trọng tài Điều 6.4 Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL 1976 quy định:

"Trong quá trình chỉ định, cơ quan có thẩm quyền chỉ định phải cân nhắc để đảm bảo chỉ định được một trọng tài viên khách quan và độc lập và sẽ xét tới khả năng chỉ định một trọng tài viên có quốc tích khác với quốc tịch của các bên" [38] Điều 33.1 (a) Luật trọng tài Anh quy định: "Hội đồng trọng tài phải hành động công bằng và vô tư khách quan với các bên, phải trao cho mỗi bên một cơ hội hợp lý để trình bày vụ việc của mình và giải quyết các cáo buộc từ phía bên kia đưa ra" [Dẫn theo 20]

Như vậy, pháp luật các nước rất coi trọng nguyên tắc bình đẳng, độc lập và vô tư khách quan trong tố tụng trọng tài Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này trong quá trình tố tụng trọng tài, pháp luật các nước cũng quy định các vấn đề liên quan đến trọng tài viên như Điều kiện trở thành trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, các trường hợp trọng tài viên phải từ chối tiến hành tố tụng, các trường hợp bắt buộc phải thay đổi trọng tài viên

Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm

Đây là nguyên tắc mà các bên tham gia tranh chấp thực sự quan tâm Nguyên tắc này cũng là nguyên tắc làm cho phương thức GQTC bằng trọng

Trang 40

tài được ưa chuộng và phát triển hơn so với các phương thức khác như hòa giải, thương lượng, trung gian Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là phán quyết của trọng tài là có giá trị ràng buộc các bên và các bên có nghĩa vụ phải thi hành phán quyết này Khoản 1, Điều 32 Luật Mẫu của UNCITRAL 1985 ghi nhận nguyên tắc này như sau: "Tố tụng trọng tài sẽ được chấm dứt bởi quyết định chung thẩm hoặc bởi yêu cầu của Hội đồng trọng tài" [38] Điều

1055 Đạo luật Trọng tài Đức 1998 ghi nhận: "Phán quyết trọng tài có hiệu lực như một bản án có hiệu lực chung thẩm do tòa án tuyên và bắt buộc các bên phải thi hành" [Dẫn theo 20] Có thể nói, chính nguyên tắc chung thẩm đóng vai trò quan trọng giúp trọng tài ngày càng trở thành phương thức GQTC được sử dụng rộng rãi và đáp ứng được nhu cầu của các bên

1.5 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI

Cơ sở pháp lý của phương thức GQTC bằng trọng tài được hiểu là hệ thống các quy định của pháp luật (quốc gia và quốc tế), các chính sách điều chỉnh việc GQTC bằng trọng tài

1.5.1 Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia điều chỉnh GQTC bằng TTTM chính là tổng thể quy định của pháp luật, chính sách của quốc gia đó Hiện nay, việc quy định nguồn luật điều chỉnh tại các quốc gia là không giống nhau

Với các quốc gia theo mô hình chế định trọng tài độc lập, ban hành Luật trọng tài riêng, thì cơ sở pháp lý quan trọng nhất là Luật trọng tài và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật khác có liên quan Các nước theo

mô hình này như Anh (Luật trọng tài Anh 1967), Hoa Kỳ, Canada, Singapore (Luật trọng tài), Australia, Newzeland, Nga, Trung Quốc (Luật trọng tài Nhân dân Trung Hoa 1924), Đan Mạch (Luật trọng tài có hiệu lực từ ngày 1/7/2005), Cộng hòa Séc (Luật Tố tụng và Thi hành phán quyết trọng tài số 216/1994)

Ngày đăng: 09/07/2015, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan Thông Anh (2009), "Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không "mặn mà với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài", www.vibonline.com.vn, ngày 7/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không "mặn mà với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài
Tác giả: Phan Thông Anh
Năm: 2009
4. Bộ Tư pháp (2013), "Bộ Tư pháp công bố danh sách các tổ chức trọng tài tại Việt Nam và danh sách các trọng tài viên của các Trung tâm trọng tài", http://www.moj.gov.vn, ngày 13/08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp công bố danh sách các tổ chức trọng tài tại Việt Nam và danh sách các trọng tài viên của các Trung tâm trọng tài
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
5. Chính phủ (1994), Nghị định số 116-CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116-CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
6. Chính phủ (1996), Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài quốc tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
7. Chính phủ (2003), Quyết định số 204/2003/TTg ngày 28/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 204/2003/TTg ngày 28/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
8. Chính phủ (2004), Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
9. G.A Cô-dơ-lốp và S.P Pe-rơ-vu-sin (1976), Từ điển Kinh tế, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Kinh tế
Tác giả: G.A Cô-dơ-lốp và S.P Pe-rơ-vu-sin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
11. Nguyễn Mạnh Dũng (2011), "Bình luận về tố tụng trọng tài và vị trí pháp lý của phán quyết trọng tài tại Việt Nam", Tài liệu khóa bồi dưỡng trọng tài thương mại quốc tế, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về tố tụng trọng tài và vị trí pháp lý của phán quyết trọng tài tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Năm: 2011
13. Vũ Ánh Dương (2010), "Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại", Hội thảo khoa học: Góp ý xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại, Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
Tác giả: Vũ Ánh Dương
Năm: 2010
14. Vũ Ánh Dương (2011), "Quá trình phát triển của Trọng tài Việt Nam - so sánh Trọng tài Việt Nam và Trọng tài quốc tế", Tài liệu khóa bồi dưỡng trọng tài thương mại quốc tế, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển của Trọng tài Việt Nam - so sánh Trọng tài Việt Nam và Trọng tài quốc tế
Tác giả: Vũ Ánh Dương
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2011), Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 - bước phát triển mới của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 - bước phát triển mới của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Năm: 2011
16. Trần Thu Hòa, Lương Hồng Quang (2012), Hỏi đáp về Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Tác giả: Trần Thu Hòa, Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
17. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
18. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại quốc tế
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Trần Minh Ngọc (2004), Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Ngọc
Năm: 2004
20. Trần Minh Ngọc (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Minh Ngọc
Năm: 2009
21. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2008), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
23. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội 24. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình, "Hà Nội 24. Quốc hội (2004), "Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội 24. Quốc hội
Năm: 2004
27. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
30. Quốc hội (2005), Luật Kinh doanh bất động sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh doanh bất động sản
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 3.2: Bảng loại hình tranh chấp tại VIAC - Thiết lập phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo Luật trọng tài thương mại 2010
i ểu đồ 3.2: Bảng loại hình tranh chấp tại VIAC (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w