49 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐỀN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ KẾT QUẢ NGHI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
CÙ HỒNG ANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
CÙ HỒNG ANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI – 2013
Trang 3MỤC LỤC
`
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 11
1.1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ 11
1.1.2 Hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 15
1.2 Bản chất pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT 17
1.2.1 Khái niệm điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT 17
1.2.2 Các đặc điểm pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT 18
1.2.3 Nội dung cơ bản của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT 20
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 24
1.3.1 Quy định, quan điểm của WTO 24
1.3.2 Quan điểm của WIPO 26
1.3.3 Quy định, quan điểm của Nhật Bản 28
1.3.4 Quy định, quan điểm của Hoa Kỳ 30
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM TỪ CÁCH TIẾP CẬN LUẬT
Trang 42.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ của
Liên minh Châu Âu và Việt Nam 32
2.1.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu 32
2.1.2 Giới thiệu khái quát các quy định của Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 36
2.2 So sánh về phạm vi, đối tượng điều chỉnh 37
2.2.1 Phạm vi, đối tượng điều chỉnh theo pháp luật EU: 37
2.2.2 Theo pháp luật Việt Nam 38
2.3 So sánh các công cụ nhận dạng hành vi hạn chế cạnh tranh 40
2.3.1 Khái niệm đối thủ cạnh tranh (competitor), Không phải đối thủ cạnh tranh (non-competitor) 40
2.3.2 Về thị trường liên quan: 42
2.3.3 Về thị phần và cách tính thị phần: 44
2.4 So sánh về một số quy định cụ thể 45
2.4.1 Các trường hợp được miễn trừ 45
2.4.2 Cách tính thời gian miễn trừ theo pháp luật EU và Việt Nam 48
2.4.3 Các hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng (“hard-core restriction”) và các loại trừ 49
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐỀN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SO SÁNH 55 3.1 Yêu cầu, định hướng của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ 55
3.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ phải phù hợp với đặc thù của nền kinh tế và sự phát triển của khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay 55
Trang 53.1.2 Việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ phải đảm bảo khuyến khích phát triển tài sản trí tuệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 56 3.1.3 Việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 57 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ 58 3.2.1 Những hạn chế hiện tại trong pháp luật cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay 59 3.2.2 Kiến nghị, đề xuất 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EU Liên minh Châu Âu;
HCCT Hạn chế cạnh tranh;
Hiệp định EC Hiệp định thành lập Cộng đồng chung châu Âu
Hiệp định TRIPs Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ;
Luật Cạnh tranh Luật số 27/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 về
cạnh tranh của Việt Nam;
Nghị định 772/2004 Nghị định của Ủy ban châu Âu số 772/2004 hướng dẫn
việc áp dụng Điều 81(3) của Hiệp định với các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ;
SHTT Sở hữu trí tuệ;
TFEU Hiệp định về hoạt động của Liên minh châu Âu (thay
thế Hiệp định EC);
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới;
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy quá trình đàm phán gia nhập WTO giai đoạn 2005-2006, một loạt các luật mới liên quan đến kinh doanh, thương mại đã được ra đời, trong đó có Luật Cạnh tranh Luật Cạnh tranh được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng
07 năm 2005 đã có ảnh hưởng nhất định tới môi trường kinh doanh của nước
ta Đến nay, Luật Cạnh tranh đã đi vào thực tế đời sống được gần 7 năm, đã
có 3 vụ việc HCCT và gần 40 vụ cạnh tranh không lành mạnh với hơn 50 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kinh doanh trên thị trường Việt Nam được giải quyết và xử lý theo các quy định của Luật này Sự ra đời của Luật Cạnh tranh đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển bình đẳng cho mọi thành phần kinh
tế và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng
Cũng ra đời gần với thời gian ra đời của Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng
7 năm 2006, đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 19 tháng 6 năm 2009 Luật
Sở hữu trí tuệ được đánh giá là một công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, đồng thời là biện pháp của Nhà nước để khuyến khích và bảo đảm giá trị của các tài sản trí tuệ
Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ thực sự chưa được đề cập và nghiên cứu nhiều ở Việt Nam nhưng đã được bàn luận sôi nổi
ở nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới Nhìn từ bên ngoài, mối quan hệ giữa hai luật này mang tính chất trái ngược, mâu thuẫn nhau Nếu như Luật Cạnh tranh có chức năng kiểm soát các hành vi mang tính chất hạn chế, ảnh hưởng
Trang 8bất lợi đến môi trường kinh doanh thì Luật Sở hữu trí tuệ lại có chức năng bảo
vệ các quyền, lợi ích mang tính độc quyền của người sở hữu các tài sản trí tuệ Theo nhiều nghiên cứu về vấn đề này, thực chất, mối quan hệ giữa hai luật này là sự bổ sung cho nhau bởi cả hai đều có một mục đích là khuyến khích sự sáng tạo công nghệ và sản phẩm, phục vụ lợi ích của người tiêu dùng
Để góp phần tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ cũng như sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với các hoạt động thương mại có liên quan đến quyền SHTT thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này là rất cần thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong điều kiện chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam về vấn
đề này Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật học, luận văn không có tham vọng đi sâu tìm hiểu tất cả các nội dung của pháp luật về các thỏa thuận HCCT trong các hoạt động thương mại liên quan đến quyền
SHTT mà chỉ tập trung nghiên cứu theo hướng “So sánh pháp luật về điều
khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu, học
tập các kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu và góp phần hoàn thiện pháp luật về các thỏa thuận HCCT trong các hoạt động thương mại có liên quan đến quyền SHTT
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã đề cập ở trên, đề tài nghiên cứu của Luận văn chưa thực sự được nghiên cứu sâu rộng tại Việt Nam Hiện nay, về vấn đề này, có Luận án Tiến
sĩ của Nguyễn Thanh Tú năm 2009 với nội dung “Nghiên cứu pháp luật cạnh
tranh trong chuyển giao công nghệ theo Hiệp định TRIPS và rút ra các kinh nghiệm áp dụng pháp luật cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển”, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về quyền sở
Trang 9hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Nguyễn Thị Thu năm 2009, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Kiểm soát thoả thuận
hạn chế cạnh tranh - những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2006 của Đồng
Ngọc Dám Ngoài ra, còn có những bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí trong thời gian vừa qua Các công trình trên là những nguồn tài liệu tham khảo quý báu đối với luận văn Trong phạm vi luận văn này, tác giả luận văn có mong muốn nghiên cứu vấn đề trên theo hướng so sánh luật, một cách tiếp cận khác so với các công trình kể trên Cụ thể, luận văn sẽ trình bày những nội dung cơ bản trong việc điều chỉnh của pháp luật EU với các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT để rút ra kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực SHTT tại Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Dựa trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình
khoa học đã công bố, Luận văn với đề tài “So sánh pháp luật về điều khoản
hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam” có đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể
như sau:
(i) Đối tượng nghiên cứu
Nhằm mục đích tập trung nghiên cứu theo hướng gần nhất với thực tế của pháp luật hiện tại, Luận văn hướng tới đi sâu nghiên cứu các đối tượng sau:
- Hệ thống các quan điểm, quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về thỏa thuận HCCT, các quy định của pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có các đối tượng của quyền SHTT;
- Các quan điểm, quy định của Liên minh Châu Âu điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT, đặc biệt là các
Trang 10quy định về miễn trừ áp dụng các quy định về thỏa thuận HCCT của Liên minh Châu Âu;
(ii) Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về hành vi HCCT, mà cụ thể là thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT mà phổ biến nhất là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng của quyền SHTT hay còn được biết đến với tên gọi hợp đồng li-xăng mà không đề cập đến nội dung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh cũng như cơ quan quản lý cạnh tranh và thủ tục điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT; đánh giá so sánh pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam để
từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay
Với mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT;
- Đánh giá so sánh pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam;
Trang 11- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước và Pháp quyền trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Phương pháp bình luận, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong Chương 1 nghiên cứu những vấn đề chung về quyền SHTT, hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT và điều khoản HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT;
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phương pháp đối chiếu… được sử dụng trong Chương 2
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải… được sử dụng trong Chương 3 nghiên cứu xác lập định hướng và đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về điều chỉnh các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn được hoàn thành sẽ có những đóng góp về mặt khoa học chủ yếu sau đây:
- Góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cạnh tranh và sở hữu trí tuệ;
Trang 12- Cung cấp các thông tin có giá trị tham khảo bổ ích về một số quy định của các tổ chức quốc tế và các quốc gia trong việc xử lý các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT
- Góp phần xác lập những luận cứ khoa học của việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT tại nước ta;
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận; luận văn được kết cấu thành 3 Chương; cụ thể:
- Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ;
- Chương 2: Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam từ cách tiếp cận Luật so sánh
- Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về điều khoản thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ từ kết quả nghiên cứu so sánh
Trang 13
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Theo giải thích của WIPO trong một tài liệu có tên “Quyền sở hữu trí
tuệ là gì”, quyền SHTT cũng giống như các quyền với tài sản khác Nó cho
phép người sáng tạo ra, hay người sở hữu sáng chế, nhãn hiệu hay tác phẩm được bảo hộ hưởng lợi ích trên công trình của mình hay việc đầu tư vào quá trình sáng tạo Các quyền này đã được nêu ra và ghi nhận tại Điều 27 của Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền, quy định về quyền hưởng lợi từ việc bảo
hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả các tác phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật Tầm quan trọng của SHTT cũng như một số đối tượng của quyền SHTT được ghi nhận lần đầu tiên tại các văn bản có tính toàn cầu là Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886
Tương tự như vậy, WTO định nghĩa quyền SHTT là các quyền trao cho
cá nhân hay tổ chức đối với kết quả của việc sáng tạo trí óc của họ Quyền SHTT cho phép người sáng tạo quyền độc quyền trong việc sử dụng sản phẩm sáng tạo của mình trong một thời gian nhất định.[26]
Điều 1226, Phần IV, Bộ luật dân sự của Cộng hòa Liên bang Nga lại quy định:
Quyền SHTT được công nhận trên cơ sở kết quả của hoạt động trí tuệ
và sự cá biệt hóa các kết quả của hoạt động đó, bao gồm quyền độc quyền tức
Trang 14là quyền sở hữu; và trong các trường hợp được quy định bởi Bộ luật này, cũng là các quyền sử dụng cá nhân và các quyền khác (quyền cho tác giả tác phẩm, quyền tiếp cận và các quyền khác)
Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật SHTT về Quyền
sở hữu trí tuệ như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”
Như vậy, mặc dù không hoàn toàn đồng nhất song các quốc gia và các
tổ chức trên thế giới đều có quan niệm chung rằng, quyền SHTT (cũng giống như các quyền đối với tài sản khác) là các quyền dành cho người (bao gồm cả
tổ chức, cá nhân) đối với các tác phẩm, sự sáng tạo hay sự cá biệt hóa, đặc biệt là quyền độc quyền sử dụng, và thường là trong một thời gian nhất định
Theo quy định của luật Việt Nam, quyền SHTT là một loại quyền tài sản, điều đó có nghĩa là quyền SHTT cũng là một loại tài sản, có thể định giá được và có thể tham gia vào các giao dịch dân sự Tương tự với các loại tài sản khác, pháp luật dành cho chủ thể của quyền SHTT quyền sở hữu tối cao
và quyền ngăn cấm người khác sử dụng quyền SHTT của mình Đây cũng là chế độ pháp lý dành cho quyền SHTT mà đa số các nước áp dụng Chế độ pháp lý này được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế hay bản chất kinh tế của quyền SHTT Đó là quyền SHTT có tính công cộng cao Tính công cộng cao của quyền SHTT được thể hiện ở chỗ, quyền SHTT sau khi được công bố có thể được sử dụng với chi phí rất thấp và dễ dàng, ví dụ như việc sao chép một kiểu dáng công nghiệp, một phần mềm máy tính Vì lý do đó, chỉ có việc bảo
vệ và trao quyền độc quyền sử dụng cho chủ thể của quyền SHTT mới có thể thúc đẩy được sự phát triển của sáng tạo và khoa học – công nghệ
Trang 15Về mặt phân loại, quyền SHTT thường được phân chia thành quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
Như đã đề cập, quyền SHTT thường bao gồm 3 loại đối tượng lớn, đó
là quyền tác giả và quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Cùng với sự phát triển của kinh tế và kỹ thuật, sự phát triển và mở rộng của các đối tượng của quyền SHTT được thể hiện qua thời gian khá dài và được ghi nhận trong các công ước, hiệp ước quốc tế
Công ước Paris là công ước đầu tiên liên quan đến quyền SHTT và đối tượng của quyền SHTT Công ước Paris ra đời năm 1883 quy định về các quyền sở hữu công nghiệp và đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được Công ước Paris nêu ra bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Sau này, một đối tượng nữa của quyền sở hữu công nghiệp được bổ sung đó là thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được quy định và ghi nhận trong Hiệp ước Washington năm 1989 về Sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp
Liên quan đến quyền tác giả, năm 1886, Công ước Bern ra đời với mục đích bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật Đây chính là cơ sở quan trọng để bảo vệ một loại đối tượng quan trọng nữa của quyền SHTT đó chính
là quyền tác giả Cùng với sự phát triển của xã hội, một loại đối tượng nữa của quyền SHTT được ghi nhận đó là quyền liên quan đến quyền tác giả Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm
và tổ chức phát sóng là một cơ sở quan trọng để bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả hiện nay Bên cạnh đó cũng phải kể đến Công ước Brussel năm
1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, sau này, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học máy tính, quyền
Trang 16đối với phần mềm máy tính, chương trình sưu tập dữ liệu cũng được bổ sung trở thành một đối tượng mới của quyền tác giả;
Quyền đối với giống cây trồng được ghi nhận và quy định trong Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới
Trong quá trình hình thành WTO, Hiệp định TRIPs đã ra đời thể hiện
sự phát triển của các đối tượng của quyền SHTT dưới góc độ thương mại hóa trong nền kinh tế toàn cầu Theo ghi nhận của Hiệp định TRIPs, quyền SHTT gồm có: quyền tác giả và quyền liên quan, cũng tại đây, các chương trình máy tính và sưu tập dự liệu được liệt kê vào danh sách những đối tượng thuộc quyền tác giả Nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPs cũng quy định về các phương pháp và biện pháp để thực thi
và bảo hộ quyền SHTT
Trên cơ sở các công ước, hiệp ước quốc tế này, các quốc gia đã nội luật hóa các quy định về đối tượng của quyền SHTT tại nước mình Điều 3, Luật SHTT của Việt Nam quy định các đối tượng của quyền SHTT bao gồm:
1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo hộ đầy đủ các đối tượng của quyền SHTT như đa số các nước trên thế giới Đây là cơ sở quan
Trang 17trọng để bảo hộ quyền của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ của mình, từ
đó góp phần khuyến khích phát triển sáng tạo và khoa học - công nghệ
1.1.2 Hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các đối tượng của quyền SHTT
đã trở thành những đối tượng thương mại mang lại lợi nhuận cho những người sở hữu nó bằng cách chuyển giao quyền sử dụng cho người khác Từ
đó, các loại hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu chuyển giao và nhận chuyển giao này Luật SHTT của Việt Nam hiện nay quy định hai loại hợp đồng cơ bản có liên quan đến quyền SHTT là Hợp đồng chuyển nhượng quyền SHTT và Hợp đồng chuyển quyền
sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam lại quy định về hình thức chuyển giao công nghệ như sau:
Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
1 Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập;
2 Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng sau đây:
a) Dự án đầu tư;
b) Hợp đồng nhượng quyền thương mại;
c) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp;
d) Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ;
3 Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Luật thương mại hiện hành của Việt Nam còn quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại Theo đó, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
- Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn
Trang 18hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh
Nhìn ra thế giới, hiện nay có thể thấy có một số hình thức hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT mà chưa có hoặc ít xuất hiện ở Việt Nam như:
Hợp đồng nhóm về quyền SHTT (cross licensing hay patent pool) theo đó hai
hoặc nhiều bên cùng nhau thỏa thuận sẽ hợp tác với nhau trong việc phát triển, sử dụng các đối tượng của quyền SHTT do một trong các bên đó tạo ra Bên cạnh đó, thực tiễn phong phú trên thế giới còn ghi nhận hợp đồng nghiên
cứu và phát triển (research and development agreement) Nghiên cứu và phát
triển là việc nắm bắt các bí quyết kỹ thuật liên quan đến sản phẩm hoặc quy trình và việc thực hiện các phân tích lý thuyết, nghiên cứu hệ thống hay kinh nghiệm, bao gồm kinh nghiệm sản xuất, thử nghiệm kỹ thuật sản phẩm hoặc quy trình, việc hình thành các cơ sở kỹ thuật cần thiết và kết quả là đạt được các quyền SHTT Theo quy đinh của pháp luật châu Âu, hợp đồng nghiên cứu
và phát triển là thỏa thuận của các bên để cùng nhau nghiên cứu và phát triển sản phẩm hoặc quy trình và cùng nhau khai thác kết quả của việc nghiên cứu
và phát triển đó; hoặc cùng nhau khai thác kết quả của việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm hoặc quy trình đã cùng nhau tiến hành theo thỏa thuận trước đó; hoặc cùng nhau nghiên cứu và phát triển sản phẩm hoặc quy trình,
bao gồm cả cùng nhau khai thác các kết quả [17]
Như vậy, mặc dù thực tế diễn ra khá phong phú xong các hợp đồng nêu trên đều có một đặc điểm chung đó là đối tượng của các hợp đồng này đều chứa đựng một hoặc nhiều đối tượng của quyền SHTT với mục đích đạt được quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT đó
Trang 19Vì quyền SHTT được coi là một dạng tài sản đặc biệt nên các hợp đồng
có liên quan đến quyền SHTT cũng được coi là một trong những dạng hợp đồng đặc biệt Các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT là một hình thức phổ biến và quan trọng trong việc thực thi các quyền SHTT của các chủ thể của quyền SHTT Vì vậy, việc áp dụng pháp luật cạnh tranh với những hợp đồng này cũng có những nguyên tắc, đặc điểm riêng Trong khi pháp luật SHTT tiếp cận theo hướng trao quyền và đồng thuận thì luật cạnh tranh lại tiếp cận theo hướng cấm và ngăn cản các hành vi nhất định Chính cách tiếp cận khác nhau đó khiến cho pháp luật SHTT và pháp luật cạnh tranh có những mâu thuẫn nhất định nếu nhìn từ bên ngoài Đa số các nghiên cứu chỉ
ra rằng, pháp luật về SHTT và pháp luật cạnh tranh về thực chất là cùng một mục đích, tuy nhiên lại có cách tiếp cận khác nhau nên nhìn bề ngoài, hai ngành luật này có sự mâu thuẫn với nhau Cụ thể, pháp luật SHTT và pháp luật cạnh tranh đều cùng hướng đến mục đích là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, khuyến khích phát triển kinh tế và sáng tạo Tuy nhiên, cách tiếp cận của hai luật này lại hoàn toàn khác nhau, thậm chí là trái ngược
Do đó, việc áp dụng pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh các hợp đồng
có liên quan đến quyền SHTT vừa cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản của luật cạnh tranh, vừa cần có những điều chỉnh, ngoại lệ áp dụng một cách linh hoạt để cân bằng lợi ích cá nhân của chủ thể quyền SHTT được pháp luật SHTT trao cho và lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêu dùng
1.2 Bản chất pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
có liên quan đến quyền SHTT
1.2.1 Khái niệm điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT
Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận HCCT (Cartel) được nhìn nhận là
sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ
Trang 20sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng có liên quan, nhưng có thể có hại cho các bên khác [12, tr74]
Một định nghĩa khác: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất
ý chí của từ 2 chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường” [13, tr
125]
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là một hình thức cụ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh Mục đích của thoả thuận hạn chế cạnh tranh là để tăng giá bằng cách loại bỏ hay giảm thiểu cạnh tranh và do đó, nó ảnh hưởng trực tiếp tới người mua hàng hoá, dịch vụ [23]
Với các quan điểm và định nghĩa như trên về hạn chế cạnh tranh cùng các đặc điểm riêng của hợp đồng trong lĩnh vực SHTT, có thể thấy về cơ bản điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT là thỏa thuận giữa các bên nhằm làm giảm và hạn chế cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các quyền đối với các đối tượng của quyền SHTT theo pháp luật về SHTT
1.2.2 Các đặc điểm pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT
Trong thực tiễn kinh doanh, nội dung của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh rất đa dạng và luôn có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, xét trên phương diện kinh tế học và luật học, có thể thấy các thỏa thuận HCCT có các đặc điểm pháp lý sau
- Thứ nhất, thỏa thuận HCCT cũng như các dạng thỏa thuận khác là sự thống nhất giữa hai hay nhiều chủ thể độc lập Một thỏa thuận HCCT phải được hình thành từ sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia về việc
Trang 21thực hiện một hành vi HCCT Hình thức pháp lý của sự thống nhất ý chí không ảnh hưởng đến việc định danh thỏa thuận HCCT Do đó, chỉ cần hội đủ hai điều kiện là có sự thống nhất ý chí và các doanh nghiệp đã cùng thống nhất thực hiện một hành vi HCCT là có thể kết luận đã có thỏa thuận HCCT cho dù thỏa thuận đó bằng văn bản hay lời nói, thỏa thuận công khai hay thỏa thuận ngầm Bên cạnh yếu tố có sự thống nhất ý chí và hành động thì việc thống nhất ý chí và hành động đó phải được các chủ thể độc lập với nhau thực hiện, thậm chí các chủ thể đó có thể là các đối thủ cạnh tranh với nhau Tính độc lập giữa các chủ thể trong thỏa thuận HCCT thể hiện ở việc các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải là những người liên quan của nhau theo pháp luật, không cùng trong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty
- Thứ hai, các thỏa thuận HCCT, đúng như tên gọi của nó, có khả năng gây ra hậu quả HCCT trên thị trường, không thúc đẩy sự phát triển và gây tổn hại tới người tiêu dùng Sự liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau nhằm tạo nên sức mạnh chung trong quan hệ với khách hàng hoặc trong quan
hệ cạnh tranh với những đối thủ khác không tham gia thỏa thuận đã xóa bỏ cạnh tranh giữa những doanh nghiệp tham gia thỏa thuận và làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng Đối với các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT, các thỏa thuận HCCT thường có hậu quả là làm giảm, hạn chế khả năng và mong muốn nghiên cứu, sáng tạo và phát triển các công nghệ mới của các bên tham gia thỏa thuận Do đó, gây ra sự hạn chế đối với sự phát triển công nghệ, sự phát triển của sản phẩm nói chung, đồng thời, không hạ được giá thành sản phẩm, gây bất lợi cho người tiêu dùng
- Thứ ba, các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng liên quan đến quyền SHTT được hình thành dựa trên các quyền độc quyền mà pháp luật
Trang 22SHTT mang lại cho các chủ sở hữu các đối tượng của quyền SHTT Trên cơ
sở các quyền được pháp luật SHTT trao cho, chủ sở hữu đối tượng quyền SHTT khi tham gia các thỏa thuận HCCT có khả năng sử dụng các quyền độc quyền đó để cùng nhau hạn chế việc cải tiến đối tượng quyền SHTT, đặc biệt như sáng chế hoặc hạn chế khối lượng sản phẩm hay phân chia thị trường, ấn định giá bán…Chính vì việc sử dụng các quyền đã được pháp luật SHTT mang lại nên khi điều chỉnh các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT, pháp luật cạnh tranh các quốc gia buộc phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hai ngành luật để làm thế nào vừa bảo vệ được môi trường cạnh tranh lành mạnh, vừa khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển các đối tượng của quyền SHTT
1.2.3 Nội dung cơ bản của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT
Trên thực tế, các điều khoản HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT vô cùng phong phú và đa dạng Các điều khoản sẽ có sự thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các bên trong từng hợp đồng Tuy nhiên, về tổng thể, các điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT thường tập trung vào một số nội dung sau:
(a) Điều khoản HCCT liên quan đến giá:
Điều khoản HCCT liên quan đến giá bao giờ cũng được các bên trong hợp đồng chú trọng, đồng thời, đó cũng là điều khoản được pháp luật cạnh tranh chú trọng điều chỉnh Bởi một trong những mục đích của luật cạnh tranh
là mang đến lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc điều chỉnh một mức giá phù hợp, không tổn hại tới lợi ích người tiêu dùng Trong các hợp đồng, nhất là hợp đồng chuyển giao công nghệ, thông thường, bên giao công nghệ luôn muốn tối đa hóa thu nhập từ giá của công nghệ Trong khi đó, bên nhận công nghệ thường muốn tối thiểu hóa nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên
Trang 23giao công nghệ Thông thường, các bên trong hợp đồng chuyển giao công nghệ thường được tự do xác định mức giá của công nghệ và phương thức thanh toán Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, có thể xuất hiện một
số trường hợp liên quan đến nghĩa vụ về giá của bên nhận công nghệ Cụ thể như hợp đồng chuyển giao công nghệ chỉ là cái cớ để các bên thiết lập một thỏa thuận ấn định giá hay bên giao công nghệ áp đặt một mức giá chuyển giao cao bất hợp lý hoặc buộc bên nhận công nghệ phải tiếp tục thanh toán phí chuyển giao công nghệ sau khi công nghệ đó không còn được bảo hộ theo pháp luật SHTT hay hạn chế quyền của bên nhận trong việc ấn định giá bán ra của sản phẩm sản xuất theo công nghệ được chuyển giao Ví dụ như, pháp luật Việt Nam quy định thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp là một trong những loại thỏa thuận HCCT Pháp luật
EU quy định một trong những điều khoản có tính chất HCCT nghiêm trọng là việc các bên trong hợp đồng, dù trực tiếp hay gián tiếp, hạn chế quyền của một bên trong việc xác định giá bán sản phẩm cho các bên thứ ba Trong các
án lệ của mình, pháp luật Hoa Kỳ cũng thể hiện quan điểm rằng, việc bên chuyển giao quyền sử dụng một đối tượng quyền SHTT ấn định giá bán lại sản phẩm của bên nhận chuyển giao là bất hợp pháp [21, tr25] Tương tự, pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản cũng cho rằng việc hạn chế giá bán của bên giao công nghệ với bên nhận công nghệ là một hành vi hạn chế tính cạnh tranh của hợp đồng chuyển giao công nghệ
(b) Điều khoản HCCT liên quan đến thị trường
Bên cạnh điều khoản HCCT liên quan đến giá thì các điều khoản HCCT liên quan đến thị trường cũng được chú ý điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh Việc phân chia thị trường tiêu thụ cũng như phân chia khách hàng của các bên trong hợp đồng có ảnh hưởng nhất định đến tính cạnh tranh của nền kinh tế Pháp luật Việt Nam coi thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ,
Trang 24nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ, thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ là một trong những loại thỏa thuận HCCT Nếu các bên trong thỏa thuận có thị phần kết hợp từ 30% trở lên thì thỏa thuận với nội dung phân chia thị trường như trên
sẽ bị cấm Theo hướng dẫn về áp dụng luật cạnh tranh của Nhật Bản với các hợp đồng chuyển giao công nghệ thì về nguyên tắc, việc áp dụng hạn mức tối thiểu trong việc sản xuất các sản phẩm của bên nhận công nghệ sẽ không được coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh Tuy nhiên, việc áp dụng hạn mức tối đa trong việc bên nhận chuyển giao sản xuất các sản phẩm sẽ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh [19, tr22]
(c) Điều khoản HCCT liên quan đến chuyển giao ngược
Các hành vi không liên quan đến giá không chỉ giới hạn ở hành vi chuyển giao ngược (grantback), chuyển giao có bán kèm (tying) và chuyển giao cả gói (packeage licensing) như được liệt kê ở khoản 2, Điều 40 Hiệp định TRIPs mà còn có thể là chuyển giao độc quyền cho bên nhận (exclusive licensing), chuyển giao có giới hạn khối lượng sản phẩm sản xuất, và các hành vi khác Trong đó, thỏa thuận về chuyển giao ngược là một thỏa thuận khá phổ biến trong các hợp đồng Chuyển giao ngược là một thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo đó bên nhận phải chuyển giao quyền
sử dụng hay quyền sở hữu đối với các cải tiến được bảo hộ theo pháp luật về SHTT cho bên giao miễn phí hoặc có phí tùy từng trường hợp Chuyển giao ngược có khả năng thúc đẩy cạnh tranh trong trường hợp các bên cùng khai thác các cải tiến mà bên nhận phát triển được, tuy nhiên, nó cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh nếu bên nhận công nghệ bị buộc phải chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng độc quyền đối với các cải tiến
kỹ thuật được bảo hộ thì điều này khiến bên nhận không được hưởng nhiều lợi ích từ việc cải tiến công nghệ và qua đó không khuyến khích bên nhận cải
Trang 25tiến và phát triển công nghệ ban đầu Hơn nữa, điều khoản này còn có khả năng mở rộng sức mạnh thị trường của bên giao một cách bất hợp lý Đối với vấn đề này, pháp luật Hoa Kỳ thường xem xét dựa trên nguyên tắc hợp lý (rule of reason) để xem xét nghĩa vụ cấp lại theo hợp đồng có tính HCCT hay
không Theo pháp luật Việt Nam, điều khoản có nội dung “buộc bên được
chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiến đó” trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT bị coi là
đương nhiên vô hiệu theo luật SHTT
(d) Điều khoản HCCT liên quan đến nghĩa vụ không khiếu kiện
Đây cũng là một điều khoản thường thấy trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT Quan niệm của các quốc gia đối với vấn đề này khá đa dạng Trong khi pháp luật Hoa Kỳ cho rằng điều khoản không được khiếu nại giá trị pháp lý của quyền SHTT không vi phạm Đạo luật Sherman, không phải là việc lạm dụng quyền SHTT thì pháp luật EU lại có quan điểm chặt chẽ và nghiêm khắc hơn với vấn đề này Theo Nghị định 772/2004, điều khoản về nghĩa vụ không khiếu kiện không được miễn trừ Cơ sở cho quan điểm này được Ủy ban Châu Âu giải thích trong đoạn 112, 113 của Hướng dẫn áp dụng Điều 81 Hiệp định EC với các hợp đồng chuyển giao công nghệ như sau: trên thực tế,thông thường, bên nhận chuyển giao phải là người xem xét kỹ nhất việc đối tượng quyền SHTT
mà mình chuẩn bị nhận chuyển giao có hiệu lực hay không Nghị định này cũng cho phép bên giao được quyết định chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên nhận khiếu nại giá rị pháp lý của quyền SHTT đối với công nghệ chuyển giao Quy định này bảo vệ bên giao qua việc không khuyến khích bên nhận khiếu nại và bảo đảm rằng bên nhận gánh hậu quả pháp lý tương tự như bên
Trang 26thứ ba khi công nghệ chuyển giao bị khiếu nại về giá trị pháp lý Đối với vấn
đề này, theo pháp luật Việt Nam, điều khoản có nội dung “Cấm bên được
chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền chuyển giao của bên chuyển quyền.” sẽ bị coi là mặc nhiên vô hiệu
Như vậy, trong vấn đề này, quan điểm của các nhà lập pháp Việt Nam thể hiện sự chặt chẽ và nghiêm khắc
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
1.3.1 Quy định, quan điểm của WTO
Chính thức thành lập năm 1995, đến nay, WTO đã là một tổ chức kinh
tế lớn mạnh với 155 quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng quan trọng tới nền kinh tế, thương mại toàn cầu Cùng với các hiệp định khác, TRIPs là một trong những văn kiện đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của tổ chức này Chính trong hiệp định này, WTO đã chính thức ghi nhận và có sự điều chỉnh đối với những ảnh hưởng của các thỏa thuận HCCT trong các hành
vi thương mại có liên quan đến SHTT Cụ thể, Điều 8.2 đặt ra một trong số các nguyên tắc của Hiệp định là:
Những biện pháp phù hợp có thể được sử dụng, miễn là không trái với các quy định của Hiệp định này, để ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ bởi những người nắm quyền hoặc ngăn chặn các hành vi gây cản trở hoạt động thương mại một cách bất hợp lý hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quốc tế
Hai điều khoản cơ bản mà TRIPs đặt ra để điều chỉnh mối quan hệ giữa hành vi thương mại có liên quan đến SHTT và cạnh tranh là Điều 31, đặc biệt
là Điều 31(k) và Điều 40 Điều 31 quy định về các điều kiện để cấp li-xăng bắt buộc với mục đích bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu các đối tượng của SHTT, tuy nhiên, cũng trong điều này, Điều 31(k) lại quy định về
Trang 27việc không áp dụng các điểm (b) và (f) của Điều 31 nếu như việc cấp li-xăng bắt buộc là chế tài đối với một hành vi được xác định là hành vi HCCT theo một quyết định của tòa án hay quyết định hành chính Bên cạnh đó, Điều 40 của Hiệp định TRIPs nhận định rõ về sự ảnh hưởng của các hành vi HCCT trong các hoạt động thương mại có liên quan đến SHTT Điều 40 quy định:
1.Các Thành viên thừa nhận rằng một số hoạt động hoặc điều kiện cấp li-xăng gắn liền với các quyền sở hữu trí tuệ có tính chất hạn chế cạnh tranh
có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động thương mại và có thể cản trở việc chuyển giao và phổ biến công nghệ
2.Không một quy định nào trong Hiệp định này cấm các Thành viên không được cụ thể hoá trong luật pháp quốc gia của mình các hoạt động hoặc các điều kiện cấp li-xăng có thể bị coi là lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động cạnh tranh trên thị trường liên quan trong những trường hợp nhất định Như quy định ở trên, Thành viên có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa hoặc khống chế các hoạt động trên, trong đó có thể bao gồm điều kiện cấp ngược (buộc Bên nhận cấp cho Bên giao) li-xăng độc quyền, điều kiện nhằm ngăn cấm việc không thừa nhận hiệu lực và việc cấp li-xăng trọn gói, phù hợp với các quy định của Thoả ước này, và phù hợp với luật pháp tương ứng của Thành viên đó
3.Theo yêu cầu của bất kỳ Thành viên nào có lý do để cho rằng chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ là công dân hoặc cư dân của Thành viên khác đang thực hiện các hành vi vi phạm quy định pháp luật của mình liên quan đến đối tượng của Mục này và mong muốn bảo đảm sự tuân thủ quy định pháp luật
đó, mỗi Thành viên được yêu cầu đều phải thương lượng với Thành viên đưa
ra yêu cầu, nhưng không ảnh hưởng đến bất kỳ hoạt động nào theo quy định pháp luật đó và toàn quyền tự quyết của mỗi Thành viên Thành viên được yêu cầu phải quan tâm một cách chu đáo và có thiện ý, và phải tạo cơ hội
Trang 28thích hợp để thương lượng với Thành viên đưa ra yêu cầu, và phải hợp tác thông qua việc cung cấp thông tin công khai về vấn đề được xem xét và các thông tin khác mà Thành viên đó biết, phù hợp với luật quốc gia và việc ký kết các thoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin đó của Thành viên đưa ra yêu cầu Một Thành viên có công dân hoặc cư dân là đương sự của các vụ tố tụng tại một nước Thành viên khác về việc vi phạm các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng của Mục này của Thành viên thứ hai, nếu đưa ra yêu cầu phải được Thành viên thứ hai tạo cơ hội để thương lượng với những điều kiện nêu tại khoản
Có thể thấy, ngoài việc nêu ra vấn đề là mối quan hệ giữa các hành vi thương mại có liên quan đến SHTT và vấn đề cạnh tranh, WTO còn đưa ra các biện pháp khá mềm dẻo để các quốc gia thành viên sử dụng và điều chỉnh mối quan hệ này phù hợp với điều kiện thực tế của mình
1.3.2 Quan điểm của WIPO
WIPO, tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới được thành lập năm 1967, trải qua hơn
40 năm phát triển, hiện nay WIPO đã có 185 thành viên, hoạt động tích cực
và đóng góp vào việc tạo nền tảng quốc tế bảo vệ các quyền SHTT Trên
website chính thức của mình, WIPO đã khẳng định: “Sứ mệnh của WIPO là
khuyến khích phát minh và sáng tạo cho sự phát triển của nền kinh tế, xã hội
và văn hóa của tất cả các quốc gia trên cơ sở một hệ thống sở hữu trí tuệ quốc tế cân bằng và hiệu quả” Các vấn đề về sở hữu trí tuệ và cạnh tranh
cũng được WIPO thực sự quan tâm Bởi, như đã nêu trong mục đích hoạt động của mình, việc khuyến khích các phát minh, sáng tạo là nhằm thúc đẩy
sự phát triển của kinh tế, xã hội trên cơ sở của một hệ thống cân bằng Nhận thức được sự quan trọng của việc cân bằng giữa việc sử dụng các quyền SHTT và sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, WIPO đã có 1 Dự án về sở hữu trí tuệ và chính sách cạnh tranh (WIPO project on intellectual property
Trang 29and competition policy) Dự án này nhằm mục đích phát triển, hoàn thiện các biện pháp hỗ trợ các nước giải quyết các vấn đề SHTT liên quan đến hành vi HCCT bằng cách cung cấp các hợp tác kỹ thuật cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển theo yêu cầu để các nước này hiểu rõ hơn
về mối quan hệ giữa SHTT và chính sách cạnh tranh Bên cạnh đó, dự án cũng quan tâm đến việc làm thế nào để phát triển các hoạt động chuyển giao quyền SHTT khuyến khích cạnh tranh, đặc biệt là để phát triển sáng tạo, sáng chế và chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển và kém phát triển
Dự án cũng là cơ hội để các thành viên WIPO có cơ hội trao đổi kinh nghiệm quốc gia và khu vực về mối liên quan giữa quyền SHTT và chính sách cạnh tranh Với tư cách là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc trong việc khuyến khích phát triển các tài sản trí tuệ, WIPO không đưa ra những quy định mang tính bắt buộc cho các thành viên mà chỉ đưa ra các hỗ trợ, xây dựng các mạng lưới để phát triển các vấn đề về quyền SHTT cho các thành viên Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng như hỗ trợ của WIPO lại đóng góp phần quan trọng vào việc xây dựng pháp luật cũng như thực hiện pháp luật của các nước thành viên WIPO cũng hết sức quan tâm đến mối quan hệ giữa cạnh tranh và SHTT Trong các tài liệu đã công bố, có thể thấy quan điểm của WIPO về vấn
đề này như sau
Mối quan hệ giữa hệ thống SHTT và chính sách cạnh tranh càng ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều chủ thể vì các quyền SHTT đã trở nên vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức Một lĩnh vực chủ yếu trong mối quan hệ giữa hệ thống SHTT và chính sách cạnh tranh là vấn đề liên quan đến các hợp đồng li-xăng giữa các chủ thể tư nhân Li-xăng là một cơ chế để chủ
sở hữu quyền SHTT cho phép người khác sử dụng quyền SHTT của mình theo các điều khoản và điều kiện đã thống nhất Hợp đồng Li-xăng có thể được sử dụng cho nhiều mục đích và là công cụ hữu hiệu đối với quá trình
Trang 30chuyển giao, phổ biến công nghệ Tuy nhiên, trong một vài trường hợp cụ thể, hợp đồng li-xăng có thể có những HCCT ảnh hưởng đến thị trường và nhiều quốc gia đã phát triển được cơ chế để giải quyết vấn đề này
1.3.3 Quy định, quan điểm của Nhật Bản
Luật Cạnh tranh của Nhật Bản được biết đến dưới cái tên Luật Chống độc quyền (tên chính thức: Đạo luật về việc chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh – Act concerning Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade) được ban hành vào tháng 7 năm 1947, là một phần cấu thành trong các biện pháp xây dựng nền kinh tế hỗ trợ cho một xã hội dân chủ Mục đích của Luật này được ghi nhận ngay tại Điều 1:
Luật Chống độc quyền có mục đích cấm độc quyền tư nhân, hạn chế thương mại bất hợp lý và kinh doanh không bình đẳng, ngăn ngừa mức độ tập trung quá mức nguồn lực kinh tế và loại bỏ hạn chế bất hợp lý về sản xuất, cung cấp hàng hóa, giá cả, phát triển công nghệ v.v cũng như các hạn chế kinh doanh khác thông qua thông đồng, thỏa thuận nhằm mục đích thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, khuyến khích tính sáng tạo
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng việc làm và thu nhập thực tế của nhân dân; từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện và dân chủ của nền kinh tế quốc dân cũng như đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng nói chung”.[23]
Liên quan đến vấn đề điều chỉnh mối quan hệ giữa quyền SHTT và pháp luật cạnh tranh, năm 2007 Nhật Bản đã ban hành Hướng dẫn sử dụng quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ luật cạnh tranh (Guidelines for the Use of Intellectual Property under the Antimonopoly Act) Theo Điều 21 của Luật Chống độc
quyền Nhật Bản, “Các quy định trong luật này sẽ không áp dụng đối với các
hành vi được công nhận là việc thực hiện các quyền theo Luật Bản quyền,
Trang 31Luật Bằng Sáng Chế, Luật về thiết kế hữu ích, Luật về thiết kế kiểu dáng hay Luật Nhãn hiệu” Điều này được Hướng dẫn nêu trên giải thích như sau:
Quy định này có nghĩa là Luật chống độc quyền áp dụng đối với các hạn chế liên quan đến việc sử dụng công nghệ mà các hạn chế đó về bản chất không được coi là việc thực hiện các quyền SHTT Một hành động của chủ sở hữu quyền SHTT đối với công nghệ ngăn cản người khác sử dụng công nghệ của mình hoặc hạn chế phạm vi sử dụng được coi là việc thực hiện các quyền SHTT Luật chống độc quyền còn được áp dụng trong cả trường hợp không được ghi nhận là việc thực hiện quyền SHTT Tức là, bất kỳ hành vi thương mại nào dù có thể được coi là việc thực hiện quyền SHTT sẽ không được công nhận là việc thực hiện quyền đó theo Điều 21 nêu trên, với điều kiện là hành vi đó được xem là không thực hiện đúng các mục đích của quyền SHTT,
cụ thể mục đích đó là thúc đẩy các doanh nghiệp hiện thực hóa các sáng tạo
và sử dụng công nghệ trên cơ sở mục đích và cách thức thực hiện và phạm vi ảnh hưởng của nó đối với cạnh tranh Cũng với tinh thần của Điều 21, Luật Chống độc quyền Nhật Bản đã nêu ở trên, Điều 10 Luật sở hữu trí tuệ của
Nhật Bản cũng quy định “ Để phát triển các biện pháp sáng tạo, bảo vệ và
khai thác quyền sở hữu trí tuệ, cần chú trọng đến việc bảo đảm sự cân bằng giữa việc sử dụng quyền SHTT và lợi ích công cộng và thúc đẩy cạnh tranh tự
Trang 32Ngoài nguyên tắc tiếp cận cơ bản nêu trên, bản hướng dẫn của Nhật Bản cũng nêu ra cách thức xác định thị trường liên quan và xác định mức độ ảnh hưởng đến cạnh tranh của một hành vi nhất định tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các quy định của pháp luật
1.3.4 Quy định, quan điểm của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong số những nước có luật cạnh tranh phát triển trên thế giới Sự ra đời và phát triển của luật cạnh tranh Hoa Kỳ được đánh dấu bằng việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật Sherman năm 1890 Đạo luật Sherman được coi là đạo luật đầu tiên và lâu đời nhất về cạnh tranh ở Hoa
Kỳ Mục đích của đạo luật Sherman, theo như phát biểu của Thượng nghị sĩ
Jonh Sherman là “Bảo vệ người tiêu dùng bằng cách hạn chế các thỏa thuận
được thiết kế để hoặc có ý định tăng giá bán hàng hóa cho người tiêu dùng”
Tiếp sau đạo luật này, Hoa Kỳ cũng đã thông qua 2 đạo luật nữa để điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong nền kinh tế của nước này, đó là đạo luật Clayton
và đạo luật về Hội đồng thương mại Liên bang (FTC) đều có hiệu lực năm
1914 Sau một thời gian tồn tại, đạo luật Sherman đã làm thay đổi các hành vi thương mại tại Hoa Kỳ, nhưng một số công ty đã khám phá ra việc sáp nhập như là một cách để điều khiển giá cả và sản xuất Đạo luật Clayton ra đời đã bảo vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ bằng cách cấm các vụ sáp nhập, hợp nhất có khả năng ảnh hưởng đến cạnh tranh Đối với đạo luật về Hội đồng thương mại Liên bang (FTC), Quốc hội Hoa Kỳ đã tạo nên một cơ quan liên bang mới để kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Ngày nay, Hội đồng thương mại liên bang (FTC), Ủy ban Cạnh tranh và Phòng Cạnh tranh của Bộ
Tư pháp Hoa Kỳ có nhiệm vụ thực thi ba đạo luật liên bang về cạnh tranh nói trên
Đối với các thỏa thuận HCCT trong các hành vi thương mại có liên quan đến SHTT, Hoa Kỳ đã sớm có những nhận định cũng như quan điểm và
Trang 33hướng dẫn áp dụng luật cạnh tranh trong các trường hợp này Cụ thể, ngày 6 tháng 4 năm 1995, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và Hội đồng thương mại liên bang đã
ban hành “Hướng dẫn áp dụng Luật Cạnh tranh trong việc chuyển giao quyền
sử dụng quyền sở hữu trí tuệ” (Antitrust Guildelines for the Licensing of
Intellectual Property) Bản hướng dẫn bao gồm 6 phần đề cập chủ yếu đến các nguyên tắc chung khi áp dụng luật cạnh tranh tới các hoạt động liên quan đến quyền SHTT, nguyên tắc chung khi đánh giá các hoạt động li-xăng theo nguyên tắc hợp lý (rule of reason)
Cách tiếp cận đồng nhất của Hướng dẫn bao gồm ba nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh của liên bang
áp dụng các nguyên tắc chung của luật cạnh tranh đối với các quyền SHTT như áp dụng đối với các dạng tài sản khác Tuy nhiên, các cơ quan này cũng thừa nhận rằng quyền SHTT có những đặc điểm quan trọng dẫn đến việc nó
dễ bị lạm dụng Nguyên tắc thứ hai là các cơ quan này không giả định rằng quyền SHTT tạo nên sức mạnh thị trường Nguyên tắc thứ ba, các cơ quan nói trên cho rằng, nhìn chung, việc chuyển giao quyền sử dụng các quyền SHTT
là khuyến khích cạnh tranh Điều này được lý giải bởi lý do việc chuyển giao quyền sử dụng này thường cho phép các công ty kết hợp các yếu tố bổ trợ được cho nhau trong quá trình sản xuất Đồng thời, việc chuyển giao quyền sử dụng còn có tác dụng trong việc hợp nhất các quyền SHTT có tính chất bổ sung cho nhau
Như vậy, có thể thấy, các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế đã ghi
nhận tầm quan trọng của việc áp dụng pháp luật cạnh tranh vào các hợp đồng liên quan đến các đối tượng của quyền SHTT Thực tế sinh động ở các quốc gia phát triển với hàng loạt các hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng và các hợp đồng có liên quan đến đối tượng của quyền SHTT nói chung cho thấy các hợp đồng này có thể có tác động tiêu cực, mặc dù việc chuyển giao quyền
sử dụng các đối tượng của quyền SHTT thường mang tính tích cực Yếu tố
Trang 34tiêu cực đó có thể thấy ở những điểm như việc các bên yêu cầu chuyển giao ngược cho nhau các công nghệ mới phát triển được, điều đó sẽ hạn chế các bên nghiên cứu và phát triển công nghệ mới cũng như các giải pháp hữu ích
có lợi cho người tiêu dung Hợp đồng chuyển giao cũng có thể trở thành một rào cản thị trường với những điều khoản ràng buộc về quyền sử dụng độc quyền trong phạm vi lãnh thổ hay nhóm khách hàng Tuy nhiên, từ khía cạnh khác, các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT cũng có những yếu tố tích cực nhất định tới kinh tế và cạnh tranh, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Cụ thể như các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng rõ ràng giảm bớt chi phí đầu tư cho việc nghiên cứu, phát triển
vì một bên được hưởng lợi từ các nghiên cứu có trước của bên khác Hơn nữa,
nó cũng giúp các bên, thông qua các thỏa thuận hợp tác, bổ sung cho nhau những nguồn lực, công cụ, biện pháp mà mỗi bên còn thiếu Từ những tác động tích cực trên, các hợp đồng này rõ ràng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc hạ giá thành sản phẩm và tăng các tiện ích cho người tiêu dùng trong việc sử dụng sản phẩm Vì vậy pháp luật điều chỉnh điều khoản HCCT trong hợp đồng có lien quan đến quyền SHTT cần phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tích cực mà các hợp đồng này có thể tác động đến môi trường cạnh tranh
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM TỪ CÁCH TIẾP CẬN LUẬT SO SÁNH
2.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam
2.1.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu
Âu
Trang 35Các quy định về cạnh tranh của Liên minh Châu Âu đã được xây dựng cùng với thời gian xây dựng Hiệp ước Rome năm 1957 Ngày 25 tháng 3 năm
1957, sáu quốc gia là Đức, Bỉ, Pháp, Italia, Lúc-xăm-bua và Hà Lan đã cùng nhau ký kết hai hiệp ước tại Rome Hiệp ước thứ nhất thành lập ra Cộng đồng Kinh tế chung châu Âu (EEC), hiệp ước thứ hai sáng lập nên Cộng đồng châu
Âu về năng lượng nguyên tử Hiện nay hiệp ước TFEU đang là hiệp ước có hiệu lực tại EU Các điều khoản cốt lõi điều chỉnh về cạnh tranh trong hiệp ước TFEU gồm có Điều 101, 102 và 106, trong đó điều 106 quy định về vấn
đề trợ cấp nhà nước và vì thế sẽ không được bàn đến tại đây Cụ thể, Điều 101 (tức điều 81 cũ) quy định:
1 Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định liên kết doanh nghiệp hoặc hành vi thông đồng giữa các doanh nghiệp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các nước thành viên, nhằm mục đích cản trở, hạn chế hoặc làm sai lệch hoạt động cạnh tranh trong nội bộ thị trường chung, là không phù hợp với thị trường chung và bị cấm thực hiện, đặc biệt là các thỏa thuận hoặc quyết định nhằm:
a, Ấn định giá mua, giá bán hoặc các điều kiện giao dịch khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
b, Hạn chế hoặc kiểm soát lượng sản xuất, thị trường tiêu thụ, sự phát triển kỹ thuật hoặc đầu tư;
c, Phân chia thị trường hoặc nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
d, Áp dụng những điều kiện thương mại không bình đẳng cho những doanh nghiệp khác nhau với những giao dịch như nhau, từ đó đặt các doanh nghiệp này vào vị trí bất lợi trong cạnh tranh;
e, Áp đặt doanh nghiệp đối tác khi ký kết hợp đồng phải chấp nhận một
số nghĩa vụ bổ sung mà về bản chất hoặc theo thông lệ thương mại, các nghĩa
vụ này không liên quan đến đối tượng hợp đồng
Trang 362 Các thỏa thuận hoặc quyết định bị cấm theo quy định tại điều này đương nhiên là vô hiệu
3 Các quy định tại Khoản 1 có thể được miễn áp dụng:
- đối với mọi thỏa thuận hoặc mọi loại thỏa thuận giữa các doanh nghiệp
- đối với mọi quyết định hoặc mọi loại quyết định liên kết doanh nghiệp, và
- đối với mọi hành vi thông đồng hoặc mọi loại hành vi thông đồng giữa các doanh nghiệp
mà góp phần cải tiến sản xuất, phân phối sản phẩm hoặc thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật, kinh tế, đồng thời bảo đảm cho người tiêu dùng được hưởng một phần lợi nhuận công bằng do sự phát triển kỹ thuật, kinh tế đó mang lại mà không:
a, Áp đặt cho các doanh nghiệp liên quan những hạn chế không nhất thiết phải có để đạt được các mục đích nêu trên;
b, Tạo cho các doanh nghiệp khả năng loại bỏ đối thủ cạnh tranh đối với một phần cơ bản các sản phẩm có liên quan
Điều 102 (tức điều 82 cũ) quy định:
Hành vi của một hoặc nhiều doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chung hoặc một phần lớn của thị trường chung, có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các nước thành viên, là không phù hợp với thị trường chung và bị cấm thực hiện
Trang 37c, Áp dụng những điều kiện thương mại bất bình đẳng cho những doanh nghiệp khác nhau với những giao dịch như nhau, từ đó đặt các doanh nghiệp này vào vị trí bất lợi trong cạnh tranh;
d, Áp đặt doanh nghiệp đối tác khi ký kết hợp đồng phải chấp nhận một
số nghĩa vụ bổ sung, mà về bản chất hoặc theo thông lệ thương mại, các nghĩa vụ này không liên quan đến đối tượng hợp đồng
Ở Châu Âu, luật cạnh tranh được nhìn nhận như là một phần của “hiến pháp kinh tế” là một phần của hệ thống chính trị, góp phần tạo ra công bằng
xã hội [2] Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc này, các nhà lập pháp EU đã ban hành nhiều văn bản khác nhau điều chỉnh nhiều vấn đề khác nhau của luật cạnh tranh, trong đó có vấn đề về điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT Liên quan đến vấn đề này có thể kể đến các văn bản cơ bản và quan trọng sau:
- Quy chế 19/65 ngày 2 tháng 3 năm 1965 về việc áp dụng Điều 85(3) của Hiệp định với một số loại hợp đồng và thỏa thuận, được sửa đổi bởi Quyết định 1/2003 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về việc thi hành quy định về cạnh tranh tại Điều 81 và 82 của Hiệp định và Quyết định số 1215/1999 ngày
10 tháng 6 năm 1999 Quy chế 19/65 cho phép Hội đồng được phép ra quy định miễn trừ đối với một số loại hợp đồng như:
- Các hợp đồng giữa hai hay nhiều công ty liên quan đến việc mua, bán hay bán lại hàng hóa hay dịch vụ;
- Các hợp đồng giữa hai công ty có chứa các hạn chế về việc mua hay
sử dụng quyền SHTT hay bí quyết công nghệ
- Quy chế Hội đồng (EC) số 772/2004 ngày 27 tháng 4 năm 2004 về việc áp dụng Điều 81(3) của Hiệp định với các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ Đây là văn bản đang có hiệu lực áp dụng tại EU liên quan đến vấn
đề này Quyết định 772/2004 quy định về các trường hợp không áp dụng quy
Trang 38định của điều 101(1) như đã trích dẫn ở trên Trong khuôn khổ của luận văn, các so sánh và đối chiếu sẽ được thực hiện chủ yếu trên cơ sở dẫn chiếu và xem xét các quy định của Quyết định 772/2004 này
- Hướng dẫn về việc áp dụng Điều 81 của Hiệp định EC (nay là điều 101) với các hợp đồng chuyển giao công nghệ;
Theo pháp luật châu Âu, ngoài những quy định chung còn có các quy định về miễn trừ Có thể xem đây là cách thức để xử lý được hai vấn đề là phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong các điều khoản HCCT tại các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT như đã nêu tại chương I Pháp luật châu Âu được coi là có khá nhiều điểm chung so với pháp luật Việt Nam
vì vậy, việc lựa chọn so sánh và tham khảo các quy định của pháp luật Châu
Âu không chỉ thuận tiện mà còn mang lại những bài học và kinh nghiệm quý báu để áp dụng vào pháp luật trong nước Đây cũng là lý do luận văn lựa chọn pháp luật Châu Âu để thực hiện nghiên cứu so sánh này
2.1.2 Giới thiệu khái quát các quy định của Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
So với sự phát triển của luật cạnh tranh châu Âu thì luật cạnh tranh của Việt Nam còn vô cùng non trẻ Trước khi Luật cạnh tranh năm 2005 ra đời, các quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề cạnh tranh được quy định rải rác tại nhiều văn bản của nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ như trong lĩnh vực quảng cáo hay đấu thầu Sau đó, từ sự phát triển của nền kinh tế kéo theo nhu cầu quản lý tốt hơn nữa hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng
12 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 Luật cạnh tranh có 6 chương, 123 điều đã tạo nền tảng pháp lý đầu tiên và quan trọng góp phần vào việc quản lý kinh tế và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các thành phần kinh tế Sau khi Luật Cạnh tranh ra đời, các văn bản