- Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đưa ra định nghĩa đô thị như sau : “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao , chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG PHƯỢNG
PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG PHƯỢNG
PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hồng Phượng
Trang 4MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 10
1.1 Tổng quan về đô thị 10
1.1.1 Tổng quan về sự phát triển đô thị ở Việt Nam 10
1.1.2 Khái niệm về đô thị 13
1.2 Tổng quan về quy hoạch đô thị 21
1.2.1 Khái niệm quy hoạch đô thị 21
1.2.2 Phân loại quy hoạch đô thị 25
1.2.3 Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch đô thị 27
1.3 Tổng quan pháp luật về quy hoạch đô thị 29
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ quy hoạch đô thị bằng pháp luật 29
1.3.2 Khái niệm pháp luật về quy hoạch đô thị 32
1.3.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về quy hoạch đô thị 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 35
2.1 Nội dung pháp luật về quy hoạch đô thị 35
2.1.1 Nội dung quy định về lập quy hoạch đô thị 35
2.1.2 Thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị 47
2.1 3 Điều chỉnh quy hoạch đô thị 52
2.1.4 Việc tổ chức thực hiện và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch 55
2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 62
Trang 52.2.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử và kinh tế - xã hội của thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 62 2.2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 67
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TIẾP CẬN TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 73
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị qua thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 73 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị qua thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 75 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị qua thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 79
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiê ̣p hóa - hiê ̣n đa ̣i hóa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và
an ninh - quốc phòng v.v Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đã tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội; đặc biệt làm thay đổi căn bản bộ mặt đô thị của nước ta phát triển theo hướng văn minh, hiện đại Ở các đô thị đã và đang mọc lên những toà nhà cao tầng hiện đại, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông, cây xanh, vỉa
hè, đèn chiếu sáng công cộng v.v đã được đầu tư xây dựng đồng bộ Đô thị phát triển mạnh mẽ đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp và góp phần đáng kể nâng cao chất lượng sống của người dân Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng mật độ dân số vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho chính quyền các đô thị phải giải quyết như tình trạng ách tắc giao thông, nạn ô nhiễm môi trường, nhu cầu về nhà ở , trường học, bệnh viê ̣n và các dịch vụ giải trí công cộng v.v Đây không chỉ là vấn đề nan giải đối với nước ta mà còn đối với các nước đang phát triển trên thế giới Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng của mỗi nước; trong đó không thể không quan tâm đến vấn đề xây dựng quy hoạch đô thị Bởi lẽ, quy hoạch đô thị là sự định hướng chiến lược mang tính tổng hợp và toàn diện cho sự phát triển của đô thị trong tương lai đảm bảo hài hoà giữa yếu
tố dân tộc, truyền thống với yếu tố văn minh, hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một trong những nội dung rất quan trọng và không thể thiếu được của quy hoạch đô thị, đó là quy hoạch sử dụng đất đô thị
Trang 8Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng nhằm đáp ứng đòi hỏi về nhà ở cho người dân, xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của đô thị v.v Việc sử dụng đất một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả là một yêu cầu hàng đầu được đặt ra trong xây dựng quy hoạch sử dụng đất đô thị Hơn nữa, để phát triển hài hoà bộ mặt kiến trúc đô thị ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đòi hỏi chúng ta
phải quy hoạch đô thị hợp lý Đô thị là “tấm gương” phản chiếu rõ ràng nhất
sự phát triển của xã hội, vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đô thị sẽ bảo đảm cho việc quản lý và sử dụng đất đai đô thị đi vào nề nếp, hiệu quả phù hợp với sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai
Kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 8 năm 1945) đến nay, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng Hệ thống pháp luật về quy hoạch đô thị được xây dựng và từng bước hoàn thiện đã
có những đóng góp đáng kể vào việc phát triển đô thị ở nước ta Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; đứng trước những vận hội và thách thức mới, hệ thống pháp luật này bộc lộ những tồn tại, yếu kém chậm được sửa đổi, bổ sung là một trong những nguyên nhân làm cho các đô thị phát triển mất cân đối, lệch lạc v.v
Thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Nghị định
số 146/2006/NĐ-CP ngày 01/12/2006 của Chính Phủ Với lợi thế về vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, Vĩnh Yên đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Các ngành dịch vụ, thương mại, công nghiệp phát triển nhanh và mạnh mẽ Tốc độ gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về đất đai cho sản xuất và đời sống Điều này
Trang 9đòi hỏi các cấp, các ngành của thành phố Vĩnh Yên cần phải có những chính sách về quản lý, sử dụng đất đai phù hợp nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý Muốn vậy, công tác quy hoạch đô thị có vị trí
và vai trò đặc biệt quan trọng Thời gian vừa qua, việc thực thi pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả đáng kể Vĩnh Phúc từ một thị xã nhỏ bé, cơ sở hạ tầng thiếu đồng
bộ đã “thay da, đổi thịt” trở thành một thành phố trẻ phát triển năng động là
trung tâm chính trị, kinh tế, thương mại, văn hoá, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển đi lên, công tác thực thi pháp luật về quy hoạch
đô thị tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc còn bộc lộ không ít những hạn chế, tồn tại mà trong đó có nguyên nhân từ hệ thống pháp luật về quy hoạch đô thị tồn tại một số bất cập, mâu thuẫn Để góp phần tìm giải pháp tháo gỡ những
khó khăn, bất cập này, tôi đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quy hoạch đô thị ở
Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” làm
luận văn thạc sĩ luật học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, đất đai không chỉ là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông - lâm nghiệp, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống mà đất đai còn là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước Để tạo điều kiện phát huy vai trò là nguồn lực, nguồn vốn phát triển đất nước thì phải coi trọng công tác quy hoạch đất đai nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng Vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới khoa học nước ta Thời gian qua đã có những công trình nghiên cứu về quy hoạch đô thị nói chung và pháp luật về quy hoạch đô thị nói riêng được công bố mà tiêu biểu phải kể đến các công trình khoa học sau đây:
Trang 101 Cuốn sách“Chính sách thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản
Việt Nam” xuất bản năm 2006 của TS Lê Xuân Bá và TS.Trần Kim Chung
-Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Các tác giả tập trung vào việc nghiên cứu, tìm hiểu chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước ta vào thị trường bất động sản nói chung và thị trường nhà, đất ở đô thị nói riêng
2 Cuốn “Giáo trình Quản lý đô thị năm 2004” của Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân do GS.TS Nguyễn Đình Hương chủ biên Cuốn sách đề cập chủ yếu đến những nội dung cơ bản về quản lý đô thị như lý giải khái niệm quản lý đô thị, sự cần thiết của việc quản lý đô thị, đặc điểm của quản lý đô thị, mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc quản lý đô thị, nội dung quản lý đô thị v.v; trong đó, có nội dung đề cập về quy hoạch đô thị
3 Cuốn “Giáo trình Quản lý nhà nước về đô thị”, xuất bản năm 2007
của Học Viện Hành chính - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Phạm Kim Giao làm chủ biên Cuốn sách đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đô thị nói chung và quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị nói riêng
4 Cuốn “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, xuất bản năm
2008 của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội do GS TS Nguyễn Thế Bá chủ biên Nội dung của cuốn sách chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoa ̣ch xây dựng nhằm phát triển đô thị theo hướng văn minh , hiện đại nhưng vẫn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống
5 Cuốn “Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị”, xuất bản năm
2007 của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, tác giả PGS.TS Trần Trọng Hanh Cuốn sách đi sâu tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị ở nước
ta và luận bàn những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị
Trang 116 Báo cáo “Hội nghị đô thị toàn quốc năm 2009” do Bộ Xây dựng tổ
chức năm 2009; bao gồm các tham luận đề cập đến việc xây dựng và quản lý
đô thị nói chung và quản lý quy hoạch đô thị nói riêng nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
7 Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Nửa thế kỷ với sự nghiệp quy hoạch xây
dựng năm 1956-2006” của Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn; bao gồm
các tham luận tổng kết, đánh giá công tác quy hoạch xây dựng trong 50 năm ở nước ta (từ năm 1956 - năm 2006) Thông qua các tham luận này, công tác quy hoạch xây dựng (trong đó có quy hoạch đô thị) trong 50 năm được nhận diện trên hai phương diện: những thành tựu, kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại cần được khắc phục trong tương lai
8 Hội thảo “Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và
nông thôn” do Liên Hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện Nghiên
cứu Định cư và Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng tổ chức ngày 24/5/2007 tại Hà Nội Nội dung của hội thảo tập trung vào việc luận bàn cơ sở
lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên đất đai ở Việt Nam gắn với công tác định
cư đô thị và nông thôn
9 Bài viết “Quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay” của TS Doãn Hồng
Nhung; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc Việt Nam số 167 năm 2009 Bài viết tìm hiểu về thực trạng quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay; trong đó, có nội dung đề cập đến vấn đề quy hoạch đô thị
10 Bài viết“Bài học nào cho phát triển đô thị ở Việt Nam” của KTS
Nguyễn Hữu Thái; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam số 167 năm 2009 Bài viết đề cập đến thực trạng phát triển đô thị nói chung và quy
Trang 12hoạch đô thị nói riêng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp cho việc phát triển
đô thị ở nước ta
11 Bài viết“ Quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng với bảo vệ văn
hóa truyền thống” của ThS Doãn Hồng Nhung; Tạp chí Kiến trúc - năm
2004 Bài viết luận bàn về quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng gắn với việc bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống ở nước ta
12 Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt
Nam hiện nay” của TS Doãn Hồng Nhung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
7 năm 2010 Nội dung chủ yếu của bài viết đề cập đến một số vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đô thị ở nước ta v.v
Các công trình khoa học trên đây đã tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn của quy hoạch đô thị nói chung và quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị nói riêng cũng như đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này Tuy nhiên, tìm hiểu, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về lý luận và thực tiễn pháp luật về quy hoạch đô thị cũng như thực trạng thi hành trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện mảng pháp luật này và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên nhằm đưa Vĩnh Yên sớm trở thành đô thị loại 1 thì dường như vẫn còn thiếu một công trình nghiên cứu như vậy Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học đã công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc trên hai phương diện lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 13Luận văn nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và đề xuất giải pháp hoàn thiện thông qua việc xem xét, đánh giá thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật về quy hoạch đô thị, bao gồm các nội dung sự cần thiết của việc điều chỉnh quy hoạch đô thị bằng pháp luật; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quy hoạch đô thị; lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về quy hoạch đô thị v.v
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị
- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc v.v
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật hiện
hành về quy hoạch đô thị; bao gồm các quy định của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và những quy định có liên quan của Luật Đất đai năm 2003, Luật
Trang 14Xây dựng năm 2003 và Luật Nhà ở năm 2005 về quy hoạch đô thị và thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học,
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cụ thể sau:
- Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch
đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
- Về thời gian: Nghiên cứu pháp luật về quy hoạch đô thị kể từ thời
điểm ban hành Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Học thuyết Mác- Lê nin; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển và quản lý đô thị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp quyền
Để giải quyết những nội dung, nhiệm vụ đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp diễn giải v.v được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu Một số vấn đề lý luận về quy hoạch đô thị và pháp luật về quy hoạch đô thị
- Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp bình luận v.v được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn áp dụng tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp v.v được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy
Trang 15hoạch đô thị qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là kết quả của sự kế thừa và tham khảo các kết quả của những công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài Tuy nhiên, nội dung của luận văn cũng có những điểm mới đóng góp cho khoa học pháp lý về đất đai nói chung và khoa học pháp lý về quy hoạch đô thị nói riêng Những điểm mới này bao gồm:
- Tập hợp, đánh giá và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về đô thị nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng; vai trò, ý nghĩa của quy hoạch đô thị đối với quản lý và phát triển đô thị
- Hệ thống hoá, phân tích và đánh giá một số vấn đề lý luận về pháp luật về quy hoạch đô thị
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị
và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
-7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, bảng chữ cái viết tắt, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 03 chương; cụ thể:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quy hoạch đô thị và pháp luật về quy
hoạch đô thị
- Chương 2 Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn áp dụng tại
thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
- Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô
thị và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 16Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1.1 Tổng quan về đô thị
1.1.1 Tổng quan về sự phát triển đô thị ở Việt Nam
Hệ thống đô thị của Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Các đô thị cổ Việt Nam ban đầu được hình thành trên cơ sở các trung tâm chính trị và quân sự, ở đó có tòa thành phục vụ cho mục đích phòng thủ và bên trong là nơi đồn trú của các triều đại
phong kiến Bên cạnh phần “đô” còn tồn tại thì phần “thị”, là nơi tập trung
các thợ thủ công sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng và một bộ phận dân cư làm nghề buôn bán trao đổi hàng hóa thiết yếu phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của người dân đô thị - đó là những người không sản xuất nông nghiệp Như vậy, các đô thị ở nước ta ra đời, mang tính chất chính trị, quân sự
và kinh tế Nó đóng vai trò là trung tâm đầu não của cả nước hay là trung tâm của một địa phương Đó là kinh đô của các triều đại Nhà nước phong kiến trong lịch sử như Cổ Loa, Thăng Long, Huế v.v và các lỵ sở của quan lại địa phương như tỉnh lỵ, huyện lỵ, phủ lỵ như Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh v.v Trong giai đoạn từ Thế kỷ thứ X - Thế kỷ thứ XIII, khi nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển, tính chất chính trị, quân sự chi phối và nổi trội hơn tính chất kinh tế, thương mại ở các đô thị cổ ở nước ta Đến Thế kỉ thứ XVI - Thế kỷ XVII, do ngoại thương phát triển mạnh đã xuất hiện một số đô thị mang tính chất kinh tế, thương mại thuần túy như Phố Hiến, Hội An, Gia Định và có cấu trúc đô thị tương đối hoàn chỉnh
Đô thị ở Việt Nam hình thành và phát triển khá sớm, ngay từ thời kì phong kiến Người Việt Nam xây dựng trên đất nước mình một hệ thống đô thị hết sức phát triển Đô thị tiêu biểu hình thành sớm nhất là thành Cổ Loa, sau đó là thành Hoa Lư - Thế kỷ thứ X, thành Thăng Long - Thế kỷ thứ XI,
Trang 17thành Phú Xuân (Huế) - Thế kỷ thứ XVI Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Đại Việt Trải qua nhiều năm tháng thăng trầm của lịch sử, Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội đã có nhiều thay đổi về quy mô, diện tích v.v Tiếp theo đó, xuất hiện hàng loạt các đô thị mới như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn v.v Đây là những đô thị trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của khu vực miền Trung, miền Nam với quy mô diện tích rộng lớn và là nơi tập trung dân cư đông đúc
Quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển của đất nước
qua các thời kỳ [3,tr 23-25]; cụ thể:
Thứ nhất, thời kỳ cổ đại, đô thị được hình thành chủ yếu bởi yếu tố
thành quách và kinh đô, yếu tố tập trung quan trọng là quyền lực chính trị Còn yếu tố buôn bán, thương mại trong thời kỳ này dường như chưa được phát triển
Thứ hai, thời kỳ trung đại, đô thị mang tính chất tự cung tự cấp, “tự sản
- tự tiêu” hay còn gọi là bán nông thôn, bán thành thị
Thứ ba, thời kỳ cận đại, đa số các đô thị ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ
hơn về mọi mặt so với các thời kỳ trước Đô thị đã có hoạt động giao lưu buôn bán với nước ngoài bằng nhiều phương thức khác nhau như đường thuỷ, đường
bộ, đường sắt v.v
Thứ tư, giai đoạn từ năm 1945 - năm 1975 Với đặc điểm lịch sử thời
kỳ này đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc nên mỗi vùng, miền lại
có những đặc thù khác nhau và phong phú về sự phát triển kinh tế, về phân bố quy hoạch, phân bố dân cư, hình thái kiến trúc, cơ sở hạ tầng cũng như sự phát triển văn hóa, xã hội v.v Trong Giai đoạn này, miền Bắc phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở các đô thị công nghiệp - tạo cơ sở vật chất để xây dựng chủ nghĩa xã hội - như Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Thái Nguyên v.v ; ở miền Nam hệ thống đô thị phát triển nhanh như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang,
Trang 18Vũng Tàu v.v Tuy nhiên, do hậu quả của 30 năm chiến tranh, các đô thị bị tàn phá nặng nề và chỉ sau khi đất nước thống nhất (tháng 04/1975) thì bộ mặt
đô thị ở nước ta mới được hàn gắn, khôi phục và phát triển mạnh mẽ
Thứ năm, giai đoạn từ năm 1975 đến nay Trong những năm đầu sau
khi đất nước thống nhất, cả nước bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước, khắc phục hậu quả của 30 năm chiến tranh Các đô thị được Nhà nước đầu tư phát triển từng bước hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Nhịp sống ở các đô thị dần chuyển về trạng thái bình thường trong điều kiện đất nước hòa bình Mật
độ dân số tăng cao, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường và từng bước hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến việc phát triển các đô thị Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm xuất hiện nhiều các đô thị mới trong cả nước như Móng Cái, Cát Bà, Cam Ranh, Phú Quốc, Hà Tiên v.v
Ở ta hiện nay, đô thị đang trên đà phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng không chỉ tập trung ở những trung tâm thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ mà còn ở các khu vực khác có tiềm năng phát triển kinh tế, giao thông thuận lợi, mật độ dân cư cao, môi trường trong sạch v.v Tuy nhiên sự phát triển của đô thị vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém như hệ thống
kỹ thuật hạ tầng chắp vá tùy tiện, xuống cấp trầm trọng, hệ thống đèn điện, thoát nước, giao thông, cây xanh cũ nát, không đồng bộ gây ảnh hưởng không chỉ đối với đời sống dân cư đô thị mà còn ảnh hưởng đến bộ mặt phát triển đô thị của đất nước Hơn nữa, đô thị của nước ta hiện đang chịu nhiều áp lực, thách thức như sự gia tăng các phương tiện giao thông trong điều kiện hạ tầng giao thông lạc hậu đã gây ra sự ách tắc giao thông, ô nhiễm về nồng độ bụi, khí thải, tiếng ồn, sự gia tăng nhanh chóng về dân số (cả về sinh học lẫn cơ học) đặt ra các vấn đề như cung cấp nước sạch , trường học, bê ̣nh viện v v Tình trạng lấn chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích, cơi nới, xây dựng nhà trái phép v.v không chỉ phá vỡ quy hoạch đô thị mà còn làm cho bộ mặt đô thị
Trang 19nước ta phát triển méo mó v.v Những thách thức trên đặt ra yếu cầu phải tăng cường công tác quản lý đô thị, quy hoạch đô thị ở nước ta hiện nay
1.1.2 Khái niệm về đô thị
1.1.2.1 Quan niệm về đô thị
Khi bàn về đô thị thì mỗi quốc gia trên thế giới lại đưa ra các định nghĩa, khái niệm khác nhau về đô thị do sự khác nhau về phong tục tập quán, nhận thức
xã hội, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội giữa các nước.[12,tr 12-13]
Trung Quốc quan niệm, đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn
có mật độ dân số cao hơn 1.500 người trên một cây số vuông
Cùng là một nước Châu Á, Nhật Bản lại đưa ra quan niệm khác về đô thị; theo đó, đô thị là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc Điều kiện cần thiết là đô thị phải có mật độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông
Các quốc gia Châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Tại các quốc gia kém phát triển thì đô thị được xác định là khu vực ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định thì còn phải đáp ứng điều kiện là có từ 75% lao động phi nông nghiệp trở lên trong tổng số dân cư sinh sống tại đô thị
Ở nước ta, giới sử học quan niệm về đô thị cổ như sau:
“Đô” thường là các lỵ sở của Nhà nước ở trung ương và địa phương, đó
là cung điện, lầu, các, dinh thự, công đường, lầu “son” gác “tía”, phủ, dinh, nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình và địa phương cũng như nơi Vua
ở, nơi quan lại triều đình cùng thân quyến sinh sống v.v
“Thành” thường là nơi có tính chất phòng thủ và bảo vệ thành, quách, đồn, lũy vì thành có mối liên hệ mật thiết với đô vì thành bao bọc kinh đô, đô thị, thị trấn, thị tứ trước các cuộc xâm lăng của ngoại bang cũng như các cuộc nổi dậy của nông dân chống lại chế độ phong kiến v.v
“Thị” là nơi kẻ chợ, nơi buôn bán, trao đổi các hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sinh sống của mọi tầng lớp nhân dân; là nơi thu hút người dân buôn
Trang 20bán, sản xuất, tiểu thủ công nghiệp Từ đó thúc đẩy các đô thị phát triển ngày càng sầm uất Tùy theo từng phong tục tập quán và địa hình của địa phương
mà các “thị” dần phát triển và có tên là làng, bản, ấp, sóc, trang trại v.v
Hiện nay, “Đô thị” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nước ta Nó được dùng để phân biệt với khu vực nông thôn, trung du, miền núi Trong các sách, báo chuyên ngành, giới nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm về đô thị; cụ thể:
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb
Giáo dục, Hà Nội, năm 2001 thì đô thị được quan niệm là nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phố, thị xã.[18,tr 271]
Cùng đi tìm hiểu, nghiên cứu về đô thi ̣ theo PGS TS Phạm Kim Giao - Học viện Hành chính quốc gia (Bộ Nội vụ) thì đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và hiệu quả kinh tế cao Đó
là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp [7,tr6]
Cùng quan điểm trên , coi đô thi ̣ là điểm tập trung dân cư với mật độ
cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, theo GS.TS Nguyễn Đình Hương ,
ThS Nguyễn Hữu Đoàn - Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thì đô thị còn là điểm có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh,
trong huyện [9,tr 5]
Có thể nói , đô thi ̣ được hiểu theo nhiều góc đô ̣ khác nhau dưới nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng nhìn một cách tổng thể thì đô thị là các điểm dân cư, nơi tập trung dân cư đông đúc để buôn bán, làm ăn [12, tr 12]
Trong lĩnh vực pháp luật, quan niệm về đô thị được đề cập trong các văn bản pháp luật; cụ thể:
Trang 21- Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đưa ra định nghĩa đô thị như sau :
“Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao , chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc của một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [14, Điều 3]
Mặc dù có các quan niệm khác nhau về đô thị song giới nghiên cứu nước ta vẫn “gặp nhau” ở một điểm chung về đô thị đó là đô thị là điểm dân
cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng
cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển nền kinh tế - xã hội của cả nước hay một vùng lãnh thổ
1.1.2.2 Đặc điểm của đô thị
Đi sâu tìm hiểu về đô thị ở nước ta cho thấy chúng có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đô thị là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của
quốc gia, của một tỉnh, của một huyện Đây là nơi tập trung trụ sở làm việc của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương Mặt khác, đô thị cũng là nơi được các doanh nghiệp, công ty lựa chọn đặt trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện để thuận tiện cho việc giao dịch, đi
lại Thứ hai, đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, có mật độ dân cư/km2
cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước Xét về cơ cấu dân cư, ở đô thị không chỉ có cán bộ, công chức nhà nước, viên chức nhà nước mà còn có các thương nhân, tiểu thương, người buôn bán nhỏ, người nước ngoài, người lao động tự do, lao động chân tay v.v sinh sống Hiện nay, do sự phát triển chênh lệch về mức sống giữa đô thị và khu vực nông thôn nên đang diễn ra quá trình
di dân tự phát từ nông thôn ra thành thị Một bộ phận đáng kể người dân sống
Trang 22ở khu vực nông thôn kéo ra các đô thị tìm kiếm việc làm Đây là nguồn bổ sung quan trọng cho nhu cầu lao động ở các đô thị song nó cũng tạo ra nhiều
áp lực cho khu vực này như tình trạng ách tắc giao thông , ô nhiễm môi trường, thiếu điện, nước sa ̣ch sinh hoạt v.v
Thứ ba, đô thị là khu vực được đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
xã hội hiện đại, đồng bộ hơn so với khu vực nông thôn, miền núi Hơn nữa, các đô thị thường được xây dựng ở những khu vực có vị trí địa lý thuận lợi cho việc sinh sống, đi lại như gần sông, gần đường giao thông và thường toạ lạc ở khu vực có địa hình bằng phẳng, cao ráo Mặt khác, do đô thị là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của một vùng, một địa phương nên nó thường được xây dựng ở khu vực trung tâm của vùng, của địa phương
Thứ tư, đô thị là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Nơi đây
tập trung nhiều công sở, cơ quan, cơ sở công nghiệp, du lịch, dịch vụ và thương mại v.v Xét về cơ cấu kinh tế, đô thị là nơi có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm đa số Người dân đô thị có trình độ văn hoá, tay nghề chuyên môn cao hơn so với người dân ở các khu vực khác Họ tiếp xúc và được hưởng cuộc sống văn minh, hiện đại hơn Ngược lại, dân cư đô thị cũng chịu nhiều áp lực hơn do sự căng thẳng, gấp gáp, sự canh tranh của tác phong công nghiệp, lối sống văn minh, hiện đại
Thứ năm, các gia đình ở đô thị thường có quy mô 02 thế hệ là chủ yếu,
bao gồm: cha mẹ và con cái Do đất đai ở đô thị có giá rất đắt và chật chội cùng với áp lực của mức sống cao nên phần lớn các gia đình ở đô thị thường sinh từ 01 - 02 con để có điều kiện nuôi nấng, chăm sóc và dạy dỗ được chu đáo hơn Mặt khác, kết cấu cư dân đô thị thường có biến động Họ có thể thay đổi chỗ ở hoặc di chuyển nơi ở thường xuyên hơn so với người dân sống ở nông thôn Hơn nữa, mối quan hệ giữa người dân ở đô thị cũng “lỏng lẻo” hơn Họ không bị ràng buộc với nhau chặt chẽ bởi mối quan hệ huyết thống,
Trang 23họ hàng, làng xóm Cư dân đô thị có điều kiện tiếp cận với lối sống, văn hoá nước ngoài nhanh hơn nên dễ tiếp thu những giá trị văn hoá mới (cho dù nó không phù hợp với các giá trị đạo đức truyền thống) và có lối sống cởi mở,
“thoáng” hơn so với người dân nông thôn
Thứ sáu, đô thị là khu vực có phân khúc thị trường nhà ở, đất ở phát
triển sôi động hơn so với các khu vực khác Bởi lẽ, do tốc độ phát triển nhanh
và có mức sống cao nên người dân thường có nhu cầu chuyển về sinh sống, làm việc tại các đô thị Vì vậy, số lượng các giao dịch mua bán, chuyển nhượng hoặc thuê, thuê mua nhà ở ngày càng tăng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản Mặt khác, thị trường bất động sản ở đô thị nắm giữ lượng bất động sản là nhà, đất có giá trị lớn lên đến hàng tỷ đô la
Mỹ
Thứ bảy, đô thị là khu vực phát triển năng động nhất, là nơi có mức
sống cao và có nhiều tiềm năng, điều kiện cho mỗi người phát huy được năng lực, khả năng của bản thân Tuy nhiên, đô thị cũng là nơi phản ánh rõ nét nhất những mặt trái của cuộc sống hiện đại như tỷ lệ thất nghiệp cao, tệ nạn xã hội,
ô nhiễm môi trường, các khu nhà ổ chuột và nạn ách tắc giao thông v.v
Từ những đặc điểm cơ bản nêu trên, có thể thấy mỗi đô thị ở Việt Nam
dù quy mô nhỏ, trung bình hay lớn đều là đơn vị hành chính thống nhất, không thể chia cắt về mặt lãnh thổ, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được đầu tư đồng bộ, hiện đại Hơn nữa, chất lượng dịch vụ ở đô thị thường tốt hơn
so với khu vực nông thôn Dân cư đô thị được hợp thành từ các nhóm người ở nhiều vùng, miền khác nhau và không có sự gắn kết chặt chẽ theo dòng tộc, cộng đồng tự quản như ở nông thôn
1.1.2.3 Phân loại đô thị
Mục đích của việc phân loại đô thị giúp cho công tác quản lý hành chính về
đô thị cũng như xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị trong tương lai
Trang 24Hiện nay có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại đô thị; cụ thể: Thứ nhất,
theo tiêu chí quy mô dân số thì đô thị được phân loại như sau: i) Đô thị loại đặc biệt là đô thị có quy mô dân số > 500.000 người; ii) Đô thị loại rất lớn là
đô thị có quy mô dân số từ 300.000 - 500.000 người; iii) Đô thị loại lớn là đô thị có quy mô dân số từ 150.000 - 300.000 người; iv) Đô thị loại trung bình là
đô thị có quy mô dân số từ 50.000 - 150.000 người; v) Đô thị loại nhỏ là đô
thị có quy mô dân số từ 4.000 - 50.000 người [8,tr 8]
Thứ hai, theo tiêu chí tính chất đô thị Dựa vào yếu tố sản xuất chính
và những hoạt động ở đô thị mang tính chất trội như yếu tố kinh tế, chính trị
mà đô thị được phân thành: i) Đô thị công nghiệp: là đô thị lấy yếu tố công nghiệp làm hoạt động chính và nó là nhân tố cấu tạo và phát triển đô thị (Ví dụ: Thành phố Thái Nguyên , thành phố Biên Hòa ); ii) Đô thị thương mại là
đô thị lấy yếu tố buôn bán , trao đổi hàng hoá , dịch vụ làm hoạt động chính (Ví dụ: Thành phố Lạng Sơn , thành phố Móng Cái ); iii) Đô thị du li ̣ch là đô thị lấy yếu tố du lịch, dịch vụ làm hoạt động chính (Ví dụ: Thành phố Đà Lạt, thành phố Nha trang)
Ngoài ra việc phân loại đô thị có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác như tỷ
lệ lao động phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, chức năng hành chính - chính trị, cấp hành chính - chính trị v.v
Thứ ba, phân loại đô thị theo tiêu chuẩn Việt Nam, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 quy định đô thị được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I,
II, III, IV, V (Điều 4, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009)
Ngày 7/5/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ-CP về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị Theo Nghị định này, đô thị được phân thành 6 loại, trong đó đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương
có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc Đô thị loại
I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện
Trang 25ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành Đô thị loại III là thành phố hoặc thị
xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
Các đô thị của Việt Nam được phân loại theo tiêu chuẩn sau:
- Đô thị loại đặc biệt phải là thủ đô hoặc đô thị với chức năng trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước; có dân số trên 1,5 triệu người; mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2; tỷ suất hàng hóa cao; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh Theo tiêu chí này thì Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 02 đô thị loại đặc biệt
- Đô thị loại I là trung tâm kinh tế - văn hóa, xã hội, khoa học - kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước; có dân số trên 50 vạn người; mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2, tỷ suất hàng hóa cao;
tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 85% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh Theo tiêu chí này Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Nha Trang, Đà Lạt là các đô thị loại I
- Đô thị loại II là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội , khoa học - kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ; có dân số trên 25 vạn người; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 80% tổng số lao động; mật độ dân số bình quân 10.000 người/km2; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng
Trang 26lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới đồng bộ: Theo tiêu chí này, đô thị loại II gồm thành phố Việt Trì, Hạ Long, Thanh Hóa, Thái Bình v.v
- Đô thị loại III là đô thị trung bình lớn, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch, dịch vụ và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ; có dân số từ 10 vạn người trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 75% tổng số lao động; mật độ dân số bình quân 8.000 người/km2; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng đang được đầu tư xây dựng Theo tiêu chí này, thành phố Bạc Liêu, thành phố Hưng Yên v.v được xếp vào nhóm đô thị loại III
- Đô thị loại IV là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm kinh tế, văn hóa,
xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh; có dân số từ 5 vạn người trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 70% tổng số lao động; mật độ dân số bình quân 6.000 người/km2
;
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng đã và đang được đầu tư xây dựng một phần Theo tiêu chí này, thị xã Phúc Yên (Phúc Yên - Vĩnh Phúc); thị xã Phú Thọ (Phú Thọ) v.v thuộc nhóm đô thị loại IV
- Đô thị loại V là đô thị nhỏ, là trung tâm kinh tế, xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện; có dân số từ 4 vạn người trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 65% tổng số lao động; mật độ dân
số bình quân 2.000người/km2; bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng Theo tiêu chí này, thị trấn Minh Tân (Yên Lạc - Vĩnh Phúc), thị trấn Xuân Hòa (Phúc Yên - Vĩnh Phúc) v.v thuộc nhóm đô thị loại V
Trang 27Theo quy định tại điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP thì thành phố trực thuộc trung ương có thể là đô thị loại đặc biệt, loại I hoặc loại II Nhưng căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 điều 4 Luật Quy hoạch đô thị năm
2009 thì thành phố trực thuộc trung ương chỉ có thể là đô thị loại đặc biệt hoặc loại I Như vậy, giữa Luật và Nghị định đã có sự mâu thuẫn về xác định loại đô thị cho thành phố trực thuộc trung ương Ngoài ra, khi quy định về mối quan hệ giữa các đơn vị hành chính và loại đô thị (điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP) thì trong đó không đề cập đến một đơn vị vẫn còn tồn tại trên thực tế đó là: thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương Hiện nay trên thực tế vẫn còn tồn tại một thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương chính là thị xã Sơn Tây thuộc Thành phố Hà Nội, Sơn Tây là đô thị loại III
Mặc dù thực tế chỉ còn tồn tại một đơn vị hành chính này trong các thành phố trực thuộc trung ương, nhưng không vì lý do đó mà chúng ta lại không điều chỉnh trong văn bản quy phạm pháp luật Do vậy, Nghị định số 42/2009/NĐ-CP cần nhanh chóng bổ sung điều chỉnh loại đô thị cho đơn vị hành chính này để đảm bảo phù hợp với thực tế và tính pháp lý của quy trình công nhận đô thị cho thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương
1.2 Tổng quan về quy hoạch đô thị
1.2.1 Khái niệm quy hoạch đô thị
1.2.1.1 Khái niệm quy hoạch
Trước khi giải mã khái niê ̣m về quy hoạch đô thị , chúng ta cần tìm hiểu khái niệm quy hoạch; bởi lẽ, quy hoạch đô thị là một dạng cụ thể của quy hoạch Thuật ngữ quy hoạch được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội Nó hiện diện
ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy hoạch cán bộ , quy hoạch nguồn nhân lực, quy hoạch xây dựng, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch đất đai, quy hoạch kiến trúc, quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch mạng lưới
Trang 28giáo dục, quy hoạch ma ̣ng lưới y tế , quy hoạch cảng biển và quy hoạch lâm nghiệp v.v Vậy quy hoạch là gì?
Xét về mặt thuật ngữ, quy hoạch nói chung được hiểu là sự sắp xếp , bố trí theo một trật tự hợp lý nhằm đưa ra những dự kiến có tầm chiến lược theo một ý tưởng nhất định [18,tr 625]
Từ định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của quy hoạch như sau:
Một là, quy hoạch là sản phẩm do con người tạo ra nên nó mang ý chí
chủ quan của người lập quy hoa ̣ch Tuy nhiên, không phải khi nào ý chí chủ quan của người xây dựng quy hoạch cũng phù hợp với các đòi hỏi khách quan Vì vậy, nó đòi hỏi người lập quy hoạch phải có năng lực, trình độ, kỹ năng nhạy bén trong việc phát hiện, nắm bắt những đòi hỏi của thực tiễn và khi các điều kiện khách quan thay đổi đòi hỏi quy hoạch cũng phải được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
Hai là, quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp mang tính chiến lược của con
người Điều này có nghĩa là quy hoạch là sự định hướng, dự báo mang tính dài hạn Nó có thời gian lên đến 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn nữa Việc quy hoạch của ngày hôm nay là sự sắp xếp, chuẩn bị cho các công việc trong tương lai
Ba là, quy hoạch là hoạt động mang tính chủ quan của con người trong
việc sắp xếp, định hướng chiến lược của một công việc nhất định nhằm đạt được mục đích đề ra Điều này có nghĩa là quy hoạch là sự chuẩn bị, sắp xếp, định hướng chiến lược cho tương lai cho mục đích xác định Như vậy, trước khi lập quy hoạch, con người đã phải xác định rõ ràng, cụ thể mục đích của việc làm này
1.2.1.2 Khái niệm về quy hoạch đô thị
Trang 29Quy hoạch đô thị là bộ môn khoa học và nghệ thuật về tổ chức không gian cho các đô thị và các khu vực đô thị Nó liên quan đến nghệ thuật sắp xếp các hình thái không gian, kiến trúc trong đô thị, khoa học tính toán các nhu cầu và nguồn lực trong đô thị, khoa học nghiên cứu văn hóa, lối sống của xã hội dân cư
đô thị Quy hoạch đô thị được tiếp cận nghiên cứu, tìm hiểu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau
Theo tác giả KTS.Tô Văn Hùng - Đại học Đà Nẵng, quy hoạch đô thị là quy hoạch không gian đô thị nghiên cứu hệ thống những phương pháp để bố trí hợp lý các thành phần của đô thị, phù hợp với nhu cầu của con người và điều kiện tự nhiên, đồng thời đề ra các giải pháp kỹ thuật để thực hiện các phương pháp bố trí đó [8,tr 15]
Dưới góc độ pháp luật, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 định nghĩa
quy hoạch đô thị như sau: “Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến
trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị” (Khoản 4
Điều 3 )
Như vậy, từ các quan niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy phạm vi của quy hoạch đô thị rất rộng Nó không chỉ dừng lại ở việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị mà còn hướng đến hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở nhằm đạt được mục đích tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân Đối tượng mà quy hoạch đô thị hướng tới chính là nhu cầu ở của người dân Nhu cầu này càng cao thì việc quy hoạch đô thị càng phải phát triển để thỏa mãn nhu cầu của họ
Xây dựng và phát triển đô thị là quá trình lâu dài, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và cảnh quan thiên nhiên Đô thị còn là một thực thể xã hội rộng lớn, vận động không ngừng với những quy luật đặc thù của từng địa
Trang 30phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn Mỗi đô thị là một sản phẩm riêng biệt, không thể trộn lẫn, lắp ghép với nhau Tổng thể kiến trúc đô thị còn là một công trình nghệ thuật khổng lồ tác động đến mỹ cảm, đời sống tinh thần của từng con người và cả cộng đồng Vì vậy việc nghiên cứu quy hoạch đô thị là một quá trình dày công về nhiều mặt
Từ các định nghĩa trên có thể đưa ra nhiệm vụ và mục tiêu của quy hoạch đô thị như sau:
- Về tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị Đây là một nhiệm vụ
quan trọng của quy hoạch đô thị nhằm cụ thể hóa công tác xây dựng đô thị mang đặc trưng và hình thái kiến trúc đẹp, hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan Quy hoạch đô thị cần xác định được hướng bố cục không gian kiến trúc, xác định vị trí và hình khối kiến trúc các công trình chủ đạo, xác định tầng cao
và màu sắc và một số chỉ tiêu trong cơ bản nhằm cân đối việc sử dụng đất đai cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương, phong tục, tập quán
và truyền thống của đô thị
- Về tổ chức các hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật Quy hoạch đô thị
phải bảo đảm phân bố hợp lý khu vực sản xuất trong đô thị, khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở thủ công nghiệp và các loại hình sản xuất đặc trưng khác Quy hoạch đô thị cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp với bên ngoài và các hoạt động khác của các khu chức năng trong đô thị Đó là mối liên
hệ trực tiếp với các khu nhà ở của dân cư nhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường và nhu cầu phát triển không ngừng của cơ sở sản xuất với việc làm của người dân đô thị
- Bên cạnh đó, quy hoạch đô thị còn phải tổ chức hệ thống công trình hạ
tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị Nhiệm vụ này tạo điều kiện tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt
Trang 31động hàng ngày của người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong việc phân bố dân
cư và sử dụng đất đai đô thị, tổ chức việc xây dựng các khu nhà ở, khu trung tâm và dịch vụ công cộng, khu nghỉ ngơi, giải trí, cũng như việc đi lại giao tiếp của người dân đô thị Ngoài ra, nó còn tạo môi trường sống trong sạch, an toàn; tạo điều kiện hiện đại hóa cuộc sống của người dân đô thị, phục vụ con người phát triển một cách toàn diện
Cơ sở của quy hoạch đô thị là hệ thống các tiêu chuẩn và nguyên tắc tổ chức xây dựng đô thị Dựa vào hệ thống các nguyên tắc này, theo điều kiện thực tế và chính sách, mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn, nhóm đối tượng tác động chính đến kết quả của đồ án quy hoạch là: các nhà quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà đầu tư, những người trực tiếp chịu ảnh hưởng quy hoạch đề xuất ra các giải pháp, mục đích, thời gian, nguồn lực cụ thể để thực hiện Hiện nay, ở Việt Nam quy hoạch chưa được tổ chức thực hiện đúng nguyên tắc do năng lực chuyên môn hạn chế và sự can thiệp tùy tiện của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như các yếu tố khác Khung pháp luật cho quy hoạch hiện nay còn thiếu hụt trong khi việc quản lý lập và thực thi quy hoạch lại khá lỏng lẻo
1.2.2 Phân loại quy hoạch đô thị
Theo quy định tại Khoản 7, 8, 9 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm
2009, quy hoạch đô thị được phân thành các loại sau đây:
- Quy hoạch chung: Quy hoạch chung là việc tổ chức không gian, hệ
thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững Quy hoạch chung được lập cho các thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu
đô thị mới
Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch chung là:
Trang 32i) Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và hiện trạng của đô thị, xác định thế mạnh và động lực chính phát triển đô thị
ii) Xác định tính chất quy mô, cơ sở kinh tế - kĩ thuật và các chỉ tiêu quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị
iii) Định hướng phát triển không gian kiến trúc, môi trường và cơ sở hạ tầng đô thị
iv) Quy hoạch xây dựng đợt đầu từ 5 - 10 năm và hình thành các cơ sở
để lập các đồ án quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư xây dựng
v) Xác định các căn cứ pháp lý để quản lý xây dựng đô thị
Đồ án quy hoạch chung được nghiên cứu theo từng giai đoạn từ 15 - 20 năm cho quy hoạch dài hạn và từ 5 - 10 năm cho quy hoạch ngắn hạn
- Quy hoạch phân khu: Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác
định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất, quy hoạch đô thị các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực trong thành phố, thị xã và khu đô thị mới
Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch phân khu là:
i) Tạo cơ sở cho việc lập quy hoạch chi tiết
ii) Xác định các nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan cho toàn khu vực lập quy hoạch
iii) Xác định chỉ tiêu dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật
iv) Bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật; đánh giá môi trường chiến lược
- Quy hoạch chi tiết: Quy hoạch chi tiết là việc phân chia và xác định chỉ
tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất, bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm
cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung Quy
Trang 33hoạch chi tiết được lập theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thị hoặc nhu cầu đầu
tư xây dựng
Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch chi tiết gồm:
i) Cụ thể hóa và làm chính xác những quy định của quy hoạch chung ii) Đánh giá thực trạng xây dựng, khả năng sử dụng và phát triển quỹ đất hiện có
iii) Tập hợp và cân đối các yêu cầu đầu tư xây dựng
iv) Nghiên cứu và đề xuất các định hướng kiến trúc và bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị…
Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đã xây dựng các tiêu chí riêng cho mỗi loại quy hoạch Tuy nhiên qua các quy định trên thấy rằng Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đã không xuất hiện tiêu chí về kiến trúc, cảnh quan
đô thị; mặc dù vậy nhưng theo quy định tại Thông tư số 10/2010/TT-BXD ngày 11/8/2010 quy định hồ sơ của từng loại quy hoạch đô thị lại yêu cầu thể hiện các bản vẽ liên quan đến kiến trúc, cảnh quan đô thị, cụ thể: trong quy hoạch chung yêu cầu có sơ đồ định hướng phát triển không gian toàn đô thị; trong quy hoạch phân khu thì yêu cầu sơ đồ tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan; còn trong quy hoạch chi tiết yêu cầu có sơ đồ tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan của đô thị Luật không đặt ra tiêu chí về kiến trúc, cảnh quan đô thị nhưng trong hồ sơ về quy hoạch đô thị thì lại yêu cầu có những nội dung liên quan đến kiến trúc, cảnh quan đô thị Hơn nữa, Nghị định số 42/2009/NĐ-CP có quy định cụ thể về tiêu chí kiến trúc, cảnh quan đô thị và hiện nay thực tiễn áp dụng khi xét quyết định công nhận đô thị vẫn xét tiêu chí này Từ những quy định trên đã phản ánh những văn bản quy định về quy hoạch đô thị thiếu sự chặt chẽ và không thống nhất với nhau
1.2.3 Vai trò và ý nghĩa của quy hoạch đô thị
Ở bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử phát triển xã hội loài người thì các
đô thị luôn được coi là trung tâm quyền lực chính trị, kinh tế, văn hóa quan
Trang 34trọng của xã hội và có sức chi phối mạnh mẽ, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các vùng, miền và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đô thị đóng vai trò trung tâm và là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng hoặc của cả nước Trong xu thế toàn cầu hiện nay, trên thế giới hình thành các trung tâm đô thị lớn được mệnh danh là “thành phố toàn cầu” chi phối nền kinh tế thế giới như Luân đôn, Pa-ri, Niu- óc - nơi tập trung các nguồn lực tài chính, các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn kinh tế khổng
lồ với những chi nhánh ở khắp các lục địa: Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương Ở Việt Nam, các đô thị lớn đóng vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố
Đà Nẵng…Chỉ tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, GDP của thành phố này chiếm khoảng 20% GDP/năm của cả nước Bên cạnh đó, các đô thị còn là trung tâm chính trị, hành chính của quốc gia, của một tỉnh hoặc của một huyện Chính vì vậy, việc định hướng phát triển đô thị và không gian đô thị
có ý nghĩa rất quan trọng góp phần không nhỏ cho sự phát triển của đất nước Chúng ta có thể khẳng định quy hoạch đô thị có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc định hướng phát triển đất nước hôm nay và tương lai Bởi lẽ, đô thị
là bộ mặt của đất nước Vì vậy, quy hoạch đô thị luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương Quy hoạch đô thị đóng góp công sức không nhỏ vào sự phát triển diện mạo của Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và tham gia các tổ chức quốc tế khác như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu (ASEM) v.v ; chúng ta đã và đang khẳng định được vị trí của mình trong khu vực và trên thế giới Việt Nam là một trong những điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Phần lớn các dự
án đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư vào khu vực đô thị Để đón dòng đầu tư
Trang 35nước ngoài vào khu vực này thì việc quy hoạch đô thị phải được thực hiện trước một bước
Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế ngày càng mạnh mẽ thì tốc độ đô thị hóa diễn ra càng nhanh Điều này đòi hỏi phải có sự quy hoạch để các thành phố và các khu dân cư mới ngày càng trở nên đẹp đẽ, văn minh và hiện đại hơn Bản thân các nhà quy hoạch phải thấy được trách nhiệm của mình trong thiết kế, quy hoạch, xây dựng phát triển đô thị bền vững Nhưng để làm được điều này lại không hề đơn giản Trước hết người làm quy hoạch phải điều tra, nghiên cứu kỹ những điều kiện về địa hình, khí hậu, kinh tế, văn hóa, giá trị lịch sử v.v để thiết kế, xây dựng quy hoạch Tiếp đó là phải dự báo được xu hướng phát triển của các đô thị trong tương lai Tuy nhiên, đây lại là tồn tại, là điểm yếu mà chúng ta chưa thể khắc phục được
1.3 Tổng quan pháp luật về quy hoạch đô thị
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ quy hoạch đô thị bằng pháp luật
Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu việc điều chỉnh quan hệ quy hoạch đô thị bằng pháp luật, chúng ta thấy rằng việc ra đời vấn đề này dựa trên những lý do
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò và đặc điểm của pháp luật Pháp luật
mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác không có được; đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng
- Tính quy phạm của pháp luật: Những quy tắc đạo đức được sử dụng
một cách phổ biến trong quan hệ ứng xử hàng ngày của con người được pháp luật “pháp điển” hóa thành các quy định Điều này có nghĩa là pháp luật xây dựng những quy tắc ứng xử mẫu thông qua nội dung các quy định để con người căn cứ vào đó tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình cho ngày càng gần với những hành vi ứng xử mẫu này
Trang 36- Tính bắt buộc chung: Quy định của pháp luật được xây dựng trên cơ
sở các quy tắc đạo đức, quy ước chung được xã hội thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên khác với quy tắc đạo đức, quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi người trong xã hội Điều này có nghĩa là mọi người phải có nghĩa
vụ và trách nhiệm tuân thủ, chấp hành pháp luật Thông qua đó, sự công bằng, bình đẳng được thiết lập giữa những chủ thể, những giai tầng khác nhau trong
xã hội Mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội v.v
- Tính cưỡng chế: Sự tuân thủ quy tắc đạo đức của con người được thực
hiện dựa trên ý thức tự giác và sức cảm hóa, sự giác ngộ, lan tỏa của lẽ phải, của hành vi ứng xử mẫu mực Khác với quy tắc đạo đức, pháp luật là thiết chế mang tính quyền lực nhà nước Nó do Nhà nước ban hành và đảm bảo sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều này có nghĩa là nếu con người tự giác chấp hành việc tuân thủ pháp luật thì họ sẽ được Nhà nước cho hưởng quyền
và lợi ích hợp pháp; đồng thời, các quyền và lợi ích hợp pháp này được Nhà nước bảo hộ thông qua các biện pháp pháp lý Ngược lại, nếu con người không tuân thủ pháp luật thì họ sẽ nhận được những chế tài xử lý của Nhà nước Những chế tài này là sự cưỡng chế bắt buộc và được đảm bảo bởi yếu
tố quyền lực nhà nước Thuộc tính này làm cho pháp luật có tính nghiêm minh và nhờ đó trật tự xã hội nói chung và trật tự trong quy hoạch đô thị nói riêng được thiết lập và duy trì
- Tính thích ứng: Pháp luật không hoàn toàn là sản phẩm mang tính chủ
quan của con người mà nó còn là “tấm gương” phản chiếu thực tế sinh động cũng như yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống Khi hoàn cảnh khách quan của đời sống xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải tự thay đổi theo nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Có như vậy, pháp luật mới phù hợp và có thể đi vào cuộc sống
Trang 37Do có những đặc trưng cơ bản trên đây mà pháp luật trở thành biện pháp quản lý xã hội có hiệu quả nhất “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI) Vì vậy pháp luật phải được sử dụng trong lĩnh vực quy hoạch đô thị nhằm đảm bảo tính kỷ luật, kỷ cương trong việc tuân thủ quy hoạch
Thứ hai, thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật mà trật tự quy
hoạch đô thị được xác lập và đi vào nề nếp; theo đó: (i) Đối với những hoạt động quản lý và sử dụng đất đô thị, hoạt động xây dựng v.v tuân thủ quy định
về quy hoạch đô thị thì pháp luật bảo vệ, khuyến khích, tạo điều kiện để nó ngày càng phát triển (ii) Đối với những hoạt động cơi nới, xây dựng công trình v.v không theo đúng quy định về quy hoạch đô thị thì pháp luật ngăn chặn, xử lý và loại bỏ dần ra khỏi đời sống xã hội Thông qua cơ chế điều chỉnh này, pháp luật xác lập một trật tự tuân thủ quy hoạch đô thị không chỉ đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khác mà còn đối với cư dân sinh sống tại các đô thị
Thứ ba, tìm hiểu kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy ở các nước
này, vấn đề quản lý quy hoạch đô thị bằng pháp luật rất được coi trọng Các quy định về quy hoạch đô thị được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh tạo cơ sở pháp
lý cho việc quản lý và tuân thủ quy hoạch đô thị Điều này góp phần vào việc xây dựng, phát triển các đô thị khang trang, văn minh, hiện đại song vẫn đảm bảo yếu tố hài hoà, thân thiện với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Thứ tư, một trong những nguyên nhân của thực trạng xây dựng và phát
triển đô thị lộn xộn, tự phát, thiếu đồng bộ ở nước ta thời gian vừa qua đó là việc thiếu các quy định về quy hoạch đô thị Điều này góp phần làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước về đô thị và thiếu cơ sở pháp lý trong việc xử lý các hành vi vi phạm quy hoạch đô thị
Những lý do cơ bản trên đây lý giải cho việc cần thiết phải điều chỉnh quan hệ quy hoạch đô thị bằng pháp luật ở nước ta
Trang 381.3.2 Khái niệm pháp luật về quy hoạch đô thị
1.3.2.1 Quan niệm pháp luật về quy hoạch đô thị
Mặc dù hiện nay, Luật về quy hoạch đô thị đã được ban hành; đồng thời, thuật ngữ pháp luật về quy hoạch đô thị được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống xã hội song chưa có một quy định cụ thể nào giải thích về thuật ngữ này Trong các từ điển luật học, giải thích thuật ngữ pháp lý đã được xuất bản ở nước ta cũng không đưa ra một khái niệm về pháp luật về quy hoạch đô thị Tìm hiểu nội dung các quy định của pháp luật về quy hoạch
đô thị, chúng tôi tạm đưa ra một quan niệm về vấn đề này như sau:
Pháp luật về quy hoạch đô thị là một lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh nhóm quan
hệ xã hội về việc lập, xét duyệt, điều chỉnh, bổ sung và thực hiện quy hoạch
đô thị đảm bảo cho các đô thị phát triển văn minh, hiện đại, đồng bộ về mọi mặt và hài hoà với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
1.3.2.2 Đặc điểm của pháp luật về quy hoạch đô thị
Tìm hiểu pháp luật về quy hoạch đô thị cho thấy lĩnh vực pháp luật này
có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về quy hoạch đô thị liên quan chặt chẽ đến các lĩnh
vực pháp luật về kiến trúc, xây dựng, đô thị, pháp luật đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về giao thông, viễn thông và pháp luật về môi trường v.v
Thứ hai, do quy hoạch đô thị là hoạt động chuyên ngành dựa trên các
tiêu chuẩn kiến trúc, xây dựng nên pháp luật về quy hoạch đô thị có các quy định vừa mang tính quy phạm pháp luật vừa mang tính quy chuẩn về kỹ thuật chuyên ngành
Thứ ba, quy hoạch đô thị liên quan đến các lĩnh vực quy hoạch khác
như quy hoạch đất đai , quy hoạch giao thông , quy hoạch về lưới điện , quy hoạch xây dựng , quy hoạch kiến trúc , quy hoạch khu dân cư , quy hoa ̣ch về không gian sống, quy hoạch về công viên, cây xanh, nơi vui chơi, giải trí công
Trang 39cộng, quy hoạch về bệnh viện, trường học v.v Vì vậy, pháp luật về quy hoạch
đô thị liên quan đến các quy định về quy hoạch các lĩnh vực nêu trên
1.3.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về quy hoạch đô thị
Tìm hiểu pháp luật về quy hoạch đô thị cho thấy nội dung cơ bản của lĩnh vực pháp luật này bao gồm:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Pháp luật về
quy hoạch đô thị điều chỉnh các quan hệ xã hội về lập, thẩm định, phê duyệt
và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện đô thị và quản lý phát triển
đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt
Đối tượng áp dụng của lĩnh vực pháp luật này là tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động quy hoạch đô thị trên lãnh thổ Việt Nam
Thứ hai, quy định về các nội dung, bao gồm phân loại và cấp quản lý
hành chính đô thị, nguyên tắc tuân thủ quy hoạch đô thị; yêu cầu đối với quy hoạch đô thị; trình tự lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch đô thị; lưu trữ, lưu giữ hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị; điều kiện của tổ chức tư vấn, cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị; lựa chọn
tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị; kinh phí cho công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị; nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị; trách nhiệm quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị; thanh tra quy hoạch đô thị
Quy định các hành vi bị cấm, bao gồm: i) Không thực hiện trách nhiệm
tổ chức lập quy hoạch đô thị; ii) Chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị không đủ điều kiện năng lực; iii) Lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị không đúng quy định của pháp luật; iv) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động quy hoạch đô thị; v) Cấp giấy phép quy hoạch trái với quy định của pháp luật; vi) Cấp chứng chỉ quy hoạch tại các khu vực chưa có quy hoạch đô thị được phê duyệt; vii) Từ chối cung cấp thông tin, trừ trường hợp
Trang 40thông tin thuộc bí mật nhà nước; cung cấp sai thông tin về quy hoạch đô thị; viii) Cố ý vi phạm quy hoạch đô thị đã được phê duyệt; ix) Phá hoại không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị; x) Cắm mốc giới sai lệch; phá hoại, làm sai lệch mốc giới quy hoạch đô thị; xi) Cản trở, gây khó khăn cho việc lập và thực hiện quy hoạch đô thị
Thứ ba, quy định cụ thể về lập quy hoạch đô thị, bao gồm: i) Tổ chức
lập quy hoạch đô thị; ii) Lấy ý kiến về quy hoạch đô thị; iii) Nhiệm vụ quy hoạch đô thị; iv) Lập đồ án quy hoạch đô thị; v) Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật
đô thị; vi) Đánh giá môi trường chiến lược trong quy hoạch đô thị
Thứ tư, quy định chi tiết về thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị, bao
gồm: i) Cơ quan thẩm định nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị; ii) Hội đồng thẩm định; iii) Nội dung thẩm định nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị; iv) Thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị; v) Hình thức và nội dung phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị
Thứ năm, quy định chi tiết điều chỉnh quy hoạch đô thị, bao gồm: i) Rà
soát quy hoạch đô thị; ii) Điều kiện điều chỉnh quy hoạch đô thị; iii) Nguyên tắc điều chỉnh quy hoạch đô thị; iv) Các loại điều chỉnh quy hoạch đô thị; v) Trình tự tiến hành điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị; vi) Trình tự tiến hành điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị; vii) Điều chỉnh đối với một lô đất trong khu vực quy hoạch
Thứ sáu, quy định cụ thể về tổ chức thực hiện và quản lý phát triển đô
thị theo quy hoạch, bao gồm: i) Tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị; ii) Quản
lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị; iii) Quản lý và sử dụng đất đô thị theo quy hoạch; iv) Quản lý xây dựng hệ thống các công trình hạ tầng và không gian ngầm đô thị theo quy hoạch; v) Quản lý xây dựng theo quy hoạch
đô thị