1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về mua bán nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

112 928 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về mua bán nợ xấu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam” với mong muốn là hệ thống và làm sáng tỏ cơ sở lý luận từ đó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Những dòng đầu tiên trong luận văn của mình tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giảng viên tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, là những người đã truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt khoá học

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ, người

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp những nguồn tư liệu quý giá, giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin cảm ơn người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên

và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Tú

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục từ viết tắt i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ xấu của NHTM 7

1.1.1 Khái niệm, phân loại nợ xấu của NHTM 7

1.1.2 Đặc điểm nợ xấu của NHTM 14

1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu của ngân hàng thương mại 16

1.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 20

1.4 Sự cần thiết phải mua bán nợ xấu của NHTM 25

1.5 Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ xấu của NHTM 27

1.6 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM 29 1.6.1 Khái niệm pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM 29

1.6.2 Đặc điểm pháp luật mua bán nợ xấu của NHTM 32

1.6.3 Nội dung pháp luật mua bán nợ xấu của NHTM 33

Kết luận Chương 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 36

2.1 Trình tự, thủ tục mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 37

2.1.1.Trình tự, thủ tục mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam bởi Công ty VAMC 39

2.1.2 Trình tự, thủ tục mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam bởi các tổ chức, cá nhân khác 42

2.2 Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 46

2.3 Hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 55

Trang 6

2.3.1 Khái niệm và phân loại hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 55 2.3.2 Hình thức của hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 59 2.3.3 Nội dung của hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 59 2.3.4 Hiệu lực của hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 64 2.4 Xử lý TSBĐ trong hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 67 2.5 Giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 74 2.5.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 74 2.5.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán

nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 79 Kết luận Chương 2 85 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU CỦA NHTM Ở VIỆT NAM 86 3.1 Phương hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 86 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng

và Nhà nước về phát triển hệ thống ngân hàng 86 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế về xử lý nợ xấu 86 3.1.3 Khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 87 3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 91 3.2.1 Về trình tự, thủ tục mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 91 3.2.2 Về chủ thể của hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 92

Trang 7

3.2.3 Về hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 93

3.2.4 Về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 94

3.2.5 Về việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam 97

Kết luận Chương 3 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 9

1

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Ngân hàng kể từ khi hình thành đã được xem như hệ tuần hoàn lưu thông máu cho toàn bộ nền kinh tế hoạt động và phát triển Các ngân hàng là trung tâm của hệ thống tài chính, có chức năng đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư thông qua các hoạt động tín dụng, thanh toán, huy động vốn… Tại Việt Nam,

hệ thống ngân hàng ngày càng mở rộng quy mô cùng với các sản phẩm dịch

vụ đa dạng, khẳng định vai trò không thể thay thế của mình Tuy nhiên trong hoạt động các ngân hàng không thể tránh khỏi một vấn đề cốt yếu đó là nợ xấu Hai năm gần đây, nợ xấu xuất hiện như một điểm nóng trong bức tranh ngành ngân hàng nước ta với những con số liên tục tăng (đạt mức 8,6 -10% năm 2012 theo công bố của NHNN) [32] Nếu như xem hệ thống ngân hàng

là hệ tuần hoàn thì nợ xấu như những “cục máu đông” trong mạng lưới đó Sự gia tăng của nợ xấu một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng, mặt khác có tác động tiêu cực đến nhiều chủ thể khác mà rộng hơn là nền kinh tế Vì vậy, giải quyết nợ xấu luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà quản trị vĩ mô

Tại Việt Nam những giải pháp đưa ra nhằm giải quyết thực trạng nợ xấu trở lên nóng bỏng hơn bao giờ hết Một trong những cách thức xử lý nợ xấu là mua bán nợ đang được chú trọng triển khai và phát triển Tuy nhiên thực tiễn cho thấy phương thức này còn chưa phát huy được tối đa hiệu quả của nó vì nhiều nguyên nhân, trong đó phần lớn nằm ở hệ thống pháp luật Điều chỉnh về vấn đề mua bán nợ xấu ở Việt Nam hiện nay có các văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật đất đai, Luật nhà ở, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ

Trang 11

3

nhu cầu xử lý nợ xấu, Chính phủ đã thành lập một chủ thể mua bán nợ xấu khác là VAMC VAMC đã đi vào hoạt động được một thời gian và ít nhiều đạt được kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên một số quy định liên quan đến hoạt động của VAMC như: đối tượng nợ xấu VAMC sẽ mua, VAMC sẽ bán nợ xấu như thế nào khi Việt Nam chưa có chính sách khuyến khích các nhà đầu

tư nước ngoài… hiện nay cũng đang nhận được những ý kiến trái chiều

Góp phần phát huy tối đa các ưu điểm của hoạt động mua bán nợ xấu của các tổ chức tín dụng, việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động mua bán nợ xấu ở nước ta từ đó xây dựng khung pháp luật phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay là điều vô cùng cần thiết Xuất phát từ nhu cầu thực tế, tác

giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về mua bán nợ xấu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam” với mong muốn là hệ thống và làm sáng tỏ cơ sở lý

luận từ đó đi vào phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu của các NHTM, từ đó chỉ rõ tồn tại trong hoạt động mua bán nợ xấu của các NHTM và lý giải nguyên nhân vấn đề Cuối cùng luận văn sẽ nêu ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam và giải toả khó khăn, tạo hiệu quả cho hoạt động mua bán nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng Cụ thể như:

“Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của các NHTM trên địa bàn Hà Nội”, của Phạm Hùng Thắng, Luận văn thạc sỹ luật học, 2007 Công trình này đã trình bày những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt

Trang 12

4

động cho vay của các NHTM trên địa bàn Hà Nội, trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng

“Pháp luật về mua bán nợ ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Thuỳ, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 Khoá luận đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng mô hình công ty mua bán nợ được nhìn nhận như một biện pháp hữu hiệu cho công tác xử lý nợ tồn đọng tại các NHTM Trên cơ sở những bất cập đã chỉ ra trong phần thực trạng, tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty mua bán nợ

Bên cạnh đó có rất nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí trong nước xung quanh vấn đề xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng như: “Xử lý

nợ xấu cần lợi dụng xu thế lãi suất thấp” của TS Nguyễn Đại Lai; “Trao đổi

về giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” của Tiến sỹ Lê Quốc Lý - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; “Vấn đề xử lý nợ xấu của của tổ chức tín dụng và của doanh nghiệp” của Tiến sỹ Nguyễn Đình Tài - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương… Các bài viết này đã khảo sát, nghiên cứu về mặt lý luận và đưa ra các giải pháp mang tính chuyên ngành kinh tế tài chính, chưa đi sâu về các khía cạnh pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu trên

sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý báu và là cơ sở lý luận giúp cho việc tiếp cận vấn đề hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động mua bán nợ xấu hiệu quả ở Việt Nam hiện nay

Phương thức xử lý nợ xấu thông qua hoạt động mua bán nợ không còn

là khái niệm mới đối với nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, hoạt động này đã diễn ra được một thời gian và ngày càng được chú trọng Tuy nhiên, những bất cập, vướng mắc trong hệ thống pháp luật hiện nay đã tạo ra nhiều

Trang 13

5

thách thức cho hoạt động mua bán nợ Chính vì vậy, việc đưa ra một hướng đi chính thống để hoạt động mua bán nợ xấu trở lên thực sự hiệu quả, giải quyết được vấn đề của các NHTM cũng như của các doanh nghiệp hiện nay là điều cần thiết ở Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu thực tế và tính cấp thiết của việc giải quyết nợ xấu, đề tài mong muốn đóng góp những ý kiến hoàn thiện hơn

về pháp luật mua bán nợ xấu trên cơ sở phân tích tồn tại thực tế và thiếu xót của pháp luật hiện hành để từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định này trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn:

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhằm góp phần hoàn thiện lý luận và thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam

Phục vụ cho mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:

Thứ nhất, Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ

xấu của NHTM ở Việt Nam

Thứ hai, Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu

của NHTM ở Việt Nam, từ đó nêu ra các bất cập và một số kiến nghị nhằm bổ sung và hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam trong đó bao gồm các quy định pháp luật về quy trình mua nợ cũng như xử lý nợ xấu của bên đi mua nợ và sự tác động của các quy định tới thực tiễn hoạt động mua bán nợ xấu của các NHTM

Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu tất cả vấn đề về xử lý nợ tồn đọng của NHTM mà chỉ tập trung vào các quy định liên quan đến việc mua

Trang 14

6

bán nợ xấu của NHTM và đánh giá thực trạng, nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam Đặc biệt, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sỹ này, tác giả tập trung nghiên cứu sâu hơn về hoạt động mua bán nợ của một trong những chủ thể mua nợ xấu của NHTM phổ biến hiện nay là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc NHTM (AMC) Trên cơ sở đó luận văn đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động mua bán nợ xấu của các NHTM

ở Việt Nam và các AMC trực thuộc NHTM

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn đưa ra một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống hoá, phân tích,

so sánh, đối chiếu, phương pháp khảo sát thực tiễn, đánh giá vấn đề và một số phương pháp nghiên cứu khác

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được thiết kế gồm ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về mua bán nợ xấu và pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM

Chương 2: Thực trạng pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam

Trang 15

7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ xấu của NHTM

Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL - Non performing loans) hay còn gọi là nợ khó đòi hay các khoản vay có vấn đề, được sử dụng phổ biến nhằm

ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi Hiện nay quan điểm và cách phân loại nợ xấu đã được tiếp cận và giải quyết dưới nhiều góc độ khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, quy định về nợ xấu, phân loại nợ đã được ban hành và liên tục hoàn thiện Những quy định này về cơ bản là phù hợp với nguyên tắc phân loại nợ của nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật, Singapore, Trung Quốc…

1.1.1 Khái niệm, phân loại nợ xấu của NHTM

Nợ xấu theo quan niệm Quốc tế

Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên hợp quốc cho rằng: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và /hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới [39]

Trong Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi

90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã

Trang 16

8

được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ như người vay phá sản) Sau khi các khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hay bất kỳ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guideon Financial Soundness Indicators, 2004)

Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) xác định, việc khoản nợ

bị coi là không có khả năng hoàn trả (a default) khi có một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả

nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ii) người đi vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel committee on Banking Supervision, 2002)

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming) Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc

áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại

Nợ xấu theo pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, quan niệm về nợ xấu hình thành tương đối sớm Cùng với đòi hỏi thực tiễn cũng như theo xu hướng hội nhập, thì việc phân loại nợ,

Trang 17

9

khái niệm nợ xấu cũng như cơ chế xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM đã có những thay đổi rõ nét Cụ thể:

Quan niệm về nợ xấu của Ngân hàng trước năm 2000

Trước năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chưa có quy định cụ thể về

nợ xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan trong hoạt động tín dụng của các NHTM…Thời điểm này quan niệm về nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn,

nợ khó đòi và việc phân loại nợ xấu được xác định theo thời gian quá hạn, bao gồm: nợ quá hạn dưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày đến 360 ngày, trong đó các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày được gọi là nợ khó đòi Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả

nợ bị quá hạn, không được chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn Việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ cụ thể được căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi không thu hồi được

Quan niệm về nợ xấu từ năm 2000 đến năm 2005

Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 của các NHTM

Mặc dù nội dung Quyết định 149/2001/QĐ-TTg không quy định cụ thể

về nợ xấu nhưng theo Quyết định này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản

nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không có khả năng trả

nợ, mặc dù ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhưng vẫn không thu hồi được nợ Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết đinh này, theo đề nghị của NHNN và các NHTM, Thủ tướng Chính phủ đã

Trang 18

10

cho phép đưa vào trong đề án xử lý nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chưa quá hạn trước thời điểm 31/12/2000 nhưng NHTM có đủ căn cứ để xác định khả năng khó thu hồi nợ

Như vậy, khác với giai đoạn trước, các NHTM phân loại các khoản nợ xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt động) để phân loại thành

03 nhóm nợ tương ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác nhau bao gồm: i)

Nợ xấu tồn đọng có tài sản đảm bảo (nợ xấu tồn đọng nhóm 1); ii) Nợ xấu tồn đọng không có tài sản đảm bảo và không còn đối tượng thu hồi (nợ tồn đọng nhóm 2) và iii) Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng con nợ đang còn tồn tại, hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3)

Quan niệm về nợ xấu từ năm 2005 đến nay

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 thì việc xác định, phân loại nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã bước đầu theo sát với thông lệ Quốc tế (phân loại căn cứ vào thực trạng khách hàng chứ không chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản cấp tín dụng) Đồng thời các tổ chức tín dụng có thể thực hiện xác định, phân loại các khoản nợ thành 05 nhóm nợ dựa trên phương pháp phân loại nợ định lượng hoặc định tính

Trang 19

11

Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:

Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ quá hạn được phân loại vào nhóm 1 khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu

06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn, và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được phân loại vào nhóm 1 khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu 06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại,

và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại còn lại

Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2

Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các

Trang 20

12

khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3

Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới

90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4

Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa

bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Các khoản

nợ khác được phân loại vào nhóm 5

Cũng theo quy định của NHNN, các tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện thì thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính như sau:

Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

Nhóm 2 - Nợ cần chú ý bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ đánh giá là không

có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm các khoản nợ đánh giá là khả năng tổn thất cao

Trang 21

13

Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm các khoản nợ đánh giá là không còn khả năng thu hồi mất vốn

Theo quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005

của NHNN: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).”

Ngày 21/01/2013 Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trên cơ sở quan niệm các nhóm nợ là nợ xấu như Quyết định 493/QĐ-NHNN, thì Thông tư số 02/2013/TT-NHNN cũng bổ sung thêm các trường hợp được xem là nợ xấu tại nhóm 3 Bao gồm: i) Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định ii) Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp iii) Nợ không có bảo đảm được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật iv) Nợ cấp cho công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật v) Nợ có giá trị vượt quá giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn theo quy định của pháp luật vi) Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ đảm bảo an toàn với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vii) Nợ vi phạm các quy định nội bộ

Trang 22

từ khi phê duyệt hồ sơ, bao gồm 14 chỉ tiêu tài chính, 40 chỉ tiêu phi tài chính, mỗi chỉ tiêu lại có trọng số khác nhau ứng với từng lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh Do đó, các tiêu chí định tính phát huy hiệu quả cao hơn, giúp các TCTD có đầy đủ cơ sở để đánh giá tiềm lực và khả năng thanh toán nợ của khách hàng một cách chính xác và đầy đủ hơn Tuy nhiên tại Việt Nam có một thực tế là NHNN vẫn còn quy định khá chung, chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng phương pháp định tính Đồng thời việc phân loại theo cả hai phương pháp sẽ có thể đẩy mức nợ xấu hiện nay lên cao hơn, dẫn đến các TCTD phải trích lập dự phòng rủi

ro nhiều hơn Vì vậy, ít TCTD thực hiện việc phân loại nợ theo phương pháp định tính hoặc cả hai phương pháp mặc dù đây là tiêu chí khá toàn diện

1.1.2 Đặc điểm nợ xấu của NHTM

Hiện nay mặc dù có nhiều quan niệm về nợ xấu nhưng hầu hết đều thừa nhận rằng nợ xấu là những khoản nợ khó hoặc mất khả năng thu hồi Ở mức

độ khái quát, những đặc điểm riêng của nợ xấu bao gồm:

Trang 23

15

Thứ nhất, Nợ xấu của NHTM chỉ phát sinh trong hoạt động cho vay

của NHTM và thông thường có giá trị lớn Hoạt động này được diễn ra dưới hình thức giao dịch giữa hai bên chủ thể, trong đó một bên là các NHTM và một bên là các cá nhân, tổ chức khác Đây là điểm khác biệt của nợ xấu so với các khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự khác, giữa hai chủ thể là các cá nhân, tổ chức, không có sự tham gia của các NHTM Các khoản vay trong trường hợp này thường là những khoản vay có giá trị lớn, được bảo đảm thực hiện bằng tài sản là động sản, bất động sản

Thứ hai, Nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn Theo quan niệm của

nhiều quốc gia trên thế giới thì nợ dưới chuẩn được hiểu là nợ đã quá hạn trên

90 ngày mà con nợ vẫn không có dấu hiệu trả được nợ Như vậy, những khoản nợ quá hạn đến 90 ngày và con nợ không có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được xem là nợ xấu của ngân hàng

Thứ ba, Nợ xấu phải là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả

năng trả nợ của con nợ như: Con nợ trong quá trình kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến nguy cơ phá sản, con nợ tẩu tán tài sản, con nợ bất thường chậm trễ và không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch

đã thoả thuận…

Như vậy, thời hạn trả nợ cũng như tình trạng của con nợ là hai yếu tố

cơ bản xác định khoản nợ có phải là nợ xấu hay không Hai yếu tố trên cũng cho thấy nợ xấu là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi hơn so với các khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự Vì nợ xấu thông thường

có giá trị lớn, khó thu hồi nên việc xử lý nợ xấu không đơn thuần là việc trả lại cả gốc và lãi bằng tiền, tài sản như khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự mà phải sử dụng rất nhiều phương thức như cơ cấu lại nợ, mua bán nợ… để thu hồi

Trang 24

16

1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu của ngân hàng thương mại

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu Dưới đây tác giả tổng hợp một số nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng này Có thể chia những nguyên nhân đó thành nhóm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái

kinh tế toàn cầu

Các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã gây ra những tác động tiêu cực, thị trường hàng hoá bị thu hẹp, tỷ lệ thất nghiệp cao,

tỷ trọng hàng tồn kho lớn Việc thị trường bất động sản đóng băng dài hạn để lại nhiều hệ lụy cho các ngành sản xuất thép, vật liệu xây dựng… và cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho nợ quá hạn tại các NHTM ngày một lớn Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước Đông Nam Á năm 1997 đã

để lại hậu quả hàng loạt các tổ chức tài chính, các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản Bên cạnh đó do cuộc khủng hoảng xảy ra đột ngột, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất thanh khoản tạm thời nên chưa thể hoàn trả các khoản nợ và các ngân hàng phải chuyển thành nợ quá hạn, từ đó dẫn đến tỷ lệ

nợ xấu tăng cao

Thứ hai, Do năng lực thanh tra, giám sát của các cơ quan có thẩm

quyền còn hạn chế

Công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền có nhiều bất cập cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tăng cao Điển hình như ở Việt Nam, việc xung đột về lợi ích, hiệu quả và hiệu lực giám sát chưa cao do các cơ quan có chức năng giám sát như: NHNN, Uỷ ban chứng khoán nhà nước vừa ban hành cơ chế - chính sách, vừa thực hiện chức năng

Trang 25

17

hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm nhiệm luôn vai trò kiểm tra, giám sát các định chế tài chính Bên cạnh đó, nội dung của việc giám sát an toàn vĩ mô còn yếu kém, chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ Giám sát rủi ro sở hữu chéo còn yếu do thiếu tính minh bạch, công khai, đặc biệt thiếu tính kết hợp, liên thông trong giám sát tài chính Hiệu quả của việc thanh tra, giám sát còn hạn chế dẫn tới những hậu quả tất yếu, trong đó không thể không kể đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao do NHNN không nắm bắt kịp thời sự thay đổi trong hoạt động của các ngân hàng để có những sự điều tiết thích hợp

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, Do năng lực điều hành, quản trị rủi ro yếu kém của ngân hàng

Ngân hàng là các chủ thể trực tiếp có trách nhiệm đối với các khoản vay của các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp Một khi các ngân hàng buông lỏng kỷ cương, kỷ luật trong kiểm soát rủi ro khi cho vay, cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc cho vay tràn lan đối với các khoản mục đầu tư vào chứng khoán, bất động sản mà không có kiểm soát rủi ro đối với các dự án đầu tư này… thì hậu quả tất yếu là các chủ thể này dễ trở thành con nợ lâu dài của ngân hàng, đồng nghĩa với đó là nợ xấu sẽ phát sinh và gia tăng trong tương lai

Thứ hai, Do đạo đức nghề nghiệp của người lãnh đạo ngân hàng

Hiện nay, đạo đức của người cán bộ ngân hàng là một trong những vấn

đề đáng chú ý, ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việc các cổ đông lớn, lãnh đạo của ngân hàng sử dụng tiền huy động để cho các công ty con của mình vay tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Nguyên nhân là hầu hết các khoản vay này không được kiểm soát theo quy trình cấp tín dụng để phòng ngừa rủi

ro Các khoản tiền có được một các dễ dàng thường được đầu tư một cách mạo hiểm như bất động sản, chứng khoán, vàng… Do vậy, một khi nền kinh

tế suy yếu và tình hình tài chính khó khăn sẽ đẩy các khoản vay này có nguy

Trang 26

Nguyên nhân của hiện tượng cổ đông lớn hoặc ban lãnh đạo của ngân hàng có thể cho vay một cách thiếu kiểm soát được chỉ ra là do tình trạng rủi

ro đạo đức và bất cân xứng thông tin trên thị trường gây nên Chủ ngân hàng sẵn sàng bỏ qua hiệu quả hoạt động ngân hàng, những cổ đông nhỏ lẻ thậm chí cả rủi ro đối với người gửi tiền để cho các doanh nghiệp sân sau vay bất chấp rủi ro của việc sử dụng vốn cao Việc này diễn ra trong thời gian dài, và tình trạng thu hồi vốn càng trở nên khó khăn khi bối cảnh kinh tế vĩ mô còn u

ám Đáng chú ý là tình trạng đó đã kéo dài hàng chục năm và đang để lại một hậu quả nặng nề cho nền kinh tế lẫn hệ thống tài chính Bong bóng bất động sản, thị trường chứng khoán trước đây một một phần do việc cấp tín dụng dễ dãi của ngân hàng và thiếu sự kiểm soát của nhà nước gây nên Thực trạng nợ xấu và sự khốn khó của nhiều doanh nghiệp nhà nước hiện nay cũng là một điều tất yếu không thể tránh khỏi bởi hiện tượng bất cập kéo dài kể trên

Thứ ba, Do tình trạng sở hữu chéo và quan hệ phi chính thức trong hệ

thống ngân hàng

Thực tế hiện nay nhiều ngân hàng cổ phần tồn tại tình trạng sở hữu chéo chằng chịt Chuyện một cổ đông lớn, một nhóm đầu tư sở hữu cổ phần ở nhiều ngân hàng; ngân hàng này sở hữu ngân hàng kia; các tập đoàn, doanh nghiệp sở hữu ngân hàng, thành lập các mô hình công ty cổ phần đầu tư tài

Trang 27

19

chính để làm "sân sau" cho ngân hàng rất phổ biến, gây ra một loạt các hệ lụy Hậu quả là rất nhiều khoản nợ kể trên đã trở thành nợ xấu vì “sân sau” không thể trả, thậm chí có nhiều khoản nợ xấu ngân hàng cũng không ráo riết thu hồi vì người vay là những người thuộc diện đặc biệt Tình trạng sở hữu chéo của các ngân hàng còn làm rối loạn giá trị thực của nợ xấu bởi lẽ một khi cần phải giải quyết nợ xấu, làm sạch bảng cân đối kế toán, các ngân hàng có thể chuyển các khoản nợ từ ngân hàng này sang ngân hàng kia Bằng cách này, ngân hàng không những không phải giải quyết nợ xấu mà còn không phải trích lập dự phòng rủi ro

Thứ tư, Do khách hàng vay vốn

Khách hàng vay vốn của các ngân hàng có thể là cá nhân, hộ gia đình

và các doanh nghiệp Do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao dẫn đến rất nhiều doanh nghiệp với khả năng quản trị yếu kém (quản trị nguồn vốn, quản trị kinh doanh, quản trị rủi ro…), thiếu kiến thức, kinh nghiệm đã không có khả năng chịu đựng được những tác động khách quan dẫn đến hậu quả là ghánh chịu rủi ro về tài chính nặng nề Từ đó dẫn đến việc không có khả năng trả nợ vốn vay cho ngân hàng Đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu cao của Trung Quốc và các nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp này hoạt động không hiệu quả Thua lỗ kéo dài dẫn đến việc không thể hoàn trả được các khoản công nợ, nhất là các khoản nợ vay ngân hàng Đây là loại nợ khó xử lý nhất và nó bị tồn đọng trong nhiều năm, bản chất là đã mất vốn, không còn tài sản tương ứng với các khoản nợ này Đây cũng chính là nguyên nhân chính trong việc phát sinh nợ xấu ở các nước kém phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Các khoản nợ này thường tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đối tượng doanh nghiệp

Trang 28

20

được Chính phủ ưu tiên Bên cạnh đó, những tác động chung của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến một số hệ lụy như: chi phí đầu vào cao, nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh bị thua lỗ (bất động sản, chứng khoán…) nhiều công trình có nguồn vốn ngân sách bị đình chỉ, hoãn, giãn tiến độ theo chủ trương cắt giảm đầu tư công của Chính phủ dẫn đến doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh bất động sản gặp khó khăn do đã vay vốn ngân hàng để thi công

mà không thu hồi được vốn… đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong nền kinh tế

1.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại

Về nguyên tắc, biện pháp xử lý nợ xấu cần được áp dụng từ nhiều phía, trong đó có biện pháp từ phía cơ quan quản lý nhà nước nhưng trách nhiệm chính trong việc thu hồi nợ xấu là chủ nợ (ngân hàng thương mại) và con nợ (tổ chức, cá nhân vay vốn) Bởi lẽ, nợ xấu là vấn đề không chỉ của chủ thể kinh doanh đặc thù là NHTM mà còn là vấn đề của nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp Về phía các doanh nghiệp - con nợ, giải quyết các khoản nợ xấu thương mại là nghĩa vụ hiển nhiên Vì vậy, các con nợ này phải tìm mọi nguồn có thể để trả nợ; thương lượng với các chủ nợ để cơ cấu lại nợ; rà soát các dự án để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, tập trung vào các hoạt động có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí

và sự lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, tăng khả năng quản trị rủi ro, khả năng tự đổi mới và phản ứng thị trường của mình…

Tiếp cận trên phương diện các cách thức xử lý nợ xấu của NHTM, tác giả tập trung vào các biện pháp xử lý nợ của các NHTM, bao gồm:

Thứ nhất, Phương thức trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu

Việc kinh doanh tiền tệ luôn gặp phải những rủi ro bất ngờ, do đó Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định về trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng

Trang 29

21

rủi ro để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NHTM Theo quy định của pháp luật hiện hành thì:

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả

năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những

tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro bao gồm:

Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung

Sử dụng dự phòng là việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro để

bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ

Trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu được xem là một thông lệ tốt trên thế giới trong hoạt động ngân hàng Tại Việt Nam, phương thức này sử dụng như một biện pháp tích cực nhằm hạn chế mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Theo đó, sau khi thực hiện việc phân loại nợ theo từng nhóm nợ theo quy định tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, các NHTM phải thực hiện việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho cả hệ thống Một khi có nợ xấu phát sinh, các NHTM sẽ dùng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp cho các khoản nợ xấu theo đúng quy định pháp luật Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ít hay nhiều sẽ tác động đến hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông trong việc hưởng lợi nhuận cuối cùng của ngân hàng Song các NHTM không thể chỉ biết có lãi để chia cho các cổ đông mà

Trang 30

so với thời điểm vay vốn, ví dụ như giá trị các cổ phiếu, giá trị bất động sản giảm mạnh hoặc là những tài sản trên đất như nhà xưởng, dây chuyền máy móc tại các khu công nghiệp Điều này khiến các ngân hàng rất khó xử lý tài sản đảm bảo nợ, nếu xử lý thì chỉ thu hồi được một phần nợ Ngoài ra, một khó khăn khác mà ngân hàng thường gặp phải là khi tài sản đảm bảo được thanh lý thì số tiền thu được lại được ưu tiên chi trả trước cho những khoản nợ theo phân chia theo thứ tự ưu tiên Điều này dẫn đến việc thực hiện xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản đảm bảo nợ thường kéo dài, tốn kém về tài chính

Thứ ba, Phương thức mua bán nợ

Mua bán nợ là một hoạt động còn mới ở Việt Nam trong những năm gần đây Bên bán nợ thường là các chủ nợ, bên mua nợ là các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp và đối tượng của hoạt động này là các khoản nợ Việc bán nợ này cũng được xem là phương án xử lý nợ nhanh nhất, giúp chủ nợ thu hồi một phần vốn kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới nhằm cải thiện tình hình tài chính Tuy nhiên, việc ra đời và hoạt động của Công ty mua bán nợ cũng không đơn giản Các cơ quan có thẩm

Trang 31

Thứ năm, Phương thức xử lý nợ bằng biện pháp cơ cấu lại nợ, xoá nợ

Cơ cấu lại nợ là biện pháp được sử dụng khi một khoản nợ đến kỳ hạn trả nợ nhưng ngân hàng đánh giá khách hàng khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng theo lịch trả nợ đã ký trước đó do khách hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu ngân hàng thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ (bao gồm gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ) thì khách hàng hoàn toàn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn NHTM cần chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời hạn trả nợ và xem xét giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời,

có chiều hướng cải thiện sản xuất kinh doanh tích cực và được đánh giá là có khả năng trả nợ theo thời gian cơ cấu lại

Xóa nợ là việc xóa bỏ các khoản nợ có vấn đề ra khỏi bảng cân đối dự toán, nhằm loại bỏ các khoản nợ tồn đọng tại ngân hàng thương mại Biện pháp này được áp dụng khi cơ cấu lại nợ không có hiệu quả Biện pháp xóa nợ chỉ áp dụng đối với khách hàng thuộc các đối tượng (i) Thành phần kinh tế gặp

Trang 32

24

nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, cháy nổ… dẫn đến không có khả năng trả nợ ngân hàng (ii) Doanh nghiệp nhà nước đã có quyết định phá sản của tòa án hoặc quyết định giải thể, không còn khả năng trả

nợ ngân hàng (iii) Khách hàng là cá nhân bị tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định tại điều 91 Bộ luật dân sự 2005 hoặc tuyên bố mất tích tại điều 98 Bộ luật dân sự mà không còn người thừa kế theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, Phương pháp xử lý nợ xấu bằng biện pháp giảm, miễn lãi

Biện pháp này được áp dụng nhằm giảm bớt khó khăn về tài chính cho khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích khách hàng trả một phần hoặc toàn bộ nợ xấu còn lại của ngân hàng Hầu hết các ngân hàng khi nhận thấy các doanh nghiệp còn có phương án sản xuất kinh doanh để có tiền trả nợ thường sẽ hỗ trợ doanh nghiệp để khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất Đây là cách thức giúp con nợ phục hồi trở lại, phát triển và trả nợ dần trong tương lai

Thứ bảy, Một số biện pháp khác

Bên cạnh những biện pháp xử lý nợ xấu quen thuộc trên đây, hiện nay cũng có rất nhiều những biện pháp xử lý nợ khác mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng Có thể kể đến các phương pháp như: chuyển nợ vay thành vốn góp cổ phần vào doanh nghiệp; Các doanh nghiệp giảm giá hàng bán, tăng cường các hoạt động bán hàng, kết hợp sự hỗ trợ từ cơ quan nhà nước, ngân hàng để doanh nghiệp có thể quay vòng vốn nhanh nhất từ đó giải quyết các khoản nợ đối với ngân hàng…

Tại Việt Nam, giải quyết nợ xấu của các NHTM là công việc thường xuyên, lâu dài và cần các NHTM quan tâm đặc biệt Để đạt được mục tiêu tỷ

lệ nợ xấu luôn kiềm chế ở mức thấp nhất thì các NHTM Việt Nam cần có những chính sách kiểm soát sự gia tăng của nợ xấu bên cạnh việc áp dụng giải pháp, học hỏi những kinh ngiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới để áp

Trang 33

1.4 Sự cần thiết phải mua bán nợ xấu của NHTM

Một trong những vấn đề nan giải hiện nay của nền kinh tế là tỷ lệ nợ xấu của NHTM đang ngày càng gia tăng Nợ xấu được xem như “cục máu đông” trong mạch máu của nền kinh tế Giải quyết tốt vấn đề nợ xấu thì mới

có thể khai thông bế tắc cho nền kinh tế, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sự phục hồi tăng trưởng Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy mua bán nợ chính là một trong những biện pháp hữu hiệu giải quyết tốt vấn nạn nợ xấu hiện nay ở nước ta Như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển đa dạng hoá về hàng hoá thì các loại thị trường cũng sẽ hình thành và phát triển theo Bởi vậy, sự hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ là tất yếu ở Việt Nam Hiện nay, thị trường này đang được chú trọng đầu tư phát triển vì tầm quan trọng của nó

Việc xử lý nợ xấu là cần thiết, dựa trên những lý do sau:

Thứ nhất, nợ xấu đại diện cho một lượng vốn nằm “chết” trong nền

kinh tế Lượng vốn “chết” khiến vòng quay tiền tê ̣ châ ̣m la ̣i Như vậy dòng tiền trong nền kinh tế không lưu thông được và hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản chi phí phát sinh do nợ xấu là rất lớn

Thứ hai, tình trạng nợ xấu ảnh hưởng đến tỷ lệ vốn đầu tư từ ngoài vào

Khi nguồn lực đã không được sử du ̣ng đúng cách và hiê ̣u quả thì môi trường đầu tư của quốc gia đó khó có thể được go ̣i là hấp dẫn Chính vì vậy sẽ không

Trang 34

26

thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, dẫn đến quốc gia không có đủ số vốn cần thiết đầu tư cho hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh , xây dựng cơ sở ha ̣ tầng kinh tế và xã hội Trong bối cảnh các nước trên thế giới đang tiến nhanh tới toàn cầu hóa, hô ̣i nhâ ̣p kinh tế thì một quốc gia với nền kinh tế bi ̣ thu he ̣p vào nội bộ của nước mình sẽ rất bất lợi

Thứ ba, nợ xấu là mô ̣t nguyên nhân cơ bản dẫn đến viê ̣c ngân hàng mất

khả năng thanh toán, có nguy cơ rủi ro gây đổ vỡ ngân hàng Hoạt động ngân hàng thực chất là việc sử dụng nguồn vốn tiền gửi của dân cư và nguồn đi vay

để tiến hành cho vay , tái đầu tư trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh Khi viê ̣c cho vay, đầu tư của ngân hàng không còn hiê ̣u quả , các khoản nợ tồn

đo ̣ng ngày càng nhiều, khả năng thanh toán của ngân hàng bị hạn chế, đến lúc nào đó ngân hàng không còn khả năng đáp ứng được việc rút vốn ồ ạt trong dân cư, dẫn đến nguy cơ phá sản

Thứ tư, trong điều kiê ̣n mỗi ngân hàng đều có quan hê ̣ giao di ̣ch , trao

đổi với ngân hàng khác , mỗi ngân hàng đều giữ vai trò nhất đi ̣nh trong cả bô ̣ máy thì chỉ cần một ngân hàng bị phá sản sẽ gây ả nh hưởng đến toàn hê ̣ thống, thâ ̣m chí là khủng hoảng tài chính

Mặc dù có rất nhiều phương thức được sử dụng để xử lý nợ xấu, tuy nhiên mua bán nợ xấu là một trong những phương thức phát huy hiệu quả cao trong việc làm giảm thiểu tình trạng nợ xấu trong nền kinh tế hiện nay Ưu điểm của phương thức này được thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, Việc chuyển giao một khoản nợ xấu khi được mua, bán được

tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên liên quan đến khoản nợ kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm cho khoản nợ

từ bên bán nợ sang bên mua nợ Điều này đồng nghĩa với việc bên mua nợ được trao cho những quyền hạn đặc biệt khi xúc tiến xử lý và thu hồi các khoản

Trang 35

27

nợ cho vay (mà không thể thực hiện được khi chủ thể là ngân hàng) Từ đó tăng cường khả năng thu hồi nợ đối với các khoản nợ xấu của doanh nghiệp

Thứ hai, Thông thường việc mua bán một khoản nợ xấu không chỉ đơn

thuần là chuyển đổi khoản nợ từ chủ thể này sang một chủ thể mới mà bên mua nợ sau khi mua còn bằng nhiều biện pháp trực tiếp và gián tiếp tham gia vào hoạt động điều hành quản lý doanh nghiệp, nhằm xử lý triệt để nợ xấu Việc này làm cho hoạt động của doanh nghiệp thêm lành mạnh, hạn chế tốt nhất nguyên nhân gây ra nợ xấu

1.5 Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ xấu của NHTM

Để đảm bảo cho một giao dịch mua bán nợ xấu an toàn, có hiệu quả thì việc mua, bán nợ xấu cần tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định

Trước hết, việc mua bán nợ xấu được thực hiện như các giao dịch thông thường thông qua hợp đồng mua bán nợ Vì vậy, việc ký kết hợp đồng mua bán nợ cũng phải thực hiện dựa trên các nguyên tắc ký kết hợp đồng nói chung, cụ thể là:

Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện

Theo nguyên tắc này, một hợp đồng được hình thành phải hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí) không do

sự áp đặt ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Mọi sự tác động làm mất tính

tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết đều làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng

Thứ hai, nguyên tắc cùng có lợi

Trong nền kinh tế thị trường mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình Khi ký kết hợp đồng, các bên cùng

Trang 36

28

nhau thỏa thuận nhưng điều khoản hợp đồng có lợi nhất cho cả hai bên, không được lừa dối, chèn ép nhau

Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa

ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia, không bên nào có quyền ép buộc bên nào Giao dịch chỉ hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về các điều khoản hợp đồng

Thứ tư, nguyên tắc không trái pháp luật

Trong quan hệ hợp đồng, các bên tham gia ký kết hợp đồng nói chung hay hợp đồng mua bán nợ xấu nói riêng có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng và ý chí của các bên được tôn trọng nếu phù hợp với pháp luật và không trái với các quy tắc đạo đức xã hội Điều đó có nghĩa là các bên có quyền thỏa thuận nhưng mọi sự thỏa thuận trong hợp đồng phải trong khuôn khổ nhất định

Thứ năm, nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản

Khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên phải dùng chính tài sản của mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ người khác bảo lãnh về tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng

động mua bán nợ xấu của NHTM cũng cần được chú trọng tiến hành theo những

Trang 37

29

nguyên tắc đặc thù được quy định tại Điều 5, Quy chế mua bán nợ của Tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/12/2006 của Thống đốc NHNN Cụ thể: i) Đảm bảo an toàn cho hoạt động của các TCTD ii) Việc mua, bán nợ được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mua, bán nợ iii) Việc chuyển giao khoản nợ được mua, bán được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả quyền gắn liền với các bảo đảm cho khoản nợ) từ bên bán nợ sang bên mua nợ iv) Việc mua, bán nợ có liên quan tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ, các bên mua, bán nợ phải chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối và các quy định liên quan khác của pháp luật Việt Nam v) Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và có thể mua, bán nhiều lần

Ngoài các nguyên tắc nêu trên, để đảm bảo tăng trách nhiệm của các bên tham gia mua, bán khoản nợ, dự thảo thông tư thay thế Quy chế mua bán

nợ của tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 21/12/2006 của Thống đốc NHNN đang được lấy ý kiến đã bổ sung nguyên tắc “Các bên liên quan đến giao dịch mua, bán nợ phải đảm bảo nhận thức đầy đủ các rủi ro khi tham gia giao dịch mua, bán nợ và tự chịu trách nhiệm trong các quyết định liên quan đến giao dịch mua, bán nợ”

59/2006/QĐ-1.6 Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM

1.6.1 Khái niệm pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM

Trước khi đưa ra khái niệm về pháp luật mua bán nợ xấu của NHTM, tác giả đi vào phân tích khái niệm thế nào là hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM với vai trò là một trong những cơ sở giúp hiểu hơn về pháp luật mua bán nợ xấu của NHTM

Trang 38

30

Khái niệm về hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM

Như trên đã phân tích, mua bán nợ xấu là một trong những biện pháp

xử lý nợ xấu được nhiều quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng

áp dụng nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu ngày càng gia tăng hiện nay Thực

tế cho thấy, tại Việt Nam việc mua bán nợ hiện nay diễn ra còn rất dè dặt trên thị trường Nguyên nhân của hiện tượng này là do bị giới hạn bởi một số yếu tố: i) ngân hàng phải giải quyết tốt các mâu thu ẫn như vừa muốn bán với giá tối ưu (thu hồi được giá tri ̣ lớn nhất có thể từ món cho vay ) vừa muốn tăng sự

an toàn (giảm dư nợ xấu ); ii) viê ̣c bán khoản cho vay thường đi kèm với chuyển giao thông tin về khách hàng mà ngân hàng không có đủ, và vừa phải

có nghĩa vụ bảo mật những thông tin đó Những nguyên nhân này dẫn đến hiệu quả của hoạt động mua bán nợ xấu còn hạn chế, chưa giải quyết tốt khối

nợ xấu đang tồn tại

Mua bán nợ là hoạt động mà trong đó bên bán chuyển giao quyền đòi

nợ cho bên mua nợ để sớm thu hồi vốn của mình Theo Quyết định số

59/2006/QĐ-NHNN thì “Mua bán nợ là việc chuyển nhượng khoản nợ, theo

đó, bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ”

Xét về mặt bản chất , mua bán nợ là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với khoản nợ từ bên bán sang bên mua nợ Trong đó, quyền sở hữu khoản nợ

là quyền đòi nợ (quyền tài sản đặc biệt) và các quyền liên quan như quyền phát mại tài sản bảo đảm, quyền giám sát hoạt động và mục đích sử dụng vốn, quyền đình chỉ khoản nợ Đối với các khoản nợ có bảo đảm, không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với một khoản tiền nhất định, mà còn chuyển giao toàn bộ quyền, lợi ích gắn với việc bảo đảm cho khoản nợ (quyền phát mại tài sản bảo đảm, quyền yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay )

Trang 39

31

Quyền đòi nợ sau khi được chuyển giao cho bên mua có thể mang lại nhiều chức năng như: i) có thể sử dụng làm tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp; ii) có thể được gọi là tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; iii)

có thể trở thành một loại hàng hóa đặc biệt luân chuyển trên thị trường

Khái niệm pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM

Pháp luật là một loại quy phạm xã hội đứng bên cạnh đạo đức, tín điều tôn giáo và phong tục tập quán Tuy nhiên, so với những quy phạm xã hội khác, pháp luật có nhiều thuộc tính riêng: tính quy phạm phổ biến; tính xác định chặt chẽ về mặt nội dung và hình thức; tính đảm bảo bằng Nhà nước Nhờ những thuộc tính riêng biệt này, pháp luật có giá trị thực thi trên thực tế cao hơn so với quy phạm khác Vai trò của pháp luật là điều chỉnh các quan

hệ xã hội, làm cho những quan hệ xã hội phát triển theo ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị Mỗi loại quan hệ xã hội thuộc sự điều chỉnh của một lĩnh vực pháp luật riêng Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý, sự phân chia các lĩnh vực pháp luật chỉ có tính tương đối

Pháp luật về mua bán là chế định rộng bao hàm trong đó nhiều lĩnh vực khác nhau: Pháp luật về mua bán tài sản là động sản, pháp luật về mua bán tài sản là bất động sản, pháp luật về mua bán quyền tài sản Như vậy, pháp luật

về mua bán nợ xấu là một bộ phận thuộc chế định mua bán tài sản Quan hệ

xã hội thuộc sự điều chỉnh của bộ phận pháp luật này hẹp hơn so với quan hệ

xã hội thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về mua bán Cụ thể ở đây, nhóm quan hệ này được xác định là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mua bán nợ xấu của NHTM

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định: Pháp luật về mua bán

nợ xấu là tổng hợp những quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm

Trang 40

32

quyền ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các bên mua bán nợ xấu của NHTM

1.6.2 Đặc điểm pháp luật mua bán nợ xấu của NHTM

Pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM, ngoài những đặc điểm chung của pháp luật về mua bán còn mang những đặc điểm riêng Cụ thể:

Thứ nhất, Pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM điều chỉnh quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình mua bán nợ xấu của các bên Chủ thể tham gia quan hệ này bao gồm một bên là các tổ chức tín dụng trong hoạt động cho vay làm phát sinh nợ xấu và một bên là chủ thể đi mua nợ Các bên đi mua nợ

ở đây rất đa dạng, có thể là các cá nhân hoặc tổ chức trong và ngoài nước, có nhu cầu mua nợ để kiếm lời hoặc góp phần đảm bảo an toàn, giảm dư nợ xấu của các ngân hàng

Thứ hai, Pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM chủ yếu là các quy

phạm pháp luật trao quyền cho các nhóm chủ thể bên bán (NHTM) và bên mua (các tổ chức, cá nhân) Không giống như các loại tài sản khác được tự do mua bán không giới hạn chủ thể trên thị trường, nợ xấu chỉ phát sinh trong hoạt động cho vay của các NHTM nên chỉ các chủ thể này tham gia vào giao dịch với vai trò bên bán nợ Các chủ thể tham gia mua nợ do đặc thù của giao dịch mua bán và xử lý nợ xấu bên cạnh những quy định chung cũng cần có một cơ chế riêng để hoạt động Trên cơ sở quy định của pháp luật về mua bán

nợ xấu của NHTM, các bên sẽ tham gia giao dịch này một cách hiệu quả nhất

Thứ ba, Pháp luật về mua bán nợ xấu của NHTM được điều chỉnh chủ

yếu bằng phương pháp bình đẳng thoả thuận Về bản chất, giao dịch mua bán

nợ xấu cũng là một trong những nội dung của giao dịch dân sự trong đó quyền

tự do thoả thuận của các bên luôn được pháp luật tôn trọng Trong giao dịch mua bán nợ xấu, các bên bình đẳng, được tự do thoả thuận về giá mua bán,

Ngày đăng: 09/07/2015, 19:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 27/2002/TT-BTC ngày 22/3 về hướng dẫn chế độ tài chính đối với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 27/2002/TT-BTC ngày 22/3 về hướng dẫn chế độ tài chính đối với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2002
2. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 33/2010/TT-BTC ngày 11/03 về Ban hành điều lệ, tổ chức và hoạt động của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 33/2010/TT-BTC ngày 11/03 về Ban hành điều lệ, tổ chức và hoạt động của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
3. Bộ Tƣ pháp (2010), Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 6/12 hướng dẫn Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 6/12 hướng dẫn Nghị định số 17/2010/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 2010
4. Chính phủ (1999), Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
5. Chính phủ (2004), Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - hoạt động ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - hoạt động ngân hàng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12 về giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12 về giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2010), Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3 về bán đấu giá tài sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3 về bán đấu giá tài sản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
8. Chính phủ (2010), Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7 về đăng ký giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7 về đăng ký giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
9. Chính phủ (2012), Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 2/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 2/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
10. Chính phủ (2012), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
11. Chính phủ (2013), Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5 về thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5 về thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
12. TS. Ngô Huy Cương, Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 121, tháng 04/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam
13. Nguyễn Kim Đức (2012), Hoạt động thẩm định giá trong việc quản lý nợ xấu tại hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay , Tạp chí phát triển và hội nhập số 7 (17) tháng 11-12/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thẩm định giá trong việc quản lý nợ xấu tại hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Kim Đức
Năm: 2012
14. GS-TS Lê Nam Hải (2000), Thiết chế tài chính trung gian, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế tài chính trung gian
Tác giả: GS-TS Lê Nam Hải
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
15. NGND.PGS.TS. Tô Ngọc Hƣng, Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và những bài học cho Việt Nam, Thứ 3, ngày 13/11/2012 14:13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và những bài học cho Việt Nam
16. Khó xử lý nợ xấu liên quan đến thi hành án, Báo Nghi Lộc, cập nhật 21/8/2013 9:30AM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó xử lý nợ xấu liên quan đến thi hành án
17. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, chủ biên TS. Lê Thu Thuỷ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Ngân hàng Nhà nước (1999), Quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng kèm theo Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 14/9/1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng kèm theo Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 14/9/1999
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 1999
19. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1389/2001/QĐ-NHNN ngày 07/11 về việc Ban hành quy định về việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1389/2001/QĐ-NHNN ngày 07/11 về việc Ban hành quy định về việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2001
20. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1390/2001/QĐ-NHNN ngày 07/11 về việc Ban hành quy định về hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc Ngân hàng thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1390/2001/QĐ-NHNN ngày 07/11 về việc Ban hành quy định về hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc Ngân hàng thương mạ
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm