Cụ thể: Với quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp thì DNTN đương nhiên được hiểu là một chủ thể kinh doanh: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ QUYÊN
CHẤM DỨT DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤM DỨT DOANH NGHIỆP 6
1.1 Khái niệm Doanh nghiệp 6
1.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý chấm dứt doanh nghiệp 8
1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý chấm dứt doanh nghiệp 8
1.2.2 Ý nghĩa của chấm dứt doanh nghiệp 14
1.3 Quyền tự do kinh doanh – nền tảng của tự nguyện chấm dứt doanh nghiệp 17
1.3.1 Quyền tự do kinh doanh 17
1.3.2 Chấm dứt doanh nghiệp trong phạm vi quyền tự do kinh doanh 20
1.4 Phân loại chấm dứt doanh nghiệp 20
1.4.1 Khái quát chung về phân loại chấm dứt doanh nghiệp 20
1.4.2 Nội dung tổng quát các trường hợp chấm dứt doanh nghiệp 21
1.4.3 Chấm dứt doanh nghiệp bởi giải thể 22
1.4.4 Chấm dứt doanh nghiệp bởi phá sản 25
1.5 Bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của việc chấm dứt doanh nghiệp 29
Kết luận Chương 1 31
Trang 3Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẤM DỨT
DOANH NGHIỆP 32
2.1 Các quy định hiện hành về giải thể doanh nghiệp 32
2.1.1 Quy định về các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp 32
2.1.2 Quy định về điều kiện giải thể doanh nghiệp 39
2.1.3 Quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp 40
2.2 Các quy định về phá sản doanh nghiệp 43
2.2.1 Quy định về xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 43
2.2.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản 44
2.2.3 Quy định về căn cứ quyết định mở thủ tục phá sản 45
2.2.4 Quy định về tuyên bố doanh nghiệp phá sản 46
2.3 Các quy định về bảo vệ người thứ ba khi giải thể, phá sản doanh nghiệp 47 2.3.1 Đối với trường hợp giải thể 47
2.3.2 Đối với trường hợp phá sản 48
2.4 Nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật và áp dụng pháp luật về chấm dứt doanh nghiệp 50
Kết luận Chương 2 52
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT DOANH NGHIỆP 53
3.1 Các định hướng 53
3.2 Các giải pháp hoàn thiện 56
3.2.1 Giải pháp lập pháp 56
Trang 43.2.2 Giải pháp thi hành 62
3.2.3 Giải pháp tư pháp 63
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Quyên
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BLDS 2005 : Bộ luật Dân sự năm 2005
2 LDN 2005 : Luật Doanh nghiệp năm 2005
3 Công ty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
4 DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
Trang 7
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam đã liên tục được cải cách, theo đó nhiều loại hình Doanh nghiệp được pháp luật ghi nhận, và ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc phát triển kinh tế, xã hội Sự phát triển các loại hình Doanh nghiệp cho thấy nhà làm luật Việt Nam đã chú ý tương đối thích đáng tới quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư, và cũng cho thấy
sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của Doanh nghiệp
Pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước hoàn thành sứ mệnh của mình là tạo lập ra hình thức Doanh nghiệp đa dạng và phong phú cho các nhà đầu tư lựa chọn Cụ thể, sau khi thống nhất đất nước, với chính sách mở cửa, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã cho phép tạo lập công
ty trách nhiệm hữu hạn để thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Kế tiếp đó là Luật Công ty năm 1990 đã mở ra hai hình thức công ty mà các nhà đầu tư Việt Nam có thể lựa chọn đó là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Đến năm 1999, tức là sau chín năm thực hiện, Luật Công ty năm 1990 đã được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 1999, theo đó, đã mở rộng sự lựa chọn của các nhà đầu tư Việt Nam trong năm hình thức doanh nghiệp - đó là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (mà chủ sở hữu là tổ chức), công
ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã đạt được những thành thành tựu đáng kể trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nhưng cũng có nhiều hạn chế Để khắc phục những hạn chế đó và mở rộng quyền tự do kinh doanh, tăng cường khả năng gia nhập thị trường, Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999 và
Trang 8Có thể nói rằng, chấm dứt Doanh nghiệp không phải là vấn đề mới, nhưng ở Việt Nam hiện nay vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ về mặt lý luận và thực tiễn Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định về chấm dứt Doanh nghiệp chưa đầy đủ, chưa phản ánh được bản chất kinh tế và vai trò của chấm dứt Doanh nghiệp Nhận định này được minh chứng rõ ràng rằng các quy định về chấm dứt Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 gần như không có sự thay đổi so với các quy định về chấm dứt Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 Các quy định về điều kiện chấm dứt, các chế tài về vi phạm thủ tục, điều kiện chấm dứt còn bị
bỏ ngỏ Các quy định về thủ tục chấm dứt tạo ra rào cản lớn cho các nhà đầu
tư muốn thực hiện việc chấm dứt Doanh nghiệp Những bất cập của pháp luật
về chấm dứt Doanh nghiệp có thể gây khó khăn cho việc bảo đảm quyền tự
do kinh doanh và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư
Nhận thức rằng, việc nghiên cứu về chấm dứt Doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức và ứng dụng thực tiễn để từng bước
mở rộng và bảo hộ quyền tự do kinh doanh, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay Do vậy, để tiếp thu có sàng lọc những thành tựu hiện có, để góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn về chấm dứt Doanh nghiệp và để khắc phục những khiếm khuyết của pháp luật Việt Nam về vấn đề
này, học viên lựa chọn đề tài “Chấm dứt Doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận văn cao học luật của mình
Trang 93
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về chấm dứt Doanh nghiệp; Làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt Doanh nghiệp; Làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng trong các quy định BLDS 2005, Luật Doanh nghiệp
2005 để làm cơ sở đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn đã có những đóng góp về mặt lý luận và những phân tích về mặt thực tiễn
Luận văn đã đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chấm dứt doanh nghiệp
Trên cơ sở những kiến nghị và giải pháp luận văn đã trở thành một tài liệu hữu ích cho các học viên nghiên cứu và tham khảo
4 Tình hình nghiên cứu
Chấm dứt doanh nghiệp không thể xem là một vấn đề mới, bởi lẽ đơn giản là pháp luật về doanh nghiệp đã ra đời khá sớm trong lịch sử loài người Hơn nữa, nó là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động mưu sinh của con người Các thương nhân luôn luôn tìm kiếm việc sử dụng công cụ pháp lý để chấm dứt doanh nghiệp một cách linh hoạt và hữu hiệu Điều này dẫn đến việc làm phát sinh nhu cầu nghiên cứu về chấm dứt doanh nghiệp Thực tế, pháp luật hiện hành đã đặt ra vấn đề chấm dứt doanh nghiệp Tuy nhiên việc nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về chấm dứt doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam vẫn được coi là một đề tài có giá trị quan trọng
Nhận thức rằng nghiên cứu chấm dứt doanh nghiệp không thể không dựa trên một nền tảng kiến thức pháp lý chung về doanh nghiệp, và từ đó đi
Trang 104
sâu phân tích pháp luật về chấm dứt doanh nghiệp từ lý luận cho tới thực tiễn
và đưa ra kiến nghị cho việc hoàn thiện Do vậy, cần giới thiệu tình hình nghiên cứu các vấn đề chung có liên quan và tình hình nghiên cứu trực tiếp về chấm dứt doanh nghiệp Cụ thể, có thể thấy một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- Xử lý tài sản thế chấp trong mối quan hệ với pháp luật về phá sản (Vũ Thị Hồng – Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số định kỳ tháng 5 năm 2012);
- Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam (Vũ Thị Hồng – Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số định kỳ tháng 9 năm 2012);
- Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, thực trạng pháp luật và một số kiến nghị (Vũ Ngọc Dũng – Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số định kỳ tháng 3 năm 2013);
- Địa vị pháp lý của tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản (Đặng Văn Huy – Tạp chí Dân chủ và pháp luật);
- Thực trạng pháp luật về giải thể doanh nghiệp, một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện (Đặng Văn Huy – Tạp chí Luật học số 10 năm 2012);
- Hoàng Anh Tuấn, Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Việt Nam, Luật án tiến sĩ luật học, 2012
Tuy nhiên, các công trình nói trên chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn về chấm dứt doanh nghiệp Kế thừa những công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố của giới khoa học pháp lý trong nước, Tác giả quyết tâm nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để từ đó đề ra những phương hướng, kiến nghị lập pháp, hành pháp về vấn đề này cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam
Trang 115
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành đang tồn tại một số khái niệm chưa được làm rõ hoàn toàn như: khái niệm Doanh nghiệp, khái niệm Công ty Do vậy, để có thể nghiên cứu một cách chuyên sâu, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là những Doanh nghiệp có tư cách chủ thể độc lập, có
tư cách pháp nhân Với đề tài nghiên cứu đã chọn, tác giả chỉ tập trung giải quyết vấn đề pháp lý của việc chấm dứt Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005
6 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu của Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các phương pháp mà luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phân tích vụ việc, và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp, thống kê, tập hợp các thông tin, số liệu và vụ việc; phương pháp điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội; phương pháp hệ thống hóa các quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh pháp luật; và phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật
Với phương pháp phân tích quy phạm, luận văn đã phân tích quy định của pháp luật hiện hành về chấm dứt doanh nghiệp, qua đó chỉ ra các khiếm khuyết, bất cập
Khi phân tích vụ việc, luận văn đã chỉ ra khiếm khuyết trong thực tiễn
áp dụng pháp luật
Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, luận văn sử dụng
Trang 126
phương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhận thức về vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh Kết quả tổng hợp được thể hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Doanh nghiệp
Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh với pháp luật nước ngoài để chỉ ra ưu nhược điểm, sự tiến bộ hay lạc hậu hoặc so sánh giữa pháp luật hiện hành với các văn bản đã hết hiệu lực để chỉ ra sự thay đổi tích cực hay tụt hậu
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung của Luận văn được bố cục như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về chấm dứt doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chấm dứt doanh nghiệp Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chấm dứt doanh nghiệp
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤM DỨT DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp
Từ góc nhìn ngôn ngữ, từ “enterprise” của tiếng Anh thường được dịch sang tiếng Việt hiện nay là “Doanh nghiệp”, nhưng những năm đầu của thời
kỳ đổi mới theo Nghị quyết Trung ương VI, người ta đã từng dịch là “xí nghiệp”) Ở Liên hiệp Vương quốc Anh có đạo luật được gọi là “Enterprise Act 2002” Trong Đạo luật này, tại Điều 129 quy định nguyên văn tiếng Anh:
“Enterprise” “means the activities, or part of the activities, of a business” [54,
tr 46] tức là nó được xem là các hoạt động, hoặc một phần của các hoạt động của một việc kinh doanh
Trang 137
Theo Deluxe Black’s Law Dictionary, “enterprise” trong pháp luật Hoa
Kỳ được hiểu theo hai nghĩa với các hoàn cảnh khác nhau Nghĩa chung nhất
xem “enterprise là công cuộc, dự án hay cam kết kinh doanh” [58, tr 531]
Như vậy có thể hiểu “enterprise” là một hành vi thương mại
Tuy nhiên, người ta thường hiểu doanh nghiệp là thực thể kinh doanh: Doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp”, và “công ty là một loại hình doanh nghiệp với năm đặc điểm cơ bản i) là pháp nhân; ii) tách biệt
và là chủ thể pháp lý độc lập với chủ sở hữu” [50, tr 6]
Pháp luật Doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay cũng xác định Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh, cụ thể Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 định nghĩa:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Như vậy, khái niệm doanh nghiệp theo quan niệm của pháp luật Việt Nam thường dùng để chỉ những chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh, bao gồm cả Doanh nghiệp tư nhân mà bản chất của Doanh nghiệp này chỉ là
cá nhân kinh doanh
Thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam cho thấy, việc xem xét tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm thậm chí không chấp nhận doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể của quan
hệ pháp luật Quan điểm này đang hiện hữu tại các Phòng Đăng ký kinh doanh, biểu hiện cụ thể là họ không chấp nhận Doanh nghiệp tư nhân là một cổ đông hay thành viên Công ty TNHH Có lẽ quan điểm này xuất phát từ việc quy định thiếu thống nhất về tư cách chủ thể của Doanh nghiệp tư nhân trong Pháp luật
Trang 148
Doanh nghiệp Việt Nam Cụ thể:
Với quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp thì DNTN đương nhiên được hiểu là một chủ thể kinh doanh:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên, với quy định tại Khoản 3 Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNTN không được coi là một chủ thể của quan hệ pháp luật:
Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp
Trên cơ sở làm rõ một số quan điểm về bản chất Doanh nghiệp và để thống nhất trong nghiên cứu, Luận văn đã giới hạn phạm vi nghiên cứu và chỉ tập trung nghiên cứu việc chấm dứt Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
1.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý chấm dứt doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý chấm dứt doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2005 không có khái niệm cụ thể về chấm dứt doanh nghiệp, tuy nhiên có quy định một số trường hợp cụ thể về chấm dứt doanh nghiệp Cụ thể: Khoản 3 Điều 150 quy định: Công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được đăng ký kinh doanh; Khoản 4 Điều 152 quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại; điểm c Khoản 2 Điều 153 quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; Khoản 3 Điều 154 quy định: Sau khi đăng ký kinh
Trang 159
doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt tồn tại; Đối với trường hợp giải thể thì Luật quy định: cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh
Điều 99 BLDS 2005 quy định về chấm dứt pháp nhân, theo đó pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp: hợp nhất pháp nhân; sáp nhập pháp nhân; chia pháp nhân; giải thể pháp nhân; Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản Pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xoá tên trong
sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp thì Bộ luật Dân sự không quy định trường hợp châm dứt do chuyển đổi hình thức pháp nhân Chỉ với việc quy định các trường hợp chấm dứt pháp nhân, pháp luật Việt Nam hiện hành đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn và đặc biệt là nhận thức về chấm dứt pháp nhân còn quá mơ hồ, việc dùng thuật ngữ quá tuỳ tiện, cụ thể:
Bộ luật Dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “chấm dứt pháp nhân” Tác giả cho rằng việc dùng thuật ngữ này đảm bảo tính chính xác và đầy đủ về mặt pháp lý Tuy nhiên, Bộ luật này quy định các trường hợp chấm dứt pháp nhân
là chưa phù hợp Bởi lẽ pháp nhân chưa thể chấm dứt trong các trường hợp: hợp nhất pháp nhân; sáp nhập pháp nhân; chia pháp nhân Vấn đề này có thể luận giải như sau:
Đối với trường hợp hợp nhất pháp nhân: Bản chất pháp lý của vấn đề này là hai hoặc nhiều pháp nhân được hợp nhất lại thành pháp nhân mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang pháp nhân mới Sự kiện pháp lý này có thể dùng cách ví von như “con dã tràng sống trong vỏ ốc, chui từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng của mình” [19, tr 181] Trường hợp này, các quyền yêu cầu và nghĩa
Trang 16Như vậy, việc chấm dứt có thể được chấp nhận đối với trường hợp: giải thể pháp nhân và pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản
Thời điểm chấm dứt được xác định kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quy định này không đảm bảo tính chặt chẽ, bởi lẽ việc xóa tên thường không đi liền với việc xóa bỏ mọi trách nhiệm, hay việc xóa tên không đương nhiên là căn cứ chấm dứt quyền yêu cầu của người thứ ba đối với pháp nhân, bởi một trong những quyền hiến định của các chủ thể là được bảo hộ về quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp
Luật Doanh nghiệp, với tư cách là luật chuyên ngành, nhưng không những không đủ “dũng cảm” để sử dụng quyền năng pháp lý của mình, mà còn “rón rén” và thiếu tri kiến pháp lý cơ bản khi quy định về chấm dứt doanh nghiệp Cụ thể, Luật này sử dụng thuật ngữ “chấm dứt tồn tại” đối với các trường hợp công ty bị chia; công ty bị hợp nhất; công ty bị sáp nhập; công ty được chuyển đổi Về mặt pháp lý, chấm dứt tồn tại theo quy định của Luật doanh nghiệp được hiểu như thế nào:
+ Đối với công ty bị chia, Luật Doanh nghiệp quy định “Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số các công ty
Trang 1711
đó thực hiện các nghĩa vụ này” Như vậy, nghĩa vụ của công ty bị chia chưa
chấm dứt, quyền yêu cầu của người thứ ba vẫn hiện hữu Chỉ có tên gọi của Công ty bị chia là không còn tồn tại
+ Đối với công ty bị hợp nhất, Luật Doanh nghiệp quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại; công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất
+ Tương tự, đối với công ty bị tách Luật Doanh nghiệp quy định: công
ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thoả thuận khác
Từ các luận giải nêu trên cho thấy, chấm dứt tồn tại của Doanh nghiệp, theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ đơn thuần là chấm dứt sự tồn tại của tên gọi Doanh nghiệp đó mà thôi Và về thời điểm chấm dứt, Luật xác định là sau khi đăng ký kinh doanh Đối với trường hợp giải thể thì xác định
từ thời điểm bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh
Với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp 2005, tác giả cho rằng chấm dứt doanh nghiệp là chấm dứt tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp Sự kiện pháp lý này phát sinh làm chấm dứt nghĩa vụ của Doanh nghiệp đối với người thứ ba, chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của Doanh nghiệp – người thứ ba chấm dứt quyền yêu cầu đối với Doanh nghiệp Khác với chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, chỉ là chuyển đổi hình thức kết cấu của doanh nghiệp, không làm chấm dứt hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp đó Giống như câu ví von của Maurice
Trang 1812
Cozian và Alain Viandier rằng “chuyển đổi hình thức công ty như hình ảnh dã tràng sống trong vỏ ốc, chui từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng của mình” [19, tr 181]; Khác với chia doanh nghiệp, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, quyền yêu cầu của người thứ ba trong trường hợp này không bị chấm dứt
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp 2005 được xác định là Công ty Cổ phần, Công ty TNHH và Công ty Hợp danh Về mặt pháp lý, các doanh nghiệp này được tạo lập nên bởi ý chí của các thành viên Vấn đề này, có quốc gia quy định cụ thể trong luật thực định, có quốc gia không quy định Ví dụ: Ở Pháp, trừ công ty do một người thành lập, các công ty khác đều được thành lập trên cơ sở hợp đồng, “công ty do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thoả thuận bằng hợp đồng về việc đóng góp,
sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi” [7, Điều 1832]; ở Ý, trong Bộ luật dân sự, tại điều 2247 quy định “Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó”
Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp không đề cập đến vấn đề hợp đồng thành lập công ty Tuy nhiên, thực tế các Nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến vấn đề này Có lẽ, các thành viên công ty nhận thức được rủi ro pháp lý trong quan hệ giữa họ hoặc do nhận thức được ưu điểm của các quy định về thành lập công ty liên doanh của Luật Đầu tư - một trong những công cụ hạn chế rủi
ro, giữa một hoặc nhiều bên nước ngoài với một hoặc nhiều bên Việt Nam để thành lập công ty liên doanh Mặc dù có tên gọi là hợp đồng liên doanh, nhưng bản chất nó chính là hợp đồng thành lập công ty – là cơ sở kiến tạo nên công ty liên doanh Ngoại trừ, công ty TNHH một thành viên được hình thành trên cơ sở hành vi pháp lý đơn phương Các nhà đầu tư khi thành lập các loại
Trang 1913
hình công ty có hai thành viên trở lên, họ thường giao kết các thoả thuận Có trường hợp các thành viên sáng lập giao kết hợp đồng thành lập công ty, trường hợp khác họ họp, thảo luận và lập biên bản về việc thành lập công ty trong đó quy định rõ các vấn đề cần thiết như: tên công ty, góp vốn, trụ sở, bộ máy quản trị, phạm vi kinh doanh… xét về bản chất thì biên bản này là một hợp đồng thành lập công ty
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam, khi nghiên cứu để chứng minh công ty có bản chất hợp đồng, TS Ngô Huy Cương đã dẫn chiếu từ các học thuyết “i) học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo (fictyon or artyficial entyty theory) xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách Học thuyết này bắt nguồn từ Luật La Mã và luật giáo hội với quan niệm về persona ficta” [59, tr 145]; ii) học thuyết thừa nhận (fiat theory) hay học thuyết nhượng quyền (concession theory) xem sự tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước Các đặc quyền từ sự nhượng bộ này cho phép các chủ sở hữu và các nhà đầu tư kinh doanh như một công ty
“Học thuyết này còn có các tên gọi khác như học thuyết nguồn gốc chính phủ (government paternity theory) hoặc học thuyết quyền công dân (franchise theory)” [60, tr 4]; iii) học thuyết hiện thực (realistyc theory) hay học thuyết
về tính vốn có (inherence theory) xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại; iv) học thuyết doanh nghiệp (enterprise theory) nhấn mạnh tới doanh nghiệp thương mại cơ bản, không nhấn mạnh tới thực thể-sự liên kết của những thực thể cấu thành; v) học thuyết biểu tượng (symbol theory) xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm; vi) học thuyết mối liên hệ hợp đồng (nexus of contracts) do các nhà kinh tế học phát triển để tạo dựng các mô hình kinh tế [12]
Với bản chất pháp lý của mình, Công ty phải được chấm dứt bởi ý chí
Trang 2014
của thành viên hoặc các thành viên Tuy nhiên, tự do ý chí trong xã hội được quản lý bằng pháp luật thì phải trong khuôn khổ những chuẩn tắc đã được thừa nhận và áp dụng trên thực tế, bởi giao dịch hoặc hành vi của chủ thể có thể được tạo lập trái pháp luật hoặc với tư cách là một thực thể kinh doanh, một chủ thể của pháp luật, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp luôn tiềm
ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng tới cộng đồng hay người thứ ba Hơn nữa, những người tạo lập doanh nghiệp cũng có nhu cầu bảo hộ bởi pháp luật, nên việc pháp luật can thiệp để buộc doanh nghiệp phải chấm dứt là một tất yếu khách quan Bởi lẽ đó, chấm dứt doanh nghiệp có thể chia thành nhiều trường hợp như:
Chấm dứt doanh nghiệp bởi sự tự nguyện của thành viên;
Chấm dứt doanh nghiệp bắt buộc theo luật định;
Chấm dứt doanh nghiệp theo thủ tục hành chính;
Chấm dứt doanh nghiệp theo thủ tục tố tụng Toà án
Tóm lại, chấm dứt doanh nghiệp theo LDN 2005 là chấm dứt tư cách
pháp nhân của doanh nghiệp trên cơ sở lựa chọn của thành viên hoặc theo quy định của pháp luật; chấm dứt theo thủ tục hành chính; chấm dứt theo thủ tục
tố tụng Toà án Chấm dứt doanh nghiệp làm chấm dứt nghĩa vụ của Doanh nghiệp đối với người thứ ba và người thứ ba chấm dứt quyền yêu cầu đối với Doanh nghiệp
1.2.2 Ý nghĩa của chấm dứt doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, khi gia nhập thương trường, các chủ thể luôn mong muốn tối đa hoá một cách hợp lý những lợi ích, họ cố gắng tìm ra chiếc chìa khoá, có thể giúp họ đạt được mục đích
Trang 2115
Xét về lợi ích, thành lập Doanh nghiệp là tạo ra một phương tiện để đáp ứng nhu cầu sống nào đó của thành viên Với bản chất là một hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, Doanh nghiệp không thể không có trong kinh tế thị trường, cho dù là kinh tế thị trường định hướng XHCN hay kinh tế thị trường thực sự “Hợp đồng dân luật đóng vai trò quan trọng trong vận hành của nền kinh tế tư bản Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất
và giá trị xã hội của nó trong điều kiện xã hội của các nước phương Tây” [60,
tr 5] Đối với một quốc gia đang đẩy mạnh phát triển kinh tế, thì không thể thiếu một cơ sở hạ tầng pháp luật tập trung bảo vệ quan hệ hợp đồng Do vậy, việc chấm dứt Doanh nghiệp theo quyết định của thành viên cần được đảm bảo Như chúng ta đã biết, việc nhà lập pháp đặt ra các điều kiện, thủ tục, giấy phép là để bảo vệ, bảo đảm những giá trị, lợi ích công cộng nhất định hoặc quyền và lợi ích của người thứ ba trong các giao dịch Theo đó, pháp luật chỉ ngăn cấm những hành vi của nhà đầu tư nếu có lý do chính đáng vì lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích người thứ ba Vấn đề này đã được quy định tại Điều
14 Hiến pháp Việt Nam “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng” TS Ngô Huy Cương cho rằng “Luật tư không thể buộc bất kì ai hành động trái với ý muốn của họ, nếu không có lý do chính đáng từ phía cộng đồng” [11, tr 23-26]
Hơn nữa, lý do chấm dứt doanh nghiệp cũng gắn với tư duy lợi ích của nhà đầu tư PGS,TS Phạm Duy Nghĩa đã nói đến một trong những chủ đích
lớn của Luật Doanh nghiệp là “giảm chi phí gia nhập thị trường” Vấn đề đặt
ra là, người dân có quyền hành động theo ý muốn với chi phí thấp và không xâm phạm đến lợi ích công, lợi ích của người thứ ba hay Nhà nước có quyền ngăn cản mọi hành động của người dân một cách phi lý Tuy nhiên, đôi khi
Trang 2216
Nhà nước vẫn ngăn cản hành động của người dân một cách phi lý và theo đó, người dân phải lựa chọn hành động với chi phí cao Trường hợp dưới đây là một minh chứng:
Công ty hợp danh A là chủ sở hữu một thương hiệu nổi tiếng thế giới trị giá hàng tỷ USD Với quy mô, lĩnh vực hoạt động hiện tại và khả năng tài chính họ muốn chuyển đổi thành công ty cổ phần để thực hiện các dự án đầu
tư trong các lĩnh vực khác mà vẫn giữ được thương hiệu, hệ thống khách hàng, nhân sự Họ phải làm thế nào, phải tốn kém tiền bạc và thời gian như thế nào để đạt được mục đích khi quốc gia mà công ty mang quốc tịch không cho phép chuyển đổi từ công ty trách nhiệm vô hạn thành công ty cổ phần?
Để đạt được mục đích, các thành viên cùng nhau thành lập một công ty cổ phần; thanh toán tất cả các khoản nợ (nếu có); công ty hợp danh, bằng hợp đồng chuyển nhượng thương hiệu, hệ thống khách hàng, các tài sản khác của mình cho công ty cổ phần; giải quyết vấn đề về nhân sự; chuyển giao các quyền yêu cầu phát sinh từ các giao dịch đã giao kết và sau cùng giải thể công ty hợp danh Quá trình thực hiện các thủ tục này tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí như các khoản thuế phát sinh từ việc chuyển nhượng tài sản, đăng ký lại tài sản, chi phí tư vấn đặc biệt là các khoản thuế Trong khi
đó, nếu cho phép chuyển đổi thì chi phí rất thấp, không mất nhiều thời gian Như vậy, việc cản trở các nhà đầu tư hành động mà không vì lý do chính đáng
từ phía cộng đồng hoặc từ phía tha nhân sẽ làm cho Nhà nước kém hiệu quả - với chi phí lớn phát sinh từ việc áp dụng các quy phạm pháp luật thì hiệu quả cao sẽ không thể đạt được
Như vậy, trong mọi trường hợp, Nhà nước nên tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh hành động theo ý muốn của họ, nếu hành động đó không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cộng đồng hoặc của tha nhân
Trang 2317
1.3 Quyền tự do kinh doanh – nền tảng của tự nguyện chấm dứt doanh nghiệp
1.3.1 Quyền tự do kinh doanh
Trong văn hóa châu Âu, khái niệm về tự do là một trong các tư tưởng
cơ bản, phản ánh thái độ của chủ thể đối với khả năng hành động của mình
Về khởi thủy của tự do, có quan điểm cho rằng, con người, theo tự nhiên, tất
cả đều tự do, bình đẳng và độc lập, không một ai có thể bị đưa ra khỏi tình trạng này Như vậy, theo quan niệm này, tự do là sự vắng mặt những hạn chế
và cưỡng chế, là khả năng hành động theo chủ ý của con người Tuy nhiên, con người đã sống với nhau trong trạng thái tự nhiên như thế nào thì lịch sử chưa lý giải cụ thể Montesquieu khi viết về luật tự nhiên cũng chỉ gợi ý rằng
“Để hiểu được luật tự nhiên thì cần phải xem xét một con người trước khi hình thành xã hội” [32, tr 42] mà không đưa ra dẫn chứng gì về con người trước khi hình thành xã hội đã thực hiện quyền tự do như thế nào và quyền tự
do được đảm bảo bằng cách nào John Locke mặc dù đã đưa ra khái niệm “Tự
do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào” Tuy nhiên khi viết về trạng thái tự nhiên trong tác phẩm khảo luận thứ hai về chính quyền, ông lại nói: “Trạng thái tự nhiên
có luật tự nhiên để cai quản Không ai được phép làm hại đến sinh mạng, sức khỏe, tạ do, hay tài sản của người khác, vì tất cả đều là tuyệt tác của một đấng sáng tạo toàn năng và thông thái vô hạn” [25, tr 35-36] Sự thật, các học giả, triết gia…những người nghiên cứu về tự do, về trạng thái tự nhiên mà chúng ta biết đến đều được sinh ra trong một nhà nước nhất định Do vậy, chúng ta cần xem xét khởi thủy về tự do của con người xã hội trong mối liên
hệ với luật pháp và tương ứng là với trách nhiệm về việc tuân thủ nó và chế tài khi vi phạm nó Như vậy, quyền tự do ở đây cần được hiểu là tự do trong
xã hội có pháp luật, ở đó, việc xác định phạm vi hành xử của một người mang
Trang 2418
ý nghĩa là bảo vệ quyền tự do của họ, nếu không có ranh giới đó thì quyền tự
do của họ luôn bị đe dọa xâm phạm và có thể dẫn đến không có tự do, vì bản tính tập thể của con người, “tính bắt buộc” phải sống trong xã hội của nó
Về hình thức, tự do của con người thể hiện ở hành vi lựa chọn, do vậy,
sự lựa chọn chỉ có thể là hiện thực khi các phương án lựa chọn hiện diện được nhận thức Tuy nhiên, tự do tự thân nó không dừng lại ở việc lựa chọn giữa những khả năng hiện có mà còn thể hiện lối thoát ra khỏi những thực tại hiện
có bằng việc sáng tạo ra cái mới trên tính thần tôn trọng trật tự tự do Nói theo ngôn ngữ pháp lý hiện đại và trong khuôn khổ pháp lý là làm những điều mà pháp luật không cấm Sự tự do sáng tạo này, luôn đảm bảo sự liên hệ mật thiết với trách nhiệm, thái độ tôn trọng pháp luật và quyền của những người khác
Tự do chỉ có thể trong điều kiện có trật tự, còn trật tự trong xã hội hiện đại lại do chính quyền đảm bảo “Tự do tuyệt đối là sự chế nhạo đối với công bằng Công bằng tuyệt đối là sự phủ định tự do Sức sống của cả hai khái niệm này phụ thuộc vào sự tự hạn chế lẫn nhau của chúng Không ai tự coi mình là người tự do, nếu người đó đồng thời là người bất công và là người công bằng, nếu đồng thời lại là người không tự do” [17, tr 345] Một nhà nước hiệu quả và công bằng không thể thiếu những quy định hạn chế hành vi của công dân chống lại các chuẩn tắc pháp lý bằng cách áp dụng hay cảnh báo
sử dụng bạo lực, nói các khác là các quy định hạn chế tự do một cách thích hợp Vấn đề này ở Việt Nam đã được hiến định, cụ thể tại Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Trang 2519
Đề cập đến quyền tự do kinh doanh, có lẽ không thể nói đến quyền tự
do của chính quyền (cơ quan Nhà nước) mà phải nói đến quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức Ngày nay, nguyên tắc “công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” được phổ biến rộng rãi, pháp luật các nước đều thừa nhận nguyên tắc này Có lẽ, một quy định thể hiện nét nhất nguyên tắc này được quy thể hiện trong Hiến pháp Mỹ, tại điều bổ sung thứ 9 ghi “Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân” [26, Điều 9] Việt Nam, Điều
33 Hiến pháp quy định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Qua các điều luật, chúng ta thấy, nhà làm luật đã thể hiện trách nhiệm nhận thức và luật hóa quyền tự nhiên – tự do kinh doanh để quyền này được đảm bảo thực thi trong cuộc sống
Hiện tại, Nhà nước đang quản lý xã hội bằng pháp luật, trong đó trật tự pháp luật được thiết lập để đảm bảo các quyền của con người, quyền công dân
“Konad Zweigert cho rằng ở một cách nhìn nhất định, nhiệm vụ trước tiên của hệ thống pháp luật là bảo vệ tự do cá nhân và đảm bảo quyền tự định đoạt của cá nhân” [61, tr 325]; Như vậy, có thể nhận thức rằng: Quyền tự do kinh doanh là khả năng của chủ thể tự nguyện lựa chọn hợp lý một hoặc nhiều hoạt động làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, nhằm mục đích sinh lời, mà các hoạt động này được pháp luật cho phép hoặc pháp luật không cấm nhưng không ảnh hưởng đến tha nhân
Tự do kinh doanh có vai trò và ý nghĩa quan trọng, trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ Tịch dẫn chiếu đến bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Có lẽ, xuất phát từ quyền tối cao nhất của con
Trang 2620
người – khi sinh ra có quyền được sống được bảo toàn về bản thân mình, mà các quyền về kinh tế, trong đó có quyền tự do kinh doanh được bảo đảm Để bảo toàn và phát triển cuộc sống, con người cần phải có tài sản Nỗ lực tạo lập tài sản là nỗ lực hoàn toàn tự nhiên để con người tồn tại – lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế Do vậy, quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với mỗi người trong xã hội Nghiên cứu về nội dung quyền tự do kinh doanh cho thấy, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh chủ yếu và căn bản là đảm bảo cho các chủ thể thực hiện các quyền tài sản; tôn trọng tự do ý chí trong việc xác lập giao dịch pháp lý TS Phạm Duy Nghĩa cho rằng “Mọi chính sách phải giúp người dân giành lấy tự do sở hữu,
tự do định đoạt Nhà nước, nếu là của dân phải hết lòng bảo vệ những quyền
tự do gốc rễ ấy” [33, tr 11]
1.3.2 Chấm dứt doanh nghiệp trong phạm vi quyền tự do kinh doanh
Theo cách đặt vấn đề của kinh tế học tân cổ điển, mọi hiện tượng xã hội bắt nguồn từ phép ứng xử hợp lý của cá nhân, tức là từ chọn lựa của mỗi
cá nhân tiến hành tối đa hoá một mục tiêu nhất định với những phương tiện nhất định Sự chọn lựa hợp lý của các tác nhân kinh tế đưa nền kinh tế đến cân bằng, là tình trạng trong đó từng tác nhân đạt mức thoả mãn tối đa, cho nên không có gì có thể khiến nó phải thay đổi quyết định Chấm dứt doanh nghiệp cũng không nằm ngoài sự lựa chọn của chủ thể kinh doanh nhằm tối
ưu hóa những lợi ích Với nội dung quyền tự do kinh doanh, chấm dứt doanh nghiệp mang lại cho chủ thể được “lột xác” để tự do về nghĩa vụ, hoặc tạo lập một doanh nghiệp mới phù hợp với quy mô, khả năng tài chính, mục tiêu
1.4 Phân loại chấm dứt doanh nghiệp
1.4.1 Khái quát chung về phân loại chấm dứt doanh nghiệp
Khi khởi nghiệp nhà đầu tư thông thường lựa chọn một hình thức
Trang 2721
doanh nghiệp nhất định phù hợp với các mục tiêu và yêu cầu của mình để tổ chức kinh doanh Thế nhưng trong quá trình kinh doanh, nhiều thay đổi phát sinh, với nhiều lý do khác nhau, nên quyết định chấm dứt doanh nghiệp được đặt ra
Việc phân loại nói chung và phân loại chấm dứt doanh nghiệp nói riêng luôn cần đặt ra vấn đề phải căn cứ theo một tiêu chí hoặc một hệ thống tiêu chí nào đó Để phân loại chấm dứt doanh nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này tác giả căn cứ theo: i) tiêu chí mang tính tự nguyện; và tiêu chí mang tính thủ tục pháp lý
Theo tiêu chí mang tính tự nguyện hay không tự nguyện, chấm dứt
doanh nghiệp có thể được phân chia thành hai loại: (1) Chấm dứt bởi tự nguyện; và (2) chấm dứt bởi pháp luật Phân loại chấm dứt doanh nghiệp theo tiêu chí này có ý nghĩa rất lớn trong việc thiết lập các quy chế pháp lý bao quát cho toàn bộ hoạt động chấm dứt doanh nghiệp
Theo tiêu chí mang tính thủ tục pháp lý, chấm dứt doanh nghiệp được
chia thành hai loại là: (1) Chấm dứt doanh nghiệp theo thủ tục hành chính; (2) chấm dứt theo thủ tục tố tụng Toà án Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cụ thể hiệu lực của từng loại chấm dứt
1.4.2 Nội dung tổng quát các trường hợp chấm dứt doanh nghiệp
Tự do kinh doanh là một quyền kinh tế được pháp luật bảo hộ, mà quyền chấm dứt doanh nghiệp là một thành tố của quyền tự do kinh doanh, do vậy, Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ quyền chấm dứt doanh nghiệp Tuy nhiên, chấm dứt doanh nghiệp luôn có thể ảnh hưởng đến hai vấn đề lớn, đó là: Quyền lợi hợp pháp của các thành viên; và Quyền lợi hợp pháp của người thứ ba (trật tự công, người lao động, chủ nợ ) Đây là những vấn đề mà pháp luật buộc phải bảo vệ và quyền được bảo vệ của các chủ thể trong trường hợp
Trang 2822
này cũng là quyền hiến định Để đảm bảo mục đích quản lý Nhà nước, mục đích điều chỉnh của pháp luật, thực tế hơn là để bảo vệ được các đối tượng nêu trên, pháp luật phải đặt ra các điều kiện và thủ tục chấm dứt doanh nghiệp
1.4.3 Chấm dứt doanh nghiệp bởi giải thể
Một doanh nghiệp, từ khi ra đời cho đến khi chấm dứt hoạt động, luôn
có mối quan hệ với Nhà nước Quan hệ mang tính tất yếu này thuộc phạm vi quản lý Nhà nước về Doanh nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích chung cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của chính công ty và người thứ ba Để đảm bảo mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, mục đích quản lý Nhà nước, mục đích điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước quy định thủ tục, điều kiện chấm dứt doanh nghiệp
Giải thể doanh nghiệp là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp Theo đó, doanh nghiệp chấm dứt các quyền và nghĩa vụ; người thứ ba chấm dứt quyền yêu cầu đối với doanh nghiệp Xuất phát từ quyền được bảo hộ của người thứ ba về tài sản Pháp luật các nước thường quy định điều kiện về thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để cho phép hoặc bắt buộc một doanh nghiệp giải thể Bởi lẽ, nếu không giải quyết được vấn đề này thì quyền lợi của người thứ
ba bị xâm phạm Vậy, cần quy định cụ thể điều kiện này như thế nào? Ở Việt Nam, LDN 2005 quy định tại Khoản 2 Điều 157 “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác” Tác giả cho rằng, quy định này chưa chặt chẽ và dễ bị lợi dụng để trục lợi Nhận định này được luận giải rằng sự sai biệt rất lớn giữa cụm từ “bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ” và “thanh toán hết các khoản nợ” Thực tế cho thấy, nhiều Doanh nghiệp mà tài sản có và thực tế hiện hữu có giá trị sổ sách
Trang 2923
lớn gấp nhiều lần nợ phải trả Nếu chiểu theo điều kiện luật định thì điều kiện giải thể là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, Doanh nghiệp này không thể thanh toán hết được các khoản nợ Và, nếu cho phép giải thể trong trường hợp này thì rủi ro đối với người thứ ba là rất cao Xét về góc độ hiệu quả điều chỉnh của pháp luật thì đương nhiên là không thể chấp nhận Hơn nữa, điều này còn
có thể tạo điều kiện cho việc trục lợi và làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh
Cho đến nay, pháp luật các nước thường tôn trọng quyền tự do ý chí của doanh nghiệp trong việc quyết định giải thể Mặc khác, pháp luật cũng quy định bắt buộc doanh nghiệp phải giải thể khi xảy ra các sự kiện pháp lý nhất định Tuy nhiên, với điều kiện tiên quyết về nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, nên khó có chế tài buộc doanh nghiệp phải giải thể Vấn đề này có thể luận giải trên cơ sở luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành như sau:
Tại Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định bốn trường hợp giải thể doanh nghiệp Trong đó, có hai trường hợp quy định mang tính bắt buộc
rõ ràng, nhưng thực tế việc áp dụng là không khả thi Cụ thể:
Đối với trường hợp không đủ thành viên tối thiểu: Thực tiễn áp dụng chưa thấy có trường hợp nào bị bắt buộc giải thể Nếu bị bắt buộc thì việc vô hiệu hoá cũng khá đơn giản bằng cách không ban hành quyết định giải thể hoặc tạo ra trường hợp không thanh toán được các khoản nợ
Trường hợp bị thu hồi đăng ký kinh doanh: Trường hợp này Luật quy định khá cứng rắn về thủ tục tại Khoản 6 Điều 158 LDN 2005:
Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải giải thể trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trình tự và thủ tục giải thể được thực hiện theo quy định tại Điều này
Trang 3024
Sau thời hạn sáu tháng quy định tại khoản này mà cơ quan đăng ký kinh doanh không nhận được hồ sơ giải thể doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó coi như đã được giải thể và cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật, các thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán
Mặc dù vậy, việc bắt buộc giải thể là quá khó khăn nếu doanh nghiệp không thể thanh toán được các khoản nợ Hơn nữa, Đối với Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, trách nhiệm của thành viên và cổ đông chỉ trong phạm vi số vốn góp Khi họ đã góp đủ vốn thì họ không còn phải chịu trách nhiệm về tài sản Do vậy, không thể buộc họ phải chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp này
Về thủ tục: Pháp luật các nước cũng như Việt Nam đều quy định thủ tục giải thể bắt buộc phải có quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp Như vậy, trong mọi trường hợp, việc giải thể phải do doanh nghiệp chủ động quyết định Nếu có trường hợp quy định giải thể bị động thì vẫn phải đảm bảo điều kiện thanh toán, mà điều kiện này có thể nói là hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của doanh nghiệp
Hậu quả pháp lý của việc giải thể là chấm dứt tư cách pháp nhân và sự tồn tại của doanh nghiệp trên thực tế Theo đó, các quyền yêu cầu và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người thứ ba được chấm dứt
Trang 3125
1.4.4 Chấm dứt doanh nghiệp bởi phá sản
Phá sản doanh nghiệp là việc Toà án có thẩm quyền quyết định tuyên
bố một doanh nghiệp bị phá sản theo điều kiện và thủ tục luật định Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản chấm dứt tư cách pháp nhân và sự tồn tại của doanh nghiệp trên thực tế; Các quyền yêu cầu và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người thứ ba được chấm dứt và ngược lại
Để yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, trước hết phải có căn cứ xác định doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản Luật Phá sản hiện hành xác định “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Quy định này được hướng dẫn bởi Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của luật phá sản, nội dung hướng dẫn thể hiện như sau:
Doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Có các khoản nợ đến hạn;
Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp;
Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán, nhưng doanh nghiệp, hợp tác
xã không có khả năng thanh toán;
Yêu cầu của chủ nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải có căn
cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh
Trang 32Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật Phá sản, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định tại điểm b và điểm c Khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2004 hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
Theo Điều 15 Luật Phá sản năm 2004 quy định: Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản:
1 Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã đó
2 Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 33a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác
xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;
b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;
c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi
có tài sản nhìn thấy được;
d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;
đ) Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong
đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;
e) Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp;
Trang 3428
g) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải cung cấp theo quy định của pháp luật
5 Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Điều 31, Luật Phá sản năm 2004 quy định các hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm hoặc bị hạn chế:
1 Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Cất giấu, tẩu tán tài sản;
b) Thanh toán nợ không có bảo đảm;
c) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
d) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp
2 Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
a) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản; b) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
c) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
d) Vay tiền;
đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
Trang 3529
e) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã
1.5 Bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của việc chấm dứt doanh nghiệp
Bản chất pháp lý của việc chấm dứt doanh nghiệp đã được làm rõ là việc chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp Sự kiện pháp lý này làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà nó đã tạo lập ra trong quá trình hoạt động Tuy nhiên, việc chấm dứt doanh nghiệp có thể có tác động đến các chủ thể mà pháp luật cần bảo vệ Việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và các chủ thể pháp luật khác là nhiệm vụ của Nhà nước “Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” [38, Điều 9] Hơn nữa, Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được tôn trọng và bảo vệ
Mục đích chính của việc quy định các điều kiện, thủ tục chấm dứt như
đã nêu là để bảo vệ các đối tượng, các giá trị nhất định Khi đặt ra các điều kiện, thủ tục, thì nhà làm luật phải tính đến việc kiểm tra, kiểm soát Tuy nhiên, về thủ tục pháp lý, thì theo suy luận thông thường thì người thực hiện
có thể nói dối Do vậy, bên cạnh những giải pháp nhằm bảo vệ cộng đồng và các chủ nợ, cũng như người lao động bằng cách đưa ra các điều kiện chấm dứt doanh nghiệp và áp đặt thủ tục bắt buộc phải tuân thủ, pháp luật còn đưa
ra các chế tài và cơ chế áp dụng chế tài với tính cách là các biện pháp bảo vệ người thứ ba khi doanh nghiệp chấm dứt
Chế tài quan trọng nhất có lẽ cần phải nhắc đến ở đây chính là chế tài
có tính cách đặc trưng của luật thương mại là vô hiệu hóa các công ty không
Trang 3630
đủ điều kiện chấm dứt bởi nó có thể gây ảnh hưởng xấu tới trật tự công cộng, đạo đức xã hội và các chủ nợ, cũng như người lao động Tuy nhiên có thể thấy pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm tới chế tài này Vì vậy trên thực tế rất ít khi chế tài này được sử dụng để bảo vệ người thứ ba Việc chấm dứt có thể bị vô hiệu Và hậu quả pháp lý trực tiếp của nó
là phải tiếp tục tồn tại và chịu các nghĩa vụ đối với người thứ ba
Chế tài tiếp theo có thể nhắc đến là xác định các giao dịch vô hiệu mà doanh nghiệp đã xác lập trong khoảng thời gian nhất định Các giao dịch này
có dấu hiệu tẩu tán tài sản hoặc giao dịch xâm phạm đến quyền lợi của chủ nợ
Đối với trường hợp chấm dứt bởi phá sản, chế tài huỷ quyết định tuyên
bố doanh nghiệp bị phá sản được thực hiện khi khiếu nại hoặc kháng nghị có căn cứ pháp lý
Trang 3731
Kết luận Chương 1
Như vậy, những vấn đề lý luận về chấm dứt Doanh nghiệp đã được trình bày khá chi tiết và rõ ràng trong chương 1 của luận văn, bao gồm: việc làm rõ các khái niệm Doanh nghiệp, bản chất và đặc điểm của chấm dứt Doanh nghiệp, ý nghĩa của chấm dứt Doanh nghiệp, bảo vệ người thứ ba từ chấm dứt Doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh – nền tảng của tự nguyê ̣n chấm dứt Doanh nghiê ̣p, phân loa ̣i chấm dứt Doanh nghiê ̣p
Với tư cách và sứ mệnh của mình, thông thường các nhà lập pháp suy nghĩ và hành động với định hướng xây dựng một hệ thống pháp luật đảm bảo tính thống nhất, logic, không quá trừu tượng và phù hợp với nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên, chỉ khi áp dụng vào thực tế người ta mới có thể nhìn thấy các khiếm khuyết xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà trước đó nhà làm luật chưa hoặc không lường trước được, mặc dù quy trình thực hiện phải tuân theo bao điều kiện, thủ tục chặt chẽ Vậy, các quy định hiện hành trong pháp luật Việt Nam về chấm dứt doanh nghiệp có khiếm khuyết gì? Việc áp du ̣ng các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t hiê ̣n hành còn có những điểm bất câ ̣p gì ? Thực trạng này sẽ được tác giả làm rõ và nghiên cứu sâu hơn trong Chương 2 của luận văn thông qua viê ̣c phân tích các quy pha ̣m pháp luật hiện hành và các vụ việc thực tế
Trang 3832
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẤM DỨT
DOANH NGHIỆP 2.1 Các quy định hiện hành về giải thể doanh nghiệp
2.1.1 Quy định về các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp
Tại Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định điều kiện và các trường hợp giải thể doanh nghiệp, cụ thể:
Về điều kiện giải thể: Luật quy định tại Khoản 2 Điều 157 “Doanh
nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác” Có thể nói, đây là quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này cũng không hề đơn giản Bởi lẽ, sự sai biệt rất lớn giữa cái gọi là “bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ” và “thanh toán hết các khoản nợ” Thực tế cho thấy, nhiều Doanh nghiệp mà tài sản có và thực tế hiện hữu có giá trị sổ sách lớn gấp nhiều lần nợ phải trả Nếu chiểu theo điều kiện luật định thì điều kiện giải thể
là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, Doanh nghiệp này không thể thanh toán hết được các khoản nợ Và, nếu cho phép giải thể trong trường hợp này thì rủi ro đối với người thứ ba là rất cao Xét về góc độ hiệu quả điều chỉnh của pháp luật thì đương nhiên là không thể chấp nhận Hơn nữa, điều này còn có thể tạo điều kiện cho việc trục lợi và làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh
Về các trường hợp giải thể: Luật quy định bốn trường hợp
Trường hợp thứ nhất, “Doanh nghiệp bị giải thể khi kết thúc thời hạn
hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn” Xét
từ góc nhìn chính trị thì quy định này hoàn toàn tôn trọng quyền tự do định đoạt của các chủ thể Tuy nhiên, từ góc nhìn kỹ thuật lập pháp, tác giả nhận
Trang 3933
thấy quy định này là không cần thiết Bởi lẽ, qua khảo sát rất nhiều Bản điều
lệ của các công ty đại chúng được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử các sở giao dịch chứng khoán thì chưa thấy có Bản điều lệ nào quy định về thời hạn hoạt động Do vậy, đối với công ty mà Điều lệ không quy định về thời hạn hoạt động thì quy định về việc giải thể trong trường hợp này là không thực tế
Và nếu có, thì việc giải thể cũng không phải là bắt buộc, mà việc giải thể vẫn phụ thuộc vào quyết định của chủ sở hữu
Về thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có lẽ thường được biết đến với các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài Nhưng có thể nói rằng, việc quy định thời hạn hoạt động cũng không phát sinh nghĩa vụ bắt buộc giải thể đối với họ
và nếu cố ý đặt ra các quy định để bắt buộc trong trường hợp này thì việc xử
lý về mặt thủ tục cũng không có gì khó khăn, nếu họ không muốn giải thể Do vậy, có thể nói rằng việc quy định giải thể trong trường hợp này chỉ mang tính hình thức
Trường hợp thứ hai, Doanh nghiệp bị giải thể theo quyết định của tất
cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần Tác giả cho rằng đây là quy định luật hoá quyền tự do kinh doanh, cụ thể là quyền tự định đoạt chấm dứt doanh nghiệp khi đủ điều kiện theo luật định Bởi lẽ, Doanh nghiệp được tạo lập bởi ý chí của thành viên hoặc các thành viên, do vậy ý chí của họ cũng có thể làm chấm dứt Doanh nghiệp của họ
Tuy nhiên, trường hợp này không thể không đề cập đến vấn đề thông qua quyết định giải thể Đối với Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì không có
gì bàn luận về tỷ lệ thông qua quyết định Bởi lẽ, một mặt do quy định pháp luật mang tính riêng biệt hơn, mặt khác vì mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước