Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về bản chất công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, các quy định có liên quan đến giám sát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH
VIÊN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC
MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan Hương
Hà Nội - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Nhung
Trang 4Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP
LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 6
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước một thành viên ở Việt Nam 61.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước một thành viên 61.1.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
một thành viên 91.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước một thành viên 111.2 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về giám sát hoạt động sử
dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam 141.2.1 Khái niệm vốn 141.2.2 Pháp luật giám sát hoạt động sử dụng vốn là gì? 171.2.3 Nguyên tắc của pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong
công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên 19
Trang 51.2.4 Vai trò của pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên 20
1.2.5 Nội dung pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên 22
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 33
2.1 Quy định của pháp luật về giám sát của chủ sở hữu trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên 34
2.1.1 Quốc hội 35
2.1.2 Chính phủ, bộ, ngành 37
2.1.3 Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) 44
2.2 Giám sát của các cơ quan trong nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên 50
2.2.1 Giám sát của Hội đồng thành viên/ Chủ tịch công ty 50
2.2.2 Giám sát của Kiểm soát viên 54
2.2.3 Hoạt động giám sát của kiểm toán nội bộ 58
2.3 Nội dung giám sát 60
2.3.1 Tiêu chí giám sát 60
2.3.2 Một số nội dung giám sát cụ thể: huy động vốn, tiền lương, ký kết và thực hiện hợp đồng 67
2.4 Hình thức giám sát 80
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 88
Trang 63.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng
vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt nam 88
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu ở Việt Nam 93
3.2.1 Quốc hội 93
3.2.2 Chính phủ 93
3.2.3 Quản trị nội bộ trong công ty 94
3.2.4 Một số kiến nghị khác 97
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước một thành viên với các công ty khác 8 Bảng 2.1: Hệ số, mức tiền lương của Kiểm soát viên 57 Bảng 2.2: Bảng hệ số mức lương của Viên chức quản lý chuyên trách 76 Bảng 2.3: Bảng mức lương cơ bản để xác định quỹ tiền lương của viên
chức quản lý chuyên trách 77
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên 10
Sơ đồ 1.2: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch công ty 10
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua ở nước ta, doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là những doanh nghiệp tập trung vào những ngành, nghề kinh tế trọng điểm, then chốt của nền kinh tế và được đầu tư chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trong tình hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được hoàn thiện một bước, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng năng động, đa dạng hơn, đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên với vai trò của mình cần được nâng cao hiệu quả kinh tế mạnh mẽ hơn
Thực tế những năm gần đây cho thấy, đặc biệt sau ngày 01/7/2010 khi các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và chuyển đổi sang hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, những tập đoàn, tổng công ty lớn được
tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
có một hành lang pháp lý mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế, tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp Nhưng sau khi được chuyển đổi, các doanh nghiệp này hoạt động không mang lại hiệu quả như mong đợi, một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, gây thất thoát nguồn vốn nhà nước, lãng phí
và đầu tư dàn trải, kinh doanh thua lỗ khiến Nhà nước phải gánh chịu những khoản nợ khổng lồ, điển hình như vụ việc xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Đứng trước thực tế này, Đảng và Nhà nước đã yêu cầu thực hiện mạnh mẽ hàng loạt biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong đó có biện pháp tăng cường công tác giám sát hoạt động sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trang 10Để có cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp một cách hiệu quả, trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đã tổ chức nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu liên quan đến việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đặc biệt những doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trong đó hứa hẹn nhiều biện pháp hữu hiệu trong công tác giám sát hoạt động của doanh nghiệp
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng đó, tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam" để làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tọa đàm, hội
thảo về giám sát hoạt động doanh nghiệp nhà nước như báo cáo "Giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) - thực trạng
và kiến nghị đổi mới” do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương công bố ngày 22/11/2012; Hội thảo - Triển lãm Vietnam Finance 2013 "Tăng cường Giám sát tài chính quốc gia: Giải pháp chính sách và công nghệ" do Bộ Tài
chính phối hợp với Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG Vietnam) thực hiện
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn rất nhiều bài viết về giám sát hoạt động doanh nghiệp nhà nước Điển hình như Tiến sĩ Vũ Nhữ Thăng:
"Giám sát tài chính doanh nghiệp: Mục tiêu quan trọng hàng đầu”, trên tập chí Tài chính, ngày 03/10/2012; hay Thạc sĩ Nguyễn Duy Long: "Cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Những vấn đề đặt ra”, trên tạp chí Tài chính, ngày 04/10/2012
Tuy nhiên, trên đây là những công trình nghiên cứu có phạm vi tương đối rộng và sâu sắc Do đó, với tinh thần học hỏi và tiếp thu, trên cơ sở những kết quả tự nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu về giám sát hoạt động sử
Trang 11dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Trong
đó, luận văn xin cung cấp các vấn đề lý luận và thực tế về giám sát hoạt động
sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
3 Mục tiêu nghiên cứu
1 Làm rõ một số vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và hoạt động giám sát sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
2 Đánh giá thực trạng về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
3 Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những bất cập trong giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trong thời gian qua Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về bản chất công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, các quy định có liên quan đến giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu
Trang 12hạn nhà nước một thành viên, tìm hiểu thực trạng hoạt động giám sát sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên để đưa ra những kiến nghị đổi mới công tác giám sát hoạt động sử dụng vốn trên cơ sở các tài liệu thu thập được về doanh nghiệp nhà nước, trong đó đặc biệt chú trọng đến doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trong giai đoạn từ 2000 - đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội và chính sách, pháp luật của Nhà nước về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và về vấn đề giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh các khía cạnh pháp lý của giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Để đạt được các mục tiêu của đề tài đặt ra, tác giả sử dụng nhiều cách tiếp cận dưới những góc độ khác nhau về việc giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trên cơ sở phương pháp phân tích định tính và định lượng Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như nghiên cứu tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch
6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
Hiện nay, đứng trước thực trạng việc giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên còn nhiều bất cập, rắc rối và thiếu minh bạch, công khai, luận văn này ra đời có đóng góp và một số ý nghĩa sau:
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Trang 13- Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những bất cập trong giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này trong thời gian tới
- Với kết quả đạt được, luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu học tập và giảng dạy, những giải pháp có thể được tham khảo trong việc thực thi và ban hành các quy định pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về giám sát
hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn
trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát
hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được định nghĩa là công
ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
45, Khoản 3 Điều 3] Tuy nhiên, sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời
và lộ trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 sang tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được tổ chức và hoạt động chung theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được quy định tại Luật doanh nghiệp 2005 Theo đó, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty [47, Khoản 1, Điều 63]
Trang 15Từ khái niệm nêu trên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trước hết cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đó là:
Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty;
Công ty không được phát hành cổ phần
Ngoài những đặc điểm chung đó, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên còn có những đặc điểm riêng:
Về thành viên: Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của công ty
Về vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty do nhà nước đầu tư và lấy từ
nguồn ngân sách quốc gia
Về chuyển nhượng vốn: Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển
nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho cá nhân, tổ chức khác Sau khi chuyển nhượng vốn, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang loại hình công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hoặc công ty cổ phần
Về chế độ quản lý: Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu của mình thông qua cơ chế ủy quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại công ty
1.1.1.2 Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên với các công ty khác
Trang 16Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
một thành viên với các công ty khác
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành
Do nhu cầu hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận
Ngành nghề
kinh doanh
Chỉ hoạt động trong một số lĩnh vực then chốt, trọng điểm
Hoạt động ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước không cấm
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Luật doanh nghiệp 2005
1.1.1.3 Phân loại công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại theo nhiều phương tiện và góc độ khác nhau:
Căn cứ vào mục đích hoạt động
Theo căn cứ này, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận Doanh nghiệp hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng
Căn cứ vào quy mô hoạt động
Trang 17Theo căn cứ này, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên độc lập và công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên thuộc tập đoàn, nhóm công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên độc lập là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nhân danh mình tham gia các quan hệ kinh tế không chịu sự ràng buộc thỏa thuận liên kết
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên thuộc tập đoàn, nhóm công ty là doanh nghiệp nằm trong cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp lớn hơn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin
Căn cứ vào cách thức tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Theo căn cứ này, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được phân loại thành doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên và doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Chủ tịch công ty Mô hình Hội đồng thành viên gồm Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc và các Kiểm soát viên Mô hình Chủ tịch công ty gồm Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc (Giám đốc) và các Kiểm soát viên
1.1.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện nay và Nghị định số 25/2010/NĐ-CP, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được
tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty
Đối với mô hình Hội đồng thành viên cơ cấu tổ chức gồm có: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên Với mô hình này, Chủ tịch hội đồng thành viên của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ được chuyển đổi từ tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Trang 18Sơ đồ 1.1: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên
Nguồn: [13]
Đối với mô hình Chủ tịch công ty cơ cấu tổ chức gồm có: Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên Với mô hình này, Chủ tịch công ty có thể kiêm Tổng giám đốc
Sơ đồ 1.2: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch công ty
Trang 191.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Ở nước ta, sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm
1945, khi Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp của chế độ cũ đã xuất hiện các doanh nghiệp quốc gia và được định nghĩa là một doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển Sau khi mô hình và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bắt đầu được áp dụng ở miền Bắc, khu vực kinh tế quốc doanh được tổ chức thành các loại hình doanh nghiệp có tên gọi khác nhau, như: Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; nông trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm trường trong lĩnh vực lâm nghiệp; công ty trong lĩnh vực thương nghiệp
Do có sự thay đổi nhất định về điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức
về cải cách nền kinh tế nên thuật ngữ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh được thay thế bằng thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước Theo đó, Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước quy định: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu"
Năm 1995, doanh nghiệp nhà nước được xác định là "tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao" [42, Điều 1] Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước còn được quy định "có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn
bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý; có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam" [42, Điều 1]
Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, do thay đổi về chủ trương và đường lối của Đảng đối với hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhiều quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước
Trang 20năm 1995 đã không còn phù hợp với tình hình cải cách doanh nghiệp nhà nước trên thực tế, đặc biết là quy định Nhà nước sở hữu 100% vốn của doanh nghiệp Trên thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước chỉ nắm giữ quyền chi phối, tức là sở hữu phần vốn trên 50% tổng
số vốn của doanh nghiệp thông qua hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần cũng như đã xuất hiện sự chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp nhà nước như chuyển sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần Do đó, vào đầu những năm 2000 đã xuất hiện quan điểm:
"Doanh nghiệp nhà nước không nhất thiết Nhà nước phải chiếm giữ quyền sở hữu tuyệt đối mà có thể chỉ cần nắm giữ trên 50% cổ phần hoặc phần vốn góp trong doanh nghiệp" [4, tr 16] Vì vậy, để khắc phục tình trạng này cũng như chính thức chấp nhận loại hình doanh nghiệp nhà nước như đã nêu, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 ra đời thay thế cho Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 Kể từ đó, doanh nghiệp nhà nước được xác định "là tổ chức kinh
tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn" [45, Điều 1]
Trong Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, ngày 26 tháng 11 năm 2003, lần đầu tiên thuật ngữ công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được chính thức sử dụng Theo đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp [45, Điều 3]
Do yêu cầu phải cải cách nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử với các loại hình doanh nghiệp để thu hút nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và sức ép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
Trang 21giới (WTO), năm 2005, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp 2005 thay thế cho Luật doanh nghiệp 1995 và Luật doanh nghiệp nhà nước 2003
Trong đó: Thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật này [47, Điều 166]
Để thực hiện việc chuyển đổi này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quy định về mô hình tổ chức và hoạt động của công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ví dụ như Nghị định 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Thông tư 117/2010/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Nghị định 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành quy chế giám sát tài chính và đành giá hoạt động và công khai tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước… Với những quy định này, thuật ngữ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu được sử dụng và thay thế cho thuật ngữ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Tuy nhiên, đây chỉ là sự khác nhau về tên gọi, về bản chất doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trang 221.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm vốn
1.2.1.1 Khái niệm vốn
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong bất cứ lĩnh vực nào đều gắn liền với vốn, không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được, chính vì vậy, người ta thường nói vốn là chìa khóa để mở rộng và phát triển kinh doanh Trước hết vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp
và là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh Theo Luật doanh nghiệp hiện hành, để bắt đầu hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký về vốn điều lệ Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên tại Thông tư 117/2010/TT-BTC, Vốn điều lệ
là là mức vốn cần thiết được chủ sở hữu cam kết đầu tư để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty và được ghi trong Điều lệ công ty Việc xác định vốn điều lệ công ty theo quy định sau đây:
(i) Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại thời điểm chuyển đổi được xác định là số vốn chủ sở hữu thực có sau khi xử
lý tài chính;
(ii) Vốn điều lệ của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành lập mới được xác định trong phương án thành lập công ty được cấp có thẩm quyền phê duyệt Mức vốn điều lệ được xác định bằng 30% tổng mức vốn đầu tư để đảm bảo cho công ty hoạt động bình thường theo quy mô, công suất thiết kế;
(iii) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đang hoạt động có nhu cầu tăng vốn điều lệ: Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển và nguồn bổ sung vốn điều lệ, chủ sở hữu phê duyệt tăng vốn điều lệ cho
Trang 23công ty; đối với công ty độc lập trực thuộc Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công ty mẹ trong Tập đoàn, Tổng công ty, công ty hoạt động theo mô hình mẹ - con, chủ sở hữu phê duyệt vốn điều lệ sau khi có
ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính [6, Điều 2]
1.2.1.2 Cơ cấu vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được phân chia thành vốn của chủ sở hữu và vốn nợ Vốn của chủ sở hữu hình thành từ vốn góp khi thành lập doanh nghiệp và gia tăng từ lợi nhuận sau thuế trong quá trình kinh doanh Vốn nợ của doanh nghiệp dưới hình thức phát hành trái phiếu, vay từ tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức, cá nhân khác
Vốn của chủ sở hữu
Khi nhà nước đầu tư thành lập doanh nghiệp, vốn của chủ sở hữu ban đầu được xác định dựa trên quyết định giao vốn để hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp Trong trường hợp vốn điều lệ chưa được góp đủ thì vốn của chủ sở hữu là vốn thực góp của Nhà nước Trong quá trình kinh doanh, vốn chủ sở hữu có thể gia tăng bằng việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Vốn điều lệ có thể tăng lên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền về chuyển phần lợi nhuận/phần vốn của nhà nước hoặc điều chuyển vốn từ doanh nghiệp khác, hoặc chuyển từ Quỹ hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp do Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn của Nhà nước quản lý và
sử dụng theo quy định của pháp luật Ngoài nguồn vốn trên, doanh nghiệp có thể được quản lý, sử dụng đất đai và các tài sản khác do Nhà nước giao Những tài sản này được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh, đây chính là lợi thế kinh doanh về tài sản của các công ty nhà nước so với các công ty khác không được giao quản lý vốn và tài sản của Nhà nước
Trang 24Trong trường hợp công ty kinh doanh có lãi, phần lợi nhuận được phân chia theo vốn công ty tự huy động và phần vốn đầu tư của Nhà nước Có thể thấy lợi nhuận phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty có thể gia tăng lợi ích của chủ sở hữu Nhà nước trong hoạt động đầu tư và làm gia tăng vốn của chủ sở hữu tại công ty thông qua quyết định tăng vốn điều lệ của công ty bằng lợi nhuận để lại của Nhà nước Phần lợi nhuận phát sinh từ phần vốn tự huy động được sử dụng để trích lập các quỹ làm gia tăng vốn chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp
Vốn nợ của doanh nghiệp
Vốn nợ là vốn mà doanh nghiệp vay các tổ chức, cá nhân hoặc mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ của đối tác Thông thường, các doanh nghiệp có thể vay tổ chức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng hoặc được ứng tiền qua tài khoản Ngoài ra, doanh nghiệp có thể vay của các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng vay hoặc phát hành trái phiếu
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể vay vốn để bổ sung vốn hoạt động hoặc đầu tư dự án Vốn vay dài hạn trên một năm thường dùng để đầu tư vào tài sản cố định, còn vốn vay ngắn hạn dưới một năm dùng để bổ sung vốn lưu động
Hợp đồng tín dụng giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng về bản chất
là hợp đồng vay tài sản được quy định trong luật dân sự, tuy nhiên do đặc thù của tổ chức tín dụng huy động tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để cho vay nên việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng phải tuân theo Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
Trên thực tế, khoản vay chủ yếu của doanh nghiệp là vay từ ngân hàng thương mại Tùy từng trường hợp, ngân hàng thương mại có thể buộc doanh
Trang 25nghiệp phải có tài sản đảm bảo Doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản của chính mình để bảo đảm cho khoản vay hoặc nhận bảo lãnh của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác để vay vốn từ các ngân hàng thương mại
Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu là hình thức áp dụng phổ biến
ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Ở nước ta, hình thức phát hành này thường được các doanh nghiệp có uy tín thực hiện Trong phát hành trái phiếu, doanh nghiệp chủ động quyết định khoản vay, mệnh giá trái phiếu, lãi suất vay trên cơ sở của pháp luật Việc phát hành trái phiếu phải đáp ứng các điều kiện phát hành theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người sở hữu trái phiếu Cũng giống như vay vốn từ ngân hàng, vấn đề bảo đảm khả năng hoàn trả vốn đặt ra, theo đó doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản của chính doanh nghiệp của mình hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
1.2.2 Pháp luật giám sát hoạt động sử dụng vốn là gì?
Thuật ngữ"giám sát” được sử dụng gắn với chủ thể giám sát như Quốc hội, giám sát của cơ quan trong nội bộ doanh nghiệp, giám sát của chủ nợ hoặc gắn với đối tượng giám sát như giám sát hoạt động ngân hàng, giám sát ngân sách nhà nước, giám sát hoạt động sử dụng vốn [33, tr 153]
Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá các vấn đề về tài chính, chấp hành chính sách pháp luật về tài chính của doanh nghiệp [19, Khoản 1 Điều 4] Về nguyên tắc, hoạt động giám sát tài chính được tiến hành bởi cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý hoặc cơ quan chuyên trách là ban kiểm soát Hơn thế nữa, bên cạnh tổ chức kiểm soát được thiết lập hỗ trợ cho hoạt động điều hành, doanh nghiệp có thể thuê công ty kiểm toán hoặc kiểm toán viên thực hiện kiểm tra, xem xét các vấn đề tài chính theo yêu cầu Đối tượng của hoạt động giám sát tài chính là các thông tin trong báo cáo tài chính về tình trạng sử dụng vốn, tài sản, doanh thu, chi phí,
Trang 26lợi nhuận Các dữ liệu này liên quan trực tiếp đến quyết định vay, mua bán tài sản của cơ quan quản lý, người điều hành
Hoạt động giám sát này có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá tính hợp
lý, hợp pháp của hoạt động quản lý, điều hành, bảo đảm quyền lợi của người góp vốn, ngăn chặn kịp thời các hành vi tư lợi của người quản lý, người điều hành
Như vậy, giám sát tài chính doanh nghiệp theo nghĩa rộng là hoạt động giám sát đối với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp được tiến hành bởi chủ sở hữu, chủ nợ, cơ quan, tổ chức nội bộ và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Còn theo nghĩa hẹp, giám sát tài chính doanh nghiệp là hoạt động của tổ chức nội bộ nhằm kiểm tra, xem xét tính hợp lý, hợp pháp trong quyết định tạo lập, quản lý, sử dụng vốn
và tài sản của cơ quan quản lý, điều hành doanh nghiệp [33, tr 156] Do đó, giám sát hoạt động sử dụng vốn trong doanh nghiệp có thể được hiểu là hoạt động theo dõi, giám sát, thanh tra, đánh giá việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp và được tiến hành bởi chủ sở hữu, chủ nợ, cơ quan quản lý nhà nước,
tổ chức, cơ quan nội bộ có thẩm quyền
Trong đó, chủ sở hữu có thể trực tiếp thực hiện quyền giám sát theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện hành và có thể thực hiện quyền giám sát thông qua cơ quan chuyên môn là các Kiểm soát viên Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện hoạt động giám sát sử dụng vốn đối với cơ quan điều hành phát sinh dựa trên sự ủy quyền quản lý của cơ quan chủ sở hữu Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty thực hiện hoạt động giám sát đối với cơ quan điều hành trong việc thực hiện các quyết định thuộc thẩm quyền Ngoài ra, quyền giám sát hoạt động sử dụng vốn của chủ nợ phát sinh dựa trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng hoặc cam kết sử dụng vốn trong phương án phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nhằm bảo đảm khả năng thu hồi nợ
Trang 27Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là các quy định về tổ chức nội bộ, đồng thời quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm thực hiện quyền giám sát cho các tổ chức và người có liên quan, quy định về giám sát các hoạt động sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.3 Nguyên tắc của pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
1.2.3.1 Bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu
Các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên nắm giữ những tài sản khổng lồ, các nguồn tài nguyên chủ chốt của quốc gia, hoạt động trong những lĩnh vực chính, then chốt của nền kinh tế Do vậy, việc giám sát hoạt động sử dụng vốn tại công ty này phải đảm bảo nguồn vốn của chủ sở hữu được bảo toàn, sử dụng hợp lý, hiệu quả để giữ nhịp phát triển bền vững của cả nền kinh tế và củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ của Đảng và Nhà nước ta
Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu hoặc cơ quan quản lý công ty mẹ với tư cách là chủ thể quyết định thành lập thực hiện quyền giám sát Khi đó, Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước để ban hành quy chế tổ chức giám sát đối với doanh nghiệp Các quy định về giám sát được chủ sở hữu ban hành, áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu
1.2.3.3 Bảo đảm an toàn vốn và tài sản của doanh nghiệp
Về mặt tài chính, vốn là thể hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản Khi vốn bằng tiền đã chuyển thành tài sản thì bảo toàn tài sản mang ý nghĩa duy trì giá trị sử dụng của tài sản Theo nghĩa hẹp, bảo toàn vốn cũng chính là bảo toàn tài sản nhằm duy trì và làm gia tăng giá trị của nó thông qua hoạt động đầu tư, kinh doanh
Trang 281.2.3.4 Công khai, minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp
Thẩm quyền sử dụng vốn và tài sản được giao cho cơ quan quản lý, điều hành theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty Đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp ký kết và đôn đốc thực hiện hợp đồng Hành vi mua bán hàng hóa, cung cấp, nhận cung cấp dịch vụ và thanh toán gắn với việc chuyển dịch quyền sở hữu và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp Kết quả thu, chi liên quan đến các giao dịch này được tổ chức kiểm toán doanh nghiệp ghi nhận trên các tài khoản kế toán Đây là căn cứ xác định doanh thu, chi phí
và lợi nhuận của doanh nghiệp Việc công khai, minh bạch hóa thông tin trong doanh nghiệp giúp cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết và quyết định đã ban hành cũng như kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan và người điều hành
1.2.4 Vai trò của pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Giám sát hoạt động sử dụng vốn trong doanh nghiệp nhà nước nói chung
và trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình tái cấu trúc, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Công tác này được triển khai trên nhiều phương diện từ nhiều năm qua và đã mang lại những kết quả khả quan Tuy nhiên, trước tình hình mới hiện nay, đòi hỏi đặt ra là cần tiếp tục tăng cường giám sát tài chính đối với doanh nghiệp và để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Thứ nhất, các quy định về việc giám sát hoạt động sử dụng vốn trong
công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên xuất phát từ chính đặc tính tất yếu của chủ sở hữu Nhà nước là chủ sở hữu công ty Do vậy, quyền
Trang 29giám sát hoạt động sử dụng vốn này là quyền tất nhiên, tất yếu và được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật về quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu
Thứ hai, mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành
viên là một nỗ lực không ngừng của nhà nước ta trong việc tăng cường cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của Việt Nam trong quá trình hội nhập Việc chuyển đổi từ mô hình công ty tổ chức, hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 sang mô hình công ty tổ chức, hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005 là một giải pháp đối mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, bản thân mô hình công ty này là
mô hình đặc biệt mà tính phức tạp và dễ mất kiểm soát của nó là nguyên nhân đẩy cao tính cấp bách của việc giám sát hoạt động sử dụng vốn nhà nước tại đây Điều này được thực hiện ở chỗ, công ty nắm giữ toàn bộ vốn, tài sản lớn của nhà nước, thay mặt nhà nước quản lý, sử dụng, điều tiết và phân phối các nguồn vốn đó vào xã hội Đại diện chủ sở hữu tại công ty được Chính phủ ủy quyền thay mặt Chính phủ quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước giao Chính điều này tạo ra mối quan ngại về việc tài sản nhà nước thực chất giao vào tay một người- Chủ tịch công ty hoặc một nhóm người trong Hội đồng thành viên công ty dễ dẫn đến sự thao túng, lạm dụng, tùy tiện Như vậy, sự phát triển về quy mô thường đi liền với sự nguy hiểm của tình trạng mất kiểm soát Vì thế, việc ban hành các quy định về giám sát hoạt động sử dụng vốn nhà nước tại công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là một hoạt động quan trọng của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và của doanh nghiệp với tư cách là chủ doanh nghiệp và của các bộ, ngành, cơ quan liên quan với tư cách là cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp
Thứ ba, mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành
viên ở nước ta mới trải qua một giai đoạn phát triển ngắn kể từ khi tổ chức theo mô hình công ty quy định tại Luật doanh nghiệp 2005 Vì vậy sẽ không
Trang 30tránh khỏi những thiết sót trong việc xây dựng, áp dụng các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý, điều hành cũng như các quy định về giám sát hoạt động sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Do đó, pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn là một hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội này nhằm đảm bảo vốn, tài sản của nhà nước được bảo toàn và phát triển
Qua phân tích nêu trên, có thể thấy pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005 ở nước ta hiện nay
1.2.5 Nội dung pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
1.2.5.1 Pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên từ bên ngoài
Khi nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, Nhà nước với tư cách là chủ thể quyết định thành lập thực hiện quyền giám sát đối với doanh nghiệp này Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện của mình để thực hiện quyền giám sát Các cơ quan đại diện đó bao gồm:
Thứ nhất: Bộ quản lý ngành với tư cách là chủ sở hữu chủ trì, phối
hợp với Bộ Tài chính thực hiện giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp là công ty mẹ, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Bộ quản lý ngành quyết định thành lập hoặc được giao quản lý
Thứ hai: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với tư cách là chủ sở hữu thực hiện
giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với
Trang 31doanh nghiệp là công ty mẹ, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập
Thứ ba: Cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp
Bộ Tài chính phối hợp với cơ quan chủ sở hữu thực hiện giám sát tài chính đối với công ty mẹ, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập
do Bộ quản lý ngành thành lập hoặc được giao quản lý; tổng hợp báo cáo kết quả giám sát tài chính của các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; tổng hợp, báo cáo Chính phủ về hiệu quả sản xuất kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ công ích được giao, về tình hình tài chính của các doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu theo định kỳ hàng năm
Sở Tài chính các tỉnh, thành phố là đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, tổng hợp báo cáo kết quả giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập
Với vai trò là chủ thể giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước trong đó có công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, Chủ
sở hữu nhà nước đã tổ chức thực hiện giám sát tài chính bằng việc:
Chỉ định một đơn vị chủ trì và phân công các đơn vị khác thuộc tổ chức của chủ sở hữu thực hiện giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trực thuộc
Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Tài chính và tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để xác định mục tiêu giám sát đối với từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Căn cứ biểu mẫu quy định tại Khoản 5 Điều 6 Nghị định này và kỳ hạn báo cáo của từng doanh nghiệp nhằm phục vụ cho công tác giám sát và đánh giá đối với doanh nghiệp
Trang 32Hàng năm chủ động lập kế hoạch giám sát tài chính doanh nghiệp (bao gồm kế hoạch kiểm tra, thanh tra) gửi Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ Riêng kế hoạch thanh tra doanh nghiệp phải phù hợp, thống nhất với kế hoạch thanh tra hàng năm của Thanh tra Chính phủ
Tổ chức giám sát chặt chẽ, đầy đủ, kịp thời theo đúng kế hoạch Khi phát hiện tình hình tài chính, công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp có dấu hiệu xấu phải cảnh báo kịp thời cho doanh nghiệp Đồng thời chỉ đạo doanh nghiệp có giải pháp kịp thời ngăn chặn, khắc phục những yếu kém Chủ sở hữu có thể thuê tổ chức dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán độc lập thực hiện việc soát xét số liệu, hoạt động tài chính của doanh nghiệp
để có cơ sở đưa ra đánh giá, nhận xét và kết luận giám sát Chi phí thuê tổ chức dịch vụ tư vấn theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
Căn cứ vào kết quả giám sát tài chính doanh nghiệp và các quy định quản lý tài chính doanh nghiệp, chủ sở hữu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp theo các mức độ: Đảm bảo an toàn, có dấu hiệu mất an toàn Đối với doanh nghiệp có dấu hiệu mất an toàn về tài chính, chủ sở hữu thực hiện chế độ giám sát đặc biệt, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan
Định kỳ sáu (06) tháng và hàng năm, chủ sở hữu lập báo cáo kết quả giám sát tài chính gửi Bộ Tài chính Báo cáo kết quả giám sát phải kèm theo báo cáo giám sát tài chính của từng doanh nghiệp Thời hạn gửi báo cáo sáu tháng không muộn quá ngày 31 tháng 8 của năm báo cáo; báo cáo năm không muộn quá ngày 31 tháng 5 năm sau
Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý kỷ luật đối với lãnh đạo doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; xử lý kỷ luật đối với lãnh đạo doanh nghiệp trong các trường hợp không thực hiện chế độ báo cáo đúng quy định và không chấp hành các khuyến nghị, chỉ đạo trong báo cáo
Trang 33giám sát của chủ sở hữu, của Bộ Tài chính làm cho tình hình tài chính, công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp xấu đi [19, Điều 9]
Đối với Bộ Tài chính
Phối hợp với Bộ quản lý ngành lập kế hoạch giám sát và thực hiện giám sát các doanh nghiệp trực thuộc Bộ quản lý ngành, giám sát theo chuyên đề đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng, sản phẩm thiết yếu cho xã hội và các doanh nghiệp trong diện giám sát đặc biệt Trực tiếp thực hiện giám sát doanh nghiệp theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Căn cứ báo cáo kết quả giám sát tài chính của chủ sở hữu và báo cáo kết quả giám sát chuyên đề về quản lý tài chính doanh nghiệp (do cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp lập) tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình quản lý và
sử dụng vốn và tài sản nhà nước, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính của các doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu Báo cáo sáu tháng gửi không quá ngày 30 tháng 9 của năm báo cáo; báo cáo năm gửi không quá ngày 31 tháng 7 năm tiếp theo
Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý kỷ luật đối với chủ sở hữu, lãnh đạo doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và đề nghị chủ sở hữu thực hiện xử lý kỷ luật đối với lãnh đạo doanh nghiệp trong các trường hợp không thực hiện chế độ báo cáo đúng quy định và không chấp hành các khuyến nghị, chỉ đạo trong báo cáo giám sát của chủ sở hữu, của Bộ Tài chính làm cho tình hình tài chính, công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp xấu đi
Xử lý trường hợp nhận xét, đánh giá, cảnh báo, khuyến nghị của chủ
sở hữu và Bộ Tài chính mâu thuẫn với nhau
Trang 341.2.5.2 Pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên trong nội bộ doanh nghiệp
Theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện hành, chủ sở hữu công ty
có quyền giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty [47, Điều 64] Chủ thể và nội dung quyền giám sát trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên không được cụ thể hóa trong Luật doanh nghiệp hiện hành mà được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành tổ chức và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Căn cứ quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản
lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, chủ thể có quyền giám sát trong công ty gồm có Hội đồng thành viên/ Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên
Theo đó, Hội đồng thành viên đối với doanh nghiệp tổ chức và quản
lý theo mô hình Hội đồng thành viên có quyền:
Kiểm tra, giám sát Tổng giám đốc công ty, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty làm chủ sở hữu, Giám đốc công ty tài chính (nếu có) và người đại diện phần vốn góp của công ty ở doanh nghiệp khác trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật doanh nghiệp và Nghị định này [13, Điều 20]
Quyền giám sát của Chủ tịch công ty đối với doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Chủ tịch công ty: "Kiểm tra, giám sát Tổng giám đốc trong việc thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình” [13, Điều 27]
Trong đó, Tổng giám đốc có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: (i) Tổ chức thực hiện quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; (ii)
Trang 35Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty; (iii) Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; (iv) Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty; (v) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; (vi) Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; (vii) Kiến nghị phương án cơ cấu
tổ chức công ty; (viii) Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; (ix) Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh [47, Điều 70] Đối với các đơn vị thành viên, Tổng giám đốc có nhiệm vụ, quyền hạn (i) Xây dựng phương án phối hợp kinh doanh giữa các đơn vị thành viên trình Hội đồng thành viên; tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh chung, kế hoạch đầu tư giữa các đơn
vị thành viên; (ii) Kiểm tra các đơn vị thành viên thực hiện định mức, tiêu chuẩn, đơn giá quy định trong nội bộ nhóm công ty hoặc tập đoàn; (iii) Đề nghị Hội đồng thành viên quyết định cử người đại diện phần vốn góp của công ty ở doanh nghiệp khác [13, Điều 23]
Chủ tịch Hội đồng thành viên do chủ sở hữu công ty chỉ định trong số các thành viên Hội đồng thành viên và có các quyền và nhiệm vụ (i) Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên; (ii) Chuẩn bị hoặc tổ chức chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến các thành viên; (iii) Triệu tập
và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên; (iv) Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên; (v) Thay mặt Hội đồng thành viên ký các quyết định của Hội đồng thành viên; (vi) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty [47, Điều 49]
Trang 36Với những quyền hạn, nhiệm vụ được pháp luật bảo vệ và ghi nhận nêu trên Hội đồng thành viên/ Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy trong tổ chức của doanh nghiệp để thực hiện việc giám sát tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Theo đó, doanh nghiệp phải đảm bảo (i) Lập và gửi kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn các báo cáo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền và của chủ sở hữu để phục vụ cho việc giám sát tài chính Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện giám sát trực tiếp tại doanh nghiệp; (ii) Khi có cảnh báo của chủ sở hữu, của cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp
về những nguy cơ trong tài chính, quản lý tài chính của doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện ngay các biện pháp để ngăn chặn, khắc phục các nguy
cơ làm cho tình hình tài chính, công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp tốt lên; (iii) Thực hiện đầy đủ kịp thời các chỉ đạo, khuyến nghị của chủ sở hữu, của cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp trong các báo cáo giám sát Trường hợp không thống nhất với các chỉ đạo, khuyến nghị đó, doanh nghiệp
có quyền báo cáo ý kiến của mình với cơ quan đưa ra chỉ đạo, khuyến nghị Khi chủ sở hữu, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp đưa ra ý kiến cuối cùng thì doanh nghiệp có trách nhiệm phải thực hiện các ý kiến đó Định kỳ hàng quý hoặc theo yêu cầu của cơ quan đưa ra chỉ đạo, khuyến nghị doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan này và chủ sở hữu kết quả thực hiện các chỉ đạo, khuyến nghị [19, Điều 9]
Bên cạnh, chủ thể có quyền giám sát trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là Hội đồng thành viên còn có các Kiểm soát viên Kiểm soát viên được chủ sở hữu công ty bổ nhiệm từ một đến ba Kiểm soát viên với nhiệm kỳ không quá ba năm; số lượng kiểm soát viên tùy thuộc vào quy mô vốn, phạm vi địa bàn và số lượng ngành nghề kinh doanh Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ công
ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thì bổ nhiệm ba kiểm soát
Trang 37viên Trong trường hợp bổ nhiệm từ hai kiểm soát viên trở lên thì chủ sở hữu
cử một người phụ trách chung để lập kế hoạch công tác, phân công, điều phối công việc của các Kiểm soát viên Kiểm soát viên không đồng thời giữ chức
vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc là người có liên quan đến quản lý, điều hành doanh nghiệp [13, Điều 25]
Kiểm soát viên có nhiệm vụ: (i) Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý điều hành công việc kinh doanh của công ty; (ii) Kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp sửa đổi, bổ sung, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty; (iii) Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình chủ sở hữu công ty hoặc cơ quan nhà nước có liên quan; trình chủ sở hữu công ty báo cáo thẩm định [47, Điều 71]
Để thực hiện nhiệm vụ này, Kiểm soát viên có quyền xem xét bất kỳ
hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc
và Tổng giám đốc và người quản lý khác có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về thực hiện quyền chủ sở hữu, về quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên [47, Điều 71]
1.2.5.3 Tiêu chí giám sát
Theo quy định việc đánh giá một doanh nghiệp có hoàn thành nhiệm
vụ do chủ sở hữu đề ra hay không, cả chủ sở hữu, cơ quan quản lý tài chính
và doanh nghiệp đều căn cứ theo các chỉ tiêu được quy định tại Nghị định 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước Cụ thể là:
Trang 38Chỉ tiêu 1: Doanh thu và thu nhập khác Chỉ tiêu doanh thu và thu
nhập khác được xác định tại Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ + Doanh thu hoạt động tài chính + Thu nhập khác
Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận thực hiện
trên vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận thực hiện: bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác Chỉ tiêu này được xác định tại Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khi tính toán chỉ tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp phải: i) Tính
đủ các khoản chi phí vào giá thành sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ theo quy định hiện hành nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kinh doanh như: trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp; chênh lệch tỷ giá; các khoản lãi vay phải trả phát sinh trong kỳ; chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ; ii) Đối với giá trị tài sản tổn thất thực tế, kể cả nợ phải thu không có khả năng thu hồi sau khi trừ phần bồi thường thuộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, tổ chức bảo hiểm (nếu có) và khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, nếu còn thiếu thì hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu được tính bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận thực hiện so với vốn chủ sở hữu bình quân trong năm của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu tại doanh nghiệp được xác định tại Bảng cân đối kế toán bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, Quỹ đầu tư phát triển, Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn chủ sở hữu bình quân năm được xác định bằng tổng số dư vốn chủ sở hữu cuối mỗi quý chia cho 4 quý
Chỉ tiêu 3: Nợ phải trả quá hạn và khả năng thanh toán nợ đến hạn
Trang 39Nợ phải trả quá hạn: là các khoản nợ đã quá thời hạn cam kết thanh toán cho các chủ nợ Việc xác định nợ phải trả quá hạn căn cứ vào thời hạn thanh toán ghi trên khế ước vay nợ, hợp đồng kinh tế hoặc các chứng từ cam kết khác
Khả năng thanh toán nợ đến hạn: khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp là khả năng thanh toán hiện thời được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn hiện có so với nợ ngắn hạn và được tính toán theo công thức sau:
Khả năng thanh toán nợ đến hạn = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn Trong đó, tài sản ngắn hạn và Nợ ngăn hạn được xác định theo số
vi của tổ chức, cá nhân dưới danh nghĩa tổ chức hoặc của viên chức quản lý doanh nghiệp gây ra
Chỉ tiêu 5: Tình hình thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích
Thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích là việc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công theo chính sách của Nhà nước thông qua hình thức đấu thầu hoặc nhận đặt hàng hoặc nhận nhiệm vụ Nhà nước giao Việc đánh giá chỉ tiêu này căn
cứ vào mức độ hoàn thành về sản lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Trang 401.2.5.4 Hình thức giám sát
Để việc giám sát mang lại hiệu quả và kịp thời phát hiện những hành
vi vi phạm, Cơ quan chủ sở hữu chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp thực hiện giám sát tài chính bằng việc kết hợp các phương thức giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp, giám sát trước, giám sát trong và giám sát sau Trong đó đặc biệt coi trọng việc giám sát trước và giám sát trong nhằm phát hiện kịp thời các yếu tố tích cực, tiêu cực, hạn chế về tài chính và quản lý tài chính của doanh nghiệp để khuyến nghị, chỉ đạo, cảnh báo kịp thời cho doanh nghiệp
Trong đó, giám sát gián tiếp là việc theo dõi và kiểm tra tình hình của doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính, thống kê và báo cáo khác theo quy định của pháp luật và của chủ sở hữu [19, Khoản 7 Điều 4]
Giám sát trực tiếp là việc kiểm tra, thanh tra trực tiếp tại doanh nghiệp [19, Khoản 8 Điều 4]
Giám sát trước là việc xem xét, kiểm tra tính khả thi các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, dự án đầu tư, phương án huy động vốn và các dự án phương án khác của doanh nghiệp [19, Khoản 9 Điều 4]
Giám sát trong là việc theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch,
dự án của doanh nghiệp, việc chấp hành các quy định của pháp luật của chủ
sở hữu trong suốt quá trình triển khai kế hoạch, dự án [19, Khoản 10 Điều 4]
Giám sát sau là việc kiểm tra kết quả hoạt động của doanh nghiệp trên cơ
sở các báo cáo định kỳ, kết quả chấp hành pháp luật của chủ sở hữu hoặc điều lệ doanh nghiệp, việc tuân thủ các quy định của pháp luật [19, Khoản 11 Điều 4]