Bên cạnh Luật Giáo dục, Luật Đầu tư 2005 quy định về chính sách về đầu tư: nhà đầu tư được đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và quyết định hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hữu Nghị
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các tài liệu trích dẫn theo các nguồn công bố Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng
Người cam đoan
Trần Dũng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 12
1.1 Giáo dục đại học: Khái niệm, đặc điểm và tính chất 12
1.1.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục đại học 12
1.1.2 Đặc điểm, tính chất của giáo dục đại học 15
1.2 Đầu tư trong giáo dục đại học Việt Nam: Khái niệm và các yêu cầu đặt ra 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đầu tư trong giáo dục đại học
21
1.3 Những vấn đề lý luận về pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam 25
1.3.1 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư trong giáo dục đại học 25
1.3.2 Các nguyên tắc của pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học 31
1.3.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam 35
1.3.4 Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong giáo dục đại học 37
1.4 Các yếu tố chi phối pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học 43
1.4.1 Yếu tố kinh tế 43
Trang 41.4.2 Yếu tố chính trị 44
1.4.3 Yếu tố tâm lý xã hội, ý thức xã hội 45
1.4.4 Yếu tố truyền thống, tập quán xã hội 46
1.4.5 Yếu tố hội nhập quốc tế 47
Kết luận chương 1 49
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRONG VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 50
2.1 Các quy định về chủ thể 50
2.1.1 Về nhà đầu tư 50
2.1.2 Về cơ quan quản lý nhà nước 52
2.2 Các quy định về điều kiện đối với hoạt động đầu tư trong giáo dục 53
2.3 Các quy định về hình thức đầu tư 62
2.4 Các quy định về thủ tục đầu tư 66
2.5 Đánh giá pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học tại Việt Nam 70
2.5.1 Đánh giá pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam từ góc độ bảo đảm các nguyên tắc 70
2.5.2 Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân 74
Kết luận chương 2: 80
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 82
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam 82
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm thực hiện được chính sách đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới 82
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời gian vừa qua 84
Trang 53.1.3 Hoàn thiện pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam
đáp ứng các yêu cầu hội nhập 86
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam 88
3.2.1 Giải pháp chung 88
3.2.2 Giải pháp cụ thể đối với pháp luật về đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam 90
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nguồn nhân lực mà trước hết là nguồn nhân lực có trình độ,
có kỹ năng cao là đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Phát triển giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là sự lựa chọn cần thiết để đáp ứng đòi hỏi trên
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013;
Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định giáo dục là “quốc sách hàng đầu” Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi
cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
Bên cạnh Luật Giáo dục, Luật Đầu tư 2005 quy định về chính sách về đầu tư: nhà đầu tư được đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với
Trang 8các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư Nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư, hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Kể từ ngày gia nhập WTO, đối với dịch vụ giáo dục bậc cao, giáo dục cho người lớn, các dịch vụ giáo dục khác ngoại trừ dịch vụ giáo dục phổ thông (chưa cam kết) hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đã được cở mở, chúng ta thu hút được rất nhiều nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Chính sách của Nhà nước cho phép các nhà đầu tư thành lập liên doanh, cho phép phía nước ngoài sở hữu đa số vốn trong doanh nghiệp liên doanh Từ ngày 1/1/2009 sẽ cho phép thành lập cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài
Trên thực tế hiện nay, đã có hai mảng pháp luật chủ yếu điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động đầu tư giáo dục là mảng pháp luật về giáo dục và mảng pháp luật đầu tư, nhưng quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về đầu tư trong giáo dục còn chung chung, thủ tục còn rườm
rà, thiếu tính đồng bộ, nhất quán, nặng hành chính dẫn đến việc đầu tư diễn ra một cách manh mún, thiếu kiểm soát về quy mô, chất lượng, hiệu quả thu được không cao Tổng nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước trong giáo dục vẫn thấp, thậm chí có những những hoạt động đầu tư mang tính lừa đảo ảnh hưởng đến chất lượng các cơ sở giáo dục, người học và niềm tin của các nhà đầu tư
Trang 9Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư giáo dục đại học thực sự có vai trò quan trọng để thu hút được nguồn vốn của những nhà đầu
tư, phát triển nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, từng bước tiếp cận với kinh tế tri thức Nhu cầu cần có một hệ thống pháp luật về đầu tư giáo dục đồng bộ, thống nhất có giá trị pháp lý cao sẽ thực sự trở thành đòn bẩy tạo đà cho giáo dục phát triển
là cần thiết
Các luận cứ trên đây là lý do để tôi lựa chọn vấn đề vấn đề "Pháp luật
về đầu tƣ trong giáo dục đại học ở Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề đầu tư giáo dục đại học
đã thu hút đông đảo các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực kinh tế, quản lý giáo dục đào tạo nghề, khoa học pháp lý và các doanh nghiệp tham gia bàn thảo Các cuộc hội thảo, báo chí thường xuyên đề cập đến vấn đề này (GS Ngô
Bảo Châu "Đại học Việt Nam làm ngược thế giới" [4]; Giáo sư Phạm Phụ -
Nhà giáo dục tâm huyết - đã chia sẻ cùng phóng viên Quốc tế một số đề xuất nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà [29]; Bảng thông kê của Tiến sỹ Vũ
Quang Việt, trong bài "So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt
Nam" đăng trên mạng http://www.ncst.ac.vn/HVGD/ của xemina "Chấn hưng giáo dục", ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo, các
bài viết chuyên khảo nêu trên tiếp cận nghiên cứu chủ yếu là từ giác độ kinh
tế học và chuyên môn Một số công trình nghiên cứu tiếp cận dưới giác độ khoa học pháp lý cũng mới chỉ dừng lại ở việc làm sáng tỏ các yếu tố đơn lẻ liên quan đến các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động đầu tư giáo dục, cũng như chất lượng hoạt động giáo dục hoặc phản ánh kinh nghiệm xây dựng và điều chỉnh pháp luật về đầu tư và giáo dục của một số nước trên thế
Trang 10giới mà chưa nghiên cứu tổng thể cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài luận văn là làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về đầu tư trong giáo dục đại học Từ đó
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đầu tư trong giáo dục đại học
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư giáo dục đại học ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp luật và thực tiễn của văn bản pháp luật về đầu tư trong giáo dục dại học ở Việt Nam
Về thời gian, đề tài nghiên cứu trong phạm vi từ năm 2005 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Học viên chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống như: Chủ nghĩa duy vật biện chứng; Chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp tổng hợp, so sách để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tế về pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam
Đồng thời học viên sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:
Sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu tính chất của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đại học so với các hoạt động đầu tư khác, kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học rút ra cho pháp luật đầu tư trong vực
Trang 11giáo dục đại học tại Việt Nam Tác giả luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích các tài liệu thống kê và kết quả nghiên cứu của các đề tài, báo cáo khoa học hiện có
6 Ý nghĩa của luận văn
- Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam
- Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về pháp luật giáo dục
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ
TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 1.1 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ TÍNH CHẤT
1.1.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục đại học
Giáo dục được coi là một hiện tượng phổ biến và luôn tồn tại cùng xã hội loài người Đã có nhiều quan điểm khác nhau khi trình bày khái niệm về giáo dục, có thể đưa ra một số khái niệm chung nhất về giáo dục như sau:
Tác giả Kelly theo quan điểm phát triển cho rằng: “Giáo dục là sự phát
triển với nghĩa là phát triển con người, phát triển tối đa mọi khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người làm cho con người có khả năng làm chủ được tình huống, đương đầu với những thách thức mà mình sẽ gặp phải trong đời một cách chủ động và sáng tạo” Theo quan điểm này, giáo dục là quá trình tiếp
diễn liên tục, suốt đời [5]
Savin – một nhà giáo dục học đã định nghĩa rằng: “Theo nghĩa rộng,
khái niệm giáo dục là tất cả quá trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên bước vào cuộc sống, bao gồm cả quá trình dạy học và đào tạo” Theo khái niệm
này, giáo dục được hiểu là gồm cả giáo dục và đào tạo, tuy nhiên nó chỉ đề
cập đến một mặt: “Quá trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên…” Trên thực
tế thì giáo dục bao gồm tất cả các hoạt động nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời[5]
Gillis đã đưa ra khái niệm tổng quát hơn về giáo dục: “Theo nghĩa
rộng, giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người, hay hẹp hơn đó là một quá trình có ở những nới đã được chuyên môn hóa gọi là trường học”
Giáo dục là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người theo những khía cạnh khác nhau Giáo dục với khái niệm rộng hơn gần giống
Trang 13với nghĩa “nghiên cứu” Theo đó Gillis cho rằng có ba loại giáo dục là giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục không chính thức [5]
Luật Giáo dục Việt Nam 2005, Điều 4 quy định: Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Giáo dục
thường xuyên là một hệ thống gồm các loại hình học tập thuộc phạm vi giáo
dục tiếp tục Do vậy, giáo dục thường xuyên không bao hàm các hình thức
giáo dục chính quy trong hệ giáo dục ban đầu Nói đến giáo dục thường xuyên, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục Điều 44 quy định giáo dục
thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Tuy nhiên, sự phân loại này trong thực tế chỉ là tương đối nhằm để thuận tiện cho việc tổ chức và quản lý trên
cơ sở đa dạng hóa, xã hội hóa cùng bình đẳng thực hiện mục tiêu chung của giáo dục
Hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam bao gồm: Giáo dục mầm
non có nhà trẻ và mẫu giáo; Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến
sĩ Như vậy, giáo dục đại học là bộ phận kết nối sau cùng trong hệ thống giáo dục quốc dân
Quan niệm về giáo dục đại học được Tổ chức văn hóa, Giáo dục - Xã hội Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất từ 1968 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi là “Giáo dục bậc ba” Nhưng từ sau Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học ở Paris (Pháp) năm 1998 có quan điểm mới: GDĐH ở thế kỷ 21 là học tập suốt đời và bao gồm tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo
Trang 14cho nghiên cứu ở đình độ sau bậc trung học được cung cấp bởi các viện đại học hay các tổ chức giáo dục đã được các cấp thẩm quyền công nhận là cơ sở GDĐH [5]
Theo quan điểm đó, GDĐH còn được coi là giáo dục sau trung học bao gồm không chỉ GDĐH truyền thống như cao đẳng, đại học mà còn tất cả trình
độ học vấn cung cấp cho những người tốt nghiệp phổ thông trung học Vậy GDĐH với quan niệm là giáo dục sau trung học, thực chất là không gian mở cho đào tạo đại học và học tập suốt đời
Ở nước ta, theo Điều 38, Mục 4 của Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục đại học bao gồm:
Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;
Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học;
Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Theo điểm 8, Điều 4, Chương I Luật Giáo dục đại học: Đa ̣i ho ̣c là cơ sở
giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện
Trang 15nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học [16]
Trình độ và hình thức đào tạo của giáo dục đại học được quy định tại
Điều 6: Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc thù; Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học được thực hiện theo hai hình thức là giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học trong hê ̣ thống giáo du ̣c quốc dân gồm: Trường cao đẳng; Trường đại học, học viện; Đại học vùng, đại học quốc gia;Viện nghiên cứu khoa học
1.1.2 Đặc điểm, tính chất của giáo dục đại học
- Giáo dục đại học (GDĐH) là bậc sau cùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo mỗi nước; đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các trình
độ khác nhau
GDĐH không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và vì vậy, không trực tiếp không tạo ra các sản phẩm vật chất Tuy nhiên theo phân công lao động xã hội, GDĐH làm tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc trang
bị cho họ tài khéo léo, sự hiểu biết để làm ra nhiều của cải vật chất hơn cho bản thân và cho xã hội, gắn liền với sự bảo đảm quyền được sống và được làm việc với năng suất lao động cao hơn của mỗi người
Theo Manuel (1991), GDĐH có 3 chức năng quan trọng Trước hết, nó bao gồm các nền văn hóa và tri thức nhân loại; tái tạo hoặc phản biện ý thức
hệ chi phối của quốc gia Thứ hai, nó lựa chọn những người ưu tú giới thiệu
Trang 16cho đất nước và cuối cùng, nó sáng tạo ra kho tàng tri thức mới GDĐH không chỉ tái tạo ra một lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, biết chắt lọc và áp dụng các tri thức thu được từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống cho toàn bộ các thành viên trong xã hội; góp phần xóa bỏ khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo thông qua việc trang bị cho người học những tri thức và kỹ năng cần thiết để kiếm sống
GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phồn thịnh của một nền kinh tế hiện đại – nền “kinh tế tri thức”, được dự báo sẽ ngày càng có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh vượng của nhân loại trong tương lai Liên hợp quốc xác định giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng là quyền con người, là phương tiện phát triển riêng của mỗi cá nhân, phương tiện xây dựng nền văn hóa, chia
sẻ truyền thống và cung cấp sức mạnh cho xã hội nói chung và là một phương tiện tích lũy tài sản và khả năng cạnh tranh của cá nhân và xã hội
Như vậy, về mặt nhận thức tính chất của GDĐH có thể nêu ra hai thuộc tính về mặt kinh tế và mặt xã hội:
- GDĐH vừa thực hiện chức năng phúc lợi vừa thực hiện chức năng dịch vụ
Dưới góc độ xã hội, đối với nước ta hay bất kỳ quốc gia nào, xuất phát
từ truyền thống ham hiểu biết, hiếu học của mỗi dân tộc chính sách công bằng
xã hội được trong giáo dục cụ thể hóa trong Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật, mọi người đều có quyền được học tập, nhà nước khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người dân tham gia vào quá trình học tập Xem xét trên góc độ này lĩnh vực giáo dục đã thực hiện chức năng phúc lợi, giáo dục đảm bảo quyền được học tập của mọi người
Dưới góc độ lý thuyết kinh tế, sản phẩm GDĐH được thực hiện dưới hình thức cung cấp sức lao động của các giáo sư, giảng viên cho người học và
Trang 17người học mua sức lao động của người dạy bằng phí, học phí hoặc đóng thuế
để nhà nước trả công, trả lương cho họ Dựa trên phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hóa, loại lao động giảng dạy của các giáo sư, giảng viên không sản xuất ra tư bản
Theo K Marx , đó là loại lao động phi sản xuất và khi trao đổi nó được
mua bán như một dịch vụ và hàng hóa thông thường K.Marx viết: “Trong
trường hợp tiền trực tiếp được trao đổi lấy loại lao động sản xuất không sản xuất ra tư bản, do đó là lao động phi sản xuất thì lao động ấy được mua như một dịch vụ Biểu hiện ấy nói chung chẳng qua là giá trị sử dụng đặc biệt mà lao động ấy cung cấp, giống như mọi hàng hóa khác”
GDĐH là loại sản phẩm đặc biệt vì giá cả dịch vụ biến động không theo một tỉ lệ nhất định với năng suất lao động Đối với một sản phẩm bất
kỳ, khi lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân và do đó để khuyến khích tiêu dùng xã hội, nhà nước cần có sự bù đắp cho chi phí cá nhân.Việc bù đắp thuộc trách nhiệm của nhà nước hoặc của ai đó theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận Sản phẩm dịch vụ GDĐH không bị tác động bởi năng xuất lao động
- GDĐH là sản phẩm mang lại lợi ích cho cá nhân và xã hội
GDĐH có những đặc điểm riêng biệt khi so sánh với các loại sản phẩm dịch vụ khác Sản phẩm dịch vụ GDĐH là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Người mua sản phẩm GDĐH không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho cả xã hội và lợi ích xã hội luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân Tổng lợi ích xã hội sẽ tăng lên nếu như loại sản phẩm này được sản xuất nhiều hơn
GDĐH là một loại sản phẩm dịch vụ có đầy đủ các tính chất kinh tế giống như các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác, nhưng nó không thích hợp với việc mua bán hàng hóa
Trang 181.2 Đầu tƣ trong giáo dục đại học Việt Nam: Khái niệm và các yêu cầu
đặt ra
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm đầu tư
“Đầu tư” không còn là khái niệm xa lạ hay trừu tượng, tuy nhiên trên thế giới không có khái niệm “đầu tư” duy nhất và bất biến WTO – Tổ chức thương mại thế giới là mô hình tối cao của hội nhập cũng không quy đình gì
về vấn đề đầu tư Nhiều vòng đàm phán không giải quyết được bất đồng xung quanh khái niệm “đầu tư” nên mặc dù có ý định soạn thảo Hiệp ước đa phương tiện về các vấn đề đầu tư vào năm 1978 nhưng OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - cũng không thành công Pháp luật các nước trên thế giới có các cách nhìn nhận khái niệm “đầu tư” khác nhau
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng 2003,
tr301) khái niệm đầu tư là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì,
trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội” Trong kinh tế học, đầu tư là hoạt
động được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã
sử dụng để đạt được những kết quả đó
Theo quan điểm của các nhà luật học, hoạt động đầu tư là việc nhà đầu
tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận hoặc mục đích kinh tế xã hội khác Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn sử dụng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, theo Black’s Law bản chất là sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận
Trang 19Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời, khái niệm đầu tư trong kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật Hoạt động đầu
tư được điều chỉnh bởi Luật khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư
nhằm mục đích kinh doanh đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư
bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác
thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư
Dưới góc độ điều chỉnh các hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, có thể thấy hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư 2005 chính
là một bộ phận của hoạt động thương mại, phù hợp với khái niệm của Luật thương mại (Khoản 1 Điều 3) Hoạt động đầu tư có những đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung đó chính là mục đích lợi nhuận, đồng thời hoạt động đầu tư cũng có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thương mại khác nhau như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại,… Tuy nhiên, hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất tạo lập, là sự bỏ vốn, tài sản… nhằm hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận
Khái niệm đầu tư trong giáo dục đại học
Hoạt động đầu tư trong giáo dục nói chung và đầu tư trong giáo dục đại học nói riêng là một hoạt động đầu tư đặc thù, là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, chủ yếu liên quan đến sự điều chỉnh của Luật Đầu tư 2005, Luật Giáo dục 2005 và Luật Giáo dục đại học 2012
Trang 20Điều 5, Luật Đầu tư 2005 quy định về áp dụng pháp luật đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế: Hoạt động đầu
tư của nhà đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó; Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó; Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế nếu việc
áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam [14] Cũng theo Luật đầu tư
2005“Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo” được quy định là lĩnh vực ưu
đãi đầu tư (Điều 27) và là lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điều 29) Theo Luật
giáo dục 2005, “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”(Điều 9); “Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” (Điều 13); “Chính sách của Nhà nước
về phát triển giáo dục đại học” (Điều 12 Luật Giáo dục đại học 2012)
Giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt, việc đầu tư cho giáo dục được quy định theo hướng thống nhất, đồng bộ giữa Luật đầu tư và Luật giáo dục,
là hoạt động chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nhưng hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục lại được thực hiện theo quy định của hệ thống pháp luật chuyên ngành
Đầu tư cho giáo dục là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi đầu
tư Hoạt động cho giáo dục có những đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư nói chung, đều là sự hy sinh nguồn lực trong hiện tại để tiến hành những hoạt động trong môi trường giáo dục nhằm thu được những kết quả trong tương lai
và kết quả thu được từ hoạt động đó phải lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra
Trang 21Nguồn lực hi sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn); tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, quản lý, khoa học,…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả xã hội được thụ hưởng Chẳng hạn, một trường học được xây dựng, tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời xã hội cũng được hưởng thành quả của hoạt động đầu tư này
Hoạt động đầu tư cho giáo dục không chỉ đem lại kết quả cho nhà đầu
tư mà còn cả nền kinh tế-xã hội được thụ hưởng chính là đầu tư phát triển Còn các loại đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư, tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối do kết quả của hoạt động đầu tư phát triển tạo ra thì đó là đầu tư tài chính và đầu tư thương mại
Như vậy, đầu tư cho GDĐH là một bộ phận của đầu tư nói chung, đều mang lại những lợi ích tăng thêm cho nhà đầu tư và góp phần mang lại cho xã hội những giá trị quan trọng như nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
1.2.2 Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đầu tƣ trong giáo dục đại học
- Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư Là việc chi dùng trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…) vì mục tiêu phát triển
Trang 22Đầu tư phát triển đòi hỏi phải có nhiều loại nguồn lực Với xu hướng phát triển hiện tại, nguồn lực đầu tư có thể đến từ nhà nước, cũng có thể do tổ chức cá nhân trong và ngoài nước bỏ ra Phạm vi đầu tư của các nhà đầu tư ngoài nhà nước mở rộng theo lộ trình xã hội hóa giáo dục Hoạt động đầu tư
có hiệu quả cao là kết quả của việc huy động tích cực nguồn lực đầu tư trong
xã hội Đa số đầu tư nguồn lực nhằm mục đích sinh lời, cũng có chủ đầu tư vì tâm huyết với sự học, vì trách nhiệm với xã hội
Đối tượng của đầu tư trong giáo dục là tập hợp các yếu tố được chủ đầu
tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Theo quan điểm của phân công lao động xã hội thì đây là đầu tư theo ngành Dưới góc độ tính chất đầu tư thì đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng thì yêu cầu đặt ra đối với đầu tư trong giáo dục đại học phải đảm bảo tính chất phi lợi nhuận (mục tiêu lợi nhuận không phải là tuyệt đối) Trên góc
độ xem xét sự quan trọng, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục có đối tượng được khuyến khích đầu tư
Kết quả của đầu tư cho GDĐH là sự tăng thêm về tài sản trí tuệ (trình
độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…), tài sản vật chất (trường học, trang thiết bị…) và tài sản vô hình (phát minh, sáng chế, công trình khoa học…) Các kết quả của hoạt động đầu tư cho GDĐH góp phần làm tăng thêm những giá trị và chất lượng cho xã hội Đặc thù của kết quả đầu tư cho GDĐH
so với các hoạt động đầu tư khác chính là tương quan so sách kết quả kinh tế
xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó Kết quả và hiệu quả đầu
tư phát triển cần được xem xét trên cả phương diện đối với chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo hài hòa giữa các lợi ích, khuyến khích vai trò chủ động của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước các cấp Đầu
tư trong GDĐH tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động
Trang 23như các hoạt động đầu tư khác nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lược cuộc sống và vì mục tiêu phát triển
Mục đích của hoạt động đầu tư cho GDĐH là vì sự phát triển bền vững, lợi ích quốc gia, cộng đồng và của nhà đầu tư
Đầu tư cho GDĐH thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng Chủ đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh
tế, tổ chức chính trị-xã hội, cộng đồng dân cư, nhà đầu tư nước ngoài,…
Hoạt động đầu tư trong GDĐH là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vấn đề “độ trễ về thời gian” Đó là sự không trùng hợp giữ thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai xa
Nội dung đầu tư trong GDĐH được quy định trong pháp luật về đầu tư
và pháp luật về giáo dục Bao gồm các hình thức đầu tư, điều kiện đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; trình tự, thủ tục và triển khai dự án đầu tư; bảo đảm khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư
- Đầu tư cho GDĐH là hoạt động đầu tư đặc thù
+ Giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng là một loại hình dịch vụ đặc biệt Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò và tính cao đẹp của giáo dục Coi giáo dục là một loại dịch vụ đào tạo nguồn lực cho đất nước có nghĩa
là đã đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu, vị trí tạo tiền đề, tạo động lực cho mọi
sự phát triển Trên thực tế không một ngành nào là không cần đến nhân lực, không thừa hưởng kết quả đào tạo của giáo dục Một kết quả của GDĐH sẽ đi liền với kết quả cộng hưởng của những ngành kinh tế, xã hội Một xã hội đi lên bằng những chương trình được hoạch định một cách khoa học, phù hợp với nhu cầu khách quan của cuộc sống, phù hợp với xu thế của thời đại thì
Trang 24giáo dục phải là một bộ phận khăng khít hữu cơ, phải là hoạt động tiền đề của mọi hoạt động
Giáo dục vừa là một ngành hoàn chỉnh, hoạt động với tinh thần chủ động, sáng tạo theo mục tiêu nhiệm vụ của chính phủ giao cho nhưng cũng lại vừa là một bộ phận chủ chốt trong hệ thống tổng thể của đất nước với tư cách
là một loại dịch vụ quan trọng, hoạt động theo cơ chế thị trường
GDĐH là một lĩnh vực đặc thù, khác với lĩnh vực kinh tế, trong đó đối tượng là con người chứ không phải là hàng hóa hay lợi nhuận, do đó cần phải khẳng định một số quan điểm và phải có những giải pháp hết sức cụ thể Sẽ còn rất nhiều ý kiến bàn luận xung quanh vấn đề này, vì đây vẫn là vấn đề nhạy cảm nhưng cũng phải thống nhất rằng giáo dục không phải là thị trường nhưng giáo dục có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ học tập cho xã hội, bản thân nó cũng có tính cạnh tranh, có sự đầu tư để đạt những lợi ích cho cả nhà đầu tư
và cho xã hội Bởi lẽ chúng ta không nên né tránh khái niệm dịch vụ trong giáo dục đào tạo mà nên coi đó là cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục, mang lại những giá trị cao quý cho xã hội nhất là con người được đào tạo bài bản có tri thức
Giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng vẫn phải là sự nghiệp của nhà nước chăm lo cho nhân dân chứ không được hiểu xã hội hóa giáo dục là chuyển tất cả các hoạt động giáo dục đào tạo cho các thành phần “phi nhà nước” tổ chức và quản lý Vai trò của xã hội hóa là chấm dứt một số hoạt động bao cấp không cần thiết trong giáo dục, cung cấp các tiện nghi tốt hơn cho một bộ phận nhân dân có điều kiện tài chính cao hơn, làm nhẹ gánh nặng ngân sách nhà nước để tập trung nguồn lực cho đại bộ phận người dân còn khó khăn
+ Hoạt động đầu tư cho giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng là hoạt động đầu tư có điều kiện và được hưởng ưu đãi đầu tư
Trang 25Theo Luật đầu tư 2005 về ưu đãi đầu tư giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng được coi là ngành nghề được khuyến khích trên cơ sở có chọn lọc giữa các ngành trong toàn xã hội Nhà nước dành cho GDĐH một cơ chế ưu tiên, tạo điều kiện để thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Những quy định về ưu đãi đầu tư được ghi nhận cả trong pháp luật về đầu tư và pháp luật về giáo dục, tạo nên một khung pháp lý chung cho các nhà đầu tư trên cơ sở không phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nội dung của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực GDĐH bao gồm ưu đãi về tài chính, về đất đai cho xây dựng trường học, ưu đãi về thuế thu nhập; đảm bảo về cân đối ngoại tệ đối với các cơ sở giáo dục
có vốn đầu tư nước ngoài
Về điều kiện đầu tư, gồm điều kiện đối với chủ thể đầu tư, điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giáo dục, điều kiện về vốn đầu tư và cơ sở vật chất,…Tuy trên thực tế chúng ta hướng tới mục đích đảm bảo đối xử công bằng giữa nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài nhưng trong lĩnh vực GDĐH là lĩnh vực đầu tư đặc biệt, vẫn có sự phân biệt nhất định giữa hai loại chủ thể đầu tư này
1.3 Những vấn đề lý luận về pháp luật đầu tƣ trong giáo dục đại học ở
Quan điểm của các nhà đầu tư là chi phí cực tiểu và đạt lợi ích tối đa cả
về phương diện cá nhân và xã hội, được lấy làm thước đo cho việc tính toán,
Trang 26xem xét và đưa ra quyết định đầu tư một ngành, nghề hay lĩnh vực đào tạo cụ thể nào đó
Môi trường pháp luật với khung pháp lý hoàn chỉnh và hệ thống các văn bản pháp quy minh bạch điều chỉnh các mặt hoạt động của thị trường dịch
vụ sản phẩm GDĐH sẽ bảo đảm và giúp cho thị trường này hoạt động an toàn, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia thị trường Hệ thống pháp luật đầy đủ sẽ hạn chế một cách hữu hiệu sự nảy sinh các hiện tượng bất công trong xã hội nói chung, trong lĩnh vực GDĐH nói riêng Chỉ có dựa trên một hệ thống công cụ pháp luật đầy đủ và vững chắc, nhà nước mới có thể điều tiết xã hội thực hiện phân phối lại những kết quả hoạt động kinh tế theo hướng bảo đảm công bằng xã hội cho các nhóm lợi ích bình đẳng trước cơ hội nhập học Chỉ có một hệ thống luật pháp vững chắc thì nhà nước mới có thể xây dựng được cơ chế, chính sách tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, có trật tự, kỷ cương cho các chủ thể tham gia quản lý, điều hành các hoạt động GDĐH để huy động và phát huy các nguồn lực xã hội phát triển GDĐH
Nghiên cứu các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khi những người nghèo không có cơ hội và điều kiện tiếp cận GDĐH, nhà nước thông qua các chính sách phát triển điều chỉnh lại mức độ thụ hưởng các giá trị định hướng trong các mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trong cộng đồng, cả về phương diện vật chất, cũng như về phương diện tinhh thần Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật đầu tư trong lĩnh vực GDĐH để tác động, can thiệp vào quá trình vận động của hệ thông GDĐH nhằm loại bỏ, hoặc hạn chế những ảnh hưởng xấu của kinh tế thị trường, bảo vệ lợi ích công cộng của GDĐH
Thông qua hệ thống pháp luật đầu tư trong lĩnh vực GDĐH, nhà nước định hướng cho GDĐH phát triển theo đúng mục tiêu và tạo lòng tin cho các
Trang 27nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển GDĐH, đồng thời nó còn là
cơ sở tạo ra một sân chơi bình đẳng, cho các nhà đầu tư trong toàn xã hội tham gia phát triển GDĐH Thực tế của các nước phát triển chỉ ra rằng, GDĐH chỉ có thể phát triển bền vững, lành mạnh và đúng định hướng dựa trên nền tảng của một hệ thống thể chế, pháp luật đầy đủ, ổn định Với ý nghĩa đó, việc hoàn chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, các quy phạm pháp luật đầu tư GDĐH ở cấp độ vĩ mô cần được tiến hành thường xuyên để theo kịp với quá trình phát triển kinh tế-xã hội Hệ thống thể chế mới càng phải tăng cường chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước, đồng thời nâng cao quyền chủ động cho các cơ sở đào tạo Nhà nước chỉ nên thể hiện vai trò, chức năng của người trọng tài điều khiển hơn là trực tiếp tham gia
Tuy nhiên hiện nay, việc chi đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước quá lớn, đứng trước bối cảnh suy thoái kinh tế, việc xã hội hóa đầu tư cho giáo dục đại học là cần thiết, để đáp ứng các yêu cầu nâng cao cả về số lượng
và chất lượng đào tạo, đảm bảo tính công bằng trong giáo dục đào tạo, vừa giảm bớt gánh nặng chi từ ngân sách, vừa khuyến khích được các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các nhà hảo tâm, và của chính người học
Ngoài ra, khi hội nhập vào khu vực ASEAN và thế giới, muốn tồn tại
và phát triển bắt buộc chúng ta phải có sức mạnh cạnh tranh Muốn có sức mạnh cạnh tranh cao và dài hơi, bắt buộc chúng ta phải đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, nhất là giáo dục đại học và phải bắt đầu ngay tức thì để có chất lượng ngày càng cao
Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số: 760 /BC-BGDĐT) ngày 29 tháng 10 năm 2009 cả nước có 376 trường, đến nay trên cả nước chúng ta đã có trên 412 trường ĐH và CĐ Hầu hết các tỉnh thành chúng ta đều có trường ĐH, CĐ Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu
Trang 28tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều Sự phân bố các cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và
cả nước
Ngày 15/5, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Hữu Đức cho biết theo Bảng xếp hạng QS (Quacquarelli Symond) vừa công bố kết quả xếp hạng các trường đại học châu Á năm 2014, lần đầu tiên, Việt Nam có ba
cơ sở giáo dục đại học được lọt vào danh sách năm nay gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Bách khoa
Hà Nội Về xếp hạng, Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 161-170, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm 191-200 và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thuộc nhóm 251-300 Hai năm trước đây, Việt Nam chỉ mới có Đại học Quốc gia Hà Nội xếp trong nhóm 201-250 [11] Tuy nhiên, ở nước ta, các đại học lớn vẫn chưa được đứng trong bảng xếp hạng 150 trường đại học tốp đầu châu Á, trong khi nhiều trường đại học của các nước láng giềng như Philippin, Inđônêsia đã có mặt Đặc biệt, theo Bảng xếp hạng QS năm 2014, tốp những cơ sở giáo dục đại học hàng đầu của châu Á là Đại học Quốc gia Singapore (NUS), tiếp đến là Viện Khoa học Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), Đại học Hong Kong, Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc), Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong, Đại học Công nghệ Nanyang (NTU - Singapore), Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc), Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (POSTECH - Hàn Quốc) và thứ 10 là Đại học Tokyo (Nhật Bản)[11]
Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trên Tuổi trẻ Online (ngày 25/10/2007): “…
Có lẽ chỉ 15 - 20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế Tương tự, cũng chỉ 15 - 20% số giáo sư, phó giáo sư có trình độ
Trang 29thật sự tương xứng Còn lại không chỉ thấp, mà có đến hơn một phần ba thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông phó giáo sư của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra trường của họ” Bài viết của tác giả Chi Mai, trên vietnam.net ngày 3/3/2014: “24.000 tiến sỹ Việt Nam đang làm gì?” đã đưa ra số liệu thống kê mới nhất của Bộ
GD-ĐT, tính đến năm 2013 Việt Nam có khoảng 24.300 tiến sỹ, trong đó có
633 tiến sĩ là giảng viên các trường cao đẳng, 8.519 tiến sĩ là giảng viên các trường đại học, còn khoảng 15.000 tiến sĩ đang làm việc ở những đâu? Bài viết cũng chỉ ra đích danh một số tên dỹ rởm “bị lộ” hiện nay đang làm việc ở đâu [17]
Mặt khác theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngân sách Nhà nước cấp cho các trường đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
tăng hằng năm (năm 2006: hơn 259,5 tỷ, năm 2008: hơn 264 tỷ đồng, năm
2011: 151,200 tỷ đồng, năm 2012: 170.349 tỷ đồng) Tuy nhiên, nguồn thu
từ hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học từ năm 2006 đến năm 2008 còn rất thấp, chỉ chiếm 3,92% trong tổng nguồn tài chính của các trường đại học Thực tế vẫn chưa có một thống kê nào đánh giá cụ thể tỷ lệ các đề tài nghiên cứu được đưa vào áp dụng, nhưng theo các chuyên gia nhận định, có khoảng 60% kết quả nghiên cứu khoa học được đưa vào ứng dụng, nghĩa là còn 40% kết quả nghiên cứu phải “trùm mền” Các nhà khoa học không biết giới sản xuất đang cần gì ở họ, còn các doanh nghiệp cũng chẳng hiểu công nghệ mình cần trong nước đã có hay chưa và không thể chủ động đưa ra yêu cầu của mình Hậu quả là doanh nghiệp tìm đến với công nghệ nước ngoài, nhà khoa học nghiên cứu theo sở thích và chuyện kết quả nghiên cứu “trùm mền” chẳng có gì là khó hiểu[45]
Trang 30Tại “Đối thoại giáo dục VN: Cải cách giáo dục ĐH” diễn ra trong hai ngày 31/7 và 1/8/2014, là chủ đề được lựa chọn cho hội thảo do Nhóm đối thoại giáo dục phối hợp với Lãnh sự quán Hoa Kỳ tổ chức tại Trung tâm Hoa
Kỳ (TP.HCM) Tại đối thoại GS Ngô Bảo Châu và gần 100 học giả, các giáo
sư và đại diện các trường ĐH trong và ngoài nước đều nhất chí giáo dục ĐH trong nước đã và đang tụt hậu ngay trong khu vực [4] Theo PGS.TS Phan Thanh Bình, giám đốc ĐHQG TP.HCM, Việt Nam đang xếp trong nhóm các nước tụt hậu về giáo dục trong ASEAN[11]
Ngoài ra, vấn đề đang được các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia, các nhà đầu tư và của người dân quan tâm, đó chính là câu chuyện “phi lợi nhuận” trong giáo dục đại học
Xin được trích dẫn một phần trong bài viết của tác giả Thuận Nhiên
được báo Diễn đàn doanh nghiệp đăng ngày 9/8/2014 với nhan đề: “Đầu tư
giáo dục nhìn từ trường ĐH Hoa Sen: Mập mờ lợi nhuận-phi lợi nhuận”
“Có DN phi lợi nhuận?
Trường Đại học Hoa Sen được thành lập năm 2006 với tên gọi Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen Tiền thân của trường là cơ sở đào tạo nghiệp
vụ tin học và quản lí Hoa Sen, có mặt kể từ năm 1991 Khi thành lập, Hoa Sen hoạt động theo tôn chỉ là môi trường tư thục hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, trực thuộc UBND TP HCM và có cơ chế tự chủ tài chính Theo quy định của Luật Giáo dục Đại học có hiệu lực từ năm 2013, các trường đại học
tư thục sẽ được tổ chức theo mô hình DN, tức có cổ đông và đại hội đồng cổ đông quyết định các chính sách lớn của nhà trường, bầu ra hội đồng quản trị, ban kiểm soát, và hội đồng quản trị bầu ra ban giám hiệu Nói một cách khác
ở một khía cạnh nào đó, ĐH Hoa Sen còn chịu quy định của Luật Đầu tư và Luật DN, Luật Chứng khoán, khi Trường vừa hoạt động trong một lĩnh vực đặc thù vừa như một DN, dù là DN…“phi lợi nhuận”
Trang 31Sự bất nhất ngay từ ban đầu của các quy định pháp lí và chịu sự chi phối của nhiều Luật khác nhau khiến hoạt động của Hoa Sen dễ bị xáo trộn, càng dễ bị rơi vào trường hợp sao nhãng mục tiêu ban đầu là hoạt động phi lợi nhuận Trên thực tế Trường được cơ quan chủ quản địa phương hỗ trợ nhiều chính sách và ưu đãi, song thay vì đầu tư toàn phần cho các hạng mục phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ, Trường đã mở ra một số các công
ty dựa trên cổ phần vốn góp của mình để thực hiện các thu chi tài chính trái quy định, trong đó có thu vượt học phí của sinh viên – một sai phạm hoàn toàn không đáng có ở một Trường mang danh không vì mục tiêu lợi nhuận - ngoại trừ mục đích rất đáng hoan nghênh của Trường là liên kết mở thêm chương trình để đa dạng hóa nội dung đào tạo đáp ứng nhu cầu của sinh viên”[27]
Như vậy, xuất phát từ lý luận và thực tiễn pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học có ý nghĩa quan trọng trong thể hiện vai trò, định hướng mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước, góp phần hoàn thiện và đổi mới giáo dục đại học; đảm bảo tính khách quan, công bằng, dân chủ cho các nhà đầu tư; là yếu tố quan trọng trong việc phát huy vai trò của các trường đại học, cao đẳng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; và cũng là cơ sở pháp lý cho việc hội nhập quốc tế về giáo dục đại học Việc điều chỉnh các quy định của pháp luật về đầu tư trong giáo dục đại học để giải quyêt những vấn đề mang tính hệ thống và cụ thể như hiện nay là cần thiết
1.3.2 Các nguyên tắc của pháp luật đầu tƣ trong giáo dục đại học
- Nguyên tắc phi lợi nhuận
Khái niệm “đại học phi lợi nhuận” đã được nhắc đến nhiều lần trong hơn 20 năm trở lại đây – kể từ khi đại học ngoài công lập đầu tiên ra đời năm
1989, đến năm 2012 khi Luật Giáo dục đại học được ban hành, khái niệm
“phi lợi nhuận” mới được “thể chế hoá” và định nghĩa cụ thể lần đầu tiên
Trang 32Mục 7 điều 4 của Luật Giáo dục đại học 2012 giải thích: Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học, các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ [16]
Điều 20 Luật Giáo dục 2005 và khoản 3 điều 11 của Luật GDĐH 2013 đều ghi rõ việc cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi
Điều 6, Nghị định số 141 ngày ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định “Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận” [25]
Theo quan điểm của giáo sư Trần Văn Thọ trên báo tuổi trẻ ngày 7/8/2014 “Những người có vốn muốn kinh doanh nên tránh xa lĩnh vực giáo dục và nhà nước phải có cơ chế để những người đó không kinh doanh được trong giáo dục”[43]
Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của đầu tư giáo dục nói chung, và giáo dục đại học nói riêng là đầu tư phát triển, đầu tư mang tính đặt thù riêng, không giống như đầu tư trong các lĩnh vực khác Nguyên tắc phi lợi nhuận cần phải thực hiện đúng với chủ chương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
- Nguyên tắc công bằng, dân chủ
Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện, có thời hạn đối với việc đào tạo một số ngành nghề quan trọng, thiết yếu, một số mục tiêu, một số địa bàn, không phân biệt thành phần kinh tế Xóa bỏ độc quyền
và đặc quyền của các trường đại học công lập và bảo đảm cho các trường đại học công lập được thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động đào tạo,
Trang 33cạnh tranh và chấp nhận rủ ro Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của cán
bộ giảng dạy, quản lý với kết quả học động của trường đại học
Nhà nước tạo ra một môi trường pháp luật phù hợp đòi hỏi phải xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu Mọi công dân có quyền tự do đầu tư thành lập các cơ sở đào tạo đại học và đào tạo những lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn mà pháp luật không cấm; có quyền bất khả xâm phạm về quyền
sở hữu tài sản hợp pháp; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội và các nguồn lực phát triển cũng nhưng trong cung cấp và tiếp cận thông tin
Chính sách phát triển GDĐH phải tối đa hóa được tất cả các lợi ích Nó vừa thừa nhận một cách tự nhiên và tôn trọng các lợi ích cá nhân với những mục tiêu kinh tế độc lập và địa vị pháp lý bình đẳng Giữ gìn nguyên tắc công bằng xã hội; đảm bảo tính đa dạng của hệ thống; đảm bảo chất lượng đào tạo
- Nguyên tắc công khai minh bạch
Vốn đầu tư cho giáo dục đại học của các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng được hình thành từ hai nguồn cơ bản là vốn trong nước và vốn nước ngoài Trong đó vốn trong nước bao gồm vốn tích lũy từ ngân sách nhà nước (vốn ngân sách nhà nước), vốn tự tạo của trường, vốn của dân cư Vốn ngoài nước được hình thành chủ yếu từ viện trợ phát triển chính thức
Luật giáo dục Việt Nam đã ghi rõ vốn đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau:
+ Nguồn ngân sách nhà nước,
+ Học phí, tiền đóng góp xây dựng trường học, các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh của các cơ sở giáo dục, các khoản tài trợ khác của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Trang 34Trên thực tê, vốn ngân sách được hình thành dựa trên sự đóng góp của nhân dân thông qua thuế, nhà nhàng năm nhà nước ta phải bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng đầu tư ngân sách cho giáo dục đại học [45] Vì vậy yêu cầu tiên quyết để thực hiện mục tiêu giáo dục, đầu tư tài chính cho giáo dục đại học cần phải được công khai, minh bạch
Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa rất rõ trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta hiện nay
Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành đã quy định Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
Điều 66, Luật Giáo dục đại học 2012 quy định về quản lý tài chính của
cơ sở giáo dục đại học “Cơ sở giáo dục đại học thực hiện chế độ tài chính, kế
toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật”[16]
Điều 102, Luật Giáo dục năm 2005 quy định về ngân sách chi cho giáo dục “Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục phải được phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” [15]
- Nguyên tắc phòng ngửa rủi ro
Đầu tư cho giáo dục khác với các đầu tư khác, đầu tư cho giáo dục mang lại lợi ích cho cá nhân và xã hội Lợi ích của một khoản đầu tư cho giáo dục được đo bằng khoản thu nhập bổ sung trung bình cho những người tốt nghiệp ở bậc học cao hơn so với những người tốt nghiệp ở bậc học thấp hơn, trong khi khống chế các yếu tố xác định thu nhập khác Chi phí đầu tư cho giáo dục bao gồm các chi phí trực tiếp – đối với cá nhân, bao gồm tất cả các chi tiêu liên quan đến việc đi học và đối với xã hội, chi phí đầy đủ của các
Trang 35nguồn lực cung cấp dịch vụ giáo dục bao gồm những khoản chi phí trợ cấp
mà các cá nhân hoặc gia đình của các cá nhân đó không phải trả, cộng với chi phí trung bình phải từ bỏ do việc đầu tư này Sinh viên còn phải chịu chi phí
cơ hội vì mất cơ hội việc làm trong thời gian theo học Mặt khác, đầu tư cho giáo dục là đầu tư mang tính dài hạn, trung bình một khóa học của sinh viên
từ 3,5 đến 4 năm, nên nhà đầu tư cần phải tính toán kỹ về nguồn vốn đầu tư
Khắc phục vấn đề đang diễn ra ở ĐH Hoa Sen hiện nay, việc điều chỉnh pháp luật phải tính toán được các yếu tố có thể xảy ra, phòng ngừa những rủi
ro, làm ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo, ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà đầu tư, đến người học
1.3.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt
Nam
- Quy định về chủ thể đầu tư
Quan hệ đầu tư nói chung cũng như quan hệ đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đề có tính xác định về cơ cấu chủ thể Pháp luật quy định những chủ thể được tham gia quan hệ pháp luật đầu tư trong lĩnh vực giáo dục xuất phát tính chất của hoạt động đầu tư, để bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và của toàn
xã hội Các chủ thể đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ đầu tư được coi là có năng lực pháp luật đầu tư Hai nhóm chủ thể
cơ bản của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đại học gồm nhà đầu tư
và cơ quản lý nhà nước về đầu tư
- Quy định về điều kiện đối với hoạt động đầu tư trong giáo dục đại
học
Một trong những đặc điểm đặc thù của hoạt động đầu tư trong GDĐH
đó là “điều kiện đầu tư” Nó thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm điều kiện đối với nhà đầu tư; hình thức đầu tư; thành lập tổ chức kinh tế; điều
Trang 36kiện về vốn và cơ sở vật chất; điều kiện về chương trình giáo dục; mở cưa thị trường đối với hoạt động đầu tư nước ngoài và rất nhiều điều kiện khác nữa
Pháp luật hiện hành quy định về điều kiện đầu tư trong giáo dục đại học theo hướng phân chia chủ thể đầu tư giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, pháp luật quy định về điều kiện đầu tư căn cứ vào thực
tế hoạt động đầu tư và cam kết quốc tế trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Quy định về hình thức đầu tư
Hình thức đầu tư là một vấn đề quan trọng, là cách tiến hành hoạt động đầu tư sinh lợi của các nhà đầu tư theo quy định của pháp luật, không những thể hiện quyền lợi của nhà đầu tư mà còn nói lên thái độ của nhà nước đối với nhà đầu tư trong mỗi thời kỳ phát triển Kết hợp tìm hiểu luật đầu tư và phạm vi đầu
tư trong GDĐH để thấy được nhà nước đang tạo cơ hội cho nhà đầu tư được tiến hành các hoạt động đầu tư dưới những hình thức khác nhau
Các quy định về hình thức đầu tư trong Luật đầu tư 2005 thể hiện một bước tiến rất lớn trong việc bảo đảm tính công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, cũng như bảo đảm tính toàn diện, thống nhất cho pháp luật đầu tư của Việt Nam, góp phần đưa pháp luật đầu tư của Việt Nam tiến gần hơn tới mức tiêu chuẩn của sự phù hợp xu hướng hội nhập Theo quy định của pháp luật, hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư được phép tiến hành bao gồm hình thức đầu tư trực tiếp và hình thức đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thưc đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia hoạt động quản lý (Khoản 2 Điều 3 Luật đầu tư), thể hiện qua các hình thức cụ thể: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nhà đầu tư nước ngoài; thành lập tổ chức kinh tế liên doanh; ký kết hợp đồng BOT, BTO, BT, BCC; đầu tư phát triển kinh doanh; mua cổ phần hoặc sát nhập doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp Đầu tư gián tiếp là đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,
Trang 37các giấy tờ có giá, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các chế định tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư [14]
Trong điều kiện và môi trường GDĐH, hình thức đầu tư là cách thức
mà pháp luật cho phép các nhà đầu tư sử dụng nguồn lực đầu tư, liên kết và thụ hưởng kết quả đầu tư
- Quy định về thủ tục đầu tư
Theo quy định của Luật đầu tư 2005 thì thủ tục đầu tư được quy định khá đơn giản và thuận tiện cho các nhà đầu tư Theo đó dự án đầu tư được phân chia thành hai loại: đăng ký đầu tư và thẩm tra đầu tư Đầu tư trong GDĐH là lĩnh vực đầu tư có điều kiện nên các dự án đầu tư phải tiến hành thủ tục thẩm tra đầu tư theo quy định chung Dự án thuộc diện thẩm tra áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nội dung thẩm tra bao gồm các nội dung: Sự phù hợp quy hoạch kết cấu hạ tầng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng; Nhu cầu sử dụng đất: tiến độ thực hiện dự án; Giải pháp về môi trường Đối với dự án thuộc danh mục đầu tư có điều kiện thì nội dung thẩm tra chính là thẩm tra các điều kiện mà dự án phải đáp ứng
1.3.4 Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trong giáo dục đại học
Pháp luật đầu tư cho giáo dục nói chung và pháp luật đầu tư cho GDĐH chỉ thực sự được xây dựng sau khi Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII (họp từ ngày 22 đến ngày 29 tháng 12 năm 1997) chính thức đưa “xã hội hóa giáo dục” vào đời sống Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và Nghị định 73, Chính phủ đã quyết định ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh và nâng cao
Trang 38chất lượng xã hội hóa trong các lĩnh vực nói trên trong đó có giáo dục nhằm thống nhất hơn nữa về nhận thức và chủ trương, có cơ chế, chính sách cụ thể,
có giải pháp bước đi thích hợp Luật Giáo dục số 11/1998/QH10 (đã hết hiệu lực), đã ghi nhận “xã hội hóa giáo dục” tại Điều 12, coi giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và toàn dân Như vậy chủ trương xã hội hóa giáo dục đã đi dần vào đời sống, được pháp luật ghi nhận và đã trở thành một khái niệm quen thuộc Theo cách hiểu chung nhất thì chính là khuyến khích sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng, nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài nước, phát huy và sử dụng hiệu quả nguồn lực này để phát triển giáo dục Thực hiện xã hội hóa nhằm hai mục tiêu lớn; thứ nhất là phát triển tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, hhhuy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục; thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao
Xã hội hóa giáo dục có ý nghĩa là nhà nước nó phải tạo ra không gian
xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở
đó ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh
về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội
Tuy còn nhiều cách hiểu khác nhau về chủ trương này nhưng đây thực
sự là nền tảng cho các quy định pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục phát triển và hoàn thiện
Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc Hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định tại điều 36
“Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi
cử và hệ thống văn bằng
Trang 39Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: Giáo dục mầm mon, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác…”[9]
Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 39 khẳng định quyền và nghĩa
vụ học tập của người dân và Điều 61 thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc phát triển giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đã khái quát được hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm các cấp học, các loại hình nhà trường; phát triển giáo dục đồng đều giữa các vùng miền, ưu tiên những vùng ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; quan tâm đến đối tượng là người khuyết tập và người nghèo Ngoài ra, xã hội hóa giáo dục cũng
ưu tiên thực hiện nhằm huy động được những nguồn lực khác trong xã hội đầu tư cho giáo dục và đào tạo [10]
Trong pháp luật đầu tư, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng được quy định là lĩnh vực được ưu đãi đầu tư từ rất sớm (Khoản 2, Điều
15 Luật khuyến khích đầu tư trong nước – sửa đổi năm 1998 – đã hết hiệu lực) Cùng thời điểm đó, Luật Giáo dục số 11/1998/QH10 quy định về xã hội hóa giáo dục và đầu tư cho giáo dục trên cơ sở phù hợp với chủ trương của Đảng và pháp luật về đầu tư
Điều 12 Luật Giáo dục 1998 quy định Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển
Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục
Trang 40Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu
tư cho giáo dục”
Có thể thấy, các văn bản pháp luật đầu tư và pháp luật về giáo dục đã bước đầu quy định về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là hoạt động quan trọng và được khuyến khích, ưu đãi
Luật đầu tư 2005 ra đời là kết quả của quá phát triển các quy định pháp luật về đầu tư Luật đầu tư 2005 thay thế Luật khuyến khích đầu tư trong nước
và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo Luật đầu tư 2005 thì “phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo” là lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Khoản 6 – Điều 27), và là lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điểm h – Khoản 1 – Điều 29) Cùng năm 2005, Luật Giáo dục mới ra đời, quán triệt tinh thần phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu (Điều 9), Luật Giáo dục 2005 quy định về đầu tư cho giáo
dục tại Điều 13 như sau:“ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Nhà nước
ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục”[15]
Mục 2, Chương VII Luật Giáo dục 2005 cũng quy định về đầu tư cho giáo dục, từ Điều 101 đến Điều 106 Các quy định này thể hiện chính sách phát triển giáo dục là ưu tiên hàng đầu, huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, từ sự đóng góp, đầu tư từ những tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng chung tay vì sự nghiệp giáo dục nước nhà
Mục 3, Chương VII Luật Giáo dục 2005 (từ Điều 107 đến Điều 110) quy định về hợp tác quốc tế về giáo dục, với tinh thần mở rộng, phát triển hợp tác quốc tế về giáo dục theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi Theo quy định của mùa này thì tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được