1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

120 457 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã và đang thể hiện vai trò to lớn của giai cấp công nhân - lực lượng cơ bản hàng đầu trong sản xuất và cơ cấu xã hội; giai cấp lãnh đạo quá trình phát t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 85

Người hướng dẫn khoa học học: PGS, TS NGUYỄN VĂN OÁNH

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1 Quan ®iÓm C¬ B¶n vÒ giai cÊp c«ng nh©n 8

1.1 Quan ®iÓm cña chñ nghÜa M¸c-Lªnin vÒ giai cÊp c«ng nh©n 8

1.2 Quan ®iÓm c¬ b¶n vÒ giai cÊp c«ng nh©n ViÖt Nam 18

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân Việt Nam 18

1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân Việt Nam 22

1.3 Đội ngũ công nhân Nam Định - Sự hình thành và phát triển của nó đến những năm 50 của thế kỷ XX 27

1.3.1 Đội ngũ công nhân Nam Định ra đời ở một địa bàn có lợi thế về tự nhiên, kinh tế, chính trị và văn hoá 27

1.3.2 Đội ngũ công nhân Nam Định ra đời sớm, gắn với cơ sở công nghiệp của tư bản Pháp qua khai thác thuộc địa đến đầu thế kỷ XX nổi bật là công nghiệp Dệt 29

Chương 2 Thực trạng và xu hướng biến đổi của công nhân Nam Định 41

2.1 Thực trạng 41

2.1.1 Sự phát triển của công nghiệp và công nhân Nam Định từ 1958-1997 41

2.1.2 Sự phát triển của công nghiệp và công nhân Nam Định từ 1997 đến nay 50

2.1.3 Những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 58

2.2 Xu thế biến đổi của đội ngũ công nhân Nam Định 64

2.2.1 Tăng nhanh về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân trong các ngành, các thành phần kinh tế 64

2.2.2 Công nhân Nam Định đang ngày càng khẳng định vai trò chủ lực của mình trong việc đẩy nhanh phát triển lực lượng sản xuất 67

2.2.3 Xu hướng công nhân luân chuyển nhiều lần và sớm ra khỏi dây chuyền sản xuất 69

2.2.4 Xu hướng biến đổi của công nhân trong các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay 70

Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp về phát triển đội ngũ công

Trang 4

3.1 Quan điểm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân Nam Định

trong giai đoạn hiện nay 723.1.1 Xây dựng giai cấp công nhân với tính cách là giai cấp lãnh đạo

thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản Việt Nam đồng thời là

lực lượng sản xuất cơ bản, lực lượng đi đầu quá trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá 72 3.1.2 Xây dựng công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng,

phát huy sức mạnh của liên minh công nhân với nông dân và đội

ngũ trí thức thành nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo ra động lực chủ yếu của sự phát

triển Nam Định 74 3.1.3 Xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hóa và sự phát triển của toàn xã hội 75 3.1.4 Xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh - điều kiện tiên quyết bảo

đảm thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là trách nhiệm

của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội trước hết là trách nhiệm

của Đảng bộ, chính quyền các cấp và sự nỗ lực vươn lên của bản

thân của mỗi người công nhân 77 3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ công nhân Nam Định hiện

nay 79 3.2.1 Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của công nhân

trong thời kỳ phát triển mới của Nam Định 79 3.2.2 Nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị; trình độ học vấn, tay nghề

và bồi dưỡng tác phong công nghiệp, thực hiện trí thức hóa công

nhân Nam Định 83 3.2.3 Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế chính sách chăm lo cải thiện đời

sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ công nhân Nam Định, tạo

động lực mới cho công nhân trong giai đoạn hiện nay 86 3.2.4 Xây dựng, đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức

cơ sở đảng, hoạt động của tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên

cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức phụ nữ trong các doanh nghiệp 93

Trang 5

Danh mục tài liệu tham khảo 105

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNXH: Chủ nghĩa xã hội CNTB: Chủ nghĩa tư bản THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung học phổ thông THCN: Trung học chuyên nghiệp

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền làm nên cuộc cách mạng XHCN Tháng mười Nga vĩ đại cũng như trong quá trình lãnh đạo toàn nước Nga xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội XHCN, V.I.Lênin đã khẳng định giai cấp công nhân là "lực lượng sản xuất hàng đầu" của nhân loại Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã và đang thể hiện vai trò

to lớn của giai cấp công nhân - lực lượng cơ bản hàng đầu trong sản xuất và

cơ cấu xã hội; giai cấp lãnh đạo quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN, bộ phận nòng cốt của liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc Hiện nay trong giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ phương hướng xây dựng giai cấp công nhân là: "Phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp xứng đáng

là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giải quyết việc làm, giảm số lượng công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Xây dựng tổ chức phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của công nhân và những người lao động, chú trọng công nhân làm việc ở các khu công nghiệp và đô thị lớn Chăm lo đào tạo cán bộ và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú." Cụ thể hoá phương hướng do Đại hội X của Đảng đã đề ra, trong Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khoá X về

mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân: " Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công

Trang 8

tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến động của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam Nói chung trong các doanh nghiệp đều có tổ chức cơ sở đảng, công đoàn Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến hiện đại trong điều kịên phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng; có tác phong công nghiệp và

kỷ luật lao động cao"

Năm 1822 lần đầu tiên Nam Định xuất hiện với tư cách cấp trấn, thay cho trấn Sơn Nam thời Lê - Trịnh Phạm vi trấn Nam Định lúc đó tương đương với hai tỉnh Nam Định, Thái Bình và một phần của tỉnh Hưng Yên hiện nay Đến năm 1832 tỉnh Nam Định được thành lập trên cơ sở giữ nguyên quy mô trấn Nam Định xưa Ngày 21 tháng 3 năm 1890 tỉnh Nam Định được chia tách thành hai tỉnh là Thái Bình và Nam Định Địa giới tỉnh Nam Định lúc đó về cơ bản trùng với địa giới Nam Định ngày nay Đến năm 1965 Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Mười năm sau, Nam Hà và Ninh Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Nam Ninh Đến năm 1997 Nam Định được tách ra thành một đơn vị độc lập Nam Định nằm ở cuối châu thổ sông Hồng, là một vùng kinh tế, văn hoá xã hội đã được hình thành trong lịch sử lâu dài của đất nước và của vùng châu thổ sông Hồng với những sắc thái riêng, truyền thống riêng mà các khu vực liền kề nhau thậm chí đã từng được tổ hợp với nó thành một đơn vị hành chính cũng không thể có được

Nam Định là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá đối với đồng bằng Bắc bộ Nam Định ở cực nam đồng bằng Bắc bộ,

Trang 9

trên vùng châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90 km về phía đông nam, gần khu kinh tế tăng trưởng phía Bắc, là mảnh đất có truyền thống lịch sử cách mạng và văn hoá lâu đời Phía đông Nam Định giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Nam giáp với Biển Đông, phía Bắc giáp với tỉnh Hà Nam

Là tỉnh đồng bằng, Nam Định có điều kiện thuận lợi cho việc mở mang phát triển kinh tế như đất đai màu mỡ, nguồn lợi thuỷ hải sản và hệ sinh thái phong phú đa dạng, bờ biển dài, ngành công nghiệp Dệt, con người có truyền thống lao động cần cù Vị thế của Nam Định tạo thời cơ thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của đội ngũ công nhân từ đầu thế kỷ XX Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam, vị thế của Nam Định tiếp tục phát triển là nhờ vào vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của đội ngũ công nhân

Trên cơ sở thực hiện đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là sau khi tái lập tỉnh(01/01/1997), kinh tế Nam Định đã có những bước phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, những lợi thế về đất đai, kinh tế biển về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bước đầu được khai thác phát huy, một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp được hình thành và đi vào hoạt động hiệu quả Thực tế các nghị quyết của Tỉnh Uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh vẫn luôn khẳng định công nhân là lực lượng sản xuất chủ yếu trong một số lĩnh vực và các thành phần kinh tế, là những chủ nhân đang cùng cả tỉnh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định đang hoạt động trong môi trường kinh tế xã hội của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sự tăng lên về số lượng, sự đa dạng của các nhóm công nhân trong nhiều thành phần kinh tế, nhiều trình độ văn hoá tay nghề với tốc độ và quy mô phát triển của đội ngũ này có thể được xem là bộ phận tiêu biểu của công nhân đồng bằng Bắc bộ Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng cùng với những đóng góp to lớn

Trang 10

và đáng tự hào đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định cũng đang đối diện với không ít các vấn đề tạo ra nguy cơ tiêu cực tới chất lượng nguồn nhân lực hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm ảnh hưởng tới bản chất giai cấp công nhân của Đảng cầm quyền

Hạn chế trên có nhiều nguyên nhân song nguyên nhân chủ yếu là đội ngũ công nhân ở Nam Định còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng

Từ thực tế đó đòi hỏi các cấp, các ngành cần quan tâm đến việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân Đây cũng chính là lý do cơ

bản mà tôi chọn đề tài "Xây dưng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá " làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Ở nước ta trong những năm gần đây vấn đề giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó đã thu hút được nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Đáng chú ý có một số công trình sau: "Một số vấn đề về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam" của GS Văn Tạo - Nhà

xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 1997; "Xu hướng biến động của giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI" - Viện Công nhân và Công đoàn - Tổng liên đoàn Lao Động Việt Nam - Nhà xuất bản Lao Động,

Hà Nội - 2001; " Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân thành phố Hồ Chí Minh" - PGS,TS Nguyễn Đăng Thành -

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2008 Các công trình đã đề cập một cách khá sâu sắc trên nhiều phương diện của giai cấp công nhân cũng như xu hướng biến động của nó trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp để xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về cả số và chất lượng, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong những năm gần đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu trực

Trang 11

cấp công nhân cũng như vai trò của nó trong thời kỳ hiện nay như: " Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" của GS,

TS Dương Xuân Ngọc; " Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" của Trần Ngọc Sơn, luận án tiến sĩ (2001); "Xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay" của Nguyễn Khánh Văn, luận án tiến sĩ (2002); luận án tiến sĩ triết học của Phạm Thu Hương về "Vấn

đề đình công của công nhân" cùng một số luân văn thạc sĩ viết về giai cấp

công nhân ở Hải Phòng, Hải Dương, Thành phố Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh Các công trình trên đã nghiên cứu một cách sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển của giai cấp công nhân, nhằm đưa ra những giải pháp để xây dựng và phát triển giai cấp công nhân phát triển cả về số và chất lượng đáp ứng với thời kỳ đổi mới hiện nay

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều các bài viết đăng

trên các tạp chí như: "Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay" - Đặng Xuân Kỳ - Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận số 9, 10 (2007); "Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất" của GS, TS Trần Văn Chử trên tạp chí Lý luận chính trị (9-2007); "Xây dựng giai cấp công nhân ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng" của PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm đăng trên tạp chí Lý luận chính trị (5-2008); "Về nguồn công nhân ở nước ta trong bối cảnh gia nhập tổ chức thương mại thế giới" của TS Nguyễn An Ninh đăng trên Thông tin CNXH lí luận - thực tiễn số 12 (12/2006); "Hướng đi cho các doanh nghiệp trong thời

kỳ khó khăn" đăng trên báo Nhân Dân (6/2008); "Nam Định - Thế và lực trong thế kỷ XXI" của Chu Viết Luân - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (5/2005); Bài viết" Nam Định - vị thế và lộ trình phát triển" của nguyên Bí thư tỉnh uỷ Trần Văn Tuấn (2005); Bài viết "Hồi sinh ở công ty Dệt Nam

Trang 12

Định" đăng trên báo Nam Định (5/2007) Các công trình trên đã đề cập tới

thực trạng của công nhân Việt Nam nói chung cũng như công nhân Nam Định nói riêng, đồng thời cũng đưa ra một số phương hướng giải quyết nhằm xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Nam Định trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay cũng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển cũng như phát huy vai trò của đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Nghiên cứu thực trạng, vai trò và xu hướng phát triển của công nhân Nam Định; trên cơ sở đó nêu ra một số quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về tình hình

đội ngũ công nhân Nam Định

* Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn bộ địa bàn tỉnh Nam Định và trọng

tâm là thời gian 1997 đến nay

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trang 13

* Nguồn tài liệu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân Đề tài còn kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất, số liệu thống kê của một số công trình có liên quan của các nhà khoa học

* Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận chung

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu đặc thù của chủ nghĩa xã hội khoa học, tiếp cận và giải quyết từ góc độ chính trị - xã hội đồng thời còn sử dụng một số phương pháp khác như khảo sát, điều tra, thống kê để làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

Góp phần nâng cao nhận thức xã hội đối với việc đánh giá vai trò của công nhân Nam Định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Đề xuất một số giải pháp trong đó có những kiến nghị nhằm từng bước phát huy vai trò của công nhân Nam Định hiện nay

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền vận dụng vào việc hoạch định chủ trương cụ thể, phù hợp trong việc phát huy vai trò của công nhân Nam Định hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn bao gồm 3 chương và 7 tiết

Chương 1 Quan điểm cơ bản về giai cấp công nhân

Chương 2 Thực trạng và xu hướng biến đổi của công nhân Nam Định Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp về phát triển đội ngũ công nhân Nam Định trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân là sản phẩm của lịch sử, nó ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của nền sản xuất hiện đại tương ứng với từng thời kỳ lịch sử, đại diện cho nền sản xuất tiên tiến có tính tổ chức và kỷ luật cao, có ý thức tập thể và lợi ích giai cấp thống nhất do nền sản xuất tập trung dựa trên nền công nghệ hiện đại tạo ra Tuy mang những đặc tính chung nhưng sự phát triển ở các mước khác nhau, cũng có phát triển khác nhau giai cấp công nhân ở các nước phát triển và các nước đang phát triển là có sự khác biệt Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu (kể cả Mácxít và không Mácxít) đều đưa ra khái niệm mới về giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay, xem đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu liên quan đến sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp nói chung và giai cấp công nhân nói riêng Trong thời đại ngày nay đặc biệt từ thập kỷ 70 của thế

kỷ XX khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học kỹ thuật cao dẫn tới cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã đưa tới bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong tính chất lao động

và cơ cấu thành phần xã hội Cùng với sự phát triển đó, xã hội có nhiều chuyển biến thì có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm giai cấp công nhân Song để có cách nhìn khách quan và khoa học tiến tới một sự giải thích thống nhất về khái niệm giai cấp công nhân tất yếu phải trở về thế giới quan

và phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngay từ những ngày đầu nghiên cứu, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học

đã nhiều lần đề cập và đưa ra những chỉ dẫn cơ bản về khái niệm giai cấp công nhân và những đặc trưng nổi bật của giai cấp này Từ năm 1845 khi bắt

Trang 15

đầu nghiên cứu về giai cấp công nhân thì Mác đã đạt ra câu hỏi: "Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì, và phù hợp với sự tồn tại của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử" [29, tr.56] Sau đó Mác và Ănghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản; giai cấp xã hội hoàn toàn sống chỉ dựa vào bán sức lao động của mình; giai cấp lao động làm thuê của thế kỷ XIX; lao động làm thuê; giai cấp vô sản hiện đại; giai cấp công nhân hiện đại; giai cấp công nhân đại công nghiệp; giai cấp vô sản công nghiệp; giai cấp công nhân công xưởng cùng với một số thuật ngữ khác mà Mác và Ănghen đã dùng trong một số tác phẩm

để biểu thị như những cụm từ đồng nghĩa với thuật ngữ giai cấp công nhân: giai cấp công nhân trong thế kỷ XIX - con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa; giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến Hơn nữa Mác và Ănghen còn dùng một số thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ từng loại công nhân trong các ngành khác nhau, trong các giai đoạn khác nhau của công nghiệp, chẳng hạn như công nhân nông nghiệp; công nhân công xưởng; công nhân khai khoáng; công nhân cơ khí; công nhân chế biến nguyên liệu Ngoài ra trong một số điều kiện cụ thể thì Mác và Ănghen còn sử dụng một số cách diễn đạt để biểu thị giai cấp công nhân như lao động làm thuê; giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình; giai cấp của những người hoàn toàn không có của Cho dù dưới góc độ nào thì tất cả các thuật ngữ trên đều là những thuật ngữ đồng nghĩa, chỉ khác nhau về hình thức biểu đạt trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể Theo Mác và Ănghen thì sự khác nhau căn bản chỉ là khác nhau giữa công nhân đứng máy và những người giúp việc cho những công nhân cơ khí đó Tất cả các cách diễn đạt nêu trên đều bàn về khái niệm công nhân được đặt trong những điều kiện cụ thể từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Ở những thập niên đầu của thế kỷ XIX khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu, khi chủ nghĩa tư bản cạnh tranh mới xuất hiện, các

Trang 16

nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nói đến công nhân là một cộng đồng người gắn với sản xuất, công nghiệp cơ khí Vào giữa thế kỷ XIX khi nền công nghiệp cơ khí đã phát triển mở rộng, bao quát nhiều lĩnh vực và cấp độ của quá trình sản xuất vật chất Trong thập niên 70-80 của thế kỷ XIX khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, Mác-Ănghen đã đề cập tới giai cấp công nhân với thuật ngữ "Vô sản lao động trí thức" Cùng với một số tác phẩm như: "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen" - Lời nói đầu;

"Gia đình thần thánh"; "Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh"; "Những nguyên

lý của chủ nghĩa cộng sản" và "Tuyên ngôn của đảng cộng sản" Trong đó tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen" - Lời nói đầu, Mác

đã viết:"Giai cấp vô sản Đức là con đẻ của nền công nghiệp non trẻ của Đức", còn trong tác phẩm "Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh" Ănghen viết:" Giai cấp công nhân Anh là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh", còn trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" Mác và Ănghen cho rằng:

"Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân đại công nghiệp" [30, tr.610)] Giai cấp công nhân ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của đại công nghiệp Do đó xét về cơ cấu các bộ phận cơ bản cấu thành giai cấp công nhân cũng thay đổi cùng với sự thay đổi của đại công nghiệp của quá trình kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất vật chất và dịch vụ

Ở thế kỷ thứ XIX khi nói về cơ cấu giai cấp công nhân Mác và Ănghen cho rằng nó bao gồm ba bộ phận cơ bản cấu thành: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân hầm mỏ Trong ba bộ phận đó thì Mác và Ănghen đã xem công nhân công nghiệp là bộ phận quan trọng nhất, có tinh thần cách mạng kiên quyết nhất, họ là hạt nhân luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản Còn phù hợp với trình

độ phát triển hiện nay của đại công nghiệp, công nhân có một cơ cấu phức tạp

Trang 17

hơn nhiều, nó bao gồm các bộ phận chủ yếu như: công nhân lao động giản đơn, công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, kỹ sư thực hành, công nhân tri thức, công nhân dịch vụ

Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" Mác - Ănghen đã viết: "Lịch

sử công nghiệp và thương nghiệp là lịch sử của các cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại quan hệ sản xuất chống lại chế độ sở hữu đang quyết định sự tồn tại và thống trị của giai cấp tư sản" [30, tr.604] Chế

độ tư sản đã trở thành quá nhỏ hẹp, không đủ để chứa đựng những của cải tạo

ra trong lòng nó Trong tác phẩm này Mác - Ănghen còn cho rằng công nhân

bị đặt dưới quyền giám sát của cả hệ thống tư sản, và "chế độ tư sản càng công khai công bố lợi nhuận là mục đích duy nhất của nó thì nó lại càng trở thành ti tiện và bỉ ổi đáng căm ghét" [30, tr.606] Từ mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến sự nổi dậy và đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản phát triển thành xung đột giữa hai giai cấp Giai cấp công nhân hiện đại được hình thành từ công nhân công trường thủ công Mác - Ănghen đã nói rõ công nghiệp hiện đại đã biến xưởng nhỏ của thợ cả gia trưởng thành công xưởng lớn của các nhà tư bản công nghiệp và khối đông đảo công nhân Đồng thời Mác và Ănghen còn nêu ra các tiêu chí và khái niệm về giai cấp công nhân Theo Mác và Ănghen giai cấp công nhân ra đời gắn liền với nền công nghiệp hiện đại và" họ được tuyển mộ từ tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội lúc bấy giờ" [30, tr.607] Họ còn là những người không có tư liệu sản xuất, là giai cấp

có lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với lợi ích giai cấp tư sản, là những người lao động làm thuê bán sức lao động và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng

dư Họ là những người có bản chất cách mạng, đồng thời trong họ có tinh thần quốc tế vô sản, có tình đoàn kết, có tính tổ chức và kỷ luật cao Họ càng ngày càng phát triển cùng với sự tăng lên không ngừng cả về mặt số và chất lượng Những vấn đề nêu trên của giai cấp công nhân đã được các nhà kinh điển rút ra thông qua việc phân tích điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của giai

Trang 18

cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó các nhà khoa học

đã đưa ra hai đặc trưng để phân biệt giai cấp công nhân với các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội

Đặc trưng thứ nhất của giai cấp công nhân là lao động trong nền sản

xuất công nghiệp hiện đại trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá ngày càng cao tạo ra của cải vật chất bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại Đây chính là điểm khác biệt giữa những người công nhân hiện đại với những người lao động khác trong các xã hội thời kỳ trung cổ Trong các công trường thủ công

và trong nghề thủ công người lao động sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì những người công nhân buộc phải phục tùng máy móc Mác

và Ănghen cho rằng: giai cấp công nhân là tập đoàn người bao gồm những người công nhân công xưởng, là sản phẩm và là chủ thể của nền đại công nghiệp, do vậy sau khi hình thành thì giai cấp công nhân không ngừng tăng lên về mặt số lượng và phát triển về mặt chất lượng Là sản phẩm đồng thời là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp, do đó giai cấp công nhân là đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại xã hội hoá ngày càng cao, đồng thời họ cũng

là đại biểu cho một phương thức sản xuất mới tiên tiến - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa Chính do điều kiện hoàn cảnh lao động trong nền sản xuất ấy nên giai cấp công nhân đã sớm hun đúc trong mình những phẩm chất riêng, và xứng đáng là lực lượng tiên phong trong phong trào cách mạng

Đặc trưng thứ hai của giai cấp công nhân theo quan điểm của các nhà

kinh điển là về vị trí của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất để duy trì cuộc sống, buộc họ phải bán sức lao động cho các nhà tư bản, bị các nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Do đó giai cấp công nhân là những người có lợi ích cơ bản đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản và trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản

Trang 19

trong xã hội tư bản chủ nghĩa Với tiêu chí nêu trên, Mác và Ănghen đã gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản - đặc trưng cơ bản của những người công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, "Giai cấp tư sản -tức tư bản mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm và chỉ kiếm được việc làm nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản, do vậy mà xã hội cũng phát triển theo" [30, tr.601] Với những tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân mà Mác - Ănghen đã nêu ra không chỉ hoàn toàn đúng với điều kiện lịch sử đương thời mà những đặc trưng cơ bản

đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị Nó chính là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học để chúng ta nghiên cứu về giai cấp công nhân hiện đại và làm sáng tỏ vai trò nhiệm vụ của nó trong thời kỳ lịch sử mới Cho dù giai cấp công nhân có gọi là giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản thì

họ vẫn là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp

Trên cơ sở phân chia xã hội thành các giai cấp tầng lớp khác nhau cùng với quan niệm về giai cấp, Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, sau khi cuộc cách mạng vô sản thành công thì giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền trong xã hội mới Khi đó địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân đã hoàn toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành giai cấp thống trị về chính trị thông qua Đảng tiên phong của mình lãnh đạo toàn xã hội, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới cũng như trong toàn bộ cuộc đấu tranh

để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp, giai cấp công nhân tự xoá mình với tính cách là một giai cấp Do đó giai cấp công nhân cũng là một phạm trù lịch sử,

nó là con đẻ, là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp giai cấp công nhân luôn phát triển và có thêm những đặc trưng mới, do vậy hiện

Trang 20

nay có nhiều ý kiến khác nhau về giai cấp công nhân cũng là điều dễ hiểu Để hiểu đúng quan niệm của Mác-Lênin về giai cấp công nhân đòi hỏi chúng ta phải có thái độ khách quan khi nghiên cứu khái niệm giai cấp công nhân Tuy nhiên căn cứ vào quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học và từ sự biến đổi của kinh tế xã hội đến bây giờ thì đặc trưng chủ yếu của công nhân là lao động công nghiệp trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào qúa trình sản xuất công nghiệp tạo ra giá trị vật chất cho xã hội Với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại tạo ra đội ngũ những người lao động có trình độ học vấn và tay nghề ngày càng cao Họ chính là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp và lao động của họ ngày càng đòi hỏi lao động có tính lao động trí óc trong những dây chuyền sản xuất công nghệ hiện đại Như vậy do sự phát triển của lực lượng sản xuất một bộ phận lao động có trình độ của trí thức đã gia nhập vào công nhân hình thành nên một bộ phận công nhân trí thức Đó là những nhà nghiên cứu sáng chế, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cán bộ quản lý trực tiếp lao động hoặc tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp Do đó hiện nay chúng ta không thể quan niệm giai cấp công nhân chỉ bao gồm những người lao động chân tay trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển máy móc cơ khí Nếu chúng ta chỉ dừng ở khái niệm giai cấp công nhân theo quan niệm truyền thống mặc dù vẫn đúng

về bản chất nhưng chưa đủ Cùng với sự biển đổi của điều kiện kinh tế - xã hội thì lực lượng xã hội này cũng như tất cả các sự vật hiện tượng khác cũng không ngừng vận động, phát triển Do vậy cần phản ánh đầy đủ hơn về giai cấp công nhân nhưng cũng không nên đưa tất cả những người lao động làm công ăn lương cũng như toàn bộ trí thức vào giai cấp công nhân Quán triệt tư tưởng của các nhà kinh điển và từ thực tiễn cách mạng cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử cụ thể có thể đưa ra định nghĩa thứ nhất về giai cấp

công nhân: "Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại với nhịp

Trang 21

độ phát triển của lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay"

Ở các nước tư bản giai cấp công nhân là giai cấp bị áp bức, bị tước đoạt hết mọi quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản trong nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa và bị giai cấp thống trị bóc lột giá trị thặng dư Do đó giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản về lợi ích căn bản và họ là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động và các lực lượng khác trong toàn bộ xã hội, tiến hành cuộc cải biến cách mạng, thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội

Ở các nước XHCN giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu, đại đa số làm việc trong các nhà máy xí nghiệp, cơ sở sản xuất thuộc sở hữu nhà nước và một bộ phận làm việc trong các thành phần kinh tế cá thể tư nhân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, thực hiện cuộc cải biến cách mạng, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá

độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên định nghĩa này chưa làm rõ được tính phức tạp của cơ cấu giai cấp công nhân trong nền kinh tế thị trường XHCN như ở Trung Quốc hoặc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Trên thực

tế vẫn còn một bộ phận công nhân trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bị nhà tư bản bóc lột, chưa phải là những người làm chủ, nhất là trong giai đoạn đầu khi bộ phận này chiếm số đông Hơn nữa định nghĩa này cũng chưa phản ánh được xu thế vận động và tính phức tạp đa dạng của cơ cấu giai cấp trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng như sự gia tăng đầu tư của

Trang 22

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thế kỷ XX được coi là thế kỷ đem lại bước tiến dài trong lịch sử về khoa học và tổ chức nền sản xuất hiện đại Chính những sự thay đổi trong điều kiện cụ thể đã tác động sâu sắc đến

sự biến đổi cơ cấu, số lượng, chất lượng, ngành nghề, phương thức và phong cách lao động cũng như năng lực trí tuệ của giai cấp công nhân

Xuất phát từ thực tiễn ta có thể đi tới một định nghĩa thứ hai về giai cấp công nhân, mà thể hiện được toàn bộ đặc trưng của nó trong giai đoạn hiện nay: "Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định hình thành và phát triển gắn liền với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại xã hội hóa theo xu hướng quốc tế hoá cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại hiện nay, là động lực chủ yếu và là lực lượng lãnh đạo quá trình chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới Trong các nước tư bản chủ nghĩa do không có, hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, họ phải bán sức lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; trong các nước xã hội chủ nghĩa họ cùng với nhân dân lao động làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau lao động sáng tạo vì lợi ích của

xã hội và giai cấp mình ; Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (trong nước, thế giới) còn bộ phận công nhân làm thuê, bị bóc lột - cơ cấu giai cấp công nhân đa dạng phong phú nhưng phức tạp"

So với định nghĩa thứ nhất về giai cấp công nhân thì trong định nghĩa nêu trên đã bổ sung thêm trình độ "tri thức" công nhân trí thức và cơ cấu giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH Khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại nêu trên đã phản ánh khá đầy đủ và khoa học về một lực lượng lao động một giai cấp tiến bộ, cách mạng nhất trong thời đại ngày nay Từ khái niệm giai cấp công nhân nêu trên họ vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại Quan hệ giữa giai cấp công nhân hiện đại với nền sản xuất công nghiệp hiện đại là mối quan hệ cơ bản nhất Diễn đạt

Trang 23

mối quan hệ đó Mác - Ănghen đã khẳng định giai cấp vô sản Đức là con đẻ của nền công nghiệp non trẻ của Đức; giai cấp công nhân Anh là sản phẩm cuộc cách mạng công nghiệp Anh.Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" Mác - Ănghen đã viết: "Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với

sự phát triển của đại công nghiệp; còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp ấy" Như vậy, chỉ khi có công nghiệp hiện đại mới

có giai cấp công nhân hiện đại Trên thế giới bắt đầu xuất hiện giai cấp công nhân hiện đại từ giữa thế kỷ XVIII, từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh với việc phát minh ra máy hơi nước và áp dụng vào nhiều lĩnh vực, rõ nhất là lĩnh vực giao thông với việc sản xuất ra đầu máy xe lửa Sức người, sức ngựa, sức trâu bò được thay thế bằng sức máy Đây là thời kỳ cơ khí hoá, vì thế chủ nghĩa Mác-Lênin coi giai cấp công nhân công nghiệp bộ phận chế tạo máy là

bộ phận cốt lõi của giai cấp công nhân bên cạnh công nhân ngành đường sắt, công nhân khai khoáng, công nhân nông nghiệp Cuối thế kỷ XIX, khoa học phát hiện ra điện và quá trình điện khí hoá bắt đầu với việc đưa điện vào sản xuất, lưu thông và sinh hoạt Giai cấp công nhân hiện đại được bổ sung thêm bằng đội ngũ công nhân ngành điện Công nghiệp hiện đại xuất hiện ở nơi nào, lĩnh vực nào thì đem đến nơi đó, lĩnh vực đó năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cùng với ánh sáng văn minh, đẩy lùi nghèo nàn

và lạc hậu Vì vậy, Lênin đã viết: chủ nghĩa cộng sản = chính quyền Xôviết + điện khí hoá toàn quốc Diễn đạt quan hệ giữa giai cấp công nhân hiện đại với nền sản xuất công nghiệp hiện đại, chủ nghĩa Mác-Lênin coi giai cấp công nhân là chủ thể với ý nghĩa là người sản xuất ra máy móc, giai cấp điều khiển, điều hành, vận hành, theo dõi, giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động của máy móc Giai cấp công nhân hiện đại không chỉ cần sự khéo léo của đôi bàn tay vàng, mà còn cần sự sáng tạo của khối óc Chính giai cấp công nhân bằng bàn tay, khối óc mà quá trình lao động của họ đã tạo ra sự vĩ đại của thế giới, tạo

ra sự vĩ đại của nước Anh [27, tr.205] Theo chủ nghĩa xã hội khoa học, giai

Trang 24

cấp công nhân hiện đại vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại Đặc trưng cơ bản của nền sản xuất công nghiệp hiện đại do giai cấp công nhân hiện đại tiến hành là một nền sản xuất bằng máy móc với kỹ thuật hiện đại thường xuyên được cách mạng hoá bởi sự phát triển của cách mạng khoa học và sự vận dụng ngày càng nhanh những thành tựu cách mạng khoa học vào sản xuất, làm cho khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; nền sản xuất xã hội hoá ngày càng cao theo xu hướng quốc tế hoá [30, tr.610] Tương ứng với nền sản xuất công nghiệp hiện đại là một giai cấp công nhân hiện đại với đặc trưng cơ bản là giai cấp công nhân lao động trí óc hình thành từ hàng

ngũ sinh viên [32, tr.613] và "một giai cấp vô sản chỉ có thể tồn tại trên quy

mô lịch sử thế giới" [27, tr.289]. Do công nghiệp hiện đại phát triển với năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm đã làm cho những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp bị phá sản rơi xuống hàng ngũ giai cấp công nhân

Vì vậy "giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp, tầng lớp của dân cư" [30, tr.607] Trong xã hội tư bản chủ nghĩa cùng với hai giai cấp cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa còn có các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội Do đó mà cả giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cả lao động chân tay và lao động trí óc đều bị giai cấp tư sản áp bức bóc lột, do vậy họ đều có nhu cầu được giải phóng khỏi áp bức bóc lột bất công khỏi nghèo đói lạc hậu.Đây là cơ sơ để hình thành liên minh giữa giai cấp công nhân với đa số nhân dân lao động Đúng như Ănghen chỉ ra: "Lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đã phát triển tới giai đoạn trong đó giai cấp bị bóc lột

và bị áp bức tức là giai cấp vô sản, không còn có thể tự giải phóng khỏi ách

áp bức của giai cấp bóc lột mình tức là giai cấp tư sản, nếu không đồng thời

và vĩnh viễn giải phóng toàn xã hội khỏi sự bóc lột và áp bức, khỏi tình trạng phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp" [31, tr.523]

Trang 25

1.2 Quan điểm cơ bản về giai cấp công nhân Việt Nam

Từ thực tiễn phong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX và kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân, Chủ tịch

Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, các nhà khoa học nêu ra khái niệm giai cấp công nhân như sau:

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam là một trong những lực lượng lao động

xã hội mới, là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa mà thực dân Pháp tiến hành ở nước ta từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) giai cấp công nhân nước

ta mới chỉ có khoảng 10 vạn người, trình độ thấp kém Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929), giai cấp công nhân đã tăng lên 22 vạn chiếm 1,2% dân số Nhiều xí nghiệp tập trung khá đông công nhân như nhà máy xi măng Hải Phòng có 1500 thợ, ba nhà máy Dệt ở Nam Định, Hải Phòng, Hà nội cũng có tới 1800 thợ, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn cũng có tới 3000 thợ Do chính sách chiếm ruộng đất ráo riết của thực dân Pháp đã diễn ra tình trạng vô sản hoá không lối thoát trong nông dân Việt Nam Ban đầu giai cấp công nhân nước ta đa số từ nông dân bị phá sản trở thành công nhân, một bộ phận từ thợ thuyền, thợ thủ công Số thợ thuyền chuyên môn giỏi từ các trường kỹ nghệ thực hành, từ những lính thợ trưởng thành tay nghề được đào tạo trong các cuộc chiến tranh và do Pháp tiến hành Chính trong điều kiện lịch sử ấy đã làm cho giai cấp công nhân Viêt Nam không ngừng tăng lên về số lượng Cùng với sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội họ đã bắt đầu chú ý đến ý thức giai cấp Tính giai cấp công nhân ở nước ta trong thời kỳ này biểu hiện ở sự xuất hiện các cuộc bãi công biểu tình đầu tiên của giai cấp công nhân có sự tham gia của nhiều nhân vật tiêu biểu như cố Chủ tịch Tôn

Trang 26

Đức Thắng Giai cấp công nhân Việt Nam đã thực sự hình thành từ đầu thế

kỷ XX nhưng họ mới chỉ ở giai đoạn "giai cấp tự mình" hay "tự phát" Khi giai cấp này chuyển sang giai đoạn hình thành giai cấp "cho mình'" hay "tự giác" số công nhân hiện đại đã được tăng lên và phân bố thành công nhân mỏ, công nhân đồn điền, công nhân xí nghiệp khác Đồng thời giai cấp công nhân Việt Nam có tổ chức tiền thân là Việt Nam cách mạng đồng chí hội, các nhóm cộng sản, có Công hội đỏ và làn sóng bãi công chính trị phát triển mạnh mẽ trong những năm 1925-1929 với nhiều cuộc bãi công nổi tiếng như cuộc đấu tranh của công nhân đóng tàu Ba son Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam; vừa mới lớn lên giai cấp công nhân Việt Nam

đã được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất Giai cấp công nhân Việt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng triệt để nhất, đa số xuất thân từ nông dân lao động bị thực dân, phong kiến bóc lột bần cùng hoá nên có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác Trong cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ chống giặc ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân giai cấp công nhân đã xác lập được quyền lãnh đạo và thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở xác lập và củng cố liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội trí thức nên cách mạng nước ta đã vượt qua mọi khó khăn thử thách đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền giai cấp công nhân luôn phát huy được bản chất cách mạng trong xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, luôn là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, là lực lượng tiên phong, là lực lượng chủ đạo, là cơ sở xã hội chủ yếu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất Cùng với quá trình thực hiện nhất quán đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 27

đất nước và chủ động thực hiện hội nhập kinh tế thế giới, giai cấp công nhân

nước ta đang có sự chuyển biến ngày càng rõ nét Hiện nay giai cấp công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và trí óc hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp và dịch vụ có tính chất công nghiệp thu nhập bằng tiền lương và tiền công, những kỹ sư cán bộ kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và sản xuất công nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần, lao động trực tiếp trong các nông lâm trường Như vậy trong giai đoạn hiện nay giai cấp công nhân

Việt Nam cũng đã từng bước có sự thay đổi phù hợp với sự phát triển của đất nước Cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta qua mỗi thời kỳ đã góp phần làm cho giai cấp công nhân Việt Nam không ngừng lớn mạnh xứng đáng là lực lượng đi đầu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên để có sự thay đổi đó cần phải có công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Có

lẽ điều cốt yếu nhất, có tính chất quyết định nhất đối với giai cấp công nhân,

đối với cách mạng Việt Nam mà Hồ Chủ tịch đề cập đến: một là cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường nào; hai là do giai cấp nào lãnh đạo.Vấn đề

thứ nhất Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát: Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga, con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin Còn giai cấp lãnh đạo cách mạng Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ:

"Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất

có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng bằng cách liên minh với giai cấp nông dân" Trong những ngày đầu khi giai cấp này vừa mới được hình thành Người đã có nhiều bài viết quan trọng về giai cấp công nhân nước ta, khẳng định vai trò to lớn của giai cấp công nhân thông qua các tác phẩm của mình Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam

Trang 28

chúng ta có thể hiểu nội hàm của khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trong xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến, công nhân là những người lao động làm thuê cho chủ nghĩa tư bản đế quốc, bị bóc lột nặng nề Công nhân là những người đấu tranh dũng cảm nhất, cách mạng nhất Nhờ có lý luận cách mạng soi đường, công nhân

đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Giai cấp công nhân có thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình nhờ có Đảng tiên phong, có liên minh công-nông vững chắc, có công đoàn làm trường học cách mạng cho giai cấp Sau khi cách mạng giành được chính quyền nhà nước, công nhân không còn

là người làm thuê nữa mà đã cùng với các tầng lớp nhân dân lao động khác trở thành người làm chủ về mọi mặt, làm chủ trong cả sản xuất và phân phối

Sứ mệnh của công nhân trong chủ nghĩa xã hội là phải nâng cao năng suất lao động, tham gia quản lý sản xuất, quản lý xã hội, đi tiên phong trong xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" [33, tr.206] Tiếp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước ta cũng đã có bài viết về giai cấp công nhân Việt Nam

1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân Việt Nam

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần II của Đảng (2/1951), trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương đã xác định: "Công nhân Việt Nam tuổi còn trẻ song ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam, số lượng còn ít Từ khi kháng chiến toàn quốc, một số phân tán về nông thôn và một số ít đổi nghề nhưng sau đó một phần đã tập hợp lại trong vùng bị tạm chiếm và số lượng công nhân trong vùng tự do cũng tăng lên Còn về chất lượng giai cấp còn nhiều quan hệ với ruộng đất, giai cấp công nhân Việt Nam chưa được thuần tuý vô sản lắm, nhưng chỉ có giai cấp công nhân Việt Nam mới có đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến thành công Giai cấp công nhân làm

Trang 29

cách mạng lật đổ giai cấp tư sản thì phải xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa cộng sản từng bước một Về điểm này giai cấp công nhân khác với nông dân và thợ thủ công là những người sản xuất nhỏ trong xã hội cũ" [3]

Tại Hội nghị mở rộng Ban chấp hành Tổng công đoàn Việt Nam (1966)

đã đưa ra những luận điểm, một định nghĩa khoa học về giai cấp công nhân Việt Nam trong cách mạng xã hội chủ nghĩa: "Là con đẻ của xã hội tư bản chủ nghĩa, gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp và là sản phẩm của bản thân đại công nghiệp, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, xã hội hoá

và do đó nó là giai cấp tiên tiến nhất có khả năng cải tạo cả thế giới, tổ chức nên chế độ xã hội mới, xã hội tương lai của loài người là xã hội công sản chủ nghĩa Giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất trong tay, bị giai cấp tư sản bóc lột và bần cùng hoá cho nên nó là giai cấp cách mạng triệt để nhất có khả năng đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, tạo nên một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, do

đó thúc đẩy nền sản xuất xã hội không ngừng phát triển Giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển của nền công nghiệp [9, tr.543]

Các luận điểm trên đây chứa đựng nội hàm của khái niệm giai cấp công nhân Nội hàm của khái niệm giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa còn được biểu hiện cụ thể hơn thông qua các Nghị quyết của các đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là từ Đại hội VII của Đảng năm 1991 Từ các quan điểm nêu trên về giai cấp công nhân Việt Nam càng khẳng định quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin về giai cấp công nhân hiện đại vẫn là cơ sở phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu giai cấp

công nhân Việt Nam Cần phải khẳng định rằng, đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân mà các ông nêu lên là lao động công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sản xuất tiên tiên tiến hiện đại Chính tính chất lao động này - lao

Trang 30

động mang tính chất xã hội hoá cao - mới là yếu tố quyết định địa vị tiên tiến của giai cấp công nhân trong sản xuất cũng như trong đời sống chính trị - xã hội, đạo đức, quyết định bản chất, khả năng, tinh thần triệt để và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam; quyết định tính tổ chức kỷ luật và tinh thần đoàn kết giai cấp Với sự phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ trong

nhiều lĩnh vực sản xuất vật chất đã có nhiều kỹ thuật viên, cán bộ kỹ thuật, kỹ

sư thực hành, công nhân lành nghề, người quản lý điều hành trực tiếp sản xuất đều thuộc về giai cấp công nhân Điều đó dẫn tới sự thay đổi trong qua niệm về giai cấp công nhân

Cho đến nay có nhiều định nghĩa về giai cấp công nhân Việt Nam Chẳng hạn định nghĩa của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (1999) cho rằng" giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn liền với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do nắm giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong quá trình phát triển của lịch sử hiện đại Việt Nam" Theo Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì giai cấp công nhân Việt Nam được hiểu như sau: "Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn người mà lao động của họ gắn với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công nghiệp hiện đại, thu nhập chủ yếu của họ bằng làm công ăn lương, là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm xây dựng một nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức hiện đại vì một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" [34] Với định nghĩa này khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay phản ánh được một số nội dung chủ yếu Thứ nhất, giai cấp công nhân Việt Nam là tập đoàn những người lao động làm công ăn lương Thứ hai, về tính chất lao động họ là những người hoạt động trong các

Trang 31

lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại Thứ ba, về vai trò vị trí của giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng sản xuất chủ yếu của nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại, điều

đó phản ánh tính đa dạng phong phú của cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời phản ánh xu thế trí thức hoá công nhân trong kinh tế tri thức Hơn nữa giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ là lực lượng sản xuất chủ yếu mà còn là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Đây được coi là cơ sở để nhận biết, phân biệt giai cấp công nhân Việt Nam với các giai tầng khác trong cơ cấu xã hội, đồng thời để phân biệt giai cấp công nhân Việt Nam với giai cấp công nhân trên thế giới; cơ sở để đánh giá thực trạng, xu hướng biến đổi và xác định chủ trương chính sách để xây dựng giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh toàn diện

Tiến sĩ Bùi Đình Bôn cho rằng: "Giai cấp công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động công nghiệp và dịch vụ mà lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp; những kỹ sư, cán bộ kỹ thuật nghiên cứu áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, quốc phòng, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, xí nghiệp cổ phần, tiểu công nghiệp khu vực tập thể và tư nhân công nhân" [2] Họ đã và đang là lực lượng lãnh đạo cách mạng, lực lượng xã hội nòng cốt trong công cuộc xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN ở Việt Nam, là lượng sản xuất cơ bản nhất , có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Như vậy một trong những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu và nhiều hình thức tổ chức kinh doanh Chính từ những đặc trưng kinh tế đó chẳng những quy định tính chất đa dạng và phức tạp của cơ cấu xã hội nói chung mà còn quy định tính chất đa dạng của cơ cấu giai cấp công nhân nói riêng Có

Trang 32

thể nói vấn đề khó khăn nhất hiện nay là xác định khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Qua nghiên cứu thấy rằng khái niệm giai cấp công nhân là một phạm trù lịch sử,

có sự khác nhau giữa các nước và ngay trong một nước cũng có sự khác nhau giữa các thời kỳ phát triển, đồng thời ở mỗi nước cũng luôn có những ý kiến khác nhau Có một số ý kiến cho rằng hiện nay thực trạng giai cấp công nhân còn đang hình thành, do đó để có một định nghĩa đầy đủ về giai cấp công nhân sẽ còn mờ nhạt Nhiều vấn đề cần bàn và làm rõ để xác định cụ thể những ai được xếp vào giai cấp công nhân như: có xếp tất cả 3,2 triệu đảng viên và giai cấp công nhân không?; tại sao một người từ giai cấp công nhân học giỏi trở thành tri thức lại ra khỏi giai cấp công nhân? những người có trình độ đại học có thuộc về giai cấp công nhân; Có ý kiến đề nghị xác định khái niệm giai cấp công nhân là những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ có đúng không Từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa quan điểm của các đồng chí lãnh đạo Đảng Nhà nước (Trường Chinh, Lê Duẩn); từ thực tiễn giai cấp công nhân Việt Nam và quan điểm của các cơ quan nghiên cứu khoa học và các nhà khoa học Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã đưa ra khái niệm về

giai cấp công nhân Việt Nam như sau: "Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh

và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp" Với khái niệm này theo số liệu của tổng cục thống kê đã xác định

được bước đầu số lượng công nhân nước ta đang không ngừng tăng lên trong quá trình phát triển, có sự đan xen chuyển dịch giữa các giai cấp tầng lớp xã hội Do đó khái niệm này cũng chưa thể hoàn chỉnh Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước thì việc phân định thành phần giai cấp

Trang 33

và các tầng lớp xã hội chủ yếu gắn với tính chất công việc đang làm của mỗi người Do vậy giữa các thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội xuất thân và hiện tại của mỗi người, ở mỗi thời điểm tuỳ thuộc vào tính chất công việc đang làm mà có thể xác định được người đó có thuộc giai cấp công nhân Đã là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thì về nguyên tắc đều mang bản chất giai cấp công nhân, là thành viên của đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Nhưng tuỳ thuộc vào công việc đang làm hiện tại của mỗi người mà chúng ta có thể xác định một cách cụ thể thuộc về giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nào Từ cơ sở đó, xác định được cụ thể số lượng của giai cấp công nhân nước ta Theo khái niệm công nhân đã nêu trên hiện nay có hơn hai triệu lao động ở các hộ kinh doanh cá thể (có thuê lao động) trong các ngành khai khoáng, chế biến, chế tạo được tính là công nhân Do vậy nếu xác định giai cấp công nhân chỉ bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp thì lại không bao gồm số lao động này Các hoạt động kinh doanh du lịch, khách sạn dưới hình thức doanh nghiệp được xếp vào hoạt động dịch vụ có tính chất công nghiệp, lao động trong lĩnh vực này cũng được gọi là công nhân Không xếp vào hoạt động có tính chất công nghiệp những người lao động trong các nhà hàng khách sạn của các hộ kinh doanh cá thể

Giai cấp công nhân nước ta, từ chỗ là những người vô sản làm thuê trong các chế độ cũ, nay đại bộ phận đã trở thành những người là chủ xã hội, không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng; phát huy truyền thống tốt đẹp của cả dân tộc, của giai cấp Họ có Đảng đưa đường chỉ lối, có tổ chức công đoàn làm trường học, luôn đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và là lực lượng chủ chốt trong xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Giai cấp công nhân nước ta đóng vai trò tiên

Trang 34

phong trong sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh" Họ cũng là người có đóng góp tích cực vào phong trào công nhân quốc tế và tiến bộ xã hội của toàn thể loài người trong thời đại mới Cho đến nay cơ cấu giai cấp công nhân có biến chuyển nhanh chóng, đặc điểm tính chất của công nhân cũng có những cái mới, vị trí vai trò của giai cấp công nhân cũng được nâng cao hơn trước, cho nên với định nghĩa nêu trên về giai cấp công nhân nước ta vẫn còn những hạn chế bất cập, do đó cần phải được bổ sung hoàn thiện để đi tới một định nghĩa đầy đủ hơn

1.3 Đội ngũ công nhân Nam Định - Sự hình thành và phát triển của nó đến những năm 50 của thế kỷ XX

1.3.1 Đội ngũ công nhân Nam Định ra đời ở một địa bàn có lợi thế

về tự nhiên, kinh tế, chính trị và văn hoá

Nam Định là một tỉnh ven biển phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng toạ độ địa lý 19 độ 55 phút đến 20 độ 16 phút vĩ độ bắc và 106 độ 33 phút kinh độ đông Nam Định có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đường sắt xuyên Việt đi qua tỉnh dài 42km với 5 ga rất thuận tiện cho việc vận chuyển hành khách và hàng hoá, có quốc lộ 10, quốc lộ 21 qua tỉnh dài 108 km đã và đang được đầu tư và nâng cấp mở rộng thành đường chiến lược ven biển Bắc bộ, có hệ thống sông Hồng, sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài 251 km cùng với hệ thống cảng sông Nam Định, cảng biển Thịnh Long mới được xây dựng rất thuận tiện cho việc phát triển vận tải thuỷ Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng của khu vực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Nam Định cách Hà Nội 90 km, cách cảng Hải Phòng 100km, đó là hai thị trường lớn để giao lưu phát triển hàng hoá, trao đổi kỹ thuật, công nghệ thông tin và kinh nghiệm quản lý kinh doanh Tỉnh có diện tích tự nhiên khoảng 1.637,4km2 bằng khoảng 0,5% diện tích cả nước, đứng thứ 50 trên 61 tỉnh thành phố So với 11 tỉnh ở vùng đồng bằng bắc bộ diện tích tự nhiên của tỉnh

Trang 35

chỉ đứng sau tỉnh Hà Tây (cũ) Dân số Nam Định hiện nay có 1.825.771 triệu người, chiếm khoảng hơn 2% dân số cả nước và đứng thứ 8 so với 61 tỉnh thành cả nước So với đồng bằng Bắc bộ dân số Nam Định chỉ đứng sau Thủ

đô Hà Nội Hiện nay Nam Định có 10 đơn vị hành chính gồm một thành phố

và chín huyện Đó là Thành phố Nam Định, các huyện: Mỹ Lộc; Nam Trực; Trực Ninh; Xuân Trường; Giao Thuỷ; Hải Hậu; Nghĩa Hưng; Ý Yên và Vụ bản Nam Định là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị quân sự, một cửa ngõ của kinh thành Thăng Long thời trung đại Trước khi thực dân Pháp xâm lược vùng đất Nam Định đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, có mặt trong mọi biến cố thăng trầm của đất nước Thời vua Đinh vua Lê đóng

đô ở Hoa Lư, Nam Định là cửa ngõ, là phên dậu của kinh thành Thời Trần, Nam Định trở thành kinh đô thứ hai, là hậu phương và chiến trường dữ dội trong kháng chiến Nguyên Mông lần thứ hai Từ thế kỷ XVI Nam Định từng

là chiến trường ác liệt trong cuộc xung đột Nam - Bắc triều, trong chiến tranh nông dân Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ XVIII, trong phong trào nông dân nửa đầu thế kỷ XIX Nam Định cũng là một trong những nơi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Bắc kỳ Những biến cố lịch sử của đất nước đều

có sự đóng góp của vùng đất và con người Nam Định, nó chứng tỏ vị thế của vùng đất này; mặt khác nó cũng ảnh hưởng lớn tới chiều hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nam Định

Là một tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, Nam Định có tiềm năng đất đai lớn Phù sa các sông Hồng và sông Thái Bình đã bồi đắp cho tỉnh thành mảnh đất mầu mỡ phì nhiêu Với tốc độ lấn biển hàng trăm mét hàng năm, Nam Định có tiềm năng đất đai để phát triển kinh tế cải thiện đời sống nhân dân Nam Định là một trong ba đỉnh của tam giác phát triển của đồng bằng sông Hồng, một vùng đông dân trù phú, với những nghề truyền thống cả trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trang 36

Là mảnh đất có nhiều truyền thống văn hoá nhờ đó đã nêu lên được những nét đặc trưng của văn hoá Nam Định trong ăn mặc, ở và đi lại, trong phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo; nếp sống văn minh trong hoàn cảnh còn thiếu thốn; một thái độ ứng xử hợp tình, hợp lý đối với mình, với người Nam Định là vùng có truyền thống hiếu học và có thành tựu lớn trên lĩnh vực giáo dục chỉ sau Hà Nội Chẳng hạn thời kỳ thực dân Pháp đô hộ ở Nam Định có trường Thành Chung là một trong những nguồn cung cấp chính những chiến sĩ và những nhà lãnh đạo kiên trung, kiệt xuất cho phong trào cách mạng nước ta như Trường Chinh, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Danh Đới Năm 1958 Nam Định được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba về thành tích xuất sắc trong phong trào diệt "giặc dốt" Từ năm

1975 cho đến nay hơn 30 năm qua, ngành giáo dục - đào tạo Nam Định liên tục là đơn vị giáo dục tiên tiến xuất sắc Theo thống kê năm 2001, Nam Định

là một trong số 12 tỉnh trong cả nước có chỉ số phát triển con người cao Hiện nay nhiều trường có bề dày truyên thống đã có thành tích cao về giáo dục, đạt danh hiẹu trường tiên tiến, xuất sắc, được nhân cờ, bằng khen, huân chương của Đảng và Nhà nước trao tặng như: Trường Cao đẳng sư phạm, Trường Trung học Cơ điện, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong

1.3.2 Đội ngũ công nhân Nam Định ra đời sớm, gắn với cơ sở công nghiệp của tư bản Pháp qua khai thác thuộc địa đến đầu thế kỷ XX nổi bật

là công nghiệp Dệt

Nam Định có quan hệ chặt chẽ với các vùng Đông bắc và Bắc trung bộ,

là nơi có trung tâm công nghiệp ra đời sớm nhất ở Bắc kỳ Trong các ngành công nghiệp, công nghiệp Dệt được tư bản Pháp quan tâm hàng đầu Từ lâu Nam Định đã có nhiều làng dệt thủ công truyền thống vì đất đai khí hậu rất thích hợp cho các loại cây nguyên liệu cho ngành dệt như gai, đay, bông và dâu tằm Nam Định cũng là mảnh đất của nông nghiệp, cư dân đông đúc, nguồn nhân công dồi dào Tất cả những thuận lợi đó đủ điều kiện cho thực

Trang 37

dân Pháp xây dựng một khu công nghiệp Dệt lớn nhất trong cả nước Để đầu

tư ngành tơ tằm, từ năm 1908 đến 1913 thực dân Pháp đã đầu tư tới 702.000 Phrăng Năm 1924 tổng số công nhân làm việc trong nhà máy tơ lên tới 6000 người Xuất khẩu tơ không ngừng tăng lên, năm 1929 nhà máy tơ đã trở thành một cơ sở bề thế Năm 1900 một số nhà tư sản Pháp hùn vốn với tư sản Hoa kiều để mở rộng quy mô sản xuất sợi Trong quá trình sản xuất, với lợi thế về

kỹ thuật, vốn, tư sản Pháp lấn át đẩy tư sản Hoa xuống vị trí phụ thuộc, độc quyền quản lý sản xuất Tốc độ phát triển của các nhà máy dệt, sợi tăng lên không ngừng Ngoài các nhà máy dệt sợi ra Nam Định còn có nhiều nhà máy khác như nhà máy rượu Nam Định, nhà máy nước, nhà máy điện, nhà máy sản xuất các loại thảm len, dừa Một số nhà tư sản Nam Định cũng đầu tư vốn

để mở mang công nghiệp ở mức độ vừa và nhỏ, họ có thể chung vốn với người Pháp hoặc tự mở các xưởng dệt như xưởng dệt Phùng Hưng Như vậy vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Nam Định ngành công nghiệp đã hình thành và phát triển nhanh chóng Cùng với Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn nhất ở Đông Dương Công nghiệp, đặc biệt công nghiệp dệt đã trở thành ngành thu hút hàng vạn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia sản xuất Tuy nhiên ngành công nghiệp thời này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Giá trị sản lượng công nghiệp cao nhưng thành quả lao động đó lại chủ yếu rơi vào giới chủ nên người lao động chẳng được hưởng là bao Công nghiệp Nam Định trong thời kỳ này chủ yếu là công nghiệp nhẹ, nhằm khai thác những nguồn lợi của địa phương Những đặc điểm trên của công nghiệp Nam Định cũng phần nào phản ánh đúng những đặc điểm chung của nền công nghiệp nước ta dưới thời Pháp thuộc Năm 1883, sau khi chiếm xong tỉnh Nam Định thực dân Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa nhằm vơ vét của cải, bóc lột nhân công làm giàu cho chính quốc và phục vụ cho cuộc sống xa xỉ của bộ máy thống trị ở địa phương Để tạo ra nguồn công nhân rẻ mạt, chính quyền thực dân địa phương

Trang 38

đã cấu kết với tay sai phong kiến, một mặt để bần cùng hoá những người nông dân bằng những thủ đoạn bóc lột trắng trợn buộc họ phải rời bỏ làng quê đồng ruộng để làm thuê trong các nhà máy, mặt khác chúng còn xô đẩy tầng lớp thợ thủ công bằng cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, ép họ bị phá sản và trở thành những người làm thuê Quá trình khai thác nguồn lợi kinh tế ở Nam Định, bên cạnh việc du nhập một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thực dân Pháp vẫn còn duy trì phương thức sản xuất cũ trong

xã hội phong kiến lỗi thời lạc hậu Dưới tác động của quá trình khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam nói chung và Nam Định đã có chuyển biến sâu sắc Ở Nam Định sau khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế quốc Pháp, được

sự ủng hộ của chính quyền thực dân, bộ máy quan lại cường hào trong các thôn xã đã ra tay đàn áp nông dân bằng nhiều thủ đoạn thâm độc như khủng

bố, tô tức nặng nề, mê hoặc họ bằng thần quyền giáo lý Ruộng đất của nông dân bị địa chủ nhà chung chiếm đoạt, ở Nam Định địa chủ có 2% dân số nhưng chiếm tới 20% ruộng đất Bị áp bức bóc lột nặng nề, thiên tai thường xuyên đe doạ, người nông dân không còn cách nào khác, họ phải bán sức lao động của mình cho tư bản Pháp trong các hầm mỏ đồn điền Có tới 60% cu-ly

ở trong các hầm mỏ ở Bắc kỳ là dân Nam Định và Thái Bình Rõ ràng bần cùng hoá người lao động là biện pháp tuyển mộ công nhân rẻ mạt và trắng trợn của chính quyền phong kiến tỉnh Cũng như số phận người nông dân, quá trình đầu tư khai thác cũng là quá trình thợ thủ công dần phá sản Nam Định

có nhiều nghề thủ công lâu đời, do vậy quá trình khai thác của thực dân Pháp cũng ảnh hưởng sâu sắc tới ngành này Những người thợ thủ công ở các làng nghề có thể chia là hai bộ phận: một số vừa làm nghề vừa làm ruộng(25%) bộ phận còn lại chuyên làm nghề thủ công, tập trung ở thành phố Nam Định và một số làng nghề Dù là thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp,

do chính sách bóc lột của thực dân phong kiến đã làm cho sự phân hoá trong hàng ngũ thợ thủ công diễn ra nhanh chóng Một số ít sản xuất phát đạt làm

Trang 39

ăn có lãi có vốn trở thành chủ xưởng số đông còn lại là những người làm ăn thua lỗ, sản xuất bấp bênh bị phá sản trở nên túng thiếu rơi vào tình cảnh thất nghiệp Sự phân hoá thành hai chiều diễn ra rất rõ ở Nam Định Để đảm bảo

sự sống duy trì sự tồn tại của mình thì chỉ có cách duy nhất cho họ bằng con đường bán sức lao động cho các nhà tư bản trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền và cuộc sống đi làm thuê hay đi phu cho các nhà tư bản Cùng với chính sách bần cùng hoá người lao động thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng một nền công nghiệp thuộc địa trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định được coi là nơi thuận lợi cho phát triển công nghiệp nhẹ Để thực hiện mưu đồ của mình, thực dân Pháp đã xây dựng hàng loạt nhà máy thuộc ngành chế biến nông sản thực phẩm như nhà máy rượu, nhà máy tơ nhà máy sợi Ngoài ra để phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong thành phố, chúng còn xây dựng nhà máy đèn, nhà máy điện, nhà máy nước Nam Định có vùng tơ tằm lớn, năm 1905 công ty ươm

tơ Bắc kỳ ra đời Năm 1908 lập công ty tơ lụa xuất cảng Pháp-Việt, bao gồm một nhà máy lớn và ba chi nhánh nhỏ Số công nhân trong nhà máy tơ hơn

200 người Năm 1894 nhà máy rượu đi vào hoạt động với 180 công nhân, đến cuối cuộc khai thác thuộc địa lần 2 số lượng công nhân đã tăng lên 500 người, phần đông là nam giới Bên cạnh đó là nhà máy chai, sản xuất chai lọ, đồ dùng thuỷ tinh, bao bì đóng gói vận chuyển ban đầu có số công nhân 100 người sau tăng 150 người Sau khi đánh đổ Hoa kiều, Pháp cho xây dựng nhà máy sợi năm 1900 Nhà máy này gồm nhiều liên hợp xưởng như sợi, dệt, chăn, cơ khí, điện Đây là nhà máy có quy mô lớn nhất ở Đông Dương với diện tích bằng 1/6 diện tích thành phố Nó khống chế toàn bộ ngành bông sợi

ở phía nam và đồng bằng Bắc Bộ Đầu tiên có khoảng 100 công nhân, năm

1940 lên tới 14.440 công nhân Ngoài ra còn các nhà máy khác như nhà máy chiếu, xưởng gạch ngói, nhà máy đèn, nhà máy nước có thêm khoảng 600 công nhân Đội ngũ công nhân trong tỉnh ngày càng gia tăng cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Ngoài những công nhân làm việc

Trang 40

trong các nhà máy, đồn điền, hầm mỏ còn một bộ phận khác như phu xe, khuân vác, thợ nề Bên cạnh các công nhân thuộc kìm kẹp của tư bản Pháp còn một bộ phận làm cho tư bản Hoa kiều và tư sản Việt Nam, bộ phận này chỉ phát triển sau năm 1930 Họ tập trung vào ngành vận tải tàu khách của Bạch Thái Bưởi, xưởng cơ khí Nguyễn Thế Môn, nhà in Trường Phát, xưởng dệt đũi Vũ Tư Cầu, xưởng ô tô khác Số công nhân làm trong các cơ sở này chỉ khoảng chục người, chỗ nhiều khoảng 30 người

Ngay từ khi ra đời đội ngũ công nhân đã tiếp xúc với sản xuất bằng máy móc, đã nắm bắt quy trình công nghệ công nghiệp nằm trong mạch máu kinh tế quan trọng của thực dân Cũng như giai cấp công nhân Việt Nam đội ngũ công nhân Nam Định là đội ngũ công nhân hiện đại, là sản phẩm của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, do đó đội ngũ này ra đời trước và phát triển mạnh hơn so với giai cấp tư sản dân tộc Tuy nhiên họ với hai bàn tay trắng, phải bán sức lao động của mình một cách rẻ mạt để kiếm sống, họ bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản Việt Nam Họ đã phải sống trong thiếu thốn, đói khổ và bị đối xử thậm tệ Công nhân Nam Định có trình độ kỹ thuật cao nhưng đời sống vật chất và tinh thần hết sức khổ cực, ngột ngạt về kinh tế và chính trị, sống cảnh một cổ hai tròng

mà tròng nào cũng xiết chặt vào họ Họ đi làm từ những vùng ven đô từ 4 giờ sáng đến 8,9 giờ tối, có khi 12 giờ đêm mới về đến nhà Để tăng cường bóc lột các chủ xưởng xây dựng các nhà lá cho công nhân ở làng Mỹ Trọng, nhưng thực chất là các gian nhà tre nứa tạm bợ ọp ẹp, mùa hè nóng bức, mùa đông giá buốt không đủ điều kiện tối thiểu cho cuộc sống con người Ngoài ra

hệ thống kìm kẹp gồm lý trưởng bá hộ mật thám ngày đêm theo dõi các hoạt động của người công nhân và gia đình họ Đối với công nhân vào làm việc cũng không dễ dàng, trong một buổi tuyển thợ có mấy ngàn người xô đẩy chen chúc giật lấy thẻ, mấy cái dậu gỗ không đủ sức ngăn cản xô đẩy của từng ấy con người Những roi mây, quả đấm, gót giầy hôm đó cũng được tung

Ngày đăng: 09/07/2015, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh Nam Định (2007), Báo cáo tổng kết công đoàn năm 2006-2007, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công đoàn năm 2006-2007
Tác giả: Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh Nam Định
Năm: 2007
2. Bùi Đình Bôn (1999), Giai cấp công nhân Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Đình Bôn
Nhà XB: NXB. Lao động
Năm: 1999
3. Trường Chinh, Bàn về cách mạng Việt Nam, quyển 1, in lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách mạng Việt Nam
4. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2002), Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2001, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2001
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2002
5. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2005), Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2004, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2004
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2005
6. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2007), Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2006, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2006
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2007
7. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2009), Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2008, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2008
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2009
8. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2010), Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2009, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2009
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2010
9. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tập 1, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1976
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2/2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành TW Đảng khoá X, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành TW Đảng khoá X
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
18. Đảng bộ Tỉnh Nam Định (12/2006), Các chương trình công tác trọng tâm toàn tỉnh và các nghị quyết chuyên đề của khoá XVII. Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chương trình công tác trọng tâm toàn tỉnh và các nghị quyết chuyên đề của khoá XVII
19. Trịnh Đức Hồng (2003), Xu hướng biến đổi giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Luận văn tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến đổi giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Tác giả: Trịnh Đức Hồng
Năm: 2003
20. Đỗ Quang Hưng (chủ biên - 1999), Bác Hồ với giai cấp công nhân và Công Đoàn Việt Nam, NXB. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với giai cấp công nhân và Công Đoàn Việt Nam
Nhà XB: NXB. Lao Động
21. Liên đoàn lao động Nam Định (2004), Lịch sử phong trào công nhân viên chức - Liên đoàn lao động và Công đoàn tỉnh Nam Định (1929- 2003), NXB. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân viên chức - Liên đoàn lao động và Công đoàn tỉnh Nam Định (1929-2003)
Tác giả: Liên đoàn lao động Nam Định
Nhà XB: NXB. Lao Động
Năm: 2004
22. V.I.Lênin (1977), toàn tập, tập 7, NXB. Tiến Bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: NXB. Tiến Bộ
Năm: 1977
23. V.I.Lênin (1977), toàn tập, tập 38, NXB. Tiến Bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: NXB. Tiến Bộ
Năm: 1977

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình xí nghiệp tƣ bản tƣ doanh ở Nam Định từ 1954-1957 - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 1.1. Tình hình xí nghiệp tƣ bản tƣ doanh ở Nam Định từ 1954-1957 (Trang 47)
Bảng 1.2. Tỷ trọng tổng sản lƣợng công nghiệp theo thành phần kinh tế - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 1.2. Tỷ trọng tổng sản lƣợng công nghiệp theo thành phần kinh tế (Trang 48)
Bảng 2.1. Cơ cấu giá trị sản lƣợng công - nông nghiệp những năm 1960-1969 - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.1. Cơ cấu giá trị sản lƣợng công - nông nghiệp những năm 1960-1969 (Trang 50)
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố theo  giá so sánh năm 1994 - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố theo giá so sánh năm 1994 (Trang 61)
Bảng 2.2. Giá trị sản xuất công nghiệp những năm 1995 - 2000 - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.2. Giá trị sản xuất công nghiệp những năm 1995 - 2000 (Trang 61)
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố (Trang 62)
Bảng 2.6. Trình độ học vấn trên địa bàn tỉnh - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.6. Trình độ học vấn trên địa bàn tỉnh (Trang 69)
Bảng 2.7. Sự quan tâm của công nhân tới các chính sách xã hội - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.7. Sự quan tâm của công nhân tới các chính sách xã hội (Trang 71)
Bảng 2.9. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định  theo giá so sánh năm 1994 - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.9. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định theo giá so sánh năm 1994 (Trang 78)
Bảng 3.1. Thu nhập bình quân của một số doanh nghiệp may trong tỉnh - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 3.1. Thu nhập bình quân của một số doanh nghiệp may trong tỉnh (Trang 88)
Bảng 3.2. Sự quan tâm của công nhân tới các chính sách xã hội - Xây dựng đội ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 3.2. Sự quan tâm của công nhân tới các chính sách xã hội (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w