Sự chuyển dịch giai cấp từ người nông dân trở thành người công nhân lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây.. Để gó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
QUÁ TRÌNH NGƯỜI NÔNG DÂN NAM ĐỊNH
TRỞ THÀNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
QUÁ TRÌNH NGƯỜI NÔNG DÂN NAM ĐỊNH
TRỞ THÀNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN AN NINH
HÀ NỘI - 2013
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TIẾP NƯỚC NGOÀI 9
ngoài tại Nam Định 9 1.1.1 Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài và vai trò của họ trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta 9 1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định 25
công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 28 1.2.1 Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở nước ta và sự xuất hiện
thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 28 1.2.2 Nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở nước ta trong những năm gần đây 32 1.2.3 Chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất 35 1.2.4 Chính sách thu hồi đất nông nghiệp cho quá trình công nghiệp hóa
và đô thị hóa 39 1.2.5 Một số nhân tố xã hội khác 41
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 46
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định 46 2.1.1 Nhu cầu nhân lực lao động công nghiệp tại Nam Định trong những
năm gần đây 46 2.1.2 Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của Nam Định và sự phát triển
các doanh nghiệp FDI 48 2.1.3 Chính sách phát triển các khu công nghiệp của Nam Định 50 2.1.4 Chính sách thu hồi đất nông nghiệp tại Nam Định 54
Trang 42.1.5 Một số nhân tố xã hội khác của quá trình trở thành công nhân của
nông dân Nam Định 56
nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp FDI tại Nam
Định 59 2.2.1 Những khó khăn và hạn chế của người nông dân khi trở thành công
nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Nam Định 59 2.2.2 Những vấn đề đặt ra từ quá trình nông dân trở thành công nhân ở
Nam Định 70
DÂN TRỞ THÀNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI NAM ĐỊNH HIỆN NAY 78 3.1 Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng công nhân trong tình hình mới
vào thực tiễn CNH, HĐH ở Nam Định 78 3.2 Giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định hiện nay 84 3.2.1 Giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của công nghiệp hóa hiện đại
hóa với những hạn chế của tư tưởng tiểu nông 84 3.2.2 Giải quyết mâu thuẫn giữa đòi hỏi của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài với chính sách đãi ngộ người công nhân của
họ 89 3.2.3 Giải quyết mâu thuẫn giữa sự tăng lên nhanh chóng về số lượng
công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài với sự bất cập của tổ chức chính trị - xã hội trong doanh
nghiệp 94 3.2.4 Giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm của người nông dân
nông thôn với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh 103 3.2.5 Giải quyết mâu thuẫn giữa viễn cảnh và hiện trạng của người nông
dân sau khi trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài 108 KẾT LUẬN 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống và quan hệ quốc tế hiện đại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc hội nhập thị trường toàn cầu và triển vọng phát triển kinh tế của một nước Đối với Việt Nam, việc thu hút được các nguồn vốn FDI có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong thập niên đầu của thế kỷ XXI
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang phát triển mạnh tại Việt Nam cùng với đó, xã hội nước ta đang có những biến động lớn về cơ cấu giai cấp
mà điển hình là xu thế nhiều bộ phận của các giai cấp và tầng lớp xã hội như nông dân, trí thức… gia nhập vào giai cấp công nhân Đây cũng chính là quá trình đã diễn ra trong lịch sử mà Mác và Ph.Angghen khái quát “Giai cấp công nhân được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp trong dân cư” Việt Nam với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu với hơn 80% dân số là nông dân Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, đang làm biến đổi những người nông dân hoặc xuất thân từ nông dân trở thành những người công nhân
Nam Định đang là một trọng điểm thu hút nguồn vốn FDI của Đồng bằng sông Hồng Sự chuyển dịch giai cấp từ người nông dân trở thành người công nhân lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây Quá trình này bao hàm nhiều ý nghĩa và cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm Trước hết nó là một trong những tác động thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của một vùng; nó thúc đẩy nông nghiệp hướng tới nền sản xuất lớn; nó hình thành một cơ cấu kinh tế mới với công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ cùng với cơ cấu lao động mới… Song nó cũng đặt ra nhiều vấn đề: chất lượng nguồn nhân lực bất cập, nhiều vấn đề xã hội xuất hiện quanh các khu công nghiệp, tác phong, kỷ luật lao động của người công nhân; mối quan
Trang 6hệ xã hội trong và ngoài doanh nghiệp… Nổi bật hơn cả là quá trình chuyển biến sâu sắc của người lao động từ trình độ nông nghiệp sản xuất nhỏ lên trình độ sản xuất lớn xã hội hóa cao hơn Một lớp công nhân mới sẽ xuất hiện từ đây nhưng cũng có biết bao nhiêu bỡ ngỡ và cả những thân phận con người trong một quan hệ sản xuất mới lạ…
Làm thế nào để thúc đẩy, tích cực hóa và khắc phục những bất cập của quá trình này để nó trở thành một tác nhân cho quá trình công nhân hóa lành mạnh với người nông dân nông dân… đang là những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Để góp phần giải quyết vấn đề đó, tác giả chọn đề tài “Quá trình người
nông dân Nam Định trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử và những biến động của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và vấn đề này đã được tiếp cấn dưới nhiều góc độ, những phạm vi khác nhau
* Các văn bản của Đảng cộng sản Việt Nam:
Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII đã thông qua “Chính sách phát triển
công nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân nhằm đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Hội nghị coi vấn đề xây dựng công tác
công nhân và công đoàn là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng trong thời kỳ phát triển mới, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình
độ tổ chức, kiến thức và ký năng nghề nghiệp cao, mới có thể là nòng cốt để liên Minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các thành phần khác, phấn đấu cho thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết Trung ương 6 khóa X của Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có
Trang 7thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đây là Nghị quyết trực
tiếp nhất bàn về giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong Nghị quyết chính là cơ sở lý luận quan trọng để triển khai những nội dung của đề tài
“Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân thành phố Hồ Chí Minh” do PGS.TS Nguyễn Đăng Thành chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội 2007 Các tác giả đã phân tích thực trạng đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh, qua đó phần nào khái quát thựuc trạng giai cấp công nhân Việt Nam để từ đó nghiên cứu, tham khảo và đưa ra những luận cứ khoa học cho việc định hướng phát triển giai cấp công nhân nước ta hiện nay
“Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay” của TS.Nguyễn An Ninh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008 Ở đây, TS Nguyễn An Ninh đưa ra những nghiên cứu mới về thực trạng và sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, phân tích xu hướng công nhân hóa trong thời kỳ đổi mới của đất nước như là một quy luật của sự phát triển, đồng thời cũng nêu những giải pháp nhằm chủ động tích cực hướng xu hướng này phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước
“Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” do PGS.TS Đỗ Ngọc Ninh, TS Nguyễn Văn Giang
(Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008 Cuốn sách đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bản chất giai cấp công nhân của Đảng
Trang 8Cộng sản; phân tích thực trạng bản chất bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực trạng hoạt động tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta từ năm 1986 đến nay; đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta trong những năm tới
Nhằm góp phần làm sáng tỏ vai trò và thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị - Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo
khoa học với chủ đề: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa,
hội nhập kinh tế quốc tế và thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”
Hội thảo tập trung vào trao đổi về bối cảnh xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện và những tác động của nó đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó hội thảo đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
* Các luận văn, luận án tiến sỹ:
Nguyễn Thị Hường (2005), “Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn thạc sỹ triết học, chuyên ngành chủ
nghĩa xã hội khoa học Luận văn đã đánh giá thực trạng của đội ngũ công nhân Thái Nguyên, tìm ra những nguyên nhân, vấn đề đặt ra và dự báo xu hướng biến động của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay
Trần Thị Ngọc Bích (2008), “Đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn thạc sỹ triết học, chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học Luận văn cũng làm rõ đặc điểm và vai trò của đội ngũ công nhân tỉnh Hưng Yên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích thực trạng của đội ngũ công nhân Hưng Yên, từ đó dự báo xu hướng biến đổi của
Trang 9đội ngũ công nhân Hưng Yên trong thời gian tới Qua đó đưa ra các giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Hưng Yên phát triển phù hợp với xu thế thời đại
Nghiên cứu về giai cấp công nhân Nam Định, có Luận văn thạc sỹ Triết học,
chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Trần Thị Thùy Ninh, “Xây dựng đội
ngũ công nhân Nam Định trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Ở đây tác giả đã nghiên cứu và làm rõ đặc điểm, thực trạng và xu hướng
biến đổi của đội ngũ công nhân Nam Định nói chung trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tìm hiểu sâu về đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp FDI
và thực trạng xu hướng công nhân hóa nông dân tại Nam Định, luận văn chưa đề cập tới
Nguyễn Thị Thu (2011) “Công nhân ho ́ a nông dân ở vùng ngoại thành Hà Nội hiê ̣n nay (Khu vực tỉnh Hà tây cũ)” - Luận văn thạc sỹ triết học, chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học, đây là một luận văn nghiên cứu sâu về vấn đề công nhân hóa nông dân Trong luận văn này tác giả đã chỉ ra thực tra ̣ng và vấn đề đă ̣t ra từ quá trình công nhân hóa nông dân vùng ngoại thành Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa
Tại Nam Định, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội, Liên đoàn Lao động đã phối hợp với một số doanh nghiệp, cơ quan thông tin đại chúng tổ chức nghiên cứu, tọa đàm một số vấn đề về đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định Nhưng đó là những công trình bước đầu và chủ yếu dưới góc độ thống
kê, phân tích thực trạng đội ngũ công nhân qua kết quả điều tra xã hội học về tay nghề, bậc thợ, giới tính, tuổi đời, mức sống Nghiên cứu về công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và xu hướng công nhân hóa từ người nông dân Nam Định hiện nay chưa có công trình nào ở cấp thạc sỹ và tiến sỹ
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu quá trình trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một bộ phận nông dân Nam Định, hiện trạng, những vấn đề đặt ra và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tích cực hóa quá trình này trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương
3.2 Nhiệm vụ
Trình bày đặc điểm và những nhân tố cơ bản tác động vào quá trình quá trình người nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nam Định
Chỉ ra thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển hóa từ người nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nam Định hiện nay
Đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về bộ phận công nhân xuất thân từ nông dân, nông nghiệp và nông thôn Nam Định trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ góc độ chính trị - xã hội, luận văn nghiên cứu quá trình trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của một bộ phận nông dân trên địa bàn tỉnh Nam Định, giai đoạn từ 1986 đến nay
Trang 115 Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Luận văn sử dụng các nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng CSVN về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa… và chủ trương chính sách của tỉnh Nam Định trên các lĩnh vực có liên quan Đồng thời, luận văn có sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan
Cơ sở thực tiễn là kết quả điều tra thực trạng công nhân ở các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nam Định
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời kết hợp các phương pháp khác như: logic và lịch sử, phân tích
và tổng hợp; điều tra xã hội học; thống kê và so sánh để giải quyết những vấn đề của đề tài
6 Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu một cách có hệ thống về thực trạng của bộ phận công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất thân từ nông dân - nông nghiệp và nông thôn tỉnh Nam Định, xu hướng công nhân hóa từ giai cấp nông dân
Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở tỉnh Nam Định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Ý nghĩa luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Nam Định tham khảo, vận dụng trong việc xây dựng chính sách nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ công nhân trên địa bàn tỉnh
Trang 12Luận văn có thể dung làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy nghiên cứu
về giai cấp công nhân của Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, các trường chính trị tỉnh, thành phố
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương, 6 tiết
Trang 13Chương 1 CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định
1.1.1 Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của họ trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta
* Giai cấp công nhân
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, Giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và
bị nhà tư bản bóc lột dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư Dựa trên trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bản đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” [32, tr 596] Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chủ yếu nhận được lợi ích kinh tế dưới hình thức tiền công - số tiền trả cho thời gian lao động thực tế của người công nhân trong các nhà máy của tư bản Nhưng đó cũng là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công CNXH và CNCS trên phạm vi toàn thế giới
Theo V.I.Lênin, sau cách mạng vô sản, khi giai cấp công nhân không còn là giai cấp vô sản như nghĩa đen của nó nữa mà là một giai cấp thống trị về chính trị, cùng toàn dân làm chủ các tư liệu sản xuất của xã hội (sở hữu toàn dân) nên giai cấp công nhân có thể thực hiện được những lợi ích kinh tế cơ bản của mình Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân là “lực lượng sản xuất hàng đầu của
Trang 14toàn thể nhân loại”, “giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất” [28, tr 430], và họ còn phải thực hiện sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo toàn
xã hội trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản, chế độ người bóc lột người, đồng thời với sứ mệnh đó là nhiệm vụ giữ gìn thành quả cách mạng, tạo nên một xã hội mới, tự do và hạnh phúc
Trong thời kỳ hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi quan trọng, mang nhiều đặc trưng mới:
Một là, có sự thay đổi về cơ cấu của giai cấp công nhân
Công nhân hiện nay không chỉ bao gồm lao động làm thuê (ở các nước tư bản) mà một bộ phận không nhỏ đã trở thành những người làm chủ, nắm quyền lãnh đạo xã hội (ở các nước đi theo con đường XHCN) Họ không chỉ bao gồm những người lao động chân tay, trực tiếp điều khiển máy móc, cơ khí, mà còn bao gồm những người lao động sản xuất với trình độ trí tuệ cao (công nhân trí thức), nghiên cứu, sáng chế Công nhân không chỉ bao gồm những người lao động công nghiệp trực tiếp tạo ra các giá trị vất chất cho xã hội, mà còn bao gồm những người lao động dịch vụ công nghiệp, lao động của họ gắn với sản xuất công nghiệp, có tính chất công nghiệp
Hai là, có sự thay đổi về ngành nghề, tính chất lao động của giai cấp công
nhân Trong thế kỷ XIX và gần suốt thế kỷ XX, công nhân tập trung chủ yếu ở các ngành khai khoáng, sản xuất dầu khí, chế tạo máy, xây dựng vận tải, chế biến… Trong những thập kỷ gần đây, do tác động mạnh của cách mạng khoa học - công nghệ, các ngành sản xuất truyền thống đã giảm dần, các ngành công nghệ cao và dịch vụ tăng lên Lao động trí tuệ, sáng tạo ngày càng tăng, lao động giản đơn, thủ công với tính rập khuôn đang giảm
Ba là, trình độ và đời sống của công nhân ngày càng được nâng cao
Do yêu cầu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại công nhân ngày
Trang 15cấu giai cấp, tính chất lao động mà còn nâng cao vị thế của giai cấp công nhân Trong những năm qua, giai cấp công nhân cũng có sự thay đổi đáng kể về thu nhập, mức sống Do năng suất lao động cao nên thu nhập và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội của một bộ phận khá lớn trong giai cấp công nhân cũng được cải thiện Giai cấp công nhân có đủ các điều kiện để thực hiện những lợi ích kinh tế của mình
Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới Vì vậy, giai cấp công nhân nước ta có đầy đủ những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân nói chung, đồng thời, có những nét đặc thù riêng có do hoàn cảnh lịch sử đất nước Việt Nam quy định
Thực vậy, xét về thời gian lịch sử thì giai cấp công nhân Việt Nam ra đời gắn liền với việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tức là cũng chỉ mới hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, và đội ngũ công nhân buổi đầu ra đời chủ yếu cũng chỉ phục vụ cho cuộc sống, sinh hoạt và công việc khai thác thuộc địa của thực dân, đó là các ngành công nghiệp khai thác mỏ, đồn điền cao su, điện Do vậy giai cấp công nhân Việt Nam chưa có thâm niên lâu đời như đội ngũ công nhân tại các quốc gia công nghiệp khác Mặt khác, do bị bóc lột tận xương tủy nên ngay từ khi ra đời và sau đó được Đảng giác ngộ công nhân Việt Nam sớm nêu cao bản chất là lực lượng tiền phong trong mọi hoạt động cách mạng, thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và hiện nay đang cùng với mọi lực lượng xã hội khác tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH
Về định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam cho đến nay cũng đã có khá
nhiều công trình đề cập đến, tiêu biểu là: “Đổi mới chính sách xã hội đối với công
nhân và thợ thủ công” của Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng liên đoàn
lao động Việt Nam, 1995; “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và Công đoàn
Việt Nam” của Giáo sư Văn Tạo, 1997, trong đó các tác giả đều nhấn mạnh đến
đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam là con đẻ của nền sản xuất công nghiệp
Trang 16Gần đây văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X cũng đưa ra quan niệm về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ
* Giai cấp nông dân
Nông dân là giai cấp gắn với sản xuất nông nghiệp - hình thái sản xuất đầu tiên của mọi xã hội; là giai cấp chiếm số lượng đông đảo trong những xã hội mà sảm xuất nông nghiệp còn chiếm ưu thế, trong đó có Việt Nam Theo C.Mác, nông dân vừa là người sở hữu, tư hữu nhỏ, vừa là người lao động bị áp bức trong các xã hội có áp bức giai cấp Do địa vị trong phương thức sản xuất quy định nên giai cấp nông dân không phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, không có
hệ tư tưởng Mặt khác, do phương thức sản xuất quy định nên giai cấp nông dân có nhiều đặc điểm tâm lý, tính cách riêng so với các giai tầng khác trong xã hội Họ là những người có tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập; có sự dao độngm ngả nghiêng trong chính trị Tuy nhiên C.Mác và Ph Ăngghen cho rằng, ở
họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, việc giai cấp nào giành được sự dồng tình, ủng hộ của nông dân là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng lợi
Trang 17Trên cơ sở quan điểm của C.Mác và Ph Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân Nga đầu thế kỷ XX, từ đó khẳng định
về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp này trong tiến trình cách mạng XHCN Theo Lênin, nông dân vừa là những người tư hữu nhỏ, vừa là những người lao động Họ không có hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sư dao động, tính toán mang đầy tính thực tế có thể xem là đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào V.I.Lênin cũng cho rằng, nông dân là lực lượng cơ bản của cách mạng dân chủ và XHCN
Ở nước ta hiện nay, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp) làm ngành nghề chủ yếu Đây là giai cấp có số lượng lớn nhất, chiếm khoảng 70% dân cư, sống tập trung chủ yếu ở nông thôn Năm 2006, cả nước có 10,46 triệu hộ làm nông, lâm nghiệp và thủy sản [2, tr 125]
Những năm gần đây, nông dân, nông nghiệp, nông thôn ở nước ta có nhiều thay đổi to lớn Đời sống nông dân được thay đổi căn bản, tình trạng đói nghèo giảm đáng kể; đời sống văn hóa tinh thần ngày càng lành mạnh; đã có sự thay đổi
về cách thức tổ chức đời sống cộng đồng ở nông thôn; nông dân tham gia tích cực vào quản lý xã hội nông thôn và ngày càng có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Cùng với sự biến đổi to lớn và nhanh chóng trên các mặt của đời sống xã hội, những năm qua giai cấp nông dân và xã hội nông thôn cũng có những biến đổi nhất định, như sự thay đổi về cơ cấu xã hội - giai cấp ở nông thôn, tình trạng phân hóa, phân tầng và mâu thuẫn xã hội ở nhiều nơi diễn ra gay gắt
Sự thay đổi về cơ cấu xã hội - giai cấp: Hiện nay trên địa bàn nông thôn, cơ cấu xã hội giai cấp có nhiều thay đổi Nông dân thuần nông gắn trực tiếp với sản xuất nông nghiệp đang giảm mạnh, do có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Nhiều tầng lớp xã hội mới đang hình thành làm cho quan hệ xã
Trang 18hội ở nông thôn có biến đổi phức tạp, như tầng lớp doanh nhân (giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ); tầng lớp buôn bán kinh doanh dịch vụ; tầng lớp lao động tự do; tầng lớp thất nghiệp, bán thất nghiệp; những chủ trang trại (từ mô hình VAC phát triển lên)… Sự biến đổi này làm giảm tính thuần nhất của giai cấp nông dân nước ta Trong những tầng lớp trên đáng chú
ý là tầng lớp những người thất nghiệp, bán thất nghiệp ngày càng nhiều do sự tăng dân số, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa, xây dựng khu công nghiệp Số lao động thất nghiệp này đang tạo ra sức ép không chỉ với nông nghiệp, nông thôn mà cho cả các thành phố Hiện tượng thuê mướn lao động dưới nhiều hình thức đã xuất hiện ở nông thôn, kéo theo nó là tình trạng bóc lột sức lao động cũng đa dạng về hình thức, mức độ và tính chất ngày càng phức tạp.Tình trạng phân hóa, phân tầng xã hội ngày càng rõ rệt: xã hội nông thôn đang hình
thành ba nhóm người có tiềm lực kinh tế khác nhau Nhóm thứ nhất là nhóm những
người giàu có, bao gồm những người biết tổ chức sản xuất kinh doanh với quy mô lớn; các chủ trang trại, giám đốc công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn;
buôn bán bất động sản; có cả những người do làm ăn phi pháp mà giàu…; Nhóm
thứ hai là nhóm những người khá giả, trung bình, gồm những người biết tổ chức
sản xuất, kinh doanh nhưng quy mô còn nhỏ lẻ; những người lao động cần cù chịu
khó, biết tổ chức sản xuất kinh doanh…; Nhóm thứ ba là nhóm những người nghèo
đói, chiếm tỷ lệ không nhỏ ở nông thôn, nhất là những vùng sâu, vùng xa Đây là những người chưa biết tổ chức sản xuất, thiếu vốn, gặp rủi ro, thiên tai, gia đình đông con, không có việc làm…
Điều đáng lưu ý là thu nhập giữa các nhóm này ngày càng có sự chênh lệch lớn Thu nhập bình quân đầu người một tháng của nhóm thu nhập thấp nhất ở nông thôn là 172 nghìn đồng/người/tháng, trong khi đó cao nhất là 1.122 nghìn đồng/người/tháng - chênh lệch 6,5 lần (53,616) Do thu nhập có sự chênh lệch nên chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người giữa các nhóm thu nhập thấp nhất và thu
Trang 19nhập cao nhất ở cả thành thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch Năm 2006, nhóm thu nhập thấp ở nông thôn chi tiêu 188 nghìn đông, nhóm thu nhập cao chi tiêu 613 nghìn đồng, gấp 3,3 lần Sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm trong xã hội càng lớn thì càng làm cho hiện tượng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội diễn
ra rõ nét Trong khi đó tình trạng nghèo đói ở nông thôn chậm được cải thiện đã làm cho khoảng cách giữa những người có thu nhập thấp với người có thu nhập cao trong xã hội ngày càng tăng và khả năng để người nghèo có thể rút ngắn khoảng cách ngày càng trở nên xã vời Điều này dễ dẫn đến sự khác biệt về lợi ích kinh tế, tạo cơ sở nảy sinh những mâu thuẫn trong xã hội
Mâu thuẫn trong xã hội ở nhiều nơi diễn ra ngày càng phức tạp: trong những năm qua, những vấn đề chủ yếu tạo ra mâu thuẫn xã hội trên địa bàn nông thôn là mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, đền bù, thu hồi đất đai; thuê mướn, tuyển dụng, tranh chấp lao động, chiếm đoạt công quỹ…
* Về xu hướng công nhân hóa
Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói đến
sự trưởng thành và ngày càng lớn mạnh của giai cấp công nhân “tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [20, tr 610] Giai cấp công nhân gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp Chính bởi thế, trong các tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thể kỉ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp như những cụm
từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm: giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại Để khẳng định sự ra đời của giai cấp công nhân
và phân biệt họ với các giai cấp, tầng lớp khác, C.Mác viết: “Trong công trường
Trang 20thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục tùng máy móc” “Công nhân cũng
là phát minh của thời đại mới Giống như máy móc vậy công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại” [33, tr 11] Sự phát triển của giai cấp công nhân nước ta từ khi ra đời đến nay đã phản ánh xu hướng đó
Tác giả Nguyễn An Ninh trong cuốn “Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta
hiện nay” đã khẳng định “Xu hướng công nhân hóa ở nước ta là một thực tế” [39,
tr 11] Điều đó được thể hiện bằng sự tăng lên mạnh mẽ về số lượng giai cấp công nhân làm cho nó chiếm tỷ lệ lớn so với lực lượng xã hội và phương thức lao động của giai cấp công nhận đã tác động đến phương thức lao động của toàn xã hội Những đặc điểm về phương thức lao động của giai cấp công nhân như tính tự giác, tính kỷ luật, lao động gắn với máy móc, kỹ thuật, khoa học công nghệ ngày càng hiện đại; lao động mang tính xã hội hóa ngày càng cao đã tác động to lớn đến phương thức lao động của các giai cấp lao động khác trong toàn xã hội và đem đến những biến đổi nhanh chóng, to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Ở nước ta, xu hướng công nhân hóa được bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều đặc điểm, trình độ và quy mô khác nhau Theo tác giả, xu hướng công nhân hóa ở nước ta trải qua 4 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, được bắt đầu từ thế kỷ XX đến năm 1945 Trong giai đoạn này, số lượng giai cấp công nhân tăng lên nhanh chóng cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Tuy nhiên, xu hướng công nhân hóa ở giai đoạn này có tính tiêu cực rõ nét vì gắn liền với sự bần cùng hóa của giai cấp nông dân Giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ năm 1945, nhưng rõ nét là từ năm 1954 đến 1975, giai đoạn giai cấp công nhân trưởng thành và lớn mạnh cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN Đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, miền Bắc đã có 1,2 triệu công nhân trong tổng
số 8 triệu lao động xã hội Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, số lượng công nhân miền Nam cũng tăng lên nhanh chóng do chủ nghĩa thực dân mới thay đổi cơ
Trang 21sở vật chất kỹ thuật sản xuất, nhưng xu hướng tích cực của quá trình công nhân hóa ở miền Nam chỉ trở thành chủ đạo sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đại
bộ phận giai cấp công nhân đã gắn kết chặt chẽ với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cùng nhau xây dựng và kiến thiết đất nước Giai đoạn thứ ba của quá trình công nhân hóa là thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1986 Thời kỳ này giai cấp công nhân phát triển mạnh cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN Cùng với sự tăng lên nhanh chóng về số lượng, giai cấp công nhân cũng khẳng định được vai trò, địa vị trong xã hội và trong phương thức sản xuất mới
Giai đoạn thứ tư là thời kỳ từ năm 1986 đến nay - thời kỳ này tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Đây là thời kỳ ghi những dấu ấn mạnh mẽ về sự phát triển của giai cấp công nhân Đó là, thứ nhất, giai cấp công nhân tăng lên nhanh chóng về số lượng Nếu năm 1986, nước ta có 3,38 triệu công nhân (chiếm 16% lực lượng lao động xã hội), đến năm 2007, nước ta đã có trên 9,5 triệu công nhân (chiếm 11% dân số và 20% lao động xã hội) trong đó có 1,45 triệu lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ hai, giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu của toàn xã hội, góp phần đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đem lại động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Công nhân Việt Nam đã đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh, tạo ra khoảng 70% GDP cho toàn xã hội Phương thức lao động của công nhân cũng đang tác động đến phương thức lao động của toàn xã hội, làm thay đổi căn bản trong các quy trình sản xuất, tổ chức và tính chất lao động
Những năm gần đây, xu hướng chuyển dịch lao động từ các ngành nghề sản xuất nông nghiệp vào công nghiệp ngày càng lớn Số nông dân lên thành phố kiếm việc làm gia nhập vào hàng ngũ công nhân ngày càng tăng, nhất là khi ở nhiều nơi nông dân không còn đất sản xuất nông nghiệp Nông dân trở thành công nhân ngay trên mảnh đất trước đây họ làm nông nghiệp khi học làm việc trong các nhà máy,
Trang 22xí nghiệp, các khu công nghiệp được xây dựng ở nông thôn nên số công nhân sẽ còn tăng lên Xu hướng công nhân hóa là xu thế chung của thế giới và cũng đang là một hiện thực ở Việt Nam Nó sẽ tác động trực tiếp đến nguồn lực con người cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* FDI và doanh nghiệp FDI
FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng anh “Foreign Direct Investmen” và được dịch sang tiếng Việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài Có nhiều khái niệm về FDI:
Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1997): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp là hoạt
động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp
Có các mục đầu tư như: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã
có Tham gia vào một doanh nghiệp mới; Cấp tín dụng dài hạn ( hơn 5 năm)
Theo Tổ chức tương mại thế giới WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới
Trang 23nước khác để đầu tư, thiết lập cơ sở sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận và chi phối hoặc toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp
Nếu xét trên khía cạnh về quyền sở hữu thì về bản chất, FDI được thực hiện với quyền sở hữu về tài sản đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài Nếu xét trên khía cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được định nghĩa là phần tăng thêm giá trị sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thực hiện bởi nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời nhà đầu tư này cũng chính là chủ sở hữu chính và nắm quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó
Vậy ở nước ta, những doanh nghiệp nào được coi là doanh nghiệp FDI?
Khái niệm doanh nghiệp FDI xuất hiện đầu tiên tại Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, theo đó doanh nghiệp FDI bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài và phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh không được thấp hơn 30% tổng số vốn
Theo Luật Đầu tư 2005, được áp dụng từ ngày 1-7-2006 thì doanh nghiệp FDI bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài (NFDI) thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam Doanh nghiệp được áp dụng điều kiện đầu tư trong nước khi các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên…
Đặc biệt, sự thiếu thống nhất thể hiện rất rõ trong các văn bản dưới luật hướng dẫn về vấn đề này Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg
Trang 24ngày 18-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ giải thích, doanh nghiệp FDI bao gồm
“tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”
Nghị định 69/2007/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam thì quy định “nhà đầu tư nước ngoài” là “tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam” Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 121/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính lại xác định nhà đầu tư nước ngoài bao gồm
cả “tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này” Còn theo Quyết định 55/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”
Sự khác biệt về cách hiểu doanh nghiệp FDI và nhà đầu tư nước ngoài như trên dẫn đến việc áp dụng thủ tục đầu tư khác nhau trong việc thành lập mới doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài Cơ quan chức năng không khỏi lúng túng trong việc vận dụng các quy định của pháp luật đối với những trường hợp thay đổi từ doanh nghiệp có vốn FDI thành doanh nghiệp trong nước và ngược lại.Ví dụ, hầu hết các phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư các tỉnh, thành phố
từ chối thụ lý hồ sơ thành lập tổ chức mới có sự tham gia góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ
và từ chối thụ lý hồ sơ của các doanh nghiệp đã được cấp đăng ký kinh doanh bán
cổ phần, vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài Điều này hạn chế rất lớn việc thu hút, chuyển đổi dòng vốn ngoại cho phát triển kinh tế, trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư đang rất khan hiếm
Trang 25Để phân biệt rõ và cụ thể hơn về doanh nghiệp FDI, Quyết định 88/2009/QĐ-TTg, tại điều 2 khoản 1, điểm b có quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm tổ chức và cá nhân nước ngoài tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%” Như vậy, doanh nghiệp FDI ở Việt Nam được hiểu là doanh nghiệp mà tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư từ 49% trở lên trong tổng số vốn của doanh nghiệp dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào Việt Nam để đầu
tư, thiết lập cơ sở sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận và chi phối hoặc toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp
* Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, khu vực FDI thu hút trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 - 4 triệu lao động gián tiếp, chiếm 3,4% tổng số lao động có việc làm (năm 2011) Trong khu vực FDI, chuyển giao công nghệ là một trong những đóng góp quan trọng Doanh nghiệp FDI được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó có một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ đặc thù, lao động Việt Nam sau khi được tuyển dụng đều được đưa đi bồi dưỡng kỹ thuật và tay nghề tại các công ty mẹ ở nước ngoài Đến nay, hầu hết các công nghệ tiên tiến và đội ngũ công nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI Ngoài ra, FDI đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng
Tuy nhiên, số lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp FDI chưa nhiều, đời sống người lao động chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng Tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4% trong tổng
Trang 26số lao động có việc làm năm 2011) Thu nhập bình quân theo tháng của người lao động ở khu vực doanh nghiệp FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước…
Doanh nghiệp FDI cũng là nơi xuất hiện nhiều nhất vấn đề về quan hệ lao động: Từ năm 1995 đến nay, cả nước đã xảy ra 4.142 cuộc đình công, trong đó 75,4% (3.122 cuộc) của doanh nghiệp FDI, chủ yếu xảy ra tại doanh nghiệp của Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, tập trung ở các ngành dệt may, cơ khí, điện tử, da giày Tranh chấp và xung đột trong quan hệ lao động chủ yếu xuất phát từ yêu cầu về quyền và lợi ích của người lao động chưa được doanh nghiệp đáp ứng
* Vai trò của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài ra đời đã thu hút công nhân Việt Nam lao động và làm việc trong các doanh nghiệp FDI Với việc tham gia của họ đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Cụ thể:
Tính đến tháng 8/2012, cả nước có 14.095 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đã giải ngân được 97,4 tỷ USD (chiếm 47% vốn đăng ký) FDI là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 1995 GDP của khu vực FDI tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000); 13,22% và 8,44% (2005); 8,12% và 6,78% (2010) Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần từ 2% GDP (1992) lên 12,7% (2000); 16,98% (2006) và 18,97% (2011)
Tác động của doanh nghiệp FDI đối với tăng trưởng kinh tế - Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội: Vốn FDI thực hiện tăng nhanh qua các thời kỳ từ khoảng 20,67 tỷ
Trang 2722,75% tổng số vốn đầu tư xã hội (2001 - 2011) - Góp phần quan trọng vào xuất
khẩu: Chủ trương khuyến khích FDI hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt
Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012
Doanh nghiệp FDI cũng đã góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo
hướng làm giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng
chế tạo Doanh nghiệp FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu
nhất là sang Hoa Kỳ, EU làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Doanh nghiệp FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế
nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao, do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây
Đóng góp vào nguồn thu ngân sách: Đóng góp của FDI vào ngân sách ngày
càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 - 2010) Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực FDI (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô)
Hoạt động của doanh nghiệp FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá (CNH - HĐH)
Hiện nay, 58,4% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực FDI đạt bình quân gần 18%/ năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến nay, khu vực FDI đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh
Trang 28tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép,
xi măng…
Doanh nghiệp FDI đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất
là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương
Khu vực FDI đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao
như khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stic, siêu thị… Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Khu vực FDI là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao
trình độ công nghệ của nền kinh tế Từ năm 1993 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của doanh nghiệp FDI, chiếm 63,6% Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trên nhiều lĩnh vực
FDI có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ quốc gia,
doanh nghiệp và sản phẩm
Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực FDI cao hơn so với khu vực trong nước Đồng thời, khu vực FDI
Trang 29của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
FDI góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tạo
thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh
Thực tiễn FDI đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập
FDI đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế Hoạt động thu hút FDI
đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước
1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định
Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời, Nam Định cũng đã có chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào địa bàn tỉnh Năm 2001, Khu công nghiê ̣p Hoà Xá (khu công nghiê ̣p đầu tiên của Nam Đi ̣nh ) đã chính thức
đi vào hoa ̣t đô ̣ng Đến nay, toàn tỉnh đã có 3 khu công nghiệp của tỉnh đi vào hoa ̣t
đô ̣ng gồm : Hòa Xá, Mỹ Trung, Bảo Minh t ạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư vào Nam Định
Từ năm 2002 trở về trước , Nam Đi ̣nh có 6 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 9,7 triê ̣u USD Năm 2003, Nam Đi ̣nh có thêm 4 dự án được cấp phé p với tổng vốn đầu tư đăng ký 61,3 triê ̣u USD Năm 2004, toàn tỉnh có 11 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký 72,4 triê ̣u USD Trong đó, 9 dự án đã đi vào sản xuất , 01 dự án đầu tư cơ sở ha ̣ tầng , lắp ráp thiết bi ̣ đi vào sản xuất từ cuối năm 2004 Trừ dự án sản xuất dê ̣t may của Công ty Youngone Corperation - Hàn Quốc có vốn đầu
Trang 30tư lớn (53,2 triê ̣u USD), còn lại các dự án đa phần có quy mô vừa và nhỏ Các sản phẩm do các doanh nghiê ̣p trên sản xuấ t, bao gồm: sản phẩm may mặc , tem nhãn, bao bì, nước uống
Đến năm 2012, trong 3 khu công nghiệp khu công nghiệp của tỉnh đi vào hoạt động gồm : Hòa Xá, Mỹ Trung, Bảo Minh đã có 19 dự án đầu tư nước ngoài đươ ̣c cấp giấy chứng nhâ ̣n đầu tư và 1 dự án ngoài khu công nghi ệp khu công nghiệp đó là Công ty TNHH Yamani Dynasty (Đài Loan) ở CCN Nam Hồng (Nam Trực) Tổng số vốn đăng ký của 20 dự án đầu tư nước ngoài là 216,66 triê ̣u USD, chiếm 32,37% tổng số vố n đăng ký hiê ̣n ta ̣i ở khu công nghi ệp Số lao đô ̣ng đăng
ký của nhóm doanh nghiệp FDI là hơn 24,5 nghìn lao động , diê ̣n tích đất sử dụng 96,97ha, chiếm 33,47% tổng diện tích đất các doanh nghiê ̣p đã thuê trong các khu công nghiệp
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp FDI là dệt may , cơ khí, sản xuất hàng phụ trợ , trong đó dê ̣t may chiếm 75% tổng số dự án Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp FDI c ủa tỉnh đa ̣t 1.072 tỷ đồng , chiếm 38,4% so vớ i tổng giá tri ̣ sản xuất công nghiê ̣p của các doanh nghiê ̣p khu công nghiệp; giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 138,4 triệu USD; giá trị hàng hóa nhập khẩu 371,3 triệu USD Tính chung năm 2012, khu vực đầu tư nước ngoà i xuất siêu 180,7 triệu USD
Hiê ̣n ta ̣i , các doanh nghiệp FDI sử dụng 12,75 nghìn lao động , trong đó có
158 lao động nước ngoài là các chuyên gia kỹ thuâ ̣t và nhà quản lý Về tình hình viê ̣c làm và đời sống c ủa người lao động, các doanh nghiê ̣p FDI v ề cơ bản bảo đảm đủ viê ̣c làm thường xuyên Mức lương trung bình ở doanh nghiê ̣p FDI đa ̣t 3 triê ̣u đồng/người/tháng Mô ̣t số doanh nghiê ̣p còn hỗ trợ thêm chi phí đi la ̣i , tiền thuê chỗ ở cho người lao đô ̣ng như c ác Công ty : Youngone Nam Đi ̣nh , Youngor Smart Shirts, DF Zin
Trang 31Phần lớn các doanh nghiê ̣p FDI đầu tư vào các khu công nghi ệp của tỉnh đều hoạt động hiệu quả , góp phần tích cực trong việc phát triển công nghiệp của địa phương cũng n hư ta ̣o viê ̣c làm cho người lao đô ̣ng Chấp hành các quy đi ̣nh của pháp luật về bảo vệ môi trường , an toàn vê ̣ sinh lao đô ̣ng , phòng cháy chữa cháy
Mô ̣t số doanh nghiê ̣p còn tích cực tham gia các hoa ̣t đô ̣ng nhân đa ̣o , từ thiê ̣n, ủng
hộ quỹ khuyến học các cấp như Công ty Youngone Nam Định , Công ty Universal Candle Viê ̣t Nam, Công ty Youngor Smart Shirts Các nhà đầu tư nước ngoài hoạt
đô ̣ng trên đi ̣a bàn tỉnh đều có ý thức giữ gìn mối quan hê ̣ chă ̣t chẽ với Ban q uản lý các khu công nghi ệp cũng như các đi ̣a phương
Tuy nhiên, doanh nghiê ̣p FDI hoạt động trên đi ̣a bàn tỉ nh đang còn một số hạn chế
Tiến đô ̣ đầu tư thực hiện chậm so với cam kết , còn để lãng phí trong khai thác sử dụng đất như C ông ty CP TCE Vina Denim , Công ty TNHH Ganet Nam
Đi ̣nh, Công ty TNHH Triton, Công ty TNHH Headwork Viê ̣t Nam
Mô ̣t số doanh nghiê ̣p chưa quan tâm đúng mức đến đời sống người lao đô ̣ng , trả lương cơ bản , mức ăn ca, phúc lợi cho công nhân còn t hấp, điều kiê ̣n lao đô ̣ng còn khó khăn , thiếu sự hơ ̣p tác quản lý với cơ quan chuyên môn như Công ty
TNHH Triton , Công ty CP Arksun Việt Nam , Công ty TNHH Designer Textiles Viê ̣t Nam
Phần lớn các dự án FDI ta ̣i Nam Đi ̣nh đầu tư vào ngàn h công nghiê ̣p dê ̣t may, sử dụng nhiều lao đô ̣ng , trong khi đó công nhân chưa có tác phong công nghiê ̣p, hay thay đổi nơi làm viê ̣c gây khó khăn cho doanh nghiê ̣p Những công nhân đã qua đào ta ̣o thì chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiê ̣ p công nghê ̣ cao, công nhân lành nghề và kỹ sư giỏi vẫn còn thiếu Về mă ̣t thủ tục pháp lý , các chuyên gia Hồng Kông không xin đươ ̣c giấy lý li ̣ch tư pháp ta ̣i Hồng Kông nên khi qua Viê ̣t Nam làm viê ̣c , doanh nghiê ̣p gă ̣p khó khăn tro ng viê ̣c xin cấp giấy phép lao đô ̣ng Các chuyên gia Srilanka không được cấp thị thực để nhập cảnh vào Việt Nam Các doanh nghiệp có nhu cầu thuê chuyên gia Srilanka phải làm công văn
Trang 32gửi cho đa ̣i sứ Srilanka ta ̣i Hà Nô ̣i , nếu được chấp thuâ ̣n mới được xét cấp thi ̣ thực nhâ ̣p cảnh
1.2 Những nhân tố cơ bản tác động vào quá trình nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở nước ta và sự xuất hiện thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đảng và Nhà nước ta xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đây chính là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp)
và thương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp)
Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định
của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó
là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm
2008 sẽ là khoảng 38,7%
Trang 33Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển
dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu
hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triển không
hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Về cơ cấu vùng kinh tế, trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Trên bình diện quốc gia,
đã hình thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất
Trang 34nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu
Sự xuất hiện thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố mới mẻ trong kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới
Năm 1987, Luật đầu tư của Việt Nam ra đời đã thu hút số lượng lớn nhà đầu
tư nước ngoài vào nước ta, trong đó có thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu tập trung vào sản xuất công nghiệp, góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Đồng thời đã góp phẩn chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam từ tập trung sang nền kinh tế thị trường, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, ba năm đầu 1988 - 1990, FDI chưa tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta Nhưng từ năm 1991 đến năm
1997 đã diễn ra “làn sóng” đầu tư FDI thứ nhất, với 2.230 dự án và vốn đăng ký 16,244 tỷ USD, vốn thực hiện 12,98 tỷ USD Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn thực hiện đã đạt 3,115 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991 Tuy nhiên, từ năm 1998 đến năm 2004, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, nên trong
số 3.968 dự án mới, phần lớn có quy mô nhỏ, vốn đăng ký năm 1998 chỉ là 5,099
tỷ USD, năm 2000 là 2,838 tỷ USD, năm 2004 là 4,547 tỷ USD Trong khi đó, vốn thực hiện trong giai đoạn này là 17,66 tỷ USD, chỉ tăng 36% so với giai đoạn 1991-1997
Nhưng từ năm 2005 lại mở đầu “làn sóng” FDI thứ hai vào Việt Nam, với vốn đăng ký 6,839 tỷ USD và vốn thực hiện 3,3 tỷ USD Từ năm 2006 tới nay, Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn FDI Báo cáo của Bộ Kế hoạch và
Trang 35hiệu lực của 13.496 dự án FDI là 195,9 tỷ USD, vốn thực hiện là 88,2 tỷ USD, chiếm 43,2% vốn đăng ký
Các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội 1991 - 2000 là 30%, 2001 - 2005 là 16%, 2006 - 2011 là 28% Các doanh nghiệp FDI đóng góp vào GDP thời kỳ 2001 - 2005 là 14,5%, tăng lên 20% năm 2010; nộp ngân sách nhà nước năm 2010 là 3,1 tỷ USD gần bằng cả 5 năm 2001 -
2005 (3,5 tỷ USD) FDI tạo ra khoảng 40% giá trị sản lượng công nghiệp, có tốc
độ tăng khá cao, 2001- 2010 tăng 17,4%/năm trong khi toàn ngành công nghiệp tăng 16,3%/năm Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, 2001 - 2005
là 57,8 tỷ USD, 2006 - 2010 là 154,9 tỷ USD, bằng 2,67 lần, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (kể cả dầu thô)
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh tế, như khai thác, lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực phẩm, thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như Phú
Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4- 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư
Tính đến cuối năm 2011, khu vực FDI tạo ra hơn 2,3 triệu việc làm trực tiếp
và hàng triệu việc làm gián tiếp, trong đó có hàng vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhập ngày càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến
Tuy thế, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những nhược điểm và khuyết điểm, như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Cùng với đó, cũng đã xảy ra “cuộc chiến giữa các tỉnh, thành phố chào mời nhà đầu tư quốc tế” bằng những ưu đãi quá mức thuế, tiền thuê đất, ảnh
Trang 36hưởng tiêu cực đến phúc lợi chung của cộng đồng Đã xảy ra tranh chấp lao động trong một số doanh nghiệp FDI Việc “chuyển giá” của một số doanh nghiệp FDI, gây ra tình trạng “lỗ giả lãi thật” nổi lên như vấn đề thời sự
Hiện nay, FDI tiếp tục là nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất đối với Việt Nam, khi viện trợ phát triển (ODA) đang có xu hướng giảm, khi đầu tư gián tiếp khá bấp bênh Chính phủ đã đưa ra chính sách nâng cấp FDI, coi trọng hơn chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội mà FDI mang lại
1.2.2 Nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta trong những năm gần đây
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Không chỉ đóng góp không nhỏ vào GDP, mà doanh nghiệp FDI còn góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động trong cả nước
Bảng 1.1
Năm
Tổng số lao động đang làm việc (Nghìn người)
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Nghìn người)
Cơ cấu lao động trong nền kinh tế (%)
Tăng so với năm trước (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê, Số lao động đang làm việc cho các doanh nghiệp
có vốn đầu tư FDI
Qua bảng trên ta thấy, khu vực có vốn đầu tư FDI đóng góp một phần không nhỏ trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Cơ cấu số lao động làm
Trang 37việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI ngày càng tăng so với tổng số lao đông đang làm việc trên cả nước
Ở những địa phương có nhiều dự án đầu tư FDI, các doanh nghiệp này là
yếu tố làm thay đổi đáng kể thị trường lao động Doanh nghiệp FDI đã thu hút một
số lượng lớn lao động, cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn, không chỉ lao động ở khu vực thành thị mà cả lao động từ nông thôn; đã làm cho mối quan hệ cung - cầu về lao động chuyển từ cung lớn hơn cầu, sang ngang bằng, thậm chí cầu lớn hơn cung Các doanh nghiệp đã cố gắng nâng thu nhập, tăng phúc lợi cho người lao động để giữ chân nhưng do đời sống khó khăn, cùng với đó, nhiều khu công nghiệp mới ra đời ở miền Bắc, miền Trung đã thu hút không ít lao động ngoại tỉnh về quê
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang tạo ra sự canh tranh trên
thị trường lao động (nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa với việc sử dụng lao động
với cường độ cao hơn), thu hút chất xám từ khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy lực lượng lao động trẻ đào tạo một cách tích cực Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư FDI đã tạo ra tác phong công nghiệp, lao động có kỷ luật cho người lao động Việt Nam vốn có tỉnh lao động “tiểu nông” Xuất phát từ nhu cầu tận dụng ưu thế lao động (chủ yếu là lao động có kỹ năng thấp số lương nhiều và tiền công rẻ) và giải tỏa áp lực thất nghiệp, là mặt tích cực của các doanh nghiệp FDI trong quan hệ lao động ở nước ta
* Đối với vấn đề giải quyết việc làm trực tiếp:
Lực lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng lên hàng năm:
Trang 38Biểu đồ 1.1 Biểu đồ tăng trưởng lao động làm việc trong doanh nghiệp FDI
Trong thời kỳ đầu đổi mới đất nước, doanh nghiệp liên doanh là loại hình sử dụng nhiều lao động nhất, tiếp đến là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và sau cùng là hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ cấu lao động trong các hình thức đầu tư đã thay đổi cơ bản,
tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp liên doanh không còn chiếm tỷ lệ cao như thời gian trước đây, thay vào đó là tỷ lệ lao động trong doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Tuy số lượng lao động làm việc ngày một tăng nhưng chất lượng của lao động Việt Nam còn rất thấp Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI chỉ có 40% đã qua đào tạo (từ dạy nghề trở lên), còn lại là lao động phổ thông Số lao động nữ làm viêc trong các doanh nghiêp FDI chiếm 62%, tập trung chủ yếu vào các ngành công nghệ nhẹ Bên cạnh việc thu hút lao động trực tiếp, các doanh nghiệp FDI cũng giải quyết
Trang 39lao động Cùng với sự phát triển của khu vực FDI, một số khu vực sản xuất kinh doanh và cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khu vực này thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau cũng phát triển theo Việc hình thành thêm các doanh nghiệp vệ tinh này sẽ nảy sinh thêm nhu cầu tuyển dụng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Điều tra
10 doanh nghiệp FDI đặc trưng cho một số ngành như lắp ráp, dệt may, dịch vụ, chế biến nông sản… bao gồm các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn FDI cho thấy, cứ 10 doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực này thì có 213 nhà cung cấp và làm đại lý tiêu thụ sản phẩm trực tiếp cho doanh nghiệp đó Tổng số lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp FDI là 4.688 người và số lao động gián tiếp của nhà cung cấp và đại lý là 43.286 lao động, gấp 9,2 lần số lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp FDI
Phần lớn các doanh nghiệp FDI bên cạnh thu hút và sử dụng lao động trực tiếp thì số việc làm gián tiếp do khu vực này tạo ra cao gấp nhiều lần Các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản, nông nghiệp và công nghiệp thường có việc làm gián tiếp trên việc làm trực tiếp cao nhất
1.2.3 Chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất
Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình đô thị hoá trở thành một xu hướng nổi bật của các quốc gia đang phát triển Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động khắp cả nước, từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới
Khu công nghiệp, khu chế xuất hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986)
Trang 40Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ thứ 20, trong bối cảnh nền kinh tế và đời sống xã hội nước ta bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Đại hội VII đã kịp thời và sáng suốt đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước, trong đó có chính sách phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996) đã định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố khu công nghiệp, khu chế xuất Và vấn đề này liên tục được khẳng định và nhấn mạnh qua các kỳ Đại hội của Đảng.Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất; khẳng định vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X và XI đã nêu rõ Đồng thời, chủ trương của Đảng là cơ sở để Chính phủ triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất trong 20 năm qua và trong giai đoạn tới
Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các khu công nghiệp, khu chế xuất là một trong những giải pháp thực hiện các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước qua từng giai đoạn Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp, khu chế xuất ở nước ta
đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thể hiện ở những kết quả chủ yếu sau:
Hình thành hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cơ sở chiến
lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; chiến lược, quy hoạch, ngành địa phương và vùng lãnh thổ
Tính đến nay, cả nước đã có 283 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 76.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê