Phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ phải được coi là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời còn là trách nhiệm của toàn b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỖ THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
ĐỖ THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BÙI THỊ NGỌC LAN
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH PHÚ THỌ 9
1.1 Nguồn lực con người trong mối quan hệ với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa 9 1.1.1 Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con
người 9 1.1.2 Mối quan hệ giữa nguồn lực con người và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa 18 1.2 Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của tỉnh 23 1.2.1 Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ 23 1.2.2 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Phú Thọ 26
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở TỈNH
PHÚ THỌ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35
2.1 Đặc điểm về số lượng, chất lượng và phân bố nguồn lực con người ở
tỉnh 35 2.1.1 Về số lượng và chất lượng nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ 35 2.1.2 Về phân bố và sử dụng nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ 41 2.2 Thực trạng phát triển nguồn lực con người ở tỉnh 46 2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 46 2.2.2 Những hạn chế, yếu kém trong phát triển nguồn lực con người
của tỉnh và nguyên nhân 57 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn lực con người ở
tỉnh Phú Thọ 63
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN
LỰC CON NGƯỜI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CÔNG NGHIỆP
Trang 43.1 Quan điểm cơ bản 67
3.1.1 Phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ phải được coi là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời còn là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, của các ban, ngành và nhân dân trong tỉnh 67
3.1.2 Quán triệt quan điểm phát triển, chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 69
3.1.3 Phát triển nguồn lực con người trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường lao động 70
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ 71
3.2.1 Nhóm giải pháp kinh tế 71
3.2.2 Nhóm giải pháp chính trị 76
3.2.3 Nhóm giải pháp giáo dục - đào tạo 79
3.2.4 Nhóm giải pháp về văn hóa - xã hội 84
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GD-ĐT: Giáo dục - đào tạo
KH-CN: Khoa học - công nghệ NLCN: Nguồn lực con người USD: Đô la Mỹ
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, để phát triển kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia phải chú ý đến các nguồn lực của mình Trong đó, con người được coi là nguồn lực cơ bản nhất của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển nguồn lực con người (NLCN) được coi là một trong những nhân tố quyết định
sự phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó Tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [20, tr.30] Từ trên quan điểm này, Đảng xác định một trong ba khâu đột phá để phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020 là
“phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [20, tr.32] Đây là một nhiệm vụ mà các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương phải quan tâm
Phú Thọ có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên để phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có thế mạnh mang tầm cỡ quốc gia trong các lĩnh vực như giấy, phân bón, hoá chất… Những năm qua, sản xuất công nghiệp của tỉnh được duy trì với mức tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 12,5%/năm Năng lực sản xuất các ngành có lợi thế cạnh tranh như công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất, phân bón, dệt may Một số sản phẩm mới, công nghệ cao đang hình thành, đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng được
Trang 7nâng lên, từng bước nâng khả năng cạnh tranh trên thị trường Cơ cấu ngành
và theo thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Các lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ đều có bước phát triển khá
Tuy vậy, so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đa số lao động tập trung ở khu vực nông thôn, đặc biệt, quá trình CNH, HĐH chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Phú Thọ đang trên đà đẩy mạnh CNH, HĐH, song tiến độ thực hiện còn chậm bởi nhiều nguyên nhân, mà một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn thấp Mặc dù là một tỉnh đông dân (hơn 1,3 triệu dân), lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm đa số (84 vạn, năm 2010), nhưng chất lượng lao động trong độ tuổi
đã qua đào tạo và đào tạo nghề còn ở mức thấp, chủ yếu là lao động phổ thông Đội ngũ nhân lực đã qua đào tạo, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao (trong đó có đội ngũ công nhân lành nghề phục vụ cho tiến trình CNH, HĐH) của tỉnh thiếu trầm trọng Số lượng nguồn nhân lực đông, trong khi đó
số người thất nghiệp hoặc chưa có việc làm còn lớn (khoảng 2 vạn người) Đây là một nghịch lý hiện nay ở tỉnh Phú Thọ Sự bất hợp lý và những tồn tại trên đã, đang là rào cản tiến trình CNH, HĐH nói riêng và sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh nói chung
Trước thực tế đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII, (nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã thấy rõ sự cần thiết phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, kết hợp với khai thác các lợi thế, tiềm năng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng đến năm 2020 Phú Thọ trở thành tỉnh công nghiệp Đại hội cũng xác định, một trong ba khâu đột phá
để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới là đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để khai thông những điểm “nghẽn”, tạo động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của tỉnh trong những năm tới Đó là lý do để tôi chọn vấn đề:
Trang 8“Phát triển nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Phú Thọ”
làm đề tài của luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về NLCN và phát triển nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH là đề tài đã được nhiều học giả quan tâm chú ý Liên quan đến chủ đề, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là:
- Mai Quốc Chánh, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” - Nxb CTQG, H., 1999 Trong
cuốn sách này, tác giả đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
- Phạm Minh Hạc, “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - Nxb CTQG, H., 2001 Cuốn sách trình bày
khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên cứu về con người, nêu ra một số kết quả đạt được trong chương trình nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống giải pháp nhằm phát triển toàn diện con người và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Bùi Thị Ngọc Lan, “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” - Nxb CTQG, H., 2002 Công trình này đã phân tích làm rõ quan niệm,
vai trò của trí tuệ, nguồn lực trí tuệ trong phát triển xã hội; đánh giá một cách khái quát đặc điểm, thực trạng và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
- Nguyễn Hữu Dũng, “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” - Nxb Lao động - xã hội, H.,2003 Tác giả nêu lên vai trò, yêu cầu về
phát triển, phân bố, sử dụng NLCN trong phát triển kinh tế thị trường định
Trang 9hướng xã hội chủ nghĩa, đánh giá thực trạng phân bố, sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số chính sách và giải pháp phát triển nguồn lực con người ở nước ta tới năm 2020
- Đoàn Văn Khái, “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” - Nxb Lý luận chính trị quốc gia, H., 2005 Tác
giả đã làm rõ vai trò, thực trạng của nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH đất nước Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển NLCN đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
- Phạm Công Nhất, “Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” - Nxb CTQG, H., 2007 Cuốn sách đã
giới thiệu khái quát vai trò quan trọng của nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất, nghiên cứu thực trạng của nó, đồng thời, đề xuất những giải pháp phát huy nhân tố con người nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
- Bùi Thị Ngọc Lan (chủ nhiệm), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức”, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ
sở 2010, Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài làm
rõ quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tri thức với nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá khái quát thực trạng và xu hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
Nhìn chung, tuy khai thác ở những khía cạnh, những mảng khác nhau, song các tác giả đều khẳng định sự cần thiết phải phát triển nguồn lực con người; từ đó đánh giá thực trạng, đề xuất các phương hướng, giải pháp phát
Trang 10triển nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu của qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngoài các ấn phẩm được đề cập dưới dạng sách ở trên, liên quan đến đề tài còn có các bài báo, tạp chí khác nhau:
- Nguyễn Hữu Dũng, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” - Tạp
chí Lý luận chính trị, số 8/2002 Trong nghiên cứu, tác giả đã nêu ra quan niệm của mình về nguồn nhân lực chất lượng cao và đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực này ở nước ta trong thời kỳ mới
- Đặng Hữu, “Đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên tri thức ở nước ta hiện nay” - Tạp chí Cộng sản, số
4/2005 Tác giả làm rõ sự cần thiết phải nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện mới, từ đó nêu ra một số giải pháp để thực hiện vấn đề này
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Phú Thọ, http://tin tuc.xalo.vn Phú Thọ: Nghiên cứu các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Sở khoa học và công nghệ Phú Thọ (Theo báo mới.com) Các bài viết trên đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh
Phú Thọ trước yêu cầu hội nhập quốc tế Bài viết khẳng định nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Vì vậy, tỉnh cần phải có những chiến lược đào tạo và giải pháp khắc phục vấn đề này
Vấn đề nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người cũng là
đề tài nghiên cứu của một số luận văn, luận án tiêu biểu như:
Luận án tiến sĩ “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (1999); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”
Trang 11của tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Thị Mai (2005); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kon Tum” của tác giả Trịnh Ngọc Dương (2006)
Những công trình nghiên cứu nói trên là rất đáng trân trọng và là nguồn
tư liệu quí, bổ ích để tác giả tham khảo, song chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ với tư cách là một đề tài mang tính độc lập Vì vậy, hướng nghiên cứu đề tài này vẫn phải được tiếp tục, để đáp ứng yêu cầu lý luận và thực tiễn đặt ra ở tỉnh Phú Thọ
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích những lý luận chung về nguồn lực con người trong mối quan hệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ
- Làm rõ thực trạng nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người của tỉnh, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Phú Thọ
4 Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng của luận văn
Trang 124.2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu thực trạng nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (từ năm 1997 cho đến nay, năm tách tỉnh Vĩnh Phú thành Phú Thọ và Vĩnh Phúc), đồng thời
tham khảo số liệu của các Sở, Ban, Ngành có liên quan
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về con người và nguồn lực con người, kết hợp với chủ trương, chính sách của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ về các vấn đề có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; lôgíc - lịch sử; kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học để nghiên cứu NLCN trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Phú Thọ dưới góc độ chính trị - xã hội
6 Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
6.1 Cái mới của luận văn
Trang 136.2 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị trong các nhà trường Đồng thời, luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách của
các cấp quản lý ở tỉnh Phú Thọ và những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Nguồn lực con người trong mối quan hệ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Phú Thọ
và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ
Trang 14Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Nguồn lực con người trong mối quan hệ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, nhiều quan điểm khác nhau đã bàn về vấn đề con người, song phải đến khi chủ nghĩa Mác ra đời (vào những năm 40 của thế kỷ XIX) thì những nhận thức của nhân loại về con người mới từng bước được làm sáng tỏ
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, con người là một thực thể tự nhiên, một cấu trúc sinh học, đồng thời là một thực thể xã hội mang bản chất xã hội Chủ nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt tự nhiên và xã hội trong con người Trước hết, Mác khẳng định: con người tồn tại với tư cách là những cá nhân sống, những
cá thể có đầy đủ những hành vi, những hành động mang đậm dấu ấn cá nhân Với tư cách là con người sinh học, con người cá nhân, thì những nhu cầu tối thiểu của con người phải được thỏa mãn Khẳng định điều này, Mác viết:
“Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử” [47, tr.39-40]
Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn và thâm nhập vào các quan hệ
xã hội, mặt xã hội của con người được hình thành và trở thành nét đặc trưng phản ánh bản chất xã hội của con người Trong tác phẩm “Luận cương về
Trang 15Phoiơbắc”, C.Mác đã khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái
gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [46, tr.11]
Từ trong quá trình nghiên cứu, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn chỉ
rõ, con người với bản chất xã hội của mình luôn gắn bó chặt chẽ với đồng loại đến mức không thể tách rời, đồng thời lại là những cá nhân riêng biệt biểu hiện sự tự do của từng cá nhân và sự tự do của mỗi cá nhân là điều kiện cho
sự tự do của xã hội Giải phóng cá nhân tạo nên động lực cho công cuộc giải phóng xã hội, còn giải phóng xã hội lại tạo lập nên môi trường cho sự giải phóng cá nhân Do đó, phát triển NLCN có nghĩa là đồng thời phát triển nhân tố cộng đồng và nhân tố cá nhân, chỉ có thể kết hợp hài hòa lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội
Có thể nói những quan điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về con người là hết sức khoa học và sâu sắc Các ông đã chỉ ra sự nhận thức đúng về con người, bản chất con người, về mối quan hệ giữa con người -
tự nhiên - xã hội, về con người với tư cách sáng tạo ra lịch sử và việc giải phóng con người chỉ có thể được xem xét trên cơ sở con người hiện thực, con người sống trong cộng đồng Con người vừa là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của
xã hội, hơn nữa, con người còn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình
Quan điểm của các ông đã được V.I.Lênin, Hồ Chí Minh vận dụng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Là người trực tiếp chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thực tế, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người Ông khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của NLCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết”, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Trong một nước bị tàn phá, nhiệm
vụ hàng đầu là phải cứu người lao động Lực lượng sản xuất hàng đầu của
Trang 16toàn thể nhân loại là người lao động” [45, tr.430] V.I.Lênin cũng cho rằng đối với những con người bắt tay vào công cuộc kiến thiết chế độ mới, nếu họ chỉ có nhiệt tình và lòng dũng cảm không thôi thì không đủ, mà còn cần phải
có hiểu biết, học vấn và kinh nghiệm đấu tranh Do vậy, thời kỳ quá độ cũng
là thời kỳ lịch sử đặc biệt có nhiệm vụ quan trọng là nâng cao trình độ dân trí cho người lao động để họ có thể tham gia công cuộc cải tạo và xây dựng đất nước Đặc biệt, V.I.Lênin rất chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao Do vậy, Người chủ trương phải “thu phục được các chuyên gia tư sản” [44, tr.217], nhất là “những người có tài”, “những chuyên gia giỏi nhất” [44, tr.218] bằng cách trả lương cao cho họ, đồng thời, đào tạo đội ngũ trí thức mới của giai cấp công nhân Những chỉ dẫn của Lênin có giá trị to lớn cả về
lý luận cũng như thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước
Đối với Hồ Chí Minh, đây cũng là vấn đề mà Người đặc biệt quan tâm Theo Người: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa” [51, tr.310] Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Người luôn trăn trở làm sao cho dân ta ai cũng có cái ăn, cái mặc,
ai cũng được học hành, chú trọng giáo dục phát triển toàn diện con người, nhất là cái Đức để tạo ra động lực to lớn phát triển đất nước
Tóm lại, những quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và phát triển nguồn lực con người là những cơ sở lý
luận và phương pháp luận quan trọng để các nhà nghiên cứu sau này kế thừa,
vận dụng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước
* Quan niệm về nguồn lực con người
“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là một khái niệm đã được sử dụng khá phổ biến Ở nước ta, trong vài chục năm gần đây, nguồn lực con người đã trở thành vấn đề, đề tài được nhiều học giả trong nước và quốc tế quan tâm tìm hiểu Những nghiên cứu về nguồn lực con người ngày càng đầy đủ hơn
Trang 17Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu cho thấy, quan niệm về NLCN khá đa dạng được đề cập trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau và được tiếp cận theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội
Nghiên cứu về NLCN, Liên hợp quốc cũng có quan niệm khi cho rằng NLCN là: “con người có trình độ lao động lành nghề, là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người hiện có, cả hiện thực và tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [31, tr.3] Quan niệm này xem xét NLCN chủ yếu liên quan đến chất lượng nguồn lao động cũng như vai trò và sức mạnh của nó đối với sự phát triển của xã hội
Ở Việt Nam những năm gần đây cũng đã xuất hiện nhiều quan niệm về NLCN, tuy nhiên, tùy theo cách tiếp cận, các học giả xem xét NLCN dưới các góc độ khác nhau
Trong lĩnh vực kinh tế, các nhà kinh tế xem xét NLCN dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, NLCN là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét NLCN dưới dạng tiềm năng sẽ giúp định hướng phát triển NLCN để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của NLCN thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét NLCN dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn khơi dậy, phát huy tiềm năng đó, phải chuyển NLCN từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì sẽ trở thành nguồn vốn vô cùng
Trang 18to lớn NLCN, do đó được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người
Dưới góc độ triết học, theo các tác giả tham gia chương trình khoa học
- công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội” (KX-07) do GS, TSKH Phạm Minh Hạc làm
chủ nhiệm thì “Nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [27, tr.328] Giáo sư TS Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “Nguồn lực con người là
sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” [5, tr.14] Ngoài thể lực và trí lực, theo tác giả “cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi, sáng tạo” [5, tr.15] Xét theo nghĩa đó, NLCN bao hàm trong đó toàn bộ sự phong phú, sâu sắc, đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý Với quan niệm trên, tác giả muốn nhấn mạnh đến kết cấu bên trong của NLCN, những thành tố cơ bản không thể thiếu để tạo nên động lực cho sự phát triển
Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:
“Nguồn lực con người là quý báu nhất Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học, công nghệ hiện đại” [17, tr.9] Quan niệm này nêu lên một cách toàn diện những yếu tố cần có của người lao động với tư cách là nguồn lao động - nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia
Trang 19Từ các cách tiếp cận khác nhau và những nội dung đã nêu, có thể nói rằng NLCN không chỉ là lực lượng lao động hay nguồn lao động mà là một
tập hợp các yếu tố Dưới dạng tổng quát có thể hiểu: Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất
cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội
Với cách hiểu trên, khái niệm “Nguồn lực con người” có nội dung rộng lớn, nó bao gồm những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, NLCN trước hết biểu hiện ra là người lao động, là lực lượng
lao động (số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có) Mặt khác, NLCN cũng phản ánh quy mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ tăng dân số của một nước, một vùng lãnh thổ trong một thời gian nhất định
Thứ hai, NLCN phản ánh tình trạng dân số trên các phương diện số
lượng và chất lượng dân cư Phương diện số lượng đó là quy mô, tốc độ, tỷ lệ phân bố và cơ cấu dân cư Phương diện chất lượng đó là mức sống, tuổi thọ bình quân, trình độ dân trí, năng lực sáng tạo, kỹ năng lao động, văn hóa lao động Nội dung này chủ yếu nói lên chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và cả tương lai
Thứ ba, NLCN còn phản ánh cơ cấu dân cư và cơ cấu của nguồn lao
động trong các ngành, vùng kinh tế, trên cơ sở đó phản ánh mức độ hợp lý hay không hợp lý trong việc phân bố nguồn lực
Thứ tư, NLCN còn phản ánh sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các yếu
tố hình thành nên nó; phản ánh sự ảnh hưởng qua lại giữa NLCN với môi trường xung quanh và các nguồn lực khác Ngoài ra, nguồn lực này cũng cho thấy xu hướng và sự biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động giữa các ngành, vùng kinh tế
Thứ năm, NLCN còn chỉ ra rằng trong tất cả các nguồn lực thì NLCN
là nguồn lực cơ bản nhất, quyết định nhất, bởi lẽ, những nguồn lực khác chỉ
Trang 20có thể khai thác có hiệu quả khi NLCN được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại NLCN không bao giờ cạn kiệt, vì sáng tạo là đặc điểm riêng có và vô tận của con người Trí tuệ con người khi đã chuyển hóa thành công nghệ, được vận dụng vào trong quá trình sản xuất thì nó sẽ tạo
ra sự phát triển to lớn
Từ những nội dung trên cho thấy, NLCN trong mọi thời đại luôn luôn giữ vị trí trung tâm của sự phát triển
* Quan niệm về phát triển nguồn lực con người
Các học giả trong quá trình nghiên cứu tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về phát triển nguồn lực con người
Khái niệm phát triển NLCN (hay phát triển nguồn nhân lực, hoặc phát triển tài nguyên người) là những cách dịch khác nhau từ cụm từ Human Resources Development (HRD) Khái niệm này được hình thành và phát triển
từ những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên những quan niệm mới của Liên hợp quốc về phát triển và vị trí con người trong sự phát triển Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, khái niệm “phát triển nguồn lực con người” xét theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
Theo UNESCO, khái niệm “phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa hẹp, đó là toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan
hệ với sự phát triển của đất nước
Dưới góc độ tiếp cận của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì phát triển NLCN được nhìn nhận không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực
đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, để thỏa mãn yêu cầu của nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy cách hiểu của Liên hợp quốc
có tính bao quát hơn và nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội của vấn đề: NLCN
Trang 21vừa là yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế, vừa là mục tiêu của phát triển Đây là cách tiếp cận xuất phát từ lý thuyết mới về phát triển con người
mà phát triển NLCN lại nằm trong phạm trù phát triển con người
Thực chất phát triển con người - là quan điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm trung tâm Đó là sự phát triển của con người, vì con người
và do con người Phát triển con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, kỹ năng, nghề nghiệp
để con người có thể làm việc một cách sáng tạo, hiệu quả và cho năng suất cao Phát triển vì con người là bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế do con người tạo ra phải được phân phối công bằng và rộng rãi, đời sống vật chất và tinh thần của con người không ngừng được nâng lên Phát triển do con người tức
là tạo mọi điều kiện cho con người tham gia vào các hoạt động của đời sống
xã hội, trong đó con người là yếu tố quyết định thúc đẩy xã hội phát triển
Như vậy, theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc thì khái niệm “phát triển con người” nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển Mục tiêu của sự phát triển không chỉ là phát triển xã hội mà chính là phát triển con người Bởi lẽ, trong xã hội hiện nay, sự phát triển của xã hội chưa hẳn đã đưa tới sự phát triển con người Thực tế ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra rằng, xã hội phát triển nhưng con người lại chưa được quan tâm thỏa đáng Đời sống vật chất và tinh thần của con người tỷ lệ nghịch với tốc
độ tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng, khoa học và công nghệ tiến bộ nhưng thất học và mù chữ còn chiếm tỷ lệ lớn, quyền con người nhiều nơi bị vi phạm, y tế giáo dục không được quan tâm tối thiểu Như vậy, mục đích của sự phát triển là phải tạo ra một môi trường tốt cho con người phát triển toàn diện Quan điểm phát triển con người ở trên hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phát triển con người toàn diện
Trang 22Ở nước ta, khái niệm “Phát triển nguồn lực con người” được các nhà khoa học nêu lên khá nhiều trong các công trình nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau
Theo GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc cho biết: Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước [27, tr.285]
TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: Phát triển NLCN được coi là “quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội” [13, tr.13] Theo tác giả, quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người
Khẳng định tính cấp thiết phải phát triển nguồn lực con người để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đất nước, Đảng ta chỉ rõ: lấy việc phát huy NLCN làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức nhằm tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Một trong những đặc trưng của kinh
tế tri thức là phát triển chủ yếu dựa vào tri thức, mà tri thức là do con người sáng tạo ra Do đó, sự thành công hay thất bại trong công cuộc đổi mới và CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, hoàn toàn phụ thuộc vào sức lực và trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam Vì vậy, chăm lo phát triển NLCN, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo ra năng lực nội sinh cho sự phát triển trở thành vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam
Trang 23Như vậy, đứng trên nhiều phương diện, nhiều cách tiếp cận và những quan niệm khác nhau cho thấy, phát triển NLCN không phải là một khái niệm trừu tượng mà nó gắn với sự phát triển con người cụ thể Do đó, phát triển NLCN có mối quan hệ mật thiết với phát triển con người Phát triển NLCN không chỉ là quá trình làm tăng tri thức, kỹ năng, năng lực của mỗi người mà còn là quá trình tái tạo, phát triển và sử dụng lâu dài tiềm năng con người để tạo ra giá trị đích thực cho cuộc sống
Tóm lại, có thể hiểu: Phát triển nguồn lực con người là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, đồng thời làm gia tăng các giá trị tinh thần, đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, thể chất cho con người nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Mối quan hệ giữa nguồn lực con người và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giữa NLCN và CNH, HĐH có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Điều đó được biểu hiện cụ thể như sau:
Một là, nguồn lực con người là chủ thể quyết định sự thành, bại của quá trình CNH, HĐH
Vai trò quyết định của NLCN đã được chủ nghĩa Mác quan tâm và luận giải một cách khoa học Theo các nhà kinh điển, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và
xã hội; con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại Nếu không có con người với trí lực và tiềm năng to lớn của mình thì dù tư liệu lao động có sức mạnh đến đâu
và đối tượng lao động có phong phú như thế nào thì quá trình sản xuất cũng không thể thực hiện được Mọi sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất suy cho cùng đều do con người
Đã có một thời kỳ, con người với tất cả tiềm năng, hiện trạng và sức mạnh của nó chưa được nhìn nhận như là một nguồn lực của bản thân quá
Trang 24trình CNH, HĐH Do vậy, trong một thời gian khá dài con người đã bị đặt ngoài hệ thống các nguồn lực nội tại của sự phát triển Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho quá trình CNH, HĐH trước đây thiếu động lực và kém phát triển Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và yêu cầu của sự phát triển đất nước, cùng với những bài học rút ra
từ thực tiễn và kinh nghiệm của quá trình CNH, HĐH, trong nhận thức và thực tiễn đã có những thay đổi đáng kể về vai trò của con người
Khi khẳng định NLCN là chủ thể quyết định sự nghiệp CNH, HĐH thì vai trò đó được thể hiện ở cả hai phương diện: chủ thể và khách thể của quá
trình CNH, HĐH Là chủ thể, con người xác định mục tiêu, nội dung, cách
thức CNH, HĐH cũng như tổ chức, khai thác các nguồn lực khác để thực hiện CNH, HĐH Các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia vào quá trình CNH, HĐH, chúng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển xã hội và trở thành nguồn lực của quá trình CNH, HĐH khi được kết hợp với NLCN
Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác, sử dụng
tối đa để thực hiện thắng lợi quá trình CNH, HĐH; đồng thời con người cũng chính là đối tượng được hưởng thụ những thành quả mà quá trình CNH, HĐH đem lại Toàn bộ năng lực, phẩm chất tâm, sinh lý, đạo đức của con người được phản ánh qua hai yếu tố cơ bản là thể lực và trí lực Đặc biệt ngày nay trí lực đã và đang là cái cần được tập trung khai thác mạnh nhất ở NLCN để phục vụ quá trình CNH, HĐH cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Do đó, việc nuôi dưỡng, phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả sức lao động, nhất là trí lực, trở thành yêu cầu cấp bách và hàng đầu trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH
Mặt khác, mục tiêu của CNH, HĐH chính là vì con người Điều này đòi hỏi quá trình CNH, HĐH phải giải quyết toàn diện các vấn đề: tăng trưởng đi đôi với phát triển, gắn tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, nâng cao phúc lợi cho nhân dân, cải thiện môi trường
Trang 25sống để phát triển bền vững Con người phải là chủ thể hưởng thụ những thành quả mà quá trình CNH, HĐH đem lại, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng con người, phát triển nguồn lực con người
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, chúng ta ngày càng nhận
rõ hơn vai trò quyết định của NLCN trong phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Xét trên bình diện lý luận cũng như thực tế cho thấy rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở trình độ cao phải dựa trên 3 trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng NLCN Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Con người một khi được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo thì sẽ trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi lẽ, trong nền kinh tế thế giới hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh quyết liệt, ưu thế sẽ thuộc về các quốc gia có NLCN mạnh về chất lượng, cùng với môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xã hội ổn định Một số nước phát triển còn xác định trong các yếu tố cạnh tranh thì phát triển NLCN, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất
Ở một cách nhìn khác, nếu xem xét NLCN dưới góc độ công nghệ thì
nó cũng là yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định kết cấu, sự vận hành và hiệu quả của công nghệ Công nghệ được hiểu là sự kết hợp của nhiều thành phần (máy móc, thiết bị; con người, kỹ năng, kỹ xảo; quy trình, phương pháp, dữ liệu; tổ chức quản lý ) Mỗi thành phần có vai trò, chức năng riêng của mình, song thành phần con người luôn giữ vị trí quan trọng nhất và được ví như chìa khóa của công nghệ Các thành phần khác dù tinh vi, hiện đại và phức tạp đến đâu thì cũng đều là sản phẩm của con người, thiếu sự tác động của con người chúng đều không có nghĩa Ngày nay, để sản phẩm có tính cạnh tranh và đứng
Trang 26vững trên thị trường, ngoài việc có thiết bị, máy móc tốt chưa đủ mà quan trọng hơn là phải có những con người có trình độ tay nghề, năng lực quản lý Điều này đòi hỏi phải quan tâm yếu tố con người trong xây dựng và phát triển công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH
Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện vật chất, tạo môi trường, đồng thời đặt ra yêu cầu khách quan để thúc đẩy nguồn lực con người phát triển
Trong khi nhấn mạnh vai trò và sự tác động có tính chất quyết định của
NLCN đối với tiến trình CNH, HĐH, cũng cần phải thấy được sự tác động trở lại của CNH, HĐH đối với việc phát triển NLCN
Trước hết, tiến hành CNH, HĐH là nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, từng bước tạo ra những điều kiện, tiền đề vật chất cần thiết để con người nói chung, người lao động nói riêng có cơ hội tốt nhất được tiếp cận những dịch vụ ngày càng hoàn thiện, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống Thực hiện CNH, HĐH cũng từng bước chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang một nền kinh tế công nghiệp, trang bị các yếu tố hiện đại cho nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực sản xuất Quá trình này sẽ tạo nên một cuộc cách mạng đối với lực lượng lao động xã hội, từng bước cải biến nếp nghĩ, cách làm vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ trong một bộ phận lao động Mặt khác, tiến hành CNH, HĐH còn để phát triển xã hội Dưới tác động tích cực của CNH, HĐH nền kinh tế có bước phát triển, nhờ đó mà đời sống của con người từng bước được nâng cao Con người có điều kiện hơn để chăm lo nuôi dạy con cái, chú trọng cho công tác giáo dục, y tế, phát triển toàn diện
Quá trình CNH, HĐH cũng đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, tính kỷ luật , từ đó buộc người lao động phải không ngừng nỗ lực học tập, vươn lên để đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe
Trang 27của thị trường lao động trong xu thế hội nhập và phát triển Như vậy, CNH, HĐH đã tạo ra môi trường và yêu cầu khách quan đòi hỏi phải phát triển nguồn lực con người
Bên cạnh mặt tác động tích cực thì CNH, HĐH cũng có những tác động tiêu cực đến một số nhóm đối tượng của nguồn nhân lực - đó là nhóm có trình
độ chuyên môn kỹ thuật thấp, thiếu cơ hội phát triển như người dân ở khu vực nông thôn, miền núi trình độ thấp, chưa qua đào tạo Đây sẽ là nhóm đối tượng dễ bị gạt ra khỏi guồng máy sản xuất Tình trạng một bộ phận không nhỏ người lao động phải bỏ việc sau một thời gian thử việc tại các khu công nghiệp, nhà máy, hoặc phải chấm dứt hợp đồng trước thời hạn là một thực tế phản ánh điều đó Do yêu cầu của CNH, HĐH cần ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học - công nghệ mới vào sản xuất, vào quản lý kinh tế - xã hội cũng làm cho một số lao động nhanh chóng bị lạc hậu, không có khả năng đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và dễ có nguy cơ bị đào thải nếu họ không tự
nỗ lực học tập, nâng cao tay nghề, phấn đấu vươn lên cùng hội nhập
Mặt khác, tiến trình CNH, HĐH nếu phát triển chậm chạp, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa - nghĩa là công nghiệp hóa hóa, hiện đại hóa không hướng tới mục tiêu vì con người - thì những mặt trái của cơ chế thị trường có điều kiện xâm nhập, sẽ tác động tiêu cực đến NLCN Bởi lẽ, kinh tế kém phát triển, lạc hậu, năng lực sản xuất của xã hội bị hạn chế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà trực tiếp nhất là đến chất lượng cuộc sống của người dân; từ đó đầu tư cho con người, đầu tư cho giáo dục - đào tạo sẽ bị giảm Lực lượng sản xuất kém phát triển, nhất là công cụ lao động thủ công, lạc hậu thì yêu cầu về trình độ, sự cấp thiết phải nâng cao trình độ của người lao động cũng bị hạn chế Sản xuất kém phát triển thì nhu cầu về việc làm thấp, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, sức ép về việc làm ngày càng gia tăng;
từ đó, kéo theo các mặt tiêu cực của xã hội: sự suy đồi của đạo đức, lối sống
Trang 28thực dụng chạy theo đồng tiền, sự tàn phá môi trường tự nhiên Rõ ràng, sự tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến việc phát triển NLCN là rất lớn
Tóm lại, NLCN và CNH, HĐH có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với
nhau, do đó cần phải phát triển mạnh mẽ NLCN cả về số lượng và chất lượng
để phục vụ quá trình CNH, HĐH Ngược lại, mỗi bước phát triển của CNH, HĐH phải làm cho đời sống vật chất, tinh thần của con người được nâng cao, nền kinh tế đất nước phát triển, như vậy mới tạo ra sự phát triển nhịp nhàng,
có hiệu quả giữa NLCN và CNH, HĐH
1.2 Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
1.2.1 Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ
Về cấu tạo địa lý tự nhiên
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, nằm ở vị trí giữa 210
- 220 vĩBắc và 1050 kinh Đông, có vị trí trung tâm vùng, là cửa ngõ Tây Bắc của Thủ
đô Hà Nội, nằm trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc), phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Sơn La; phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình; phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái
và Tuyên Quang Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội 80km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thủy hơn 200km, cách cảng Hải Phòng 170km và cảng Cái Lân 200km; là nơi hợp lưu của ba con sông lớn: sông Hồng, sông Đà và sông Lô
Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt
và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác; là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hóa - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc
Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc),
Trang 29quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế
Diện tích tự nhiên là 3.532,5km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 97.610ha, đất rừng 195.000ha với 64.064ha rừng tự nhiên, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản 10.000ha, các loại đất khác 19.299ha
Kể từ sau ngày tái lập tỉnh (1-1-1997) đến nay, Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 11 huyện: Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập; 227 đơn vị hành chính cấp xã Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh
Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng bằng và được chia thành hai tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ (miền hữu ngạn sông Hồng), chiếm tới hai phần ba diện tích toàn tỉnh Tuy gặp một số khó khăn trong việc đi lại, giao lưu song vùng này có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp (miền tả ngạn sông Hồng) bị chia cắt nhiều, có nhiều đồi gò nối tiếp nhau san sát như bát úp, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven các triền sông Hồng, sông Lô, sông Đà Vùng này có tiềm năng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp phụ trợ và trồng các loại cây nguyên liệu giấy, công nghiệp dài hạn như chè, cây ăn quả, cây lương thực
Do tính chất địa hình và cấu tạo địa chất ở trên đã tạo cho Phú Thọ có khá nhiều khoáng sản phân bố ở hầu khắp các huyện, nhưng tập trung ở các huyện phía hữu ngạn sông Hồng Các khoáng sản đã được phát hiện ở Phú Thọ có sắt, than đá, vàng, mica, đá chì, pirit, cao lanh thuận lợi cho phát triển công nghiệp và xây dựng
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm
Trang 30khoảng 1.600mm đến 1.800mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85-87% Nhìn chung, khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng
Về điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội ở Phú Thọ có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là phát triển công nghiệp Cụ thể:
Nguồn tài nguyên của Phú Thọ đảm bảo cung ứng cho nhu cầu sản xuất vật liệu xây dựng, khoáng sản phi kim loại với trữ lượng lớn và chất lượng tốt
và một số khoáng sản quý hiếm (Mỏ vàng: 17.000kg; Quặng sắt: 29 triệu tấn;
Đá vôi: 38 triệu tấn; Đá xây dựng: 8,2 triệu m3; Đất sét: 200 triệu tấn; Kaolin, feldspar: 20 triệu tấn; Cát, sỏi xây dựng: 100 triệu m3; Rừng tự nhiên: 64.064ha; Nước khoáng nóng: 45 triệu lít Phú Thọ có nhiều điểm công nghiệp lớn như: Việt Trì gồm nhiều xí nghiệp; công nghiệp hóa chất Lâm Thao; giấy Bãi Bằng; một số xí nghiệp ở phía Bắc của tỉnh tập trung chế biến chè, sản xuất giấy
Hiện tại, Phú Thọ đã có quy hoạch và xây dựng 9 khu công nghiệp và
21 cụm công nghiệp, gồm khu công nghiệp Thụy Vân, Trung Hà, Phú Hà, Tam Nông, Phù Ninh, Hạ Hòa, Cẩm Khê, Lâm Thao và Thanh Thủy với tổng diện tích trên 4.000ha Hệ thống 21 cụm công nghiệp bố trí đều trên tất cả các huyện, thành, thị với diện tích trên 1.500ha, ngoài ra Phú Thọ đã quy hoạch từ 3.000 - 5.000ha quỹ đất dự trữ để dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ
Phú Thọ có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy Qua địa bàn tỉnh có quốc lộ 2, 32A, 32B, 32C, 70, đường sắt tuyến Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai đang được mở rộng thành tuyến liên vận quốc tế Hiện nay đường cao tốc Nội Bài - Phú Thọ - Lào Cai, đường xuyên
Á và đường Hồ Chí Minh đang được khẩn trương xây dựng Giao thông đường thủy có cảng Việt Trì trên sông Lô, sông Hồng, cảng Yến Mao trên
Trang 31sông Đà, cảng Bãi Bằng trên sông Lô tạo tuyến vận chuyển thông suốt tới Hà Nội, Hải Phòng và xa hơn nữa
Hệ thống điện và mạng lưới bưu chính viễn thông đã phát triển rộng khắp trong cả tỉnh, đủ để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Chính trị và xã hội ổn định, an ninh trật tự xã hội bảo đảm; chính quyền
và nhân dân thân thiện, sẵn sàng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư
Truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Phú Thọ
Phú Thọ có vinh dự và trách nhiệm lớn là vùng đất Tổ, cội nguồn của dân tộc Việt Nam với hàng ngàn năm lịch sử, nơi khởi nghiệp 18 đời vua Hùng, mảnh đất được coi là văn hiến, văn vật với nền văn minh nông nghiệp
từ thủa bình minh dựng nước Với dòng chảy văn hóa cội nguồn, Phú Thọ được coi là vùng đất có hệ thống di tích và lễ hội dày đặc, với khá nhiều danh lam thắng cảnh Tiêu biểu phải kể đến khu di tích lịch sử đền Hùng, rừng quốc gia Xuân Sơn, nước khoáng nóng Thanh Thủy, đầm Ao Châu
Đồng bào các dân tộc ở Phú Thọ có truyền thống yêu nước và cách mạng, lao động cần cù, sáng tạo, có tinh thần đoàn kết, vượt mọi khó khăn, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đây là những điều kiện rất thuận lợi để Phú Thọ tập trung đầu tư phát triển ngành du lịch gắn với lịch sử văn hóa dân tộc, thậm chí, trở thành ngành mũi nhọn của tỉnh
1.2.2 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh nghèo trong cả nước Sau ngày tái lập tỉnh 1997), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ nỗ lực xây dựng phát triển kinh tế -
(1-1-xã hội và thực hiện CNH, HĐH theo chủ trương của Đảng Xuất phát từ vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên cùng với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, Phú Thọ thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế chậm phát
Trang 32triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghiệp phát triển chưa mạnh, đầu tư nước ngoài còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực thấp Thực tế này đã làm cho nội dung, hình thức, quy mô, tốc độ CNH, HĐH ở Phú Thọ có nhiều nét khác biệt, quy định nên đặc điểm CNH, HĐH ở Phú Thọ
Những năm gần đây, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, phát huy thế mạnh sẵn có, huy động nội lực, tranh thủ ngoại lực để từng bước phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cùng với cả nước, Phú Thọ thực hiện CNH, HĐH mà trọng tâm, cấp bách là phát triển công nghiệp và thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, để sớm đưa Phú Thọ trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, đồng thời giải quyết hợp
lý mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ của tỉnh CNH, HĐH ở Phú Thọ có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, CNH, HĐH tập trung chủ yếu phát triển công nghiệp
Do có nhiều tiềm năng, điều kiện để phát triển công nghiệp, nên Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2010-2015) đã nhấn mạnh:
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; sớm đưa Phú Thọ ra khỏi tỉnh nghèo, tạo nền tảng đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp” Trong thời kỳ 1998-2020, công nghiệp sẽ là trọng tâm đột phá phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ Mục tiêu trước mắt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng linh hoạt đáp ứng yêu cầu thị trường, đạt hiệu quả cao và từng bước hiện đại
Tuy nhiên, phát triển công nghiệp cũng phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển các ngành, lĩnh vực khác và coi trọng cả hiệu quả trước mắt và lâu dài Tỉnh sẽ chú trọng huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp, tạo ra cơ cấu kinh tế nhiều thành
Trang 33phần, năng động và có hiệu quả, đồng thời kết hợp nhiều loại quy mô phù hợp với đặc điểm của tỉnh Ngoài ra, một yêu cầu bức thiết là cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị của ngành công nghiệp phải được hiện đại hóa, công nghệ sản xuất tiên tiến Phú Thọ cũng nhận thức rõ phải nhanh chóng đào tạo đội ngũ lao động có đủ trình độ, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển công nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường, đồng thời chú trọng đào tạo đội ngũ quản
lý, các nhà doanh nghiệp giỏi, đủ khả năng đưa sản xuất công nghiệp của tỉnh phát triển nhanh, vững chắc và hiệu quả Thêm vào đó, phát triển công nghiệp phải gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan môi trường để phát triển du lịch và các ngành, lĩnh vực khác
Trong thời gian qua, với phương châm khai thác hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh, tỉnh Phú Thọ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn, mở rộng cửa mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư phát triển các ngành có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ, có khả năng thu hồi vốn nhanh và đạt hiệu quả cao, trong đó tập trung vào 4 nhóm ngành có lợi thế so sánh, đó là: công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm; khai khoáng, hóa chất, phân bón; sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp sản xuất hàng may mặc, hàng tiêu dùng Ngoài ra, Phú Thọ cũng đã giành 1000ha đất để ưu tiên cho phát triển các khu công nghiệp tập trung ở phía Bắc, phía Nam, phía Tây thành phố Việt Trì; định hình một số cụm công nghiệp ở các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, gắn với việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Thứ hai, chú trọng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển mạnh công nghiệp chế biến theo hướng sản xuất hàng hóa
Trước hết, tỉnh Phú Thọ đang chú trọng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Là tỉnh miền núi, Phú Thọ có trên 80% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, trên 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp - thuỷ sản Kinh tế nông nghiệp, nông thôn có đóng góp to lớn trong
Trang 34cơ cấu kinh tế chung của tỉnh Trong 5 năm qua (2006-2010), lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh luôn phát triển với tốc độ khá cao và ổn định, theo hướng sản xuất hàng hóa Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp bình quân 5 năm tăng 4,5%; sản lượng lương thực hạt tăng 3,7%; giá trị sản phẩm bình quân trên 1 ha đất canh tác đạt 50,2 triệu đồng (tăng 2 lần so với năm 2005) Độ che phủ của rừng đạt 49,4% Năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi được cải thiện Ngoài ra, tỉnh xây dựng nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp, bán công nghiệp, vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến như chè, giấy, sản phẩm gỗ, chăn nuôi, hàng nông sản Kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn từng bước được tăng cường, nhất là giao thông, thủy lợi; diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu chủ động đạt 83,1% (tăng 1,47 lần so năm 2005) Toàn tỉnh có 95% số hộ dân được dùng điện lưới quốc gia, 85%
số hộ dân được dùng nước hợp vệ sinh, 100% số trạm y tế được kiên cố hóa
và có bác sĩ phục vụ, 30% đường giao thông nông thôn được kiên cố hóa [38, tr.1] Các ngành nghề, làng nghề truyền thống được chú trọng phát triển, số làng nghề và làng có nghề tăng nhanh Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành tiếp tục chuyển biến tích cực, đã giải quyết cơ bản vấn đề an ninh lương thực, tạo tiền
đề quan trọng đảm bảo ổn định tình hình kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Việc đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn phục vụ phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai và phục
vụ sản xuất có bước phát triển đột phá, diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới
Để đạt được những kết quả như trên là do tỉnh đã chú trọng xây dựng
và triển khai các chương trình trọng điểm; phát triển các loại hình kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác xã; sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, dồn điền đổi thửa Ngoài ra, một trong những yếu tố có tính chất quyết định là công tác chỉ đạo sản xuất được tăng cường và có nhiều đổi mới, đã chuyển từ phương thức chỉ đạo sản xuất hành chính, phong trào
Trang 35sang chỉ đạo theo chương trình, dự án cụ thể, tập trung vào 6 chương trình nông nghiệp trọng điểm, đó là: chương trình sản xuất lương thực; chương trình phát triển chè; chương trình phát triển cây ăn quả; chương trình phát triển chăn nuôi bò thịt - lợn thịt chất lượng cao; chương trình phát triển thủy sản; chương trình trồng rừng sản xuất Đồng thời tập trung thu hút các nguồn lực để triển khai có hiệu quả nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn
Hiện tại, tỉnh cũng đang triển khai một số dự án mời gọi đầu tư như: xây dựng Nhà máy chế biến xuất khẩu sản phẩm từ gia súc, gia cầm tại huyện Thanh Ba, Đoan Hùng; Nhà máy chế biến thức ăn gia súc tại huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Ba, Đoan Hùng Các dự án trên khi đi vào hoạt động cũng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh
Cùng với việc chú trọng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, Phú Thọ cũng đang phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản theo
hướng sản xuất hàng hóa
Phú Thọ là một tỉnh nghèo so với cả nước, nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, bởi vậy nông nghiệp có một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh
tế Tuy nhiên, tự bản thân ngành nông nghiệp không thể phát triển nhanh được nếu thiếu sự tác động tích cực của công nghiệp và khoa học, kỹ thuật, công nghệ Với tư cách là một bộ phận hợp thành trong cơ cấu kinh tế thống nhất, sự phát triển của nông nghiệp có mối quan hệ tương hỗ với sự phát triển của công nghiệp, khoa học và dịch vụ Trong mối quan hệ đó, công nghiệp và khoa học - công nghệ hỗ trợ đắc lực và phục vụ cho nông nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐH Hiện tại, Phú Thọ đã hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn: chè, cao su, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gắn với công nghiệp chế biến Chè là sản phẩm có thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp của Phú Thọ Trong mấy năm trở lại đây, sản phẩm này không ngừng phát
Trang 36triển theo hướng xuất khẩu, nhờ đó quy mô và sản lượng không ngừng tăng nhanh
Cùng với đó, cây sắn và cây mía cũng là những cây trồng đang được
mở rộng cả về quy mô và sản lượng vì đây là nguồn nguyên liệu chính cung cấp cho Nhà máy sản xuất Bio-ethanol khu vực phía Bắc (do Công ty cổ phần Hoá dầu và Nhiên liệu sinh học Dầu khí (PVB) làm chủ đầu tư), là dự án nằm
trong “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học của Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007 Đây là nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học đầu tiên được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam, có quy mô đầu tư lớn, công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại với tổng mức đầu tư khoảng 80 triệu USD, công suất 100.000 m3
Ethanol/năm, tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ,
sử dụng nguyên liệu sắn, mía để sản xuất ethanol Sự ra đời nhà máy sản xuất Bio-ethanol khu vực phía Bắc sẽ tạo ra nguồn nhiên liệu sinh học giá rẻ làm nguyên liệu chế biến xăng, tiến tới thay thế một phần xăng; giảm bớt lượng khí thải CO2 của động cơ ra môi trường; góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, chuyển hướng tích cực từ các cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang cây nguyên liệu có giá trị kinh tế cao Phú Thọ cũng là tỉnh có thế mạnh về lâm nghiệp, đây là điều kiện thuận lợi để cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh
Sự gắn kết giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong công nghiệp cũng như nông nghiệp; tạo hiệu ứng dây chuyền phát triển kinh tế; góp phần xoá đói giảm nghèo; xóa bỏ dần kinh tế trì trệ, lạc hậu vốn có của nền nông nghiệp; phát triển các hoạt động dịch vụ ở nông thôn từng bước giảm dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ở Phú Thọ
Trang 37Thứ ba, quá trình CNH, HĐH ở Phú Thọ diễn ra với tốc độ chậm, quy
mô nhỏ bé, công nghệ, trang thiết bị lạc hậu là phổ biến
Với đặc thù là một tỉnh trung du, miền núi, Phú Thọ thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy vậy, đến nay cũng đã đạt được những thành tựu bước đầu đáng kể Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 11,5% - 12%/năm Thu ngân sách nhà nước đạt 2.153 tỷ đồng (năm 2011) Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có mức tăng trưởng khá, nhiều khu, cụm công nghiệp mới được hình thành, quy mô không ngừng được mở rộng Trong lĩnh vực nông nghiệp, Phú Thọ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung vào CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nên bộ mặt nông thôn đã có những chuyển biến tích cực Lĩnh vực thương mại - dịch vụ có bước phát triển, tăng trưởng qua các năm Việc quy hoạch, mở rộng và phát triển đô thị được quan tâm đầu tư xây dựng Thị trường xuất khẩu được mở rộng, hoạt động bưu chính, viễn thông phát triển mạnh
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì kinh tế của Phú Thọ cũng còn rất nhiều khó khăn Cụ thể: tốc độ tăng trưởng kinh tế mấy năm trở lại đây khá cao so với mặt bằng chung, song không ổn định Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, nhất là vùng sâu, vùng xa Đầu tư phát triển thiên về chiều rộng chưa chú trọng đến chiều sâu, hiệu quả kinh tế còn thấp, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, những tiềm năng lợi thế của tỉnh chưa được phát huy, giá trị ngành công nghiệp, dịch vụ thấp chưa đóng vai trò quan trọng và thúc đẩy kinh tế phát triển Nguồn nhân lực vừa yếu về chất lượng, vừa thiếu về số lượng và chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Nhiều dự án khu, cụm công nghiệp đã được xác định nhưng mới dừng lại ở quy hoạch, một số dự án đầu tư được triển khai nhưng chậm chạp, hiệu quả không cao
Phú Thọ có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, nhất là những lĩnh vực hóa chất, phân bón, giấy, đá xây dựng tuy nhiên quy mô, tầm vóc
Trang 38ngành công nghiệp của tỉnh vẫn nhỏ bé chưa tương xứng Tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn chậm, chưa có lĩnh vực đột phá, chủ yếu mới tiến hành ở các huyện đồng bằng, trung du, ở khu vực miền núi phần lớn sản xuất thủ công lạc hậu và manh mún Nông nghiệp chưa phát huy được lợi thế, nhất là lợi thế về lâm nghiệp và chăn nuôi Công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc được quan tâm song công tác quản lý rừng còn lỏng lẻo, tình trạng phá rừng làm nương rẫy và khai thác khoáng sản diễn ra phổ biến Hoạt động thương mại dịch vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế Công tác bao tiêu sản phẩm nông sản cho người nông dân có nhiều khó khăn và không ổn định nên chưa kích thích sản xuất phát triển Lĩnh vực du lịch, dịch vụ có nhiều thế mạnh được quan tâm đầu tư nhưng hoạt động vẫn hạn chế Việc đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là công tác cổ phần hóa gặp nhiều khó khăn Kinh tế tập thể chưa có sự chuyển biến mạnh, nhiều hợp tác
xã hoạt động mang tính hình thức Khu vực doanh nghiệp tư nhân cần khuyến khích để phát triển hơn nữa
Tóm lại, mặc dù có nhiều cố gắng song qui mô CNH, HĐH ở Phú Thọ
còn nhỏ bé, tốc độ khá chậm và lạc hậu, do đó cần phải có sự quan tâm, nỗ lực cố gắng hơn nữa của các cấp, các ngành vào cuộc, sự tác động tích cực của nhiều yếu tố, trong đó có nguồn nhân lực của tỉnh để đưa Phú Thọ phát triển nhanh và bền vững, tiến tới thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH
trên địa bàn tỉnh và trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020
Phú Thọ đang trên đà đẩy mạnh CNH, HĐH, dẫu còn nhiều khó khăn của một tỉnh trung du, miền núi song cùng với việc chuẩn bị nguồn nhân lực
đủ mạnh về số lượng và chất lượng, sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, Phú Thọ sẽ tiến nhanh hơn trong sự nghiệp CNH, HĐH và dần tiến đến mục tiêu trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020 trong tương lai không xa
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trang 39Từ quá trình nghiên cứu tìm hiểu ở trên cho thấy, NLCN có mối quan
hệ rất chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là với quá trình CNH, HĐH Nó quyết định đến sự thành, bại của quá trình này, bởi vậy phát triển NLCN là một tất yếu khách quan để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Tuy nhiên, sức mạnh NLCN không chỉ thể hiện ở số lượng mà quan trọng hơn là ở chất lượng, đó là sự kết hợp hài hòa giữa thể lực, trí lực với những phẩm chất tốt đẹp của con người Việc phân tích mối quan hệ giữa NLCN với CNH, HĐH và đặc điểm phát triển NLCN phục vụ quá trình CNH, HĐH đã cho thấy vai trò quan trọng của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ cũng như trong xu thế hội nhập và phát triển Bởi vậy, phát triển NLCN trong quá trình CNH, HĐH ở Phú Thọ là yêu cầu khách quan, xuất phát từ một tỉnh nghèo, lực lượng lao động dồi dào nhưng còn những bất cập lớn cả về quy mô số lượng, chất lượng và phân bố sử dụng Những tồn tại
đó đang ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của tỉnh, cũng như tiến trình CNH, HĐH
Vấn đề đặt ra đối với tỉnh Phú Thọ trong những năm tới là tập trung phát triển các nguồn lực, đặc biệt là phát triển NLCN Tuy nhiên, quá trình phát triển này vừa phải đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH vừa phải bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tiến trình CNH, HĐH ở Phú Thọ đang trong giai đoạn gấp rút nên rất cần những tài năng, trí tuệ của con người nơi đây mà trước hết là lực lượng lao động - lực lượng đã và đang đóng góp to lớn sức mình vào sự phát triển của tỉnh Song song với việc phát triển NLCN cả về số lượng và chất lượng, Phú Thọ cũng cần tập trung phát triển mạnh đội ngũ nhân lực có trình
độ cao để tạo ra bước đột phá đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh đi lên góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
Dân số trong độ tuổi lao động của Phú Thọ là 828.800 người, chiếm tỷ
lệ cao 62,66% dân số (năm 2010) Theo niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ, cơ cấu nhân lực theo độ tuổi của tỉnh Phú Thọ cũng có sự chuyển biến nhất định
Từ 15 - 24 tuổi có xu hướng tăng qua các năm, từ 22,6% (năm 2000) lên 22,9% (năm 2009) lên 23,0% (năm 2010); độ tuổi từ 25 - 34 cũng có xu hướng tăng, 24,3% (năm 2000) lên 24,6% (năm 2009) lên 24,7% (năm 2010);
độ tuổi từ 35 - 44 có xu hướng giảm, từ 21,9% (năm 2000) xuống 21,7% (năm 2009) xuống 21,6% (năm 2010); trên 45 tuổi, có xu hướng giảm, từ 31,2% (năm 2000) xuống 30,8% (năm 2009) xuống 30,7% (năm 2010)