Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Phát huy giá trị văn hoá trong Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái làm luận văn thạc sĩ của mình.. * Phạm vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM NGỌC ANH
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN
VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ - MÚ
Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM NGỌC ANH
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN
VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ - MÚ
Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VĂN SƠN
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ-MÚ Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI 6
1.1 Vài nét về người Khơ-mú ở Việt Nam 6
1.1.1 Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú 6
1.1.2 Lịch sử tộc người 6
1.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú 8
1.2 Khái quát về người Khơ-mú ở Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái 11
1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 11
1.2.2 Dân số và dân cư 12
1.2.3 Lịch sử cư trú 13
1.2.4 Các hoạt động kinh tế 14
1.2.5 Tổ chức xã hội 15
1.2.6 Văn hoá truyền thống 17
1.3 Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 20
1.3.1 Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú 20
1.3.2 Những nét văn hóa trong tục lệ cưới xin của người Khơ-mú 33
Chương 2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI, NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ-MÚ Ở VĂN CHẤN YÊN BÁI 55
2.1 Thực trạng những biến đổi trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 55
2.1.1 Thực trạng và những biến đổi trong hôn nhân 55
2.1.2 Thực trạng và những biến đổi trong nghi lễ cưới xin 64
2.1.3 Nguyên nhân của sự biến đổi trong hôn nhân và tục lệ cưới xin 73
2.2 Giải pháp phát huy giá trị truyền thống trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ Mú ở Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 75
2.2.1 Phát huy giá trị văn hóa trong hôn nhân 75
Trang 42.2.2 Phát huy giá trị văn hóa trong tục lệ cưới xin 79
2.3 Một số kiến nghị giải pháp 83
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hôn nhân và cưới xin là một trong những sự kiện hệ trọng trong vòng đời của con người, là mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành và khẳng định vai trò của mỗi con người trong gia đình, dòng họ và trong xã hội Không riêng ở Việt Nam mà khắp mọi nơi trên thế giới, vấn đề hôn nhân luôn được các dân tộc coi trọng và dành được sự quan tâm đặc biệt Hôn nhân và tục lệ cưới xin thể hiện rõ đặc trưng văn hóa riêng, đậm đà bản sắc của mỗi tộc người
Trong nhiều năm trở lại đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là sự tác động của kinh tế thị trường làm cho đời sống văn hoá và các phong tục tập quán truyền thống đã có những thay đổi về nhiều mặt cả tích cực và tiêu cực làm ảnh hưởng nhiều đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán truyền thống trong đó có hôn nhân và cưới xin của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết
Cho đến nay, người Khơ-mú ở Việt Nam không đông Cả nước có 56.542 người (năm 1999), trong đó trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú
có hơn 1.000 người Văn Chấn là huyện duy nhất trong tỉnh có nhiều người Khơ-mú sinh sống Do tác động của nền kinh tế thị trường, do có sự giao thoa văn hóa của các tộc người sống xen kẽ, những năm qua vấn đề hôn nhân gia đình và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú đã có nhiều thay đổi theo những chiều hướng khác nhau Đặc biệt là đã bắt đầu xuất hiện một số vấn đề làm ảnh hưởng đến gìn giữ bản sắc văn hóa trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ- mú ở Yên Bái
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Trang 6Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hoá truyền thống của người Khơ-mú nói chung, ở Văn Chấn nói riêng Từ đó, thấy được những giá trị tích cực cũng như những yếu tố không còn phù hợp trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá mới Đồng thời có thêm luận cứ khoa học giúp cho các nhà quản lý ở địa phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách và tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị T.W 5, khoá
8 về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Phát huy giá trị văn hoá trong Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái làm luận văn thạc sĩ của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, đã có một số các tác giả người nước ngoài nghiên cứu về người Khơ-mú nhưng chủ yếu về người Khơ-mú ở Lào và Thái Lan, ở Việt
Nam còn rất ít, ngoại trừ công trình Études Ethnographiques sur les Khas, Revue Indochinoise, 1907, của Macey và bài viết Chương trong văn học dân gian, trong lịch sử và tiềm thức của người Khơ-mú của TS Frank Proschan
Tuy nhiên, so sánh với các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền Bắc, thì Khơ-mú cũng là tộc người được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm, chú ý Ngay sau 1954, người Khơ-mú được nhiều người biết
đến qua các báo cáo của Ban Dân tộc Khu Uỷ Tây Bắc với tộc danh là Xá
Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước, các công trình nghiên cứu
có liên quan đến người Khơ-mú bắt đầu được công bố như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, 1963 và Sự phân bố dân tộc và nhóm dân cư ở miền Bắc Việt Nam, 1966 của Vương Hoàng Tuyên
Từ sau 1975, người Khơ-mú ngày càng được giới thiệu nhiều hơn trong
các công trình, bài viết, tiêu biểu như: Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học xã
Trang 7hội H, 1972; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978; Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam do Khổng Diễn chủ biên, Nxb Văn hoá Dân tộc, H, 1999; Người Khơ-mú do Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb Trẻ -2006; Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc, Nxb Nghệ An, 1993; Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn, Nghệ An do Phạm Quang Hoan chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995; Xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1975; Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1980; Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1983; Dân tộc và bản sắc văn hoá vùng Văn Chấn, Mường Lò của Bùi Huy Mai, Nxb Văn hoá Dân tộc, H,
2007… Trong các công trình, bài viết kể trên, người Khơ-mú đã được giới thiệu khá đầy đủ từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú cho đến các hoạt động kinh tế truyền thống, các dạng thức văn hoá cổ truyền của họ Tuy nhiên, cho đến nay vẫn thiếu vắng một khảo cứu mang tính chuyên sâu về phong tục hôn nhân và cưới xin của họ Đặc biệt, vẫn còn rất ít các công trình, bài viết riêng về người Khơ-mú ở Văn Chấn nói chung, và phong tục hôn nhân và cưới xin của họ nói riêng Mặc dù vậy, đây là những tư liệu hết sức quý giá, giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tuy nhiên chưa có dề tài nghiên cứu sâu sắc về những giá trị văn hoá của hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú dưới góc độ xã hội- chính trị
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Mục đích
Đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Trang 84 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu: Những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục
lệ cưới xin của người Khơ-mú, những yếu tố truyền thống và những yếu tố biến đổi
* Phạm vi nghiên cứu là người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên
Bái, Ngoài ra, luận văn cũng có so sánh với hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở Yên Bái với người Khơ-mú ở một số địa phương khác như ở Nghệ An, Hà Tĩnh qua tham khảo các tài liệu đã công bố
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp: phương pháp luận mác xít và phương pháp nghiên cứu chính trị- xã hội Trong đó luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp Ngoài ra, luận văn có sử dụng phương pháp khảo sát thực địa: bao gồm quan sát, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Đây là nghiên cứu có tính tổng hợp, đầy đủ và chuyên sâu đầu tiên về hôn nhân và tục lệ cưới xin dưới góc độ chính tri- xã hội của người Khơ-mú huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Luận văn góp phần làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của người Khơ-mú tại địa phương và là tài liệu phục vụ cho giảng dạy môn Lý luận chính trị
Trang 97 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được bố cục thành 2 chương:
Chương 1: Khái quát về người Khơ-mú, đặc điểm hôn nhân và tục lệ
cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Chương 2: Thực trạng, những giải pháp phát huy giá trị văn hoá trong
hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Trang 10
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN
VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ-MÚ
Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
1.1 Vài nét về người Khơ-mú ở Việt Nam
1.1.1 Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú
Người Khơ-mú là một trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Cho đến nay, dân số người Khơ-mú ở Việt Nam không đông Theo số liệu thống kê năm 1999, dân tộc Khơ-mú có 56.542 người, đứng thứ 23 trong 54 các dân tộc Việt nam Họ chủ yếu cư trú tại các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái Khơ-mú là một trong sáu tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me (của Ngữ hệ Nam Á) miền Bắc Việt Nam
Người Khơ-mú tự gọi mình là Khmụ, Kmh mụ hoặc Kừm mụ tuỳ theo
cách phát âm ở từng địa phương Những tên ấy có nghĩa chung là “người” hay
“cộng đồng người” Tuy vậy, trước ngày hoà bình lập lại (1954) thì các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me ở Tây Bắc nói chung và người
Khơ-mú nói riêng vẫn thường được gọi bằng tên phổ biến là Xả hoặc Xá (với
nghĩa thấp hèn, da đen như cái giàn bếp)
Ngoài tên Xá, người Khơ-mú còn được các dân tộc gọi bằng những tên khác nhau: Xá Cẩu, Khá Klẩu, Mảng Cẩu (người búi tóc ngược), Tềnh, Phu Thênh (người ở trên núi cao), Tày Hạy (người chuyên làm nương), Mứn Xen
(ngàn vạn) v.v… Sau đợt xác minh thành phần dân tộc (1968-1978), Khơ-mú trở thành tên gọi chính thức, được ghi trong Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam, công bố năm 1979
1.1.2 Lịch sử tộc người
Khi xem xét về nguồn gốc và lịch sử của người Khơ-mú ở Tây Bắc Việt Nam, trước đây có ý kiến cho rằng cùng với người Kháng, Xinh-mun,
Trang 11Mảng, Khơ-mú cũng là một trong những cư dân bản địa đã cư trú lâu đời ở vùng núi Tây Bắc Ý kiến này được trình bày trong tài liệu “Báo cáo về tình hình người Xá Cẩu” của Ban Dân tộc Tây Bắc năm 1954 Sau này, Lã Văn
Lô, Vương Hoàng Tuyên cũng có nhắc lại trong các bài viết của mình Theo truyền thuyết trong truyện “Quả bầu” của Người Thái Tây Bắc cũng kể rằng:
Tổ tiên của người Khơ-mú và người Thái đều chui ra từ một quả bầu nhưng người Khơ-mú thì chui ra trước theo lỗ dùi bằng sắt nhọn, nên có màu da đen, còn tổ tiên người Thái thì chui ra sau bằng lỗ dao khoét, nên có màu da trắng
hơn
Có lẽ vì thế mà người ta cho rằng truyền thuyết “Chương Han” vốn là của người Khơ-mú, nói về một vị tù trưởng của mình đã một thời tập hợp được hàng ngàn binh lính đánh chiếm được nhiều vùng rộng lớn; sau đó người Thái tiếp thu cốt truyện này để sáng tác và phát triển thành một truyện thơ đồ sộ, hào hùng mà ngày nay người ta quen gọi là: “Sử thi Chương Han” hay “Anh hùng ca Khủn Thưởng”, đồng thời biến Chương Han thành người Thái từ đó Trong một sử thi khác của người Thái cũng có đoạn nói rằng: Khi
họ đến đánh chiếm lưu vực sông Đà, sông Mã, Nậm U, Nậm Khoóng thì có gặp một giống người được gọi là Xá Chi vốn sinh ra từ quả bầu thần thoại với người Thái, cũng có tục đội khăn piêu buông sau gáy nên “Không chia hai nửa đánh nhau” Nếu như Xá Chi là tổ tiên của người Khơ-mú như sử thi đã miêu tả thì tộc người này đã có mặt ở Tây Bắc từ thế kỷ thứ XI hoặc thế kỷ thứ XII vì nó trùng khớp với thời gian người Thái Đen thiên di từ Mường Lò (Yên Bái) vào sông Đà, sông Mã, Nậm U, Nậm Khoóng
Tuy nhiên, ngay từ đầu đã có những ý kiến nghi ngờ về quan điểm người Khơ-mú là cư dân bản địa miền Tây Bắc nói trên Sau những đợt điền
dã ở vùng Tây Bắc từ những năm 1960, GS Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ý kiến nghi ngờ này trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 78/1965 và chứng minh rằng Khơ-mú không phải là cư dân bản địa miền Tây Bắc, mà họ mới di cư từ Lào
Trang 12sang Việt Nam cách đây hơn 200 năm Đến nay, với những tư liệu và tài liệu thu thập được, ý kiến này vẫn phù hợp Về mặt nhân chủng, khi so sánh người Khơ-mú với người Kháng và người La Ha, Nguyễn Đình Khoa cũng nhấn mạnh, ở người Khơ-mú, yếu tố Inđônêdiêng trội hơn yếu tố Nam Á, mặc dù yếu tố Inđônêdiêng ở họ cũng đang mờ dần
Các truyền thuyết về tranh chấp đất đai của người Thái cũng không thấy nhắc gì tới người Khơ-mú Như vậy có thể khẳng định rằng, nguồn gốc của người Khơ-mú là từ Lào (tập trung ở Luông Pra Băng với các vương quốc
Swa/Saowa), nhưng sau này người Thái do tù trưởng Khun Bo Rôm cùng con trai là Khun Lò tràn từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống đánh chiếm, cộng thêm
các cuộc xâm lược từ bên kia sông Mê Công của phong kiến Xiêm thế kỷ XVII-XVIII, nên họ phải chạy sang các nước láng giềng lánh nạn, trong đó có miền Tây Bắc, miền núi Thanh - Nghệ và cả Bắc Thái Lan Sau này, với mong muốn khôi phục lại vương quốc, thủ lĩnh Chương Han mới tổ chức lực lượng đánh chiếm nhiều nơi, gọi là nạn giặc Chương (xấc Chương), trong đó
có nhiều lần đánh sang cả Mường Lay (Lai Châu), Kỳ Sơn (Nghệ An) vào những năm cuối thế kỷ XIX Sau khi Chương Han thất bại, những người theo
ông phải ở lại Việt Nam và chịu thân phận cuông, nhốc (tức là nô lệ, tôi tớ)
cho các lãnh chúa Thái
1.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú
Hầu hết người Khơ-mú đều lấy canh tác nương rẫy làm nguồn sống chính Ngoài trồng lúa, bà con còn trồng các loại ngô, sắn, bầu bí, cây ăn quả Công việc hái lượm, săn bắt, đánh bắt cá còn chiếm vị trí khá quan trọng trong đời sống hàng ngày Ngoài ra chăn nuôi gia súc, gia cầm phổ biến ở hầu hết trong các gia đình Nghề thủ công truyền thống phát triển nhất là đan lát với nhiều sản phẩm đan có tiếng như mâm mây, gùi, ghế và các đồ gia dụng khác Trao đổi chủ yếu diễn ra trong nội bộ và với người Thái Trước kia, trao đổi chủ yếu dưới hình thức vật đổi vật, nay phổ biến dùng tiền
Trang 13Xã hội cổ truyền của người Khơ-mú được tổ chức theo thiết chế mường của người Thái Các bản Khơ-mú đều trực thuộc mường, nhưng vẫn được duy trì việc tự quản theo tập quán truyền thống Mỗi bản có trưởng bản
bản-Khun cung (cha truyền con nối, do bầu bán hay do chỉ định) đứng đầu điều
hành, quản lý Hằng năm, mỗi bản phải chịu cống nạp và lao dịch theo lệ mường quy định Ngoài ra, còn phải nộp các loại thuế cho chúa đất mường là người Thái
Từ trước tới nay, người Khơ-mú thường ở thành từng bản làng, vẫn có tập quán ở nhà sàn, kiểu nhà hình khum mai rùa Do du canh du cư, nên kiểu nhà truyền thống của họ thường chỉ làm bằng các loại gỗ tạp, ba gian, lợp tranh hay lá cọ, đầu hồi có trang trí khau cút hình chéo Thông thường có hai bếp: bếp dành để nấu ăn hàng ngày và một bếp chỉ dùng để nấu nướng khi giỗ
tổ họ hay khi làm nhà lớn Nơi thờ ma nhà thường bố trí thành một gian riêng tại hồi phía sau Sau này, nhiều bản đã định cư, nên nhà cửa có phần khang trang hơn
Trừ một số nơi có nghề dệt, còn lại hầu hết người Khơ-mú thường đem các sản phẩm đan lát đổi lấy vải của người Thái về sử dụng Hiện nay, ở Điện Biên, Lai Châu, phụ nữ Khơ-mú còn mặc váy đen và kiểu áo truyền thống có
trang trí hàng cúc bạc hay nhôm hình chữ nhật, đội khăn đen kiểu khăn piêu;
còn lại thường mặc y phục kiểu phụ nữ Thái, thường đeo các đồ trang sức bằng bạc, nhôm như: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai; Đàn ông Khơ-mú mang trang phục của người Thái hoặc trang phục của người Kinh và thường đội mũ đen
Người Khơ-mú gọi dòng họ là tạk hay sinh, để chỉ những nhóm người
cùng huyết thống và những người cùng tổ tiên huyền thoại, thể hiện qua việc
kiêng cữ và thờ chung một vật tổ tô tem (động vật hay thực vật) Các họ mang tên thú gồm: Rvai (hổ), Rvaivêngung (hổ vằn), Rvaitlắp (báo), Rvaiđer (hổ xám ); Tmoong (chồn, cầy hương) Các họ mang tên chim gồm: Chưnđre
Trang 14(chim màu trắng); Tgooc (chim đuôi dài); Ric (chim én); Pit (chim cú); Thràng (đại bàng); Ôm (rẻ quạt); Elót (chim elót) Họ mang tên thực vật gồm: Tvạ (dương xỉ) Họ mang tên vật vô tri vô giác có: Soong (cái rọ lợn).
Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống, tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội, đến tư tưởng và ý thức tộc người
Với người Khơ-mú, hình thức gia đình cũng giống như người Việt, đó
là quá trình phát triển từ hình thức đại gia đình đến gia đình hạt nhân Trong qua trình phát triển của xã hội, hình thức đại gia đình ngày càng giảm dần, thay vào đó là gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ với hai thế hệ vợ chồng và con cái
Gia đình người Khơ-mú là gia đình phụ quyền, người chồng, người cha
là người chủ gia đình, có vai trò quan trọng nhiều mặt của cuộc sống: có quyền hành lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin, tang ma đến công việc tín ngưỡng Đồng thời, họ còn là người thay mặt gia đình quan hệ với họ hàng, làng xóm và các tổ chức xã hội, với chính quyền địa phương Mọi tài sản trong nhà, kể cả ruộng nương, trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn ông là người chủ nắm giữ Quyền lực này sẽ được bàn giao lại cho con trai cả khi đã trưởng thành đảm đương, người cha chỉ đóng vai trò cố vấn và lo việc đối ngoại
Bên cạnh quyền lực thực tế của người chồng người cha được xã hội ghi nhận, người phụ nữ (người mẹ) trong gia đình người Khơ-mú có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và sản xuất, từ việc tham gia lao động sản xuất trên nương, ngoài ruộng đến các công việc nội chợ trong gia đình, nuôi dạy con cái… ngoài việc tham gia lao động nặng nhọc, người phụ nữ đảm nhận lớn hơn nam giới rất nhiều Tuy nhiên trong xã hội truyền thống của người Khơ-mú, người phụ nữ hầu như không có quyền hành gì lớn trong gia đình
Trang 15Khi còn nhỏ chịu sự quản lý của gia đình, cha mẹ, khi có chồng thi theo chồng, phụ thuộc vào chồng
Trong gia đình người Khơ-mú, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tương đối bình đẳng Con cái phải có hiếu với cha mẹ, phải kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng và vâng lời cha mẹ Cha mẹ phải chăm lo nuôi nấng, giáo dục con cái, truyền đạt kinh nghiệm sản xuất, các nghề thủ công, các công việc trong gia đình Cha mẹ uốn nắm con cái về lời ăn tiếng nói, cách ửng xử trong gia đình và với cộng đồng
Gia đình người Khơ-mú là nơi bảo tồn các gía trị văn hóa truyền thống,
là nơi trao truyền các truyền thống tộc người trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
1.2 Khái quát về người Khơ-mú ở Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái
Trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú chỉ có hơn 1.500 người tập trung sinh sống tại: Nghĩa Sơn (huyện Văn Chấn) và Túc Đán (huyện Trạm Tấu) Mặc dù số lượng không nhiều, song người Khơ-mú ở Văn Chấn, Yên Bái cũng tạo dựng được những nét văn hóa tộc người độc đáo, có bản sắc riêng
1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Văn Chấn là một trong những địa danh ở miền núi Tây Bắc có người Khơ-mú sống tập trung với tỷ lệ cao và còn giữ được nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa dân tộc mình
Tuy chỉ cách thị xã Nghĩa Lộ chưa đến 10km và cách huyện lỵ Văn Chấn gần 20km nhưng nơi cư trú của người Khơ-mú (Nghĩa Sơn) là một vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Phía Đông giáp phường Pú Trạng; phía Nam giáp xã Nghĩa An; phía Bắc giáp xã Nghĩa Phúc (thuộc thị xã Nghĩa Lộ); phía Tây giáp xã Túc Đán (thuộc huyện Trạm Tấu)
Nơi cư trú và canh tác của người Khơ-mú ở Văn Chấn có tổng diện tích hơn 927 ha, trong đó đất nông nghiệp 43 ha; đất rừng tự nhiên 41,6 ha; đất
Trang 16rừng tái sinh 315,5 ha; đất rừng kinh tế 130 ha; đất rừng phòng hộ 130 ha; đất trồng lúa nương và cây màu 155 ha; các loại đất khác hơn 92 ha Nhìn chung địa hình phức tạp, có độ dốc vừa và thoải, nên có điều kiện canh tác ruộng bậc thang
Là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió nóng theo hướng tây nam thổi từ Mù Cang Chải và Văn Chấn
Trên địa bàn có hai con suối chảy qua Nghĩa Sơn: suối Huông dài 4 km
và suối Nậm Tộc dài hơn 10 km, đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Hai con suối này có giá trị tưới tiêu, nước sinh hoạt và thủy điện nhỏ Vào mùa mưa, nước thường dâng cao, gây lũ lụt, lũ quét
Do diện tích rừng tự nhiên giảm nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh và rừng trồng, nên thảm thực vật ở Nghĩa Sơn không dày Động vật chủ yếu chỉ còn lợn rừng, cầy hương, gà rừng, hoẵng các loại động vật quý hiếm như voi, tê giác, hổ, gấu và bộ linh trưởng hầu như không còn
1.2.2 Dân số và dân cư
Tính đến cuối năm 2008, toàn Nghĩa Sơn có 311 hộ, 1.474 khẩu, trong
đó Khơ-mú: 221 hộ, 1.083 khẩu, chiếm 73,22%, cư trú tại sáu bản: Bản Loọng, bản Bẻ, Noong Khoang 1, Noong Khoang 2, tập trung đông nhất tại hai bản là Nậm Tộc 1 và Nậm Tộc 2 Ngoài ra, trong xã còn một số dân tộc khác cùng sinh sống như người Thái: 235 khẩu, người Kinh: 150 khẩu, người Mường: 8 khẩu, người Hmông: 3 khẩu1
Đời sống kinh tế của bà con còn khá khó khăn Nền kinh tế ở Nghĩa Sơn chủ yếu là nông - lâm nghiệp, nhưng việc áp dụng khoa học, kỹ thuật còn rất hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu, nên năng suất cây trồng chưa cao, dẫn
Trang 17đến tình trạng là số hộ nghèo đói còn chiếm trên một nửa (52,68%) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,7% Lương thực bình quân đầu người hiện tại là 253 kg/năm; thu nhập bình quân đầu người gần 200.000đ/tháng
Hệ thống cơ sở hạ tầng (Điện - đường - trường - trạm) cũng chưa hoàn chỉnh Đường giao thông từ Quốc lộ 32 vào trung tâm vẫn còn có những đoạn đường đất, đường cấp phối Đường vào các thôn bản chủ yếu là đường đất, nên việc giao lưu, đi lại còn khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa
Nghĩa Sơn có một trạm y tế nhưng cho đến nay vẫn chưa có bác sĩ Có trường Mầm non và trường Tiểu học đảm bảo cho con em đủ tuổi là đến trường Tuy nhiên cơ sở vật chất vẫn còn rất nghèo, cần được đầu tư, nâng cấp thêm
1.2.3 Lịch sử cư trú
Trong cuốn Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam (phần Tộc danh và lịch sử tộc người do Vi Văn An chấp bút), trang 32 có đoạn viết: Một nhóm nhỏ người Khơ-mú hiện cư trú ở xã Nghĩa Sơn (Văn Chấn, Yên Bái) là do một tù trưởng Thái dẫn họ sang khi đi đánh giặc vào cuối thế kỷ XIX Đây chính là những
bộ phận người Khơ-mú đầu tiên cư trú tại vùng Văn Chấn Những tư liệu khảo sát được về sự có mặt của người Khơ-mú tại địa phương này cũng cho thấy rõ hơn về nguồn gốc và những đợt chuyển cư của họ đến Văn Chấn hiện nay Theo ông Vì Văn Sang (74 tuổi, bản Nậm Tộc 2, nguyên là Bí thư Đảng
uỷ xã) thì người Khơ-mú cư trú ở xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn đến nay đã được 6-7 đời Từ năm 1954, trở về trước, mỗi bản mới chỉ có vài ba nhà, từ
1954 trở về sau, mỗi bản có khoảng 10 hộ Ba dòng họ Khơ-mú đến lập
nghiệp đầu tiên trên mảnh đất này là: họ Rvaiđer: hổ xám (chuyển thành họ Lường), họ Ric: chim cú (chuyển thành họ Vì-nay là họ chiếm số đông) và họ Tvạ: dương sỉ (chuyển thành họ Lò) Gốc gác của ba dòng họ này từ Điện
Biên, Sơn La di cư xuống Nguyên nhân là do nạn đói kém và do chạy nạn giặc dã Lúc đầu khi mới di cư về vùng Văn Chấn, một số gia đình người
Trang 18Khơ-mú sống tản mát tại các bản ở các xã khác nhau, sau này mới quy tụ lại tại các bản của xã Nghĩa Sơn, nhưng tập trung nhất tại hai bản Nậm Tộc 1 và Nậm Tộc 2
Có một thực tế là Nghĩa Sơn ở trên một vùng núi cao và tất cả người Khơ-mú ở Văn Chấn đã tụ tập về đây Họ gắn bó với quả núi này và không muốn đến nơi khác, dù cuộc sống ở Nghĩa Sơn rất khó khăn, vất vả Chính vì sống tập trung trên một địa bàn nên người Khơ-mú ở Nghĩa Sơn còn gìn giữ được nhiều nét văn hoá riêng của dân tộc mình, có thể nói là còn đậm nét hơn một số nơi khác
1.2.4 Các hoạt động kinh tế
Trước kia, người Khơ-mú ở Văn Chấn sinh sống bằng canh tác nương rẫy, gắn với cuộc sống du canh du cư Từ sau năm 1968, do phong trào vận động hạ sơn, nên đa phần họ đã định cư và bắt đầu canh tác ruộng nước
Đến nay, toàn xã có khoảng 70% số hộ làm ruộng nước, chăn nuôi; chỉ còn 30% số hộ do địa hình đồi núi, không có điều kiện làm thủy lợi, nên vẫn canh tác nương rẫy Tuy nhiên, do đất bạc màu nên năng suất thường không
ổn định
Ngoài nương lúa còn có nương ngô, sắn, đỗ xanh, khoai lang và trồng xen canh các loại đỗ, bầu, bí… công việc hái lượm, săn bắt vẫn duy trì, nhưng thường tiến hành theo mùa Mục đích săn bắt, hái lượm chủ yếu nhằm cải thiện nhu cầu thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày Một số gia đình đã đào ao nuôi cá, chăn nuôi gia súc và gia cầm
Nghề thủ công phổ biến là đan lát Các sản phẩm đan lát của họ khá phong phú về chủng loại, kiểu dáng Từ các loại gùi, thúng, giần, sàng, cho
đến mâm mây, ghế mây, hộp đựng chỉ, ép cơm; trong đó bem (plụm) là sản
phẩm đan có tiếng nhất, được các tộc người trong vùng ưa chuộng Họ dùng sản phẩm mây tre đan để đổi lấy những thứ cần thiết cho cuộc sống (quần áo, vải vóc ) hoặc là đổi công lao động
Trang 191.2.5 Tổ chức xã hội
“Bản” là tổ chức chính trị-xã hội có tính tự quản ở địa phương, “Bản” của người Khơ-mú thông qua bộ máy điều hành do dân lựa chọn Cấu thành
bộ máy tự quản là các chức vị có nhiệm vụ khác nhau Đứng đầu mỗi bản là
Khun cung (trưởng bản) do dòng họ Vì nắm giữ Khun cung có trách nhiệm
duy trì sự hoà thuận giữa các thành, giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh trong
bản và có quyền xử phạt những người vi phạm luật tục Khun cung là người
thay mặt dân bản thiết lập mối quan hệ láng giềng với các bản lân cận, giao thiệp với các chức dịch cấp mường và cũng là người điều hành công việc lao động sản xuất, duy trì phong tục tập quán dân tộc, đồng thời cùng với các thầy cúng chủ trì nghi lễ cúng bản vào dịp đầu năm
Bên cạnh Khun cung, già làng cũng đóng vai trò quan trọng trong xã
hội của người Khơ-mú Họ là những người tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất, thông thạo phong tục tập quán nên thường được dân bản vị nể Có thể nói, già làng như là cố vấn cao nhất về phong tục, tập quán, kinh nghiệm sản xuất và đối nhân xử thế cho các cá nhân và cộng đồng, nên các trưởng bản thường phải tranh thủ ý kiến của họ trong điều hành công việc chung của bản
Ngoài ra, trong các bản của người Khơ-mú ở Văn Chấn trước kia còn
có những người hành nghề tín ngưỡng tôn giáo Họ được dân bản gọi chung
là mo (mo cúng, mo xem bói, mo bốc thuốc chữa bệnh ), có vai trò quan
trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng
Hiện nay, người Khơ-mú ở Văn Chấn gọi dòng họ là Sinh Trong xã có
bảy họ: Vì, Lường, Lò, Mè, Lèo, Hà và Hoàng, trong đó họ Vì là họ chiếm số đông và có thế lực nhất Người Khơ-mú ở Văn Chấn cũng có ba mối quan hệ
họ hàng: tai hem (anh em trai cùng thế hệ, cùng tô tem), dông êm, mạ êm (anh
em trai bên vợ) và mạ cưn, dông quynh (anh em trai bên chồng chị em gái)
Trong quan hệ dòng họ, người cậu (người anh, người em trai của mẹ)
có vai trò quan trọng Cậu vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến
Trang 20gia đình các cháu con của chị gái, đặc biệt là cháu gái Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, cha mẹ phải xin ý kiến của người cậu từ khi ăn hỏi cho đến khi làm lễ cưới chính thức Người cậu phải là người chủ trì trong ăn hỏi và trong
lễ cưới Đôi khi, người cậu là người quyết định trong việc hôn nhân của con
cháu Khi cháu làm nhà mới, người cậu là người làm “the le” (tấm đan hình
mắt cáo) buộc trên đầu cây cột ở gian khách, đồng thời cũng là người đầu tiên nhóm bếp lửa của ngôi nhà mới; cho hạt giống, gia súc
Do vai trò người cậu rất quan trọng, nên khi người cậu chết, cháu rể phải có trách nhiệm tổ chức tang ma và được hưởng đùi trâu, đùi lợn theo quy định của tập quán Không những thế, người Khơ-mú còn có tục chia tài sản của ngươi cậu cho cháu gái sau khi ông ta qua đời
Hiện tại vẫn tồn tại hình thức gia đình lớn nhiều thế hệ, nhưng chủ yếu vẫn là hình thức gia đình nhỏ, gia đình gồm vợ chồng, con cái và bố mẹ già là phổ biến Gia đình người Khơ-mú là một đơn vị kinh tế độc lập, tài sản của gia đình là nhà ở, nương rẫy, công cụ, gia súc và đồ dùng gia đình Việc phân công lao động trong tiểu gia đình tuỳ theo giới tính Đàn ông thì đảm nhiệm những công việc nặng nhọc như làm nhà cửa, nương rẫy, săn bắt, còn đàn bà thì làm những việc nhẹ trong sản xuất, lấy nấm, kiếm củi, hái măng, nội trợ, thả trâu bò thì dành cho người già và trẻ em
Gia đình Khơ-mú thể hiện tính phụ quyền khá rõ Người cha có vai trò quyết định mọi việc trong nhà và kể cả việc đối ngoại Chủ nhà là người chủ trì các nghi lễ cúng tổ tiên, cúng nhà mới, khi trong nhà có người ốm đau Khi cha mẹ qua đời, con trai là người lo tang lễ, đưa hồn cha mẹ về thế giới bên kia và ra nghĩa địa rước hồn ma về ngự tại nơi thờ ma trong nhà Trong việc phân chia tài sản, chỉ con trai được hưởng quyền thừa kế
Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng người Khơ-mú đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa khá phong phú, ổn định và còn lưu giữ đến tận ngày nay như phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, truyền thuyết, cồng chiêng, đàn
Trang 21sáo, ca múa dân gian.v.v Đấy là những di sản quý báu cần được trân trọng, bảo tồn (Nội dung này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau)
1.2.6 Văn hoá truyền thống
+ Trang phục của người Khơ-mú ở Văn Chấn cũng không có gì đặc biệt bởi họ không duy trì nghề dệt vải Trước kia, y phục của nam nữ Khơ-
mú cơ bản giống như bộ y phục của người Thái Đen Mường Lò Hiện nay, nam giới chủ yếu mặc âu phục như người Kinh, nữ vẫn mặc theo kiểu y phục phụ nữ Thái
+ Ẩm thực của người Khơ-mú cũng đơn giản trên cơ sở tự cung tự cấp Người Khơ-mú rất thích ăn cay, ăn đồ nướng Món ăn đặc trưng nhất của họ
là thịt lam nhoọc (thịt chuột, sóc sấy khô nấu trộn với tấm) Họ cũng thích
ăn món ruột non (nậm pịa) như người Thái trong vùng
Cũng giống như nhiều dân tộc miền núi khác, người Khơ-mú Nghĩa Sơn thường xuyên uống rượu cần và rượu nếp do họ tự cất ủ theo kiểu riêng của mình Trong đời sống văn hóa của người Khơ-mú, ruợu cần có vị trí và vai trò quan trọng Nghi thức cúng rượu cần được sử dụng trong những sự kiện quan trọng của gia đình, đó là lễ lên nhà mới, lễ cưới và lễ rước hồn mẹ lúa Rượu cần chỉ cúng cho tổ tiên và trong lễ hội Xên bản, Xên mường
* Văn hóa tinh thần
+ Cũng giống như các vùng khác, tín ngưỡng dân gian của người
Khơ-mú Nghĩa Sơn khá sâu đậm Họ vừa có ý thức tín ngưỡng riêng của dân tộc
Trang 22mình, lại vừa chịu sự chi phối, giao thoa của tín ngưỡng bản địa các dân tộc lân cận, đặc biệt là dân tộc Thái
Đồng bào cho rằng: mọi hoạt động trong cuộc sống thường ngày của mình đều do lực lượng siêu nhiên giám sát, chi phối Lực lượng “siêu nhiên”
ấy được gọi chung là ma, trong đó ma trời (Hrôi Lvang) là to nhất, đáng tôn trọng và đáng sợ nhất Ma trời có nhiều ma khác nhau giúp việc như ma sấm,
ma mưa gió nên nếu mà trời giận thì sẽ rất nguy hiểm Sau ma trời là ma đất (Hrôiptê), dưới quyền ma đất là ma nương, ma rừng, ma bản… Loại thứ ba là
ma Thuồng Luồng - ma tượng trưng cho nguồn nước, sông suối (Prưdồng) Thuồng Luồng có quyền uy nằm ở những vũng nước lớn để điều hành lượng nước cần thiết cho con người Ma thứ tư là ma Hổ (Rvai) là chúa tể của rừng núi, cai quản tinh linh của muôn loài thú vật
Đó là bốn loại ma quan trọng nhất mà bất cứ dịp cúng lễ nào cũng được nhắc tới Bốn ma to này cùng với ma nhà và ma Tổ tiên (của thị tộc, dòng họ)
có thể trừng phạt hay phù hộ con cháu bất cứ lúc nào tuỳ theo cách đối xử của con cháu
Tục thờ vật tổ (tô tem) cũng in đậm ở người Khơ-mú cho đến tận ngày nay Mỗi khi lễ tết, hội hè họ sẽ hoá trang giống hình thù con vật hay cây cối mang dòng họ của mình để tham gia cùng cộng đồng Trong dịp cúng tổ tiên, các dòng họ đều diễn lại những đặc điểm của dòng họ mình khi xưa
Ngoài lễ cúng ma nhà, người Khơ-mú còn có tục lệ cúng ma bản, ma làng Ma làng được bà con quan niệm là linh hồn của những người có công lập nên làng bản trong thuở ban đầu Ngoài ra, dân bản còn tổ chức cúng ma trời đất, ma sông suối, ma tà, ma độc (gọi chung là ma đến ăn)
Các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp cũng rất được người Khơ-mú coi trọng và thực hiện khá đầy đủ Tùy tính chất và nhu cầu, đặc điểm, thời gian mà những nghi lễ được tổ chức thích hợp
Trang 23Lễ cầu mưa: Người Khơ-mú sợ nhất là vào mùa nương rẫy mà hạn hán, nên trước mùa nương rẫy bà con mở hội “cầu mưa” Cách cầu mưa của họ không chỉ là các hình thức ma thuật, bắt chước, diễn lại hiện tượng mưa rơi (vảy nước, tuốt lá thể hiện tiếng mưa), mà còn là làm các điều “xúi quẩy” vào chỗ linh thiêng ở nương để “chọc tức” trời hay ma hạn hán (hrôi nhan) bực mình mà đổ mưa xuống
Lễ tra hạt: Lễ này được tiến hành sau khi đốt rẫy ba ngày chủ nhà phải làm một khu rẫy tượng trưng rộng khoảng 2m2 rồi trồng khoai sọ vào bốn góc Sau đó mổ một con gà trống luộc chín cùng với chai rượu, trầu cau đặt lên mâm để cúng và đọc thần chú cầu mong thần linh phù hộ cho hạt mọc đều, chim muông không đến phá phách…
Lễ cúng hồn lúa, mẹ lúa: Người Khơ-mú cho rằng lúa có hồn và phải giữ được hồn của nó thì lúa mới chắc, mới cho con người thu hoạch có kết quả Nếu hồn lúa bỏ đi là lúa hỏng hết Lễ này được tổ chức vào một ngày tốt trong tháng 9 âm lịch bên cạnh kho thóc vừa dựng lên trên nương rẫy Thầy cúng thay mặt gia đình vào hành lễ, mời hồn lúa vào kho Sau lễ này gia đình mới được phép thu hoạch lúa trên nương rẫy của mình
Lễ cúng cơm mới: Đây là nghi lễ quan trọng trong năm sau lễ cúng ma nhà và lễ cúng ma bản Nó thể hiện lòng biết ơn của con người đối với lực lượng siêu nhiên đã cho họ một mùa thu hoạch Lễ được tổ chức trước hoặc sau khi thu hoạch mùa màng tuỳ theo từng vùng
+ Văn nghệ dân gian của người Khơ-mú ở Văn Chấn khá phong phú Trước hết là phải nói đến những truyền thuyết, sự tích về nguồn gốc tộc người, nguồn gốc dòng họ như chuyện “Quả Bầu” chuyện “T góoc”, chuyện
“Chim én”, chuyện “Chim chìa vôi”, chuyện “Cây dương xỉ”… Ngoài ra, người dân cũng sở hữu một kho tàng ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cười, truyện cổ tích phong phú
Trang 24Người dân Khơ-mú trong bản còn lưu truyền những làn điệu dân ca của dân tộc như “Mưa rơi”, “hát tơm” (hát đối đáp vào những dịp mừng nhà mới, đón năm mới, đám cưới ), “hát cơnchơ” (hát ở trên rừng để gọi tình yêu, nhớ người yêu, ca ngợi cảnh thiên nhiên, hát động viên trong lao động, đi đường )
Những nhạc cụ người Khơ-mú thường dùng như “Thằm đao đao”,
“Đàn trống”; “Đàn môi”; “Sáo dọc pi tơn”, “Sáo dọc pi tót”; “Sáo thổi bằng mũi”; “Sáo nhiều ống”; “Đàn dây”; “Khèn bè”; “Cồng chiêng”
Người Khơ-mú cũng thích nhảy múa trong những dịp lễ tết hội hè và
họ đã có những điệu múa được nhiều người biết đến như “múa tăng bu”,
“múa cá lượn” (hay còn gọi là “múa giao duyên”)
Đó là những hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá độc đáo của người Khơ-mú có từ thuở xa xưa và đến nay vẫn còn tồn tại trong các bản làng
1.3 Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
1.3.1 Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú
1.3.1.1 Những vấn đề chung về hôn nhân của người Khơ-mú
Quan niệm về hôn nhân
Về hôn nhân, người Khơ-mú đều tuân thủ những nguyên tắc nhất định,
từ yêu đương tìm hiểu đến các lễ tục trong việc cưới xin Trước kia việc dựng
vợ gả chồng là do cha mẹ sắp đặt, con cái không có quyền lựa chọn Hiện nay trai gái được tự do tìm hiểu bạn đời, hôn nhân hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện
Cũng giống như các dân tộc khác, người Khơ-mú quan niệm hôn nhân
là để sinh con đẻ cái, có người nối dõi tông đường Điều này được thấy rõ trong việc thờ cúng ma nhà, người Khơ-mú có câu: “Sưp đặc tay ray đặc quai,
sưp sơ đen đen dua” (lấy vợ lấy chồng để sinh con cái để nối dài nòi giống
Trang 25gia đình và dòng họ) Do đó, họ rất lo khi không có con trai, vì nếu không có
ai thờ cúng ma nhà thì cái hồn cái vía của ông bà tổ tiên, của bố mẹ sẽ phải đi
ăn xin Nếu gia đình có cả trai và gái là tốt phúc
Người Khơ-mú cũng muốn có đông con để có nhân lực lao động, chăm sóc cha mẹ khi già yếu và thờ cúng khi cha mẹ qua đời Nếu không có con cái, họ sẽ xin con nuôi Vì thế, hiện nay thủ tục xin con nuôi của họ thường đơn giản Hai bên thoả thuận trước, đến khi đứa trẻ lọt lòng mẹ thì bố mẹ nuôi đến nhận và đón về làm lễ đặt tên, cúng ma nhà
Các nguyên tắc thể hiện nét văn hóa trong hôn nhân
Trước kia, trong bất cứ một cuộc hôn nhân nào của người Khơ-mú, các nguyên tắc truyền thống, đặc biệt là vấn đề huyết thống xa hay gần, luôn được đưa ra xem xét Ngày nay, tính nghiêm ngặt, việc tuân thủ và duy trì các nguyên tắc ở từng địa phương có sự khác nhau
Nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ hôn nhân của người Khơ-mú ở
Văn Chấn là ngoại hôn dòng họ, cấm người cùng một dòng họ kết hôn với
nhau Ai vi phạm nguyên tắc này bị coi là phạm tội loạn luân và bị xử phạt theo luật tục của dòng họ Đồng bào quan niệm, tội loạn luân sẽ gây ô uế cho nguồn nước, động đến thần linh, làm cho các thần tức giận gây ra hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh… để trừng trị con người
Lúc đầu, việc nghiêm cấm có hiệu lực đối với tất cả các thành viên có chung một ông tổ, một vật tô tem Về sau, việc nghiêm cấm tuyệt đối chỉ áp dụng đối với con cái của những anh em có chung một ông tổ Tam đại (anh em trực hệ, ba đời), còn từ đời thứ tư trở lên (thậm chí ngay cả từ đời thứ ba) có thể quan hệ hôn nhân với nhau được Ông Vì Văn Sang cho biết: “Đồng bào
Khơ-mú ở đây cho dù có cùng họ, nhưng khác ma nhà là lấy được nhau”
Nguyên tắc thứ hai là nội hôn tộc người Trước đây, hôn nhân của
người Khơ-mú ở Văn Chấn chỉ diễn ra trong phạm vi nội bộ dân tộc Đồng bào có câu: “ngua hắc ngua, quai hắc quai” (Bò đi theo bò, trâu đi theo trâu)
Trang 26Đồng bào cho rằng, lấy người khác dân tộc mình sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống gia đình cũng như trong lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày,
vì họ không biết phong tục dân tộc mình, không biết thờ cúng ma nhà mình…
Nguyên tắc thứ ba là tính thuận chiều Theo nguyên tắc này, nếu con
trai của dòng họ A lấy con gái của dòng họ B, thì con trai của dòng họ B không được trở lại lấy con gái của dòng họ A mà phải lấy con gái của dòng họ
C Đây là cơ sở của việc hình thành ba mối quan hệ họ hàng: tai hem; mạ êm, dông êm và mạ cưn, dông quynh, tồn tại phổ biến ở tất cả các bản của người
Khơ-mú
Các hình thức xử phạt, áp dụng đối với những trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân truyền thống trước kia thường là: Trước toàn thể dân bản, hai người phạm tội phải chịu nhục hình: bò bằng đầu gối và hai bàn tay; vục đầu vào ăn trong máng lợn Trong khi đang ăn, thầy mo cầm rìu hoặc búa liên tục vung lên giả chém rồi bổ xuống máng lợn, làm thức ăn bắn tung toé, miệng lớn tiếng khấn trời khấn đất: “Ma trời ơi, ma đất ơi! thuồng luồng ơi,
hổ báo ơi! Hổ có cắn chúng thì cắn hôm nay, qua hôm nay xin đừng cắn Ma
có bắt thì bắt hôm nay, qua hôm nay xin đừng bắt Thuồng luồng có giết chúng thì giết hôm nay, qua hôm nay xin đừng giết…” Sau hình phạt này, hai người phải nộp vạ cho bản: một con bò (hoặc một con lợn) to, 10 chai rượu, gạo, ngô, khoai…rồi về sống với nhau tại bản (ngày xưa hai người phải bỏ bản đi nơi khác sinh sống)
Hình thức hôn nhân
Trong hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú, vẫn còn một số tàn
dư của hôn nhân nguyên thủy:
Đó là hình thức hôn nhân anh em chồng (Levirat) và hôn nhân chị em
vợ (Sororat) Trong các công trình nghiên cứu về người Khơ-mú đã công bố,
hình thức hôn nhân anh em chồng và hôn nhân chị em vợ tồn tại phổ biến ở
Trang 27người Khơ-mú Câu tục ngữ “Thrac con mạ, căn brạ tai hem” (Lấy trâu lấy cả con lẫn mẹ, lấy vợ lấy cả chị lẫn em) đã phản ánh hiện tượng hôn nhân này
Tuy nhiên, các tư liệu khảo sát tại Văn Chấn lại cho thấy ngược lại, hình thức hôn nhân này đã bị cấm đoán Đồng bào cho biết, theo tập quán của người Khơ-mú ở địa phương này, khi người chồng chết, anh em trai và những người đàn ông trong dòng họ không được phép lấy người vợ goá của anh (em) mình Nếu ai không tuân theo sẽ bị coi như vi phạm luật tục của cộng đồng
Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú ở Văn Chấn thực hiện theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số trường hợp người chồng chỉ được phép lấy vợ lẽ khi người vợ cả bị chết hoặc không có con Ở xã Nghĩa Sơn, khi vợ không có khả năng sinh con, người chồng cũng không vì thế mà đòi bỏ vợ, cũng không hắt hủi vợ, mà thường được giải quyết bằng việc xin con nuôi Vợ chồng người Khơ-mú sống bình đẳng, hiếm thấy trường hợp ly dị hoặc bất hòa Khi đã có vợ, đàn ông không được phép đi tìm người phụ nữ khác Việc ngoại tình được xem là hành vi xấu xa nhất và có những hình phạt nặng nề Nếu người hủ hoá gây án mạng thì phải làm lễ an táng cho nạn nhân, sau khi chết, xác phải chôn dưới hài cốt nạn nhân do mình gây án
Tuy tuân thủ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nhưng do nhiều nguyên nhân, trong hôn nhân của người Khơ-mú vẫn tồn tại hiện tượng đa thê, song rất ít Theo ông Sang, cả xã có ba trường hợp đàn ông lấy nhiều vợ, hiện nay không còn trường hợp nào Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng đa thê là người vợ cả muốn có thêm chị em, nên thường chủ động tìm
vợ lẽ cho chồng Cũng có khi do gia đình người đàn ông tương đối khá giả, trong khi gia đình người vợ lẽ có thể đang mắc một khoản nợ nào đó, nên đành phải chấp nhận làm vợ lẽ của anh ta
Trong hôn nhân của người Khơ-mú, tồn tại hình thức hôn nhân con cô con cậu Hình thức hôn nhân này được người Khơ-mú gọi là: Con chim brọ
Trang 28mạ cưn đệ con chim cưm êm Đồng bào rất ưa thích các trường hợp con trai
cô lấy con gái cậu này Vì thế, có khi bà cô thường chủ động, khuyến khích
đứa con trai mình tìm đến làm quen, tán tính những đứa con gái của cậu Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân nên hình thức hôn nhân con cô con cậu của
người Khơ-mú đã ở vào giai đoạn tan rã Thực chất, đây là sự ngăn cấm bước đầu các cuộc kết hôn vi phạm nguyên tắc ngoại hôn dòng họ
Mặc dù trong hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú tồn tại hình thức “con dì con già” tức con chị em gái lấy nhau, nhưng tư liệu khảo sát tại các bản người Khơ-mú Văn Chấn cho thấy hình thức này không còn tồn tại Đồng bào ở đây giải thích, vì hai người mẹ là chị em ruột nên con của họ không được phép lấy nhau bởi như thế chẳng khác gì loạn luân Trong thực tế, hình thức con của chị em gái kết hôn với nhau chưa xảy ra Như vậy, nhận thức của người Khơ-mú ở Văn Chấn về Luật Hôn nhân và gia đình khá cao
Nó cũng phù hợp với văn hóa dân tộc và su thế phát triển xã hội
Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú cũng tồn tại hình thức hứa hôn Thông thường, việc kết hôn của các cặp vợ chồng trẻ này là do sự sắp đặt sẵn của cha mẹ hai bên, nhất là khi họ đã kết nghĩa làm anh em Hằng ngày,
họ năng lui tới thăm hỏi nhau, biếu nhau từ gắp chuột nướng, bó măng, cùng chia ngọt, sẻ bùi, giúp đỡ nhau khi ốm đau, tang ma, cưới xin hay lên nhà mới Để thắt chặt tình cảm thêm bền chặt, họ thường hứa gả con cái cho nhau để trở thành thông gia của nhau
Tính chất hôn nhân
Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú ở Văn Chấn thể hiện rõ nét
tính phụ quyền Dù trai gái đến tuổi trưởng thành được phép tự do tìm hiểu,
yêu đương nhưng cuộc hôn nhân có thành hay không đều phải do cha mẹ quyết định Nhằm đảm bảo các nguyên tắc quy định của luật tục, trước khi quyết định hôn nhân, vấn đề huyết thống xa hay gần thường được đưa ra xem xét kỹ càng để tránh nhầm lẫn, không bị dư luận chê cười Như vậy, ở đây có
Trang 29sự mâu thuẫn giữa tình yêu tự do với tính phụ quyền trong hôn nhân truyền thống Vì thế, có trường hợp do bố mẹ hai bên không chấp thuận, nên đôi trẻ
đã phản kháng lại bằng cách rủ nhau ăn lá ngón hay thắt cổ để tự vẫn Cũng
có khi, hành động phản kháng của cô gái là trốn theo người yêu Lúc này, do
sự đã rồi, nên bố mẹ cô gái đành phải chấp thuận
Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú thể hiện tính mua bán khá rõ nét Xuất phát từ quan niệm: “Nhinh khoong khai, chai khoong liệng” (Con gái là của để bán, con trai là của để nuôi) như câu tục ngữ của người Thái trong vùng, khi gả con về nhà chồng, gia đình mất đi một người lao động nên
họ phải lấy một khoản tiền để bù lại công sinh thành, nuôi dưỡng từ nhỏ đến lớn Vì thế, trong các lần ăn hỏi, hai bên thường mặc cả số tiền thách cưới và
số của hồi môn (chăn, đệm, gối, áo váy, đồ trang sức ) Nhà trai là bên
“mua”, nhà gái là bên “bán”, số tiền thách cưới và của hồi môn là do cha mẹ hai bên bàn bạc và quyết định
Nguyên tắc thách cưới của người Khơ-mú ở Văn Chấn thường căn cứ vào số lượng tiền và lễ vật trong đám cưới của người mẹ Ví dụ, khi bố lấy mẹ phải mất 2 nén bạc, 50 kg lợn, 20 lít rượu, 20 kg gạo , thì đến khi cưới con đầu lòng, bố mẹ cũng phải thách bằng từng ấy Việc thách cưới sẽ được giảm dần ở các cô con gái sau
Hiện nay, tính phụ quyền trong hôn nhân của người Khơ-mú ở Văn Chấn đã thay đổi cơ bản Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tình yêu trai gái thực sự Bố mẹ chỉ góp ý, bàn bạc nhằm giúp cho con cái họ lấy được người
tử tế, có đạo đức Còn quyền quyết định đã hoàn toàn thuộc về đôi trẻ
Đối với gia đình người Khơ-mú nói chung và người Khơ-mú ở Văn Chấn nói riêng, người cậu bên mẹ (ông êm) là người được đặc biệt trọng
vọng Ông là người đại diện cho bên ngoại tham gia vào giải quyết mọi công
việc quan trọng của gia đình chị và em gái mình Vai trò to lớn nhất của ông
êm là khi cháu của mình lấy vợ hoặc gả chồng Đặc biệt là khi cháu gái kết
Trang 30hôn, ông được mời tham gia ý kiến và quyết định một số công việc Ông êm mang trọng trách là người đại diện gia đình, thay bố mẹ thực thi mọi việc và cũng được quyền quyết định quan trọng trong đám cưới Trong các lần ăn hỏi, ông là người thay mặt cho nhà gái để bàn bạc với nhà trai, là người đưa ra số lượng, mức độ tiền thách cưới và lễ vật mà nhà trai phải nộp Ý kiến của ông
êm đôi khi rất có trọng lượng Trong đám cưới, ông bao giờ cũng ngồi ở mâm
cái là mâm quan trọng nhất trong lễ cưới
1.3.1.2 Những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân của người Khơ-mú Các trường hợp góa vợ, góa chồng
Luật tục của người Khơ-mú thừa nhận, nếu chồng chết, người vợ được phép tái giá; cũng như thế, nếu vợ chết, chồng được lấy vợ kế Hơn thế nữa, ngoài việc được thừa nhận hợp pháp, người ta còn khuyến khích việc người goá bụa đi bước nữa Theo quan niệm của họ, sở dĩ như vậy là vì khi vợ hoặc chồng chết, “ma” sẽ quên hết việc trên trần gian, không ảnh hưởng gì đến việc tái giá này
Việc chuẩn bị thủ tục, lễ vật để tổ chức đám cưới của những người goá đơn giản hơn rất nhiều so với đám cưới thông thường Ở Nghĩa Sơn, do quan niệm đời người chỉ cưới một lần nên thậm chí họ không tổ chức cưới nữa Trường hợp trai tân “chưa vợ” lấy gái goá nếu có tổ chức thì chỉ làm mâm cơm bình thường, mang tính chất ra mắt bà con, họ hàng là được Người chồng mới không phải mất tiền thách cưới, rượu thịt làm vía cho người chồng
đã mất của vợ Khi tái giá, nếu có con, góa phụ được phép đưa con theo về nhà chồng mới
Cư trú sau hôn nhân
Người Khơ-mú theo chế độ phụ hệ, nên sau lễ cưới, cô dâu phải về cư trú bên nhà chồng Đồng bào Khơ-mú thường nói: “hêm pay may poi” (sợi chỉ phải theo mũi kim) với hàm nghĩa: vợ phải ở theo chồng Người ta cho rằng: con dâu phải về nhà chồng làm ăn, cùng gia đình chồng lao động sản
Trang 31xuất, làm ra được nhiều ngô, khoai, lúa; sinh con đẻ cái, xây dựng gia đình thì mới xứng là con dâu, là thành viên của gia đình Kể cả các cặp vợ chồng cán
bộ là người Khơ-mú ở Nghĩa Sơn hiện nay cũng vẫn tuân thủ nguyên tắc này Sau lễ cưới, tất cả của hồi môn của người vợ được bố mẹ chia cho đều đem
sang cất bên nhà chồng Cho dù phải đi làm xa nhà, nhưng hằng tuần họ vẫn
trở về chỗ ở chính tại nhà bố mẹ bên chồng
Thời gian sống chung của đôi vợ chồng trẻ với gia đình chồng không
cố định là bao lâu nhưng ít nhất phải từ một năm trở lên, cho đến khi nào có
đủ điều kiện, bố mẹ cho con ra ở riêng một cách thuận lợi nhất (thông thường sau kết hôn ở nhà bố mẹ khoảng từ ba đến năm năm)
Để chuẩn bị cho đôi vợ chồng trẻ ra ở riêng, ngoài sự chăm chỉ, nỗ lực lao động sản xuất và tích luỹ của chính họ, còn có cả sự giúp đỡ, hỗ trợ của
bố mẹ, anh chị em trong nhà, của họ hàng và bà con dân bản, mỗi người giúp một chút để gia đình nhỏ có đủ những đồ dùng cần thiết nhất phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ
Tục ở rể (rit vechgút cămbrạ)
Đối với người Khơ-mú, ở rể là một tập tục lâu đời Người con rể nhất
thiết phải về ở bên nhà vợ sau lễ ở rể (lễ cưới nhỏ - teng gang) Thời gian ở rể
thông thường là từ 3 đến 12 năm Với mỗi trường hợp cụ thể, thời gian ở rể là
do hai bên gia đình thoả thuận và quyết định ngay trong lần ăn hỏi thứ hai
Sau lễ cưới nhỏ, chàng trai chính thức làm nghĩa vụ ở rể theo tập tục Chàng rể tự coi mình là thành viên chính thức trong gia đình vợ, hòa nhập vào cuộc sống sinh hoạt, tăng gia sản xuất cùng gia đình vợ Lao động của chàng
rể được tính theo lao động chung của nhà vợ Đối với người Khơ-mú, chàng
rể không những không bị đối xử bất bình đẳng như ở người Thái mà còn nhận được chú ý quan tâm của cả gia đình vợ
Đối với người Khơ-mú, ý nghĩa của tục ở rể là để bố mẹ và gia đình bên vợ huấn luyện việc làm ăn, các kỹ năng lao động tăng gia sản xuất, tạo
Trang 32điều kiện để chàng rể tập làm chủ gia đình, xây dựng một gia đình mới…Ở một số vùng Nghệ An, Thanh Hoá, trong thời gian ở rể, các chàng rể phải đổi
họ của mình sang họ nhà vợ Ở Nghĩa Sơn thì hoàn toàn ngược lại, các chàng
rể người Khơ-mú không phải đổi họ như vậy, cho dù thời gian ở rể ngắn hay dài
Trong thời gian ở rể, chàng rể được phép ngủ với vợ chưa cưới và họ
có quyền sinh con đẻ cái Có những đôi vì thời gian ở rể kéo dài 3 - 5 năm nên khi đám cưới chính thức, họ đã có con, thậm chí có tới vài mặt con
Trong một chuyến khảo sát lên Nghĩa Sơn để thực hiện luận văn này,
chúng tôi may mắn được tham dự lễ cưới chính thức của khơi (chú rể)Vì Văn Toàn (20 tuổi) với cơmưn (cô dâu) Lò Thị Mười (21 tuổi) vào trung tuần
tháng 12 năm 2011 Để có đám cưới này, chú rể Toàn đã trải qua 2 năm ở rể
bên bố mẹ vãi (vợ) và trong thời gian đó họ đã có một cậu con trai vừa tròn
một tuổi Và như vậy cậu bé một tuổi được dự đám cưới của bố mẹ mình Đây cũng là một nét đặc trưng riêng trong hôn nhân của các dân tộc có tục ở rể Hết hạn ở rể, bố mẹ vợ phải cho con rể tất cả các thứ đủ để xây dựng một gia đình nhỏ
Việc tách ra ở riêng với những trường hợp này là bởi ở đây đồng bào quan niệm: “Căn thao mtụ, kmụ thao mê gang”, đại ý là: con dúi ở trong hang trong lỗ, khi có con thì đến lúc nào đó nó sẽ tách con ra chứ nó không ở theo nhau Vì vậy con người cũng không ở theo nhau cho đến già Do vậy khi con
rể có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng tổ chức cưới, họ ở theo bố mẹ
vợ một thời gian nào đó thì đều được bố mẹ và gia đình vợ làm nhà và sắm sửa cho ra ở riêng Có lẽ đây cũng là một nét đẹp trong hôn nhân của người Khơ-mú vùng Văn Chấn này
Vấn đề môn đăng hộ đối
Mặc dù trong mỗi bản của người Khơ-mú ở Văn Chấn có nhà tương đối khá giả, có nhà nghèo, nhưng do mức độ và sự phân biệt giàu nghèo chưa lớn
Trang 33nên vấn đề môn đăng hộ đối trong hôn nhân của người Khơ-mú ở đây thường không phải là tiêu chí để xem xét, lựa chọn đối tượng kết hôn Thậm chí, trước đây nhiều gia đình chọn con của gia đình nghèo làm con dâu, đặc biệt là những người mồ côi, bởi vì với những trường hợp ấy, lễ vật bao giờ cũng nhẹ nhàng hơn Trước đây, ở Văn Chấn đã có khá nhiều trường hợp những gia đình khá giả có con dâu từ những gia đình nghèo, con mồ côi
Cho đến nay, đồng bào vẫn không chú ý đến vấn đề môn đăng hộ đối
Họ cho rằng, trong việc dựng vợ, gả chồng, ai lấy ai là do trời sắp đặt chứ không theo ý muốn của con người Việc tìm hiểu, yêu đương người nào là do con cái quyết định Nếu chúng thích nhau, yêu thương nhau thì bố mẹ sẽ tiến hành lo các bước, nghi lễ để tổ chức đám cưới
Trong thực tế, ở Văn Chấn cũng có một số gia đình có con gái đến tuổi lấy chồng, bố mẹ cũng mong muốn gả cho gia đình nào có điều kiện tốt và hy vọng con mình đỡ vất vả, nhưng lại lo về gia đình khá giả có điều kiện, công việc sẽ nặng nhọc hơn, việc tổ chức chỉ đạo công việc sẽ khắt khe hơn, sợ con gái họ không đảm đương nổi công việc Chính vì vậy, họ thường không quan tâm đến việc phải chọn gia đình nào cân xứng với gia đình mình để gả chồng
bà con dân bản
Khi được hỏi: trước đây, phẩm chất nào của chàng trai được gia đình các cô gái ưa thích, các cụ già người Khơ-mú ở Nghĩa Sơn trả lời rằng: Do
Trang 34đồng bào ở đây chủ yếu đều làm nương, làm ruộng, nên tiêu chuẩn đầu tiên đối với các chàng trai là phải thạo các công việc: phát nương làm rẫy, đốn gốc
hạ cây, săn bắn, đan lát, làm nhà làm cửa làm việc gì được việc đó Theo họ, đây là tiêu chuẩn rất quan trọng và cần thiết đối với các chàng trai ở tuổi trưởng thành Cho đến nay, đây vẫn là những tiêu chuẩn quan trọng và cần thiết trước tiên Ngoài việc biết làm ăn, người Khơ-mú ở đây còn quan tâm đến vấn đề đạo đức của các chàng trai Chàng trai được chọn phải là người tốt, biết quan tâm, biết chia sẻ giúp đỡ mọi người trong gia đình, dòng họ, trong thôn bản… là người chung thuỷ, thương yêu vợ con, tôn trọng cha mẹ, anh em họ hàng, bà con dân bản
Tiêu chuẩn về hình thức cũng được các cô gái quan tâm, nhưng không phải là quan trọng và tối cần thiết Theo họ, một chàng trai to cao vạm vỡ, có khuôn mặt điển trai nhưng không biết làm ăn, lười lao động, làm gì hỏng đấy lại còn kiêu căng vì cái mẽ bề ngoài thì không đáng được chú ý quan tâm Còn nếu chàng trai nào hội tụ được tất cả các tiêu chuẩn của đồng bào thì thật
là lý tưởng và gia đình nào kén được chàng rể đó thì có phúc
Tiêu chuẩn chọn một cô dâu hay người vợ lý tưởng được đồng bào Khơ-mú ở Văn Chấn đúc kết như sau: Trước hết, cô gái phải là người khéo léo, giỏi thêu thùa, làm việc đồng áng, nương rẫy và đảm đang trong việc nội trợ Họ cho rằng, một cô gái dù có giỏi việc đồng áng, nương rẫy nhưng vụng
về, không biết thêu thùa, nội trợ thì chưa đủ tiêu chuẩn là cô dâu tốt
Ngoài ra các chàng trai và gia đình họ còn đánh giá cao các cô gái có lòng hiếu thảo, quan tâm chăm sóc ông bà, bố mẹ chồng, thương yêu chồng con, biết nuôi dạy con và khéo léo trong cư xử với mọi người xung quanh
Về hình thức, các chàng trai và gia đình họ thường quan tâm tới các cô gái có vóc dáng cân đối, khỏe mạnh, dẻo dai cùng với khuôn mặt tươi duyên,
ưa nhìn… bởi vì đồng bào cho biết điều kiện cuộc sống sinh hoạt ở nơi đây
Trang 35còn rất khó khăn, vất vả, công việc đồng áng, nương rẫy là chủ yếu nên các yếu tố khỏe mạnh, dẻo dai để đảm đương công việc gia đình là rất cần thiết
Thêm nữa, quan niệm chọn vợ chọn chồng lý tưởng của người Khơ-mú Văn Chấn cũng giống người Kinh đó là:
“Lấy vợ kén tông,
lấy chồng kén giống.”
Vấn đề dòng giống của các chàng trai, cô gái cũng được coi trọng Tuy nhiên, đồng bào chưa nâng vấn đề này thành tiêu chuẩn, chưa phổ biến rộng Thường thường, chỉ những gia đình cẩn thận, kỹ tính mới chú ý quan tâm để lựa chọn con dâu, con rể cho con cháu mình Bên cạnh đó, trước khi đi đến kết hôn cho đôi trẻ, trong giai đoạn tìm hiểu, gia đình Khơ-mú thường thông báo cho họ hàng, người thân đối tượng tìm hiểu của con mình để tìm hiểu thêm rồi mới quyết định
Như vậy, một trong những phẩm chất quan trọng hàng đầu trong việc chọn dâu rể của người Khơ-mú ở Văn Chấn là yếu tố đạo đức và kỹ năng lao động Yếu tố sắc đẹp được đặt ở dưới
Về tuổi kết hôn
Trước kia, tuổi kết hôn của trai gái người Khơ-mú thường là: nam từ 16
- 17 tuổi, nữ từ 15 - 16 tuổi So với một số dân tộc khác trong vùng như người Hmông, người Dao, người Mường thì tuổi kết hôn truyền thống của người Khơ-mú không quá sớm Đồng bào lý giải: do công việc nhà nông của đồng bào ở đây rất vất vả, khó nhọc nên khi dựng vợ gả chồng cho con cái, người Khơ-mú bao giờ cũng tính toán độ tuổi phù hợp để đáp ứng với công việc hàng ngày mà con mình phải đảm đương (con trai cũng như con gái) Đối với các cô gái, nếu lấy chồng quá sớm thì các ông bố, bà mẹ của họ là những người lo lắng hơn cả Họ lo con mình vất vả, không đủ sức gánh vác công việc gia đình vì rõ ràng về nhà chồng phải làm nhiều hơn, phải đảm trách công việc của một cô dâu mới rất vất vả Còn đối với các chàng trai, họ cũng
Trang 36có tâm lý không muốn lấy vợ sớm, muốn có thời gian để tập làm ăn bằng anh bằng em, muốn được nghỉ ngơi, chơi bời với bạn bè…Do vậy, người Khơ-mú
ở Văn Chấn không ấn định cụ thể tuổi kết hôn là bao nhiêu, nhưng họ thường không lấy vợ, lấy chồng sớm Thường thường, con gái từ 15 tuổi trở lên, con trai từ 16 tuổi thì mới tính chuyện dựng vợ gả chồng
Hiện nay, tuổi kết hôn của trai gái người Khơ-mú so với trước kia có sự thay đổi đáng kể Càng ngày, thanh niên có xu hướng lấy vợ, lấy chồng muộn, nam nữ người Khơ-mú ở Văn Chấn kết hôn phổ biến ở độ tuổi từ 20 đến 25
Quan niệm về trinh tiết
Cũng như nhiều dân tộc khác, người Khơ-mú rất coi trọng sự trinh tiết của người con gái Ông Vì Văn Thanh, một bậc cao niên ở bản Nậm Tộc 2, cho biết: ngày xưa, khi con cái, kể cả trai hay gái, bắt đầu đến tuổi trưởng thành, gia đình đã quản rất chặt Tuy nhiên, việc quản lý chặt không có nghĩa
là họ cấm con cái không cho đi chơi, quan hệ với bạn bè cùng trang lứa trong thôn bản mà việc quản lý của họ mang tính chất giáo dục để ngăn ngừa những việc xấu xảy ra Những bậc cha mẹ người Khơ-mú cũng như các dân tộc khác khi có con gái lớn rất sợ con gái mình chửa hoang, làm mất mặt cha mẹ và họ hàng Đối với con trai thì họ lại lo con mình rượu chè, cờ bạc và họ sợ nhất là con trai mình đi hủ hoá với người đã có chồng, mang tội vạ cho bố cho mẹ Chính vì vậy người Khơ-mú có câu:
“Chưm cưn hiêm đọ, (Con trai giữ cái “đầu”)
Chưm brọi hiêm cưm pông” (Con gái giữ cái “đuôi”)
Để căn dặn con trai con gái khi đến tuổi cập kê Họ dặn con gái phải luôn tự bảo vệ mình, giữ gìn sự trong trắng của người con gái, còn với con trai thì phải giữ gìn cái đầu của mình luôn luôn sáng suốt, để không mắc phải việc làm xấu xa
Người Khơ-mú còn răn dạy con gái không được trêu chó cũng như không được gần gũi đàn ông bởi vì: “Trêu chó thì chó sẽ cắn, gần đàn ông thì
Trang 37sẽ chửa” Họ cũng dạy con trai: “Muốn dao sắc phải có đá mài, muốn giàu có phải ở hai bàn tay, muốn được gốc thì phải đào sâu”
Luật tục người Khơ-mú phạt rất nặng người phạm tội chửa hoang, vì họ quan niệm người mắc tội này không chỉ làm ô uế thanh danh dòng họ mà còn
có tội với các thần linh, thôn bản, sẽ đem đến những tai họa cho dân bản Vì vậy, ai phạm tội chửa hoang phải nộp lợn, rượu, gạo để thầy mo làm lễ cúng thần linh, xin thần linh xá tội, không gây tai họa cho dân bản
Ly dị
Trong hôn nhân của người Khơ-mú, hiện tượng ly dị hiếm khi xảy ra,
bởi theo quan niệm của họ: Trong một mái nhà, vợ chồng như kèo với nóc,
luôn luôn phải có nhau, phải gắn bó để xây dựng hạnh phúc trăm năm, sống với nhau đến khi “đầu bạc răng long” Chính vì vậy, trong gia đình người Khơ-mú, quan hệ vợ chồng rất bình đẳng, người chồng cũng như người vợ luôn tôn trọng, có trách nhiệm với nhau, cùng nhau làm tròn bổn phận đối với cha mẹ, con cái Thêm vào đó, trong các lần ăn hỏi, các lễ cưới người ta đã
có sự giao kèo chặt chẽ với nhau do vậy người Khơ-mú luôn ý thức được điều này Họ luôn giữ gìn hạnh phúc, sống thủy chung, không bỏ nhau
Người Khơ-mú cũng cho rằng: “vợ chồng ăn ở với nhau một ngày cũng
nên nghĩa”, mặc dù rất giận nhưng họ vẫn thương và hơn nữa họ muốn giữ
gìn cho con cái mình có bố có mẹ Chính vì vậy hiện tượng li dị của vợ chồng người Khơ-mú là rất hiếm Qua đây chúng ta có thể thấy người Khơ-mú ở đây
có cách ứng xử giàu tính nhân văn và hết sức tiến bộ
1.3.2 Những nét văn hóa trong tục lệ cưới xin của người Khơ-mú
Tục lệ cưới xin là hệ thống các nghi lễ quan trọng để thực thi các quan niệm, nguyên tắc, tín ngưỡng trong hôn nhân của mỗi dân tộc với mong muốn lứa đôi sống chung thuỷ, hạnh phúc Cũng như nhiều dân tộc khác, các nghi lễ trong phong tục cưới xin truyền thống của người Khơ-mú ở Văn Chấn là một hình thức văn hóa dân gian mang đậm bản sắc riêng Tục lệ cưới xin của
Trang 38người Khơ-mú ở đây trải qua nhiều bước, nhiều lễ thức khác nhau như: Tìm
hiểu; Dạm ngõ (Prkhát cămbrạ); Ăn hỏi (gio maanh căm brạ); lễ hỏi ở rể (Maanh veech gút cămbrạ); lễ tiễn ở rể (Srông veech gút cămbrạ); lễ kết hôn (Pưn đệ); lễ cưới (căm brạ) và lễ lại mặt (hấp êm) Mỗi nghi thức trong đám
cưới lại diễn ra theo các bước và các thủ tục mang đậm bản sắc riêng, rất đặc sắc của đồng bào Khơ-mú nói chung và đồng bào Khơ-mú vùng Văn Chấn nói riêng
Bước tìm hiểu
Người Khơ-mú rất chú ý quan tâm chăm sóc con cái ngay từ bé cho đến khi chúng trưởng thành, đặc biệt con trai hay con gái đều được họ coi trọng như nhau
Ngày xưa, trước khi con trai con gái đến tuổi trưởng thành, tuổi yêu đương tìm hiểu xây dựng gia đình, họ đều được bố mẹ chỉ bảo công việc làm
ăn cũng như cách giao tiếp, cư xử để “nam biết làm việc của nam, nữ biết làm việc của nữ”, để đến khi lấy vợ lấy chồng họ đều biết làm tất cả các công việc trong gia đình, biết bổn phận và trách nhiệm của mình và còn để chứng tỏ mình là trai tài gái giỏi Ngoài ra, các chàng trai Khơ-mú còn phải học đánh đàn, đánh đao, thổi sáo thổi khèn, trước là để vui chơi giải trí trong các dịp lễ hội như Xên bản, Xên mường, dịp lễ tết… sau là để sử dụng trong thời gian đi chơi, tìm hiểu bạn tình
Người Khơ-mú hiếm khi ép duyên con cái Trai gái Khơ-mú khi bước vào tuổi biết yêu, họ được quyền làm quen và lựa chọn người bạn đời Mùa đông và mùa xuân là thời điểm trai gái Khơ-mú có nhiều cơ hội gặp gỡ tìm hiểu nhau Bởi mùa đông là mùa đồng bào có nhiều việc làm tập thể như làm nhà, sửa nhà, lên nhà mới, thu hoạch nương lúa… Khi mùa xuân đến, ngoài dịp lễ tết, đồng bào lại tổ chức các lễ hội của dân tộc như Xên bản, Xên mường; Lễ rước hồn lúa; lễ hội mùa măng mọc… Đây là lúc tập trung nhiều thanh niên nam nữ trong các thôn bản đến giúp nhau, họ cùng nhau làm việc,
Trang 39ăn uống, vui chơi, đánh chiêng, múa hát Qua công việc, qua cách ứng xử giao tiếp với mọi người, họ sẽ dễ dàng nhận ra ai là người phù hợp với mình, ai là người mà mình lựa chọn Khi tìm được người ưng ý, họ cùng nhau lao động
để làm thân, để tìm hiểu về nhau, về gia đình của nhau
Theo phong tục, chàng trai khi ưng ai, nếu có ý định xây dựng gia đình với người ấy thì khi chàng trai đến nhà người yêu bao giờ cũng phải đi có đôi, cùng một người bạn trai thân của mình
Ngày xưa, khi trai gái Khơ-mú tìm hiểu nhau, họ bắt buộc phải tuân theo phong tục tập quán Buổi tối khoảng 8 - 9 giờ, sau khi cơm nước xong xuôi, chàng trai đến nhà bạn gái Họ không lên nhà mà bao giờ cũng phải ở dưới gầm sàn đánh đàn, thổi sáo, đánh đao… (giống như hình thức chọc sàn của người Thái), thông báo việc họ đến xin được tìm hiểu con gái của gia đình Tiếng đàn tiếng sáo được các chàng trai chơi theo thứ tự: đầu tiên là bài xin phép bố mẹ bạn gái, tiếp theo là bài xin bạn gái mở cửa Khi giai điệu như
ru ngủ của bài thứ nhất được chàng trai thổi vừa dứt, bố mẹ cô gái biết ý, họ lên giường đi ngủ để cho chàng trai tự nhiên thực hiện mục đích của mình Sau đó chàng trai tiếp tục đàn sáo bài thứ hai, nghe tiếng đàn điệu sáo này, người con gái nếu ưng thuận sẽ ra mở cửa cho chàng trai lên nhà
Khi chàng trai vào nhà, họ chào nhau bằng câu ca dao có ý tựa như:
“Hôm nay chàng đến chơi, nhà em nghèo, ghế không có, em biết lấy gì cho chàng ngồi”, nói vậy nhưng trong khi đó cô gái đã lấy ghế mời chàng trai ngồi, chàng trai đáp lời sau đó ngồi xuống ghế, cô gái đun nước pha trà, mời chàng trai ăn trầu uống nước rồi họ tâm sự cùng nhau…
Cuối cùng nếu hai người ưng nhau, họ bắt đầu cùng nhau nhuộm răng bằng cách đốt dao rựa cho cháy đen rồi đem chà vào răng Việc đôi trai gái cùng nhau chà răng bên bếp lửa là hình thức thể hiện họ nguyện đính ước với nhau, sẽ thành vợ thành chồng
Trang 40Sau ba ngày liền chàng trai cùng bạn mình đến chơi nhà người yêu, biết
ý của chàng trai nếu bố mẹ cô gái ưng thuận thì họ bố trí người thân trong gia đình gặp gỡ, tiếp chuyện Người tiếp chuyện hai chàng trai không phải là bố
mẹ cô gái mà là một người thân của gia đình, thường là ông cậu hoặc ông bác, chú của cô gái
Sau buổi tối trực tiếp tiếp kiến bố mẹ và người thân của gia đình người yêu, chàng trai sẽ về thưa chuyện với bố mẹ và anh chị em trong gia đình Nếu bố mẹ, gia đình chàng trai ưng ý, họ sẽ chuẩn bị trầu cau nhờ người (thường là hai bà) mang đến gửi nhà cô gái với ngụ ý đặt vấn đề chính thức xin cho con trai họ được tìm hiểu để xây dựng gia đình với cô gái, và xem bên gia đình cô gái có nhận lời hay không
Trước mặt hai người bên nhà trai, cô gái được bố mẹ gọi ra hỏi ý kiến, nếu cô gái và gia đình ưng thuận thì họ nhận trầu cau và sau đó đem chia cho
họ hàng và người thân của gia đình để thông báo con gái mình đã có nơi đến gửi trầu cau Dù xa hay gần, dù ít hay nhiều thì cũng phải chia đủ cho mọi người trong gia đình dòng họ…Chia trầu cau cho họ hàng ngoài ý nghĩa để thông báo như đã nói ở trên còn để hỏi hoặc xin ý kiến của mọi người trong
họ Ý kiến của họ hàng cũng góp phần quyết định việc đi đến kết hôn của đôi trẻ, chủ yếu họ xem xét đôi trẻ lấy nhau có phạm nguyên tắc hôn nhân của đồng bào hay không Không giống như người Kinh và một số dân tộc khác, người Khơ-mú không quan tâm đến tuổi, hay mệnh của đôi trẻ có hợp nhau hay không Sau khi thông báo và xin ý kiến họ hàng, nếu được họ hàng ủng
hộ, họ báo cho gia đình chàng trai thông qua đôi trẻ Lúc đó gia đình chàng trai mới bắt đầu công việc lo chuẩn bị để thực hiện các nghi lễ cưới hỏi tiếp theo đó
Các lễ ăn hỏi
Trong hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú, để tiến tới tổ chức lễ cưới chính thức (lễ cưới con dâu) thì họ phải thực hiện đầy đủ các nghi lễ hỏi