1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình Luận văn ThS. Kinh tế

105 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ kinh tế đó không phải chỉ là những quan hệ riêng lẻ từng bộ phận kinh tế mà là những mối quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế bao gồm các lĩnh vực sản xuất,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA hà NỘI TRUNG Tâm đào tạo, BỒI DƯỠNG GIẢNG Viên Lý luận chính TRỊ

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở MỘT TỈNH THUẦN NÔNG 8 1.1 Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp 8

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

8 1.1.2 Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp 17

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp 20

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

1.2.1 Nhóm nhân tố về vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên

1.2.2 Nhóm nhân tố về điều kiện xã hội của sản xuất và tác động của khoa học công nghệ

1.2.3 Nhóm nhân tố thuộc về trình độ phát triển của phân công lao động trong nước và quốc tế

1.2.4 Nhóm nhân tố thuộc về các lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh

1.2.5 Nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách

23 23 24 25 26 27 1.3 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp 29

1.3.1 Tổng quan kinh nghiệm một số địa phương trong nước 29

1.3.2 Bài học kinh nghiệm chung rút ra tham khảo và vận dụng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 32

Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH THỜI GIAN QUA 34

2.1 Đặc điểm của Ninh Bình liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp 34

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Văn hoá- xã hội 41

2.1.3 Kinh tế và cơ cấu kinh tế 44

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 46

2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt qua các năm 46

2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi 50

Trang 3

2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp 53

2.2.4 Sự chuyển dịch kinh tế nông nghiệp xét trong mối quan hệ giữa lao động việc làm – trồng trọt- chăn nuôi- dịch vụ nông nghiệp về mặt số lượng và giá trị 55

2.3 Đánh gía quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp của tỉnh Ninh Bình

60 2.3.1 Thành tựu 60

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65

2.3.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 67

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 70

3.1 Quan điểm, định hướng cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 70

3.1.1 Bối cảnh mới 70

3.1.2 Quan điểm, phương hướng 73

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 83

3.2.1 Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 83

3.2.2 Hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp 85

3.2.3 Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng 87

3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp 89

3.2.5.Vốn cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp trong nông nghiệp 90 3.2.6 Hình thành các trung tâm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn 95

3.2.7 Chính sách về phát triển thị trường 97

3.2.8 Đẩy mạnh cải cách hành chính ở địa phương 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CDCCNKTTNN Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GD - ĐT Giáo dục - đào tạo

GDP

GD-§T

Tổng sản phẩm quốc nội Gi¸o dôc - §µo t¹o LLSX

KT- XH

Lực lượng sản xuất Kinh tÕ - X· héi

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: "Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với từng vùng từng địa phương " [8, tr 88]

Trong định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn, đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: "Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên

cơ sở áp dụng các quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững

về môi trường " [8, tr 91]

Nghị quyết Trung ương 7 khoá X tiếp tục đưa ra quan điểm chỉ đạo:

“Trong mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hoá nông nghiệp là vấn đề then chốt” [8, tr.124] Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới, kinh tế nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tiếp tục giảm

Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành trong nông nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá gắn với thị trường, tăng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ngày càng trở thành nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH đất nước Tuy vậy, trong

Trang 6

nông nghiệp, sản xuất chưa gắn chặt chẽ với thị trường, nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chưa được xác định cụ thể Điều đáng chú ý là trong

sự phát triển chung đó, nhiều vùng, nhiều địa phương tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn chậm

Ninh Bình, một tỉnh ở phía Nam vùng châu thổ sông Hồng, với địa hình

đa dạng bao gồm: biển, vùng ven biển, vùng đồng bằng gò đồi bán sơn địa và vùng núi đá, đất đá Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh

uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng có những thay đổi và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển từ sản xuất thuần nông, tự túc- tự cấp sang kinh tế nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần, từng bước gắn với việc phát huy lợi thế và tiềm năng kinh tế của từng địa phương, từng vùng sinh thái Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch này vẫn còn chậm; cho đến nay nền kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính, sản xuất nhỏ còn phổ biến, hiệu quả thấp, chưa thật sự gắn với thị trường Có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp nói riêng còn chậm, đã và đang trở thành vấn đề bức xúc và thách thức đặt ra đối với Ninh Bình hiện nay

Làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành tế trong nông nghiệp nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh và tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của Ninh Bình trong thời gian tới? Lời giải cho vấn đề đặt ra mang tính bức thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và quan trọng đối với Ninh Bình trong thời gian tới

Để góp phần vào việc tìm ra lời giải nói trên tác giả chọn đề tài: “Chuyển

dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình” nghiên cứu

làm luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị là trên ý nghĩa đó

Trang 7

- Nguyễn Xuân Trường (2004), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây theo hướng CNH, HĐH”, Luận văn Thạc sĩ kinh

tế chính trị, Trung tâm еo t¹o, Båi d-ìng gi¶ng viªn lý luËn chÝnh trÞ, Đại học QGHN

- Phạm Văn Châu (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở tỉnh Bến Tre”, Luận văn Thạc sĩ kinh tÕ chÝnh trÞ, Trung tâm еo t¹o, Båi d-ìng gi¶ng viªn lý luËn chÝnh trÞ, Đại học QGHN

Trang 8

Các công trình khoa học trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng; những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở nhiều địa phương và một số nước mà tác giả có thể kế thừa một cách có chọn lọc Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình với tư cách là một luận văn khoa học độc lập, toàn diện và hệ thống trên

cả các mặt lý luận, thực tiễn và giải pháp vẫn còn để ngỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đưa ra phương hướng và giải pháp cơ bản thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế trong nông nghiệp

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế trong nông nghiệp của Ninh Bình trong thời gian qua, từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những vấn đề bức xúc đó ra cần phải giải quyết

- Đề xuất có căn cứ khoa học phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn lấy việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

ở tỉnh Ninh Bình làm đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001- 2007

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chung: Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung được vận dụng thông qua phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lô gíc và lịch sử …

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê định lượng, đối chiếu, so sánh nhằm tạo ra một tổng thể cho phép tiếp cận nhanh đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Cơ cở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế trong nông nghiệp ở một tỉnh thuần nông

Chương 2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình thời gian qua

Chương 3 Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển

dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình thời gian tới

Trang 10

- Cơ cấu kinh tế

Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, tất cả các quốc gia dù

đã phát triển hay đang phát triển đều tồn tại một tính quy luật chung là một nền kinh tế quốc dân bao giờ cũng bao gồm nhiều ngành nhiều lĩnh vực, bộ phận…chúng không tồn tại biệt lập mà phát triển trong mối liên hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau trong một chỉnh thể Đó chính là mặt kết cấu (cấu trúc bên trong) của nền kinh tế

Việc nghiên cứu CCKT là xem xét cấu trúc bên trong của quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng của nền một kinh tế nhất định Nền kinh tế đó được cấu thành bởi những ngành, lĩnh vực, bộ phận nào Cấu trúc bên trong của nền kinh tế thường được thể hiện thông qua các mối quan hệ kinh tế, chúng khó nhìn thấy Song ta vẫn có thể nhận dạng chúng thông qua quan hệ

tỷ lệ của mỗi bộ phận đóng góp vào GDP hàng năm Tuy nhiên đó không chỉ

là quan hệ tỷ lệ mang tính số lượng mà còn mang tính chất lượng Chẳng hạn, khi phân tích quá trình lao động nói chung, C.Mác đã xem xét ở cả hai mặt chất và lượng của nó Theo C.Mác đó là: “Sự phân chia về chất lượng và một

tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội” [18, tr 529] Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh

tế cũng được C.Mác chỉ ra: “Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ

Trang 11

thuật một cách mạnh mẽ cho nên làm đảo lộn kết cấu kinh tế của một xã hội” [17, tr.62] Như vậy, một cơ cấu nhất định luôn phản ánh những trạng thái nhất định mối quan hệ về sản xuất và lực lượng sản xuất của nền kinh tế Mối quan hệ kinh tế đó không phải chỉ là những quan hệ riêng lẻ từng bộ phận kinh

tế mà là những mối quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế bao gồm các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng); các ngành kinh tế (công nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải…); các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế

tư bản nhà nước…)

Các quan hệ kinh tế trên không chỉ là quan hệ tỷ lệ về số lượng (như cơ cấu công nghiệp nặng, cơ cấu công nghiệp nhẹ, cơ cấu diện tích trồng trọt, cơ cấu lao động…) mà còn là quan hệ về chất (như năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, lợi nhuận…)

Mặt khác, CCKT bao giờ cũng ở trong không gian nhất định, thời gian nhất định, trong điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội nhất định, thích hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng và mỗi doanh nghiệp

CCKT được tiếp cận xem xét tự nhiều góc độ; ở đây tiếp cận vấn đề theo hướng chung nhất của phạm trù này làm cơ sở để luận giải về cơ cấu kinh tế ngành trong nông nghiệp

CCKT là một phạm trù chỉ cấu trúc bên trong của nền kinh tế - xã hội Do

đó sự vận động của nền kinh tế - xã hội làm cho CCKT vừa ở trạng thái tĩnh vừa ở trạng thái động (tính tương đối) Do vậy, sự CDCCNKT cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội là một đòi hỏi khách quan Tuy nhiên,

sự chuyển dịch đó diễn ra như thế nào lại phụ thuộc vào sự nhận thức và hành động của con người Sự duy trì quá lâu hay thay đổi nhanh chóng CCKT mà không dựa vào những biến đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội sẽ gây

ra những thiệt hại về kinh tế khó lường hết Quá trình biến đổi và CDCCKT nhanh hay chậm không phải là mong muốn chủ quan, mà phải dựa vào mục tiêu đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội như thế nào?

Trang 12

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Cơ cấu

kinh tế là tổng thế các bộ phận cấu thành nền kinh tế của mỗi nước Các bộ phận đó gắn chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng, phản ánh tính chất, trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế

- xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

CCKTNN là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế – xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong khoảng thời gian và không gian nhất định

CCKTNN là tổng thể phức tạp, do vậy phải đứng trên nhiều góc độ khác nhau nhìn nhận mới có thể thấy hết những mối quan hệ trong một chỉnh thể thống nhất của ngành nông nghiệp Dựa trên góc độ nhìn nhận của ngành nông nghiệp, có thể khái quát những nội dung chủ yếu của cơ cấu nông nghiệp theo những quan hệ được xác lập trong thực tiễn nông nghiệp nước ta như sau: quan hệ giữa nông-lâm-ngư nghiệp; quan hệ giữa trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề; quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp, các ngành chế biến và dịch vụ; quan hệ giữa công nghiệp- nông nghiệp - dịch vụ và quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong nông nghiệp

- Cơ cấu ngành kinh tế

CCNKT là sự biểu hiện trung thành của phân công lao động xã hội trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ khoa học và công nghệ của một quốc gia

CCNKT là một chỉnh thể liên kết chặt chẽ nhau như một kiểu cấu trúc mà mọi bộ phận cấu thành (các ngành kinh tế) có thuộc tính riêng, đặc trưng riêng nhưng cùng tồn tại và phát triển, tuỳ thuộc vào nhau

CCNKT là một trong những thước đo quan trọng phản ánh trình độ phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội của mỗi quốc gia

Trang 13

Khi nghiên cứu về CCNKT của một quốc gia, người ta thường phân tích

3 nhóm ngành chính là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ (ngành cấp I) Tuỳ theo mục đích, tính chất, mức độ nghiên cứu mà có thể chia ra các phân ngành (ngành cấp II) như: trồng trọt, chăn nuôi… trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng … trong công nghiệp; ngành cấp III (lúa, màu…) trong trồng trọt v.v… Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó với nhau vừa tuân theo quy luật chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia

Vì vậy, mục đích nghiên cứu CCNKT là nhằm tìm ra cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển của toàn

bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

CCNKT là một bộ phận cơ bản cấu thành cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Nó là một phạm trù trừu tượng, có quan hệ phức tạp với các bộ phận kinh

tế khác, nên muốn nắm vững bản chất của CCNKT và đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch CCNKT nhanh và hiệu quả cũng cần xem xét, làm rõ bản chất của các bộ phận kinh tế hợp thành khác Đó là CCKT vùng lãnh thổ và cơ cấu TPKT

Nhưng vì CCNKT là nội dung trụ cột phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, nó chiếm vị trí rất quan trọng nên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu vào những vấn đề liên quan đến CCNKT

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế ngành, vùng và thành phần kinh

tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tạo thế và lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Hiện nay nước ta đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng

Trang 14

suất lao động thấp thành một nước có cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, khoa học và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân Điều đó có nghĩa là tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân

Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Sự vận động của nông nghiệp chịu sự tác động của sự vận động chung của nền kinh tế, đồng thời nó tác động trở lại nền kinh tế

Nông nghiệp là ngành sản xuất ra nông sản thiết yếu (lương thực, thực phẩm…) cho dân cư, nguyên liệu cho công nghiệp cho sản xuất hàng xuất khẩu và là ngành sản xuất chủ yếu ở nông thôn Tuy nhiên, tự bản thân nông nghiệp không thể phát triển nhanh được, do đó việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển tổng hợp: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ gắn bó với nhau là vấn đề quan trọng, cấp thiết Phát triển nông nghiệp, công nghiệp nông thôn yêu cầu phải mở

rộng hoạt động dịch vụ, còn dịch vụ được phát triển sẽ đáp ứng “đầu vào”,

“đầu ra” cho nông nghiệp, công nghiệp và thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp

phát triển

Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của nước ta là giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Trong nông - lâm - ngư

nghiệp thì nông nghiệp theo xu hướng giảm tỷ trọng (trồng trọt giảm và chăn

nuôi tăng), trong khi đó, tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp tăng lên

Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã định hướng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và trên thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”

Trang 15

Yêu cầu của việc thực hiện định hướng trên, tại Đại hội IX của Đảng đã xác định phải gắn quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động với đổi mới căn bản về công nghiệp, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả

và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là vấn đề lớn, cấp thiết trong quá trình xây dựng cơ cấu kinh tế theo ngành cũng như cơ cấu kinh tế theo vùng đã và đang được thực hiện

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Như đã phân tích ở trên, luận văn đã trình bày rõ mặt bản thể luận về CDCCKT Do đó có thể hiểu quan niệm về sự chuyển dịch CCKTNN đó là sự chuyển dịch CCKT diễn ra ở một lĩnh vực sản xuất đặc thù - lĩnh vực nông nghiệp, có đặc trưng rất riêng: 1- đối tượng sản xuất là giới sinh vật; 2- trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất có sự phát triển chậm, phân công lao động

có sự lạc hậu hơn ngành công nghiệp và một số ngành kinh tế khác tư duy kinh tế cũng như tác phong lao động, lề lối canh tác chưa theo kịp xu hướng nền kinh tế mở hiện đại; 3- sản xuất diễn ra trên một không gian rộng lớn Đối với nước ta vấn đề có tính quy luật này không phải là một ngoại lệ, trong đó

có Ninh Bình là một tỉnh thuần nông

Sự CDCCKTNN ở nước ta hiện nay được định hướng trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Cụ thể là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất và năng suất lao động tương ứng với tiềm năng về sinh thái và khả năng áp dụng công nghệ mới Trong quá trình đó sẽ diễn ra sự tích tụ ruộng đất, tạo ra nhiều doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp lớn, đồng thời giải phóng một bộ phận nông dân khỏi các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống, phân tán, qui mô nhỏ, tự túc

Trang 16

tự cấp để tìm kiếm thu nhập cao hơn trong hoạt động phi nông nghiệp, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân

Tuy nhiên, nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm nông - lâm - ngư nghiệp, do

đó chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp cũng có nghĩa là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp là chuyển dịch

theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp, ngư nghiệp nhằm khai thác hết thế mạnh, tiềm năng của tài nguyên như: đất đai, ao

hồ, sông rạch…, đồng thời kết hợp chặt chẽ nông - lâm - ngư nghiệp để hỗ trợ nhau phát triển

Từ những vấn đề phân tích trên có thể kết luận: Sự hình thành từng bước

cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế do chính sự đổi mới công nghệ tạo ra và đến lượt nó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lại là lực đẩy, bảo đảm tính hiệu quả và tính định hướng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển và tăng trưởng bền vững với nhịp độ cao trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp, nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại, công bằng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để đạt được mục tiêu trên, một trong những nội dung chính của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn

Trang 17

1.1.1.2 Đặc điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp Thứ nhất, CDCCKTNN chịu sự tác động to lớn, mạnh mẽ của cuộc cách

mạng khoa học công nghệ hiện đại

CCKTNN tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn Nhưng ở đây, trong nông nghiệp sự ảnh hưởng của nó mang tính đặc thù Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang phát triển không ngừng, những thành tựu của nó đã đem lại sự biến đổi sâu sắc trong mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội Trong điều kiện đó, nông nghiệp và CDCCKTNN cũng chịu những tác động hết sức to lớn và mạnh mẽ của quá trình đó Những tiến

bộ của khoa học và công nghệ do cuộc cách mạng đó đem lại và việc ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là cách mạng sinh học đã tạo ra những bộ giống về cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao cùng những chế phẩm sinh học khác đi cùng những bộ giống mới đó Những yếu tố đó làm cho các yếu tố vật chất đảm bảo cho sự phát triển năng suất, chất lượng, hiệu quả của bộ giống mới đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Điều đó đã và đang tạo ra những yếu tố vật chất góp phần làm biến đổi mạnh mẽ CCKTNN và CDCCKTNN, tạo ra cơ cấu mới có độ thích ứng rộng lớn và có hiệu quả hơn

Thứ hai, CCKTNN và CDCCKTNN phụ thuộc hết sức chặt chẽ vào điều

kiện kinh tế – xã hội, những điều kiện tự nhiên nhất định

Cũng như hệ thống CCKT nói chung của nền kinh tế, CCKTNN phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên của chính khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng ở đây là sự phụ thuộc hết sức chặt chẽ Có hai

lý do đưa đến nét đặc thù này; Một là, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi; Hai là, điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên trong nông nghiệp và nông thôn lạc hậu hơn các ngành, các khu vực khác Sự lạc hậu này đã níu kéo quá trình CDCCKTNN từ trạng thái lạc hậu sang trạng thái tiến bộ Như vậy, việc CDCCKTNN đòi hỏi phải tôn trọng tính khách

Trang 18

quan, không áp đặt Mặt khác, chính do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh học, lại diễn ra trong không gian rộng, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khó khăn Do đó, CDCCKTNN, nông thôn đạt được mức độ cao hay thấp, nhanh hay chậm trước hết phụ thuộc vào tư duy kinh tế của Nhà nước Điều

đó trước hết được thể hiện ở việc xác định chiến lược, kế hoạch, hình thức, biện pháp đúng đắn, khoa học, hợp quy luật thì hiệu quả chuyển dịch CCNKTTNN cao, LLSX trong nông nghiệp phát triển Ngược lại việc áp đặt ý chí chủ quan nôn nóng để có sự hình thành và CDCCNKTTNN thì sẽ đem lại hậu quả khôn lường

Cũng như CCKT nói chung, CCKTNN luôn vận động và biến đổi (tức là

nó luôn có sự chuyển dịch nhất định) Sự vận động, biến đổi trong quá trình CDCCKTNN luôn gắn liền với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên

và tiến bộ của khoa học công nghệ Sự tác động của các điều kiện đó làm cho các bộ phận kinh tế trong nông nghiệp biến đổi, tác động và chuyển hóa lẫn nhau, tạo ra một CCKTNN mới Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đây là sự vận động của các quá trình kinh tế nên nó diễn ra trong thế ổn định tương đối của mỗi quá trình bộ phận Đây chính là sự khách quan về mặt nhận thức luận, cần nắm vững điều đó để tránh sự nôn nóng, chủ quan trái yêu cầu khách quan CCKTNN một mặt luôn vận động phát triển, mặt khác cũng luôn giữ được tính ổn định Nếu CCKTNN thường xuyên thay đổi, xáo trộn thì hậu quả sẽ làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định, quá trình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hoá gặp trở ngại, gây nên lãng phí, tổn thất cho nền kinh tế

Thứ ba, CDCCKTNN không bó hẹp trong một không gian lãnh thổ, mà

luôn gắn liền với quá trình phân công lao động và hợp tác với bên ngoài

Xét ở phạm vi tổng thể, các yếu tố nội sinh của toàn bộ CCKT sẽ tác động đến sự chuyển dịch của CCKTNN Ví dụ như: Các dự án đầu tư nước ngoài (không chỉ trong sản xuất nông nghiệp mà của toàn bộ nền kinh tế) cũng tác động đến quá trình CDCCKTNN trong từng vùng lãnh thổ, từng địa

Trang 19

phương nhất định Tất cả nó đều có vai trò trong việc hình thành một CCKTNN trên phạm vi quốc gia hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao Những thành tựu về kinh tế, khoa học- công nghệ không chỉ là của riêng một quốc gia mà còn là thành tựu chung của nhân loại Điều quan trọng là sự lựa chọn và áp dụng của từng quốc gia, tuỳ theo từng thời kỳ hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và môi trường kinh tế- chính trị- xã hội riêng biệt Vì vậy quá trình chuyển dịch sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, hiệu quả cao phải xem xét đầy đủ các yếu tố từ bên trong, bên ngoài mà hoạch định chủ trương, kế hoạch, biện pháp, hình thức, bước đi cho vững chắc Cũng từ CDCCKTNN mà xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nói chung và cho nông nghiệp nói riêng, xây dựng cơ chế chính sách, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, chế biến sản phẩm và lưu thông hàng hoá của bản thân ngành nông nghiệp

Như vậy, nắm vững được đặc điểm của CCKTNN có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo thực tiễn, giúp cho chúng ta có căn cứ để phân tích đánh giá quá trình vận động, biến đổi, phát triển của CCKTNN và tìm giải pháp phù hợp nhằm góp phần CDCCNKTTNN có hiệu quả

1.1.2 Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

1.2.1.1 Về quan hệ chuyển dịch giữa nông nghiệp víi lâm nghiệp, ngư nghiệp (quan hệ giữa các ngành của nông nghiệp theo nghĩa rộng)

Đây là mối quan hệ trong khái niệm theo nghĩa rộng nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất lấy đất đai, rừng, biển làm tư liệu sản xuất chủ yếu và đối tượng sản xuất là giới sinh học Trong quá trình CNH, HĐH chúng ta thực hiện nền kinh tế mở để các địa phương, các vùng và các cơ sở sản xuất kinh doanh có điều kiện hợp tác, liên doanh, khai thác tiềm năng thế mạnh để tạo nguồn lực đẩy mạnh sản xuất Tuy nhiên, cơ cấu về nông – lâm – ngư nghiệp

ở nước ta hiện nay chưa phù hợp Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp còn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng giá trị nông – lâm – ngư nghiệp Do đó việc

Trang 20

chuyển dịch CCKT nông – lâm – ngư nghiệp cần phải tăng nhanh hơn tỷ trọng lâm và ngư nghiệp

1.2.1.2 Về quan hệ chuyển dịch giữa trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề (quan hệ giữa các ngành của nông nghiệp theo nghĩa hẹp)

Đây là cơ cấu phản ánh mối quan hệ phát triển một cách toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp Đặc điểm của trồng trọt là có tính thời vụ cho nên phải phát triển chăn nuôi, ngành nghề là vừa hỗ trợ cho trồng trọt phát triển như cung cấp phân bón, tiêu thụ sản phẩm Trên cở sở đó làm tăng mức thu nhập cho các hộ nông dân, nâng cao hiệu quả kinh doanh nông nghiệp Quan hệ này không những làm tăng hiệu quả kinh tế

mà còn góp phần bảo vệ, giữ thế ổn định cân bằng sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp Với nước ta như hiện nay thì giá trị trồng trọt chiếm 60%, giá trị chăn nuôi chiếm 30% trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Như vậy giá trị ngành nghề còn ở mức thấp

Vì vậy, chủ trương phát triển mọi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính là hoàn toàn đúng đắn: “Phát triển

và nâng cao chất lượng hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm, mở rộng phương pháp chăn nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩn, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp” Do vậy, CDCCKTNN theo mối quan hệ trồng trọt – chăn nuôi và ngành nghề là tăng tỷ trọng, giá trị sản lượng của chăn nuôi

và ngành nghề trong CCKTNN

1.2.1.3 Về quan hệ chuyển dịch giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành chế biến và dịch vụ (mối quan hệ giữa các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp mà nông nghiệp là khâu đầu)

Cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ được xác lập theo một tỷ lệ cân đối

cả về số lượng và chất lượng, giữa các khâu của quá trình tái sản xuất nông nghiệp Quan hệ này phải được cân đối lại một cách thường xuyên, liên tục khi trình độ sản xuất trong nông nghiệp được nâng lên Trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, khâu sản xuất nông nghiệp là khâu quan trọng hàng đầu, nó cung

Trang 21

cấp sản phẩm cho đời sống xã hội Khâu chế biến bao gồm chế biến các sản phẩm cho người, sản phẩm cho vật nuôi và có phân bón cho cây trồng Đồng thời nó là thị trường tiêu thụ các hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp Dịch vụ vừa là khâu cung cấp các yếu tố sản xuất cho đầu vào, vừa đảm nhiệm khâu tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất (đầu ra) Việc duy trì các mối quan

hệ tỷ lệ giữa sản xuất - chế biến và dịch vụ không những đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp hoạt động bình thường mà còn làm tăng giá trị nông nghiệp, tăng sản lượng hàng hoá và nông sản xuất khẩu ra thị trường quốc tế

1.2.1.4 Về quan hệ chuyển dịch cơ cấu lao động giữa trồng trọt - chăn nuôi - lâm nghiệp và dịch vụ phục vụ nông nghiệp

Đây là sự phản ánh của phân công lao động xã hội theo ngành gắn với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp - nông thôn ở nước ta Có thể hiểu đây là cấp độ thấp (cùng loại) của CCKT công - nông nghiệp - dịch vụ, nhưng được khu biệt lại ở địa bàn nông thôn

Ngành nghề trong khu vực nông thôn đã mở rộng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu lao động Lao động trong nhóm hộ nông - lâm nghiệp - thuỷ sản đã

có sự chuyển dịch theo hướng tỷ lệ hộ thuỷ sản, lâm nghiệp tăng lên, còn tỷ lệ

hộ nông nghiệp giảm đi

Dịch vụ ở đây được hiểu là các ngành nghề ở nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hiện nay khu vực nông thôn “có vai trò to lớn, chiếm gần 40% GDP, hơn 80% dân số, hơn 70% lao động, hơn 70% số hộ ở nông thôn” [31, tr.5] Vào những năm đầu của quá trình CNH, sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ ở thành phố và các khu công nghiệp còn ở mức độ khiêm tốn nên khả năng thu hút lao động nông thôn vào các ngành nói trên còn nhiều hạn chế, nên tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn là khá lớn Trong điều kiện đó việc phát triển mạnh mẽ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn là quan trọng và cấp thiết, nó là biện pháp có hiệu quả để sử dụng lao động dư thừa Có thể nói thúc đẩy CDCCKTNN, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn có tác

Trang 22

dụng “kép”, nó vừa có tác dụng sử dụng có hiệu quả hơn “toàn dụng” lao động dôi dư ở nông thôn, vừa là phương hướng cơ bản dể CDCCKTNN theo hướng

CNH, HĐH ở nước ta

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế phản ánh hai mặt lượng và chất trong mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế Cho nên, khi đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở một tỉnh thuần nông, cần chú ý cả những quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự thay đổi

về chất của các mối tương quan ấy Hơn nữa trong quá trình phân tích, đánh giá không thể không chú ý đến những đặc điểm riêng của cơ cấu kinh tế Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở một tỉnh thuần nông cần chú ý tới các tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm:

1.1.3.1 Cơ cấu hiện vật và giá trị trong GDP

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới các ngành sản xuất phi vật thể phát triển nó tạo ra nguồn thu nhập ngày càng lớn so với các ngành sản xuất khác; mặt khác hầu hết các ngành, các nền kinh tế quốc gia là nền kinh tế mở cửa với bên ngoài Liên Hợp quốc dùng 2 chỉ tiêu là GDP và GNP để đánh giá quy

mô và tốc độ tăng trưởng của cải vật chất của mỗi quốc gia Các nhà kinh tế học hiện đại sử dông chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và

xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế

Trong đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở một tỉnh thuần nông thì cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệp hoá Tỷ lệ phần trăm của các ngành cấp I (khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ) là một trong những tiêu chí đầu tiên đuợc dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Trong quá trình công nghiệp hoá mối tương quan này có xu hướng chung là

Trang 23

khu vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm xuống, khu vực phi nông nghiệp ngày càng tăng lên Trong điều kiện khoa học công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất sau đó là công nghiệp

và cuối cùng là nông nghiệp

Để đánh giá sát thực hơn sự CDCCNKTTNN và CDCCKTNN của nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH việc phân tích cơ cấu các phân ngành (cấp II, cấp III ) có một ý nghĩa rất quan trọng Thông thường cơ cấu phân ngành phản ánh sát thực hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hoá của nền kinh tế Chẳng hạn, trong khu vực công nghiệp, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hoá mỹ phẩm chiếm tỷ trọng cao hơn nữa Chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao hơn so với lĩnh vực khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghệ lắp ráp Những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng,

tư vấn, viễn thông, hàng không chiếm tỷ lệ cao so với những dịch vụ khác

1.1.3.2 Cơ cấu lao động

Cơ cấu lao động là một chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bố như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh tế học đánh giá cao chỉ tiêu cơ cấu lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế Bởi vì phân tích cơ cấu lao động xã hội mới

là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công của nền kinh tế – xã hội của quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng Bởi vì CNH, HĐH, hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần về sự gia tăng của lĩnh vực công nghiệp (ngày nay là công nghiệp

và dịch vụ) phải là quá trình CNH, HĐH đời sống xã hội con người Trong đó

cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang

Trang 24

làm việc trong nền kinh tế Đặc biệt hơn khi tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn đang chiếm tỷ lệ áp đảo

1.1.3.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu

Trong điều kiện một nền kinh tế đang phát triển theo hướng CNH, HĐH nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thì cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một trong những tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp Quy luật phổ biến của quá trình CNH (đối với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, thì tỷ trọng trong cơ cấu GDP và lao động nông nghiệp chiếm phần lớn lao động xã hội, và giá trị xuất khẩu ít ỏi, phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm của công nghiệp khai thác ở dạng nguyên liệu thô (chưa qua chế biến) Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ luôn là một điểm yếu mang tính kinh niên

Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may, chế biến nông - lâm - thuỷ sản chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hoá chất, điện tử, Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên

cơ sở công nghệ – kỹ thuật cao luôn được xem như một trong những thước đo mức độ thành công của CNH, HĐH Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) là tiêu chí tốt để bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ

Trang 25

cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Đồng thời, với cơ cấu giá trị của các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chế tạo sản phẩm xuất khẩu cũng có ý nghĩa trong phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động xã hội

Tóm lại, khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu để xem xét Mức độ chi tiết, cụ thể và các khía cạnh tiếp cận của những phân tích này trước hết phụ thuộc vào yêu cầu mục tiêu cần đánh giá, vào nguồn tài liệu sẵn có và nhiều yếu tố khác Ngoài ra, có thể tập hợp rất nhiều các tiêu chí có ý nghĩa bổ trợ quan trọng khác như quan hệ giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; những chỉ tiêu về quá trình chuyển giao tiến bộ công nghệ, sự cải thiện của cấu tạo hữu

cơ (c/v), cơ cấu hàng nhập khẩu, sự nâng cấp chất lượng nguồn lao động, cơ cấu các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường phân theo ngành Mỗi chỉ tiêu nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thời kỳ CNH, HĐH

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

Như đã phân tích ở trên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp được biểu hiện bằng

sự tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể Cơ cấu này phụ thuộc vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp, đó là những nhân tố chủ quan và khách quan sau đây:

1.2.1 Nhóm nhân tố về vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên

Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng, bao giờ cũng dựa trên ưu thế về địa lý và khí hậu Vì vậy, ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu khác nhau thì việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau Nếu điều kiện

Trang 26

tự nhiên thuận lợi, con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào

“miễn phí” để tạo ra những sản phẩm với chi phí thấp nhất và chất lượng cao

nhất Đối với nước ta, có thể tận dụng ưu thế về địa lý, khí hậu từng vùng để

có thể xác định cơ cấu cây, con phù hợp Ví dụ: ë những vùng núi cao, độ ẩm lớn, mang tính khí hậu ôn đới có thể thích hợp với các cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê, cừu hoặc các loại rau quả Vùng đồng bằng, địa hình bằng phẳng, đất đai màu mì, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho trồng cây lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm Tài nguyên thiên nhiên nước ta phong phú nhưng chưa được khai thác bao nhiêu, trong đó đất đai, nước, rừng là những nguồn lợi cần thiết được quan tâm khai thác

Như vậy, vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên là một nhân tố cần lưu ý để các nhà hoạch định chiến lược kinh tế thiết lập cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp

lý, phát huy thế mạnh của từng địa phương, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2.2 Nhóm nhân tố về điều kiện xã hội của sản xuất và tác động của khoa học công nghệ

Nếu như yếu tố về điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan, thì nhóm nhân

tố thuộc về điều kiện xã hội của sản xuất, của khoa học - công nghệ mang tính chủ quan trong việc hình thành và phát triển CCKTNN Về điều kiện xã hội của sản suất đó là chủ thể kinh tế, những quan hệ pháp lý quy định về quan hệ con người với tư liệu sản suất, mô hình tổ chức xã hội của nền kinh tế Một nền kinh tế nông nghiệp phát triển theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

có cơ cấu khác nền nông nghiệp định hướng xã hội chủ nghĩa

Về tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, có thể thấy mấy điểm sau đây:

Chúng ta đều biết rằng khi khoa học - công nghệ chưa phát triển thì nhìn tổng quát nền nông nghiệp của nhân loại chỉ là sự khai thác bóc lột tự nhiên, kinh tế tự nhiên, sản suất tự cung, tự cấp Do vậy, CCKTNN cũng rất đơn giản thuần tuý là trồng trọt kết hợp chăn nuôi Khi khoa học công nghệ đã phát

Trang 27

triển, tạo ra các điều kiện sản suất thuận lợi cho nông nghiệp, nó bao gồm các

lĩnh vực tác động trực tiếp đến đối tượng sản xuất nông nghiệp như các ngành: công nghệ sinh học, công nghệ cấy ghép, gen, lai tạo giống, mà quan trọng là khai thác đất đai, nâng cao điều kiện của sản xuất nông nghiệp như tư liệu sản xuất, kết cấu hạ tầng, lưu thông sản phẩm, bảo quản nông sản sau thu hoạch Khoa học công nghệ cũng tạo thêm nhiều ngành nghề mới cho nông nghiệp

như dịch vụ nông nghiệp, chế biến nông sản, thú y… làm cho nông nghiệp có

sự thay đổi to lớn, thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong sản xuất, làm cho cơ cấu nông nghiệp thay đổi cả về số lượng và chất lượng, cả bề rộng và chiều sâu

Có thể nói, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi lẽ, nó mở ra những triển vọng to lớn cho việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, tạo ra bước đột phá về giống cây, con có năng suất, chất lượng cao, tạo ra sự phát triển cho ngành chế biến và bảo quản nông sản phẩm, nâng cao sản xuất và chất lượng để sớm có thể hòa nhập vào thị trường quốc tế Nó cũng làm thay đổi vị trí của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, thay đổi vai trò của nguyên liệu trong quá trình lao động, đòi hỏi phải có quan điểm mới trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên Chính vì vậy, ở đâu có sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và công nghệ thì ở

đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng nhanh chóng và thuận lợi

1.2.3 Nhóm nhân tố thuộc về trình độ phát triển của phân công lao

động trong nước và quốc tế

Phân công lao động là chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành, các vùng và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó có tác dụng làm đòn bẩy cho

sự phát triển về năng suất lao động, hình thành và CDCCKT nói chung và CCKTNN nói riêng

Trang 28

Phân công lao động là cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hàng hoá Nhưng phân công lao động đặc thù thì phân chia ngành lớn thành loại và thứ hay còn gọi là ngành chức năng Như trong nông nghiệp được phân thành ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt lại được phân thành ngành chức năng như cây công nghiệp, cây lương thực, cây thực phẩm… Vì vậy, đề cập vấn đề này có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu sự CDCCKT trong nông nghiệp

Quá trình phân công lao động xã hội cũng là quá trình bố trí lại lao động

xã hội cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện khoa học công nghệ, tạo

nên mối liên hệ kinh tế - xã hội giữa các đơn vị, các cá nhân và tăng cường

tính phụ thuộc lẫn nhau Phân công lao động càng phát triển thì quan hệ giữa các đơn vị, các vùng càng mật thiết với nhau Trên cơ sở đó hình thành và phát triển phân công lao động và hợp tác quốc tế Cùng với quá trình đó nó tác động mạnh mẽ lại việc chuyên môn hoá sản xuất tạo điều kiện tăng năng suất lao động, thúc đẩy nhanh chóng quá trình CDCCKT của khu vực và ngành

1.2.4 Nhóm nhân tố thuộc về các lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, lợi thế của các nước phát triển muộn về kinh tế, tác động không nhỏ đến hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay việc mở rộng kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan mang tính quy luật, vì nó bắt nguồn từ yêu cầu của quy luật phân công lao động hợp tác quốc tế, từ sự phân bố không đồng đều về lao động, tài nguyên và sự phát triển không đồng đều về trình độ công nghệ, bắt nguồn từ đời sống, sản xuất của mỗi nước ngày càng được quốc tế hoá Vì vậy, đòi hỏi cần sử dụng sao cho có hiệu quả lợi thế tuyệt đối Lợi thế so sánh nhằm thúc đẩy quá trình CDCCKT nói chung và CDCCKTNN nói riêng Rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa các nước kinh tế kém phát triển với các nước phát triển về kinh tế

Lợi thế tuyệt đối nói lên năng lực sản xuất có lợi của một nước về một loại hàng hoá nào đó so với các nước khác Về mặt kinh tế nó chỉ có tác dụng

Trang 29

đem lại cho nền kinh tế sức cạnh tranh cao trên thị trường ngoài nước, khi nền kinh tế mở của với bên ngoài thì lợi thế tuyệt đối sẽ vừa là nguyên nhân, vừa

là kết quả của quá trình hình thành và CDCCKT của một quốc gia Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với lợi thế tuyệt đối còn cần phải xem xét đến lợi thế so sánh tức là phải xem xét tới chi phí sản xuất mặt hàng đó so với nước khác Vì vậy cần xác định tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, vị trí địa lý… để tập trung phát triển một số ngành mũi nhọn nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

Trong điều kiện hiện đại, đối với các nước kinh tế chậm phát triển thực hiện chính sách mở cửa, cần ý thức được lợi thế về lao động giá rẻ và nguồn nguyên liệu, sản xuất truyền thống đang dần dần mất đi ý nghĩa vốn có của nó

Vì đối với các nước tiên tiến trên đang tiến tới chỗ sử dụng nhiều hơn các loại

nguyên liệu nhân tạo và đội ngũ lao động Robot Làn sóng “cách mạng công nghệ lần 3” làm cho CCKT ở các nước công nghiệp tiên tiến nghiêng hẳn về công nghiệp, dịch vụ Vì vậy, chính sách CCKT cần phải xác định đúng đắn những thế mạnh và lợi thế về địa lý để khai thác các lợi thế sẵn có của đất nước, vùng ngành hay mỗi địa phương Việc CDCCKTNN vì thế cũng cần tính đến và dựa trên những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh trong quan hệ đối ngoại liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp

1.2.5 Nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách

Cơ cấu chính sách thực sự có tác động rất mạnh đến xu hướng vận động tổng quát của sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng lãnh thổ của nền kinh tế Có rất nhiều ví dụ chứng minh cho vai trò tác động của cơ chế chính sách đối với sự CDCCKT Điển hình: trong một thời gian dài thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xu hướng hình thành cơ chế kinh tế tổng quát của Việt Nam và nhiều nước XHCN thời kỳ đó là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Theo chủ trương đó, phần lớn các nguồn lực của Việt Nam trong thời gian dài cũng đã được dành cho phát triển công nghiệp nặng Vì nhiều lý do chương

Trang 30

trình này đã không mang lại những kết quả như mong đợi Thay vào đó là chủ trương mới vào đầu những năm 1980 là “Ba chương trình kinh tế lớn: lương thực – thực phẩm – hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” Cơ cấu kinh tế nhờ đó

mà có sự điều chỉnh nhất định do các nguồn lực phân bổ lại theo hướng ưu tiên hơn cho những chương trình kinh tế này Tình hình đó cũng diễn ra tương

tự như vậy đối với các thành phần kinh tế khi mà đường lối đổi mới với chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế được khẳng định, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đã có điều kiện phát triển cùng với hướng tập trung cho các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam hiện nay Đó là nhừng bằng chứng rất rõ nét về sự tác động của các nhân tố cơ chế chính sách đối với sự CDCCKT của nền kinh tế

Trong điều kiện phát tiển nền kinh tế hành hoá, kinh tế thị trường, việc nghiên cứu các tác động của các yếu tố thị trường là nội dung không thể bỏ qua đối với các chính sách về cơ cấu kinh tế Sở dĩ như vậy là vì mức độ ảnh hưởng của chúng đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng mạnh mẽ không kém các nhân tố đầu vào của sản xuất Tuy nhiên đây cũng là hạn chế trong cách tiếp cận nghiên cứu CDCCKT ở nước ta hiện nay, một phần do

“tập quán” chỉ tập trung vào khía cạnh các nhân tố của sản xuất vật chất trong

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trước đây vẫn còn chi phối mạnh trong tư duy chính sách kinh tế

Như vậy, việc CDCCKTNN chịu sự tác động của nhiều nhóm nhân tố Trong điều kiện hiện nay dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá, thị trường hoá và của cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra nhanh chóng, bản thân các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới quá trìng CDCCNKTTNN và CDCCKT cũng không ngừng biến đổi và hàm chứa những nội dung kinh tế không hoàn toàn giống nhau Do đó, khi đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố cũng như tổng hợp các nhân tố đó cần phải nhìn nhận chúng như những quá trình

“động” để xem xét xu hướng tác động dài hạn lên quá trình CDCCNKT

Trang 31

Ngoài ra, CDCCNKTTNN còn chịu tác động của các nhân tố khác nhau như vốn và sử dụng vốn, tình hình dân số, lao động, tập quán sản xuất truyền thống… Các nhân tố đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tác động tới việc CDCCNKTTNN và CDCCKTNN

1.3 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước về chuyển dịch cơ

cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp

1.3.1 Tổng quan kinh nghiệm một số địa phương trong nước

1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Nam

Hà Nam vốn là một tỉnh thuần nông, CCKT khép kín lại vừa tái lập tỉnh

từ năm 1997 Là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi: nằm giáp sông Hồng, được phù sa bồi đắp rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Mặt khác Hà Nam có Quốc lộ I đường sắt chạy qua nối liền sự giao lưu, trao đổi với mọi miền trong cả nước…

Nhận thức được vị trí địa lý và điều kiện kinh tế – xã hội của một tỉnh

vừa tái lập, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã đưa nghị quyết TW 5 khoá XV

và nghị quyết số 09 của chính phủ vào thực tiễn CDCCKTNN Đặc biệt Uỷ ban nhân dân tỉnh đã xây dựng và phê duyệt đề án: “dồn điền đổi thửa”, “trồng thông lấy nhựa”, phát triển chương trình “nạc hoá” đàn lợn, “sinh hoá” đàn bò, các mô hình luân canh cây trồng được áp dụng có hiệu quả

Có thể nói đến nay, kinh tế của Hà Nam đã có bước phát triển vượt bậc:

tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế chung của tỉnh đã giảm

từ 52,6% (1997) còn 30,2% (2007) Cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ là 74% - 24,8% - 1% (1997) sang 63,8% - 32,7% - 4,5% (2007) CCKT nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực Quỹ đất nông nghiệp đã giảm để chuyển sang chăn nuôi thuỷ sản và trồng cây ăn quả cho thu nhập cao Chẳng hạn, năm 2003, Hà Nam đã xuất khẩu được 17536 tấn gạo gấp 2,7 lần so với năm 1997 Với kết quả đó, mang lại thu nhập trên 30 triệu đồng/ha, giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 32 triệu USD, thu ngân sách

929 tỷ đồng

Trang 32

Qua nghiên cứu CDCCKTNN ở Hà Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

- Mặc dù còn có những khó khăn nhưng Hà Nam đã dốc sức tập trung đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong trồng trọt, chăn nuôi, vươn tới nền nông nghiệp hàng hoá

- Chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa canh, sản xuất hàng hoá: + Xây dựng những công thức luân canh hợp lý như: lúa + cá + cây ăn quả; rừng + sắn, tre, luồng, nứa, VAC… trong đó có nhiều mô hình sản xuất đạt từ 40 đến 70 triệu đồng/ha

+ Cùng với việc cắt giảm diện tích trồng lúa, Hà Nam đã chuyển 9.670 ha đất sử dụng vào khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, nhân rộng các trang trại cá + lợn đi đôi với xây dựng mô hình VAC

+ Phát triển hệ thống cây công nghiệp, cây ăn quả chủ yếu như: cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, đay, dâu tằm, đỗ tương, lạc, sắn… do đó diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng trên 100 ha

- Phát huy quyền tự chủ của hộ nông dân đi đôi với việc mở rộng và phát triển các trang trại: cá, lợn, gà, vịt như ở: Duy Tiến, Kim Bảng, Lý Nhân, nhằm nâng cao năng suất và thu nhập cho các hộ gia đình

- Chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn, điện nước và công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp, thúc đẩy CDCCKTNN tăng tốc trong những năm qua

1.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh thuần nông đất chật người đông, gần 80% sống ở nông thôn và dựa chủ yếu vào nông nghiệp Những năm qua, tỉnh Thái Bình

có nhiều nỗ lực trong phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình ý thức được rằng: một tỉnh thuần nông muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu thì phải đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn, với nội dung chủ yếu là CDCCNKT trong nông nghiệp Đến nay, CCKTNN

đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng chăn nuôi và và dịch vụ nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp đặc biệt là lúa Năm 2003, tỷ lệ trồng

Trang 33

trọt giảm đáng kể từ 75,56% (2000) còn 69,6% (2003) Tỷ lệ chăn nuôi tăng khoảng trên 5,4%; từ 21,3%(2000) lên 26,73% (2003), trong đó sản lượng lợn hơi xuất chuồng là 67.000 tấn Dịch vụ nông nghiệp tăng từ 3,1% (2000) lên 3,67% (2003)

Nghiên cứu về CDCCNKT trong nông nghiệp của Thái Bình, có thể rút

ra một số vấn đề mang tính kinh nghiệm như sau:

Một là, Thái Bình đã tập trung chuyển dịch nhanh cơ cấu cây trồng, vật

nuôi, áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất Do vậy, năng suất không ngừng tăng lên Nếu như những năm 70, Thái Bình đã đạt 5tấn/ha

và đến nay năng suất lúa đã tăng trên 2,5 lần (2007 năng suất bình quân đạt 13 tấn/ha) Kết quả trên đã đưa Thái Bình trở thành lá cờ đầu trong phát triển thâm canh tăng năng suất lúa

Thái Bình cũng chú trọng xây dựng các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi điển hình như: xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ với công thức luân canh : Lúa + Cải hai đợt + ít; Lúa + Hành sớm + Bí đao đông… Do vậy

đã cho thu nhập từ 50 đến 60 triệu đồng/ha/năm

Song song với giảm diện tích trồng lúa nhằm phá thế độc canh, Thái Bình tăng cường gieo trồng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày: Vừng, Đay, Cói, Lạc, Mía, Thuốc lào, Đậu tương…Điển hình là xã Thuỵ An, huyện Thái Thuỵ, Thực hiện công thức luân canh: Thuốc lào + Dưa gang xuất khẩu + Lúa mùa + Hành tỏi, cho thu nhập từ 62 đến 100 triệu đồng/ha Phát triển cây ăn quả: Cam, Quýt, Nhãn, Xoài… Đồng thời chuyển 4.000 ha đất trũng cấy 2 vụ lúa thu nhập thấp sang mô hình: Lúa + Cá, nên đã là cho giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng lên

Hai là, bên cạnh việc phát huy vai trò của hộ nông dân tự chủ sản xuất

kinh doanh, Thái Bình chú ý đến sự phát triển các trang trại trong nông nghiệp Hiện nay toàn tỉnh Thái Bình có 347 trang trại chia làm nhiềi loại hình sản xuất: trang trại trồng cây lâu năm; trang trại trồng cây hàng năm; trang trại chăn nuôi; trang trại lâm nghiệp; trang trại nuôi trồng thuỷ sản, trang trại kinh

Trang 34

doanh tổng hợp.Với tổng số vốn của các trang trại là 65.873 triệu đồng đem lại thu nhập là 14.555 triệu đồng

Ba là, để phục vụ cho CDCCNKT trong nông nghiệp, Thái Bình chú

trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn: điện, đường, trường, trạm và nước sạch Đến nay 100% số xã, phường, thị trấn, đã hoàn thành các chương trình trên Thái Bình là tỉnh dẫn đầu cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn

Mặt khác, Thái bình cũng rất quan tâm đến sự phát triển các dịch vụ ở nông thôn như: dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi…

Bốn là, khôi phục và phát triển các làng nghề, phát triển tiểu thủ công

nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và tham gia xuất khẩu

1.3.2 Bài học kinh nghiệm chung rút ra tham khảo và vận dụng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình

Qua nghiên cứu kinh nghiệm CDCCKT nông nghiệp và CDCCNKTTNN

ở hai tỉnh Hà Nam và Thái Bình có thể rút ra bài học kinh nghiệm chung tham khảo và vận dụng để CDCCNKTTNN ở tỉnh Ninh Bình Cụ thể là:

Thứ nhất, các tỉnh đã tập trung chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật

nuôi, áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất; đẩy nhanh tốc

độ phát triển nông nghiệp, vươn tới nền nông nghiệp hàng hoá

Thứ hai, các tỉnh chú ý tới việc phát huy vai trò của hộ nông dân tự chủ

sản xuất - kinh doanh, đến sự phát triển các trang trại trong nông nghiệp, nhằm

nâng cao năng suất và thu nhập cho các hộ gia đình

Thứ ba, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa canh, sản suất hàng

hoá: xây dựng những công thức luân canh hợp lý, cắt giảm diện tích trồng lúa; phát triển hệ thống cây công nghiệp, cây ăn quả chủ yếu như: cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, đay, dâu tằm, đỗ tương, sắn… do đó diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng lên

Trang 35

Thư tư, để phục vụ cho CDCCNKT trong nông nghiệp, các tỉnh chú trọng

đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn: điện, đường, trường, trạm, nước sạch và công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp, thúc

đẩy CDCKNKT trong nông nghiệp tăng tốc trong những năm qua

Thư năm, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; phát triển

tiểu thủ công nghiệp địa phương phục vụ nhu cầu CDCCNKT trong nông nghiệp, nông thôn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và tham gia xuất khẩu

Như vậy, CDCCNKTTNN theo hướng ngày càng tiến bộ là một xu thế tất yếu khách quan của nền kinh tế, mỗi quốc gia vừa có những nét chung mang tính quy luật, vừa có những nét riêng mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu và điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi tỉnh trong những thời kỳ khác nhau Qua đây có thể thấy, mỗi vùng, mỗi tỉnh muốn phát triển kinh tế – xã hội đều phải thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đặc biệt phải chú trọng đến CDCCKT nông nghiệp vì quá trình này không chỉ đơn thuần làm tăng tốc độ và tỷ trọng nông - công nghiệp, mà còn là quá trình làm cho tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản tăng lên so với tỷ trọng trồng trọt thuần tuý

Những vấn đề chung về CDCCKT và CDCCNKTTNN đã được trình bày

ở trên, đã gợi mở những vấn đề về bản chất, về con đường, về biện pháp cần thực hiện cho quá trình CDCCNKT ở tầm vĩ mô, toàn nền kinh tế Nói cách khác đó là những vấn đề có tính quy luật, xu hướng vận động của quá trình CDCCKTTNN của nền kinh tế quốc dân Vấn đề này sẽ được thực hiện như thế nào ở cấp độ nhỏ hơn, ở một tỉnh cụ thể Về mặt phương pháp luận, việc xem xét vấn đề trên cần phải đặt dưới ánh sáng phương pháp luận triết học Mác-xít, về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, sẽ cho chúng ta lời giải thích hợp Những vấn đề này sẽ được đề cập trong chương 2 của luận văn, khảo sát tình hình thực tiễn của CDCCNKTTNN ở tỉnh Ninh Bình

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG

NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH THỜI GIAN QUA

2.1 Đặc điểm của Ninh Bình liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh

tế trong nông nghiệp

Ninh Bình chính thức có tên từ năm 1822 (năm Minh Mạng thứ 3) Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chính thức được chuyển thành tỉnh Ninh Bình Năm 1975 được hợp nhất với tỉnh Hà Nam Ninh Đến năm 1992 Ninh Bình lại được tách ra từ tỉnh Hà Nam Ninh để trở về nguyên địa giới hành chính của nó như trước 1975 Sở dĩ có việc chia tách đó chính vì tỉnh Ninh Bình có nét riêng

và thế mạnh của mình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để phát triển kinh tế

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

- Về vị trí địa lý:

Ninh Bình có vị trí địa lý: nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc bộ (Đồng bằng sông Hồng), cách Hà Nội hơn 90 km về phía nam Ranh giới của tỉnh được xác định như sau:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, Phía đông giáp tỉnh Nam Định; phía đông nam giáp biển Đông;

+ Phía tây và tây nam giáp tỉnh Thanh Hoá; phía tây bắc giáp tỉnh Hoà Bình Với vị trí đó Ninh Bình có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội

vì tỉnh nằm trong khu vực ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam, nối vùng trọng điểm phía Bắc (tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng - Ninh) với Duyên hải miền Trung và Tây nguyên, nhất là thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng Nam bộ

- Đặc điểm địa hình và phân vùng:

Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 1.392 km2, địa hình đa dạng, từ vùng núi đồi ở phía tây, tây nam, đến vùng đồng bằng trũng xen kẽ núi đá vôi ở

Trang 37

giữa và phía đông, đông nam là vùng đồng bằng phì nhiêu, chạy xuống phía nam là bãi bồi ven biển

Địa hình của tỉnh đa dạng, hội tụ đầy đủ các điều kiện để phát triển kinh

tế – xã hội với cả ba thế mạnh ở miền đồi núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển Ninh Bình, có thể chia làm ba vùng cụ thể như sau:

+ Vùng đồi núi phía tây: gồm các dãy núi đá vôi với độ dốc lớn, núi đất

và đồi đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, trong tiểu vùng có dạng địa hình bình nguyên vùng này chủ yếu nằm ở huyện Nho Quan, phía bắc - đông b¾c trên huyện Gia Viễn và phần lớn thị xã Tam Điệp

+ Vùng đồng bằng trũng trung tâm xen kẽ núi đá: có đầm lầy, ruộng trũng và nhiều núi đá vôi nổi lên với các hang động đẹp Vùng này nằm trong phần còn lại vùng đồi núi của thị xã Tam Điệp và huyện Hoa Lư, Thành phố Ninh Bình cùng một phần của hai huyện Yên Khánh, Yên mô

+ Vùng đồng bằng ven biển: vùng này gồm toàn bộ huyện Kim Sơn phần diện tích còn lại của hai huyện Yên Khánh và Yên Mô Vì có biển và đồng bằng phì nhiêu nên thuận lợi trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

Bị chia cắt mạnh do sông, núi và chịu tác động của thiên tai như bão, lụt… nên gây trở ngại không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội bền vững

+ Các đơn vị hành chính: Tỉnh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thành phố Ninh Bình, Thị xã Tam Điệp, huyện Kim Sơn, huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô, huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan

Toµn tỉnh có 147 xã, phường và thị trấn, trong đó có 43 xã nằm trong điều kiện khó khăn; 3 xã nghèo vùng núi (Cúc Phương, Phú Long, Kỳ Phú) và 3 xã bãi ngang ven biển cũng là những xã thuộc diện khó khăn

- Về khí hậu, thuỷ văn: đặc điểm chung là khí hậu nhiệt đới gió mùa; mùa

đông khô lạnh có gió mùa đông bắc; mùa xuân ấm, ẩm có mưa xuân; mùa hạ

Trang 38

nóng có mưa rào và gió đông nam, thường xuyên có bão (4 -5 cơn bão/năm); mùa thu mát dịu trời trong xanh

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 độ C, nhiệt độ trung bình thấp nhất thàng 1 khoảng 13 – 15 độ C và trung bình cao nhất vào tháng 7 khoảng 28,5

độ C Tổng số giờ nắng trong năm đạt trên 1.100 giờ, tập trung chủ yếu vào mùa hạ Tổng nhiệt độ năm đạt tới trên 8.500 độ C, có tới 8 thàng trong năm

có nhiệt độ trung bình trên 20 độ C

- Về chế độ thuỷ văn: tài nguyên nước dồi dào gồm nước mặn, nước ngọt

và nước lợ Nếu phân ra hai loại nước mặt và nước ngầm thì nước ngọt là chủ yếu Vì có lượng mưa cao, có biển và hệ thống sông ngòi (sông Đáy, sông Hoàng Long, Sông Vạc, sông Bôi, sông Càn) khá dày cùng với nhiều hồ (Yên Quang, Đồng Thái, Đá Lạy, Đồng Chương, Yên Thắng) và vùng chiêm trũng Trong năm, chế độ mưa được chia ra làm hai mùa rõ rệt: Mïa mưa diễn vào mùa hạ (từ giữa tháng 4 đến tháng 10), tập trung đến trên 85% lượng mưa trong năm; Mùa khô với lượng mưa rất thấp vào khoảng trên 10% (từ đầu tháng 10 đến gi÷a tháng 4 năm sau) Lượng mưa trung bình năm trên 1.800

mm, phân bố không đều trong năm nhưng phân bố khá đều trên toàn bộ diện tích

Chế độ thuỷ triều với thời gian triều lên ngắn (khoảng 8 giờ) và triều xuống dài (gần 16 giờ) Biên độ triều trung bình từ 1,6m dến 1,7 m và đạt cực đại tới trên 3m Dòng chảy của hệ thống sông Đáy, kết hợp với thuỷ triều đã bồi tụ lại cửa sông tạo nên bãi bồi và lấn biển với tốc độ khá nhanh Do vậy, vùng b·i bồi ven biển, ven sông ít xảy ra hiện tượng sụt lở đất đai

Nhìn chung chế độ khí hậu, thuỷ văn tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững, đặc biệt là nông lâm - ngư - nghiệp.Tuy nhiên hạn chế là mùa khô thì hạn hán, mùa mưa gây úng và lũ lụt Ngoài ra sông suối của tỉnh phải đảm nhiệm vai trò thoát nước cho Hà Nội

- Về đất đai: Đất đai và sử dụng đất: tổng quỹ đất là 139.011 ha, phân bố

trên cả 3 vùng sinh thái như đã phân tích ở trên Đất đa vùng đồng bằng rất

Trang 39

thuận lợi trong phát triển nông nghiệp thâm canh, đất đai vùng bãi bồi ven biển thuận lợi trồng và phát triển cói, nuôi trồng thuỷ sản và vùng đồi núi thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại

Biểu 2.1.1: Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2007

1 Đất nông nghiệp (ha) 89.449,0 89.814,0 96.291,2

1.2 Đất sản xuất nông nghiệp 67.630,0 62.188.0 62.709,1

(Nguồn: Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình 2008)

Phân tích, đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2001 – 2007 thấy rằng: năm 2007 đất nông nghiệp là 96.291,2 ha (chiếm 70%) tăng gần 7.000

ha so với năm 2001; Đất phi nông nghiệp năm 2007 là 29.317,4 ha (chiếm 20,0%), tăng hơn 2.000 ha so với năm 2001; Đất chưa sử dụng năm 2007 chỉ

có 13.262,8 ha (chiếm 10%), giảm xuống gần 8 ha so với năm 2001

Cụ thể: đất lâm nghiệp chiếm tới 19,9% năm 2007 và có xu thế tăng lên, đất sản xuất nông nghiệp chiếm gần 45% năm 2007 giảm gần 2.000 ha, đất chuyên dùng chiếm tới 11% năm 2005 tăng lên 2,5 nghìn ha, đất ở tăng lên đạt tới khoảng 321 ha, đất chưa sử dụng giảm xuống trên 5 nghìn ha Nguyên nhân thay đổi là do công tác quai đê lấn biển, do chuyển đổi mục tiêu sử dụng

Trang 40

đất như từ đất nông nghiệp sang xây dựng các khu, cụm công nghiệp, phát triển đô thị và từ đất chưa sử dụng sang sản xuất nông nghiệp

Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 740 m²/ người, thấp hơn mức trung bình của cả nước(970 m²/người), và cao hơn mức trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng (490 m²/người), cụ thể là cao hơn Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh vv…[34]

- Các loại đất chính: Có thể phân nhóm các loại đất chính cùng đặc điểm chính của chúng ở tỉnh Ninh Bình như sau:

+ Nhóm đất phù sa: diện tích 74.529,8 ha chiếm 53% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại đất phù sa được bồi tụ hàng năm, đất phù sa không được bồi

tụ, đất phù sa, đất phù sa có tầng phèn tiềm tàng sâu, đất phù sa có tầng loang

lổ đỏ vàng, đất phù sa úng trũng, lầy thụt, đất than bùn Đất này phân bố hầu hết trên các huyện thị trong tỉnh

+ Nhóm đất đỏ vàng; diện tích 24.997 ha, chiếm 17,85% diện tích tự nhiên, bao gồm 5 loại đất chính là, đất nâu vàng trên đá vôi, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất nâu vàn trên phù sa cổ, đất đỏ vàng

do trồng lúa biến đổi Do chiếm diện tích tương đối lớn và có độ phì nhiêu cao

có thể phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp

+ Nhóm đất mặn: diện tích 14.194,4 ha chiếm 10,01% diện tích tự nhiên, được hình thành do trầm tích biển và trầm tích sông biển Phân bố chủ yếu ở các xã ven biển của huyện Kim Sơn, bao gồm đất mặn sú vẹt, đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và đất mặn ít

+ Nhóm đất xám bạc màu: diện tích là 3.481ha, chiếm 2,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Gia Lâm, Gia Trường, Xích hổ, Thạch Bình, Phú Sơn, Lạc Vân, Đồng Phong, Ngũ lộc, Sơn Hà, Quỳnh lưu Nhóm đất này phân bố ở địa hình dốc nên bị xói mòn, rửa trôi, làm mất chất dinh dưỡng

+ Nhóm đất thung lũng dốc tụ: diện tích 1.601 ha, chiếm 1,1% diện tích

tự nhiên Phân bố ở thung lũng thấp, nhỏ trong các vùng đồi núi của thị xã

Ngày đăng: 09/07/2015, 17:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông (2000), Nghiên cứu nhu cầu nông dân, Dự án VIE/98/004/B/01/99, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu nông dân
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2000
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001), Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn (2001 - 2010), Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn (2001 - 2010)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2001
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2003), Một số chủ trương chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chủ trương chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Phạm Thị Cần (1999), “Cơ cấu kinh tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Giáo dục lý luận (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Phạm Thị Cần
Năm: 1999
5. Nguyễn Sinh Cúc (1996), "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân giai đoạn 1996 -2000", Tạp chí Cộng sản (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân giai đoạn 1996 -2000
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVIII – 2001, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVIII – 2001
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Năm: 2002
11. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIX-2005, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIX-2005
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Năm: 2006
12. Nguyễn Điền (1997), CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Điền
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Nguyễn Điền, Vũ Hạnh, Nguyễn Thu Hằng (1999), Nông nghiệp thế giới bước vào thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp thế giới bước vào thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Điền, Vũ Hạnh, Nguyễn Thu Hằng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
16. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 3, Nxb. Tiến bộ, tr.384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
Năm: 1976
17. C.Mác-Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
18. C.Mác (1993), Tư bản, tập 1, quyển 1, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1993
19. C.Mác-Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1993
20. C.Mác-Ph.Ăng ghen (1994), Toàn tập, tập 24, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1994
21. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb. khoa học xã hội-nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: Nxb. khoa học xã hội-nhân văn
Năm: 1996
22. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2003), Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình đến năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình đến năm 2001
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2003)
Năm: 2003
23. Phạm Nguyên Nhu (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta theo hướng CNH, HĐH, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta theo hướng CNH, HĐH
Tác giả: Phạm Nguyên Nhu
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 2.1.3: Bảng tổng hợp về cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình  Luận văn ThS. Kinh tế
i ểu 2.1.3: Bảng tổng hợp về cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w