1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay

116 694 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường sẽ phân bố và sử d ụng hiệu quả các n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÙI THỊ THANH HUYỀN

TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN

Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÙI THỊ THANH HUYỀN

TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN

Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 9

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 11

3 Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu của đề tài 14

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp mới của đề tài 16

7 Bố cục của luận văn 16

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN 17

1.1 TRỢ GIÚP XÃ HỘI 17

1.1.1 Khái niệm 17

1.1.2 Quan điểm tiếp cận trợ giúp xã hội 20

1.1.3 Phân loại trợ giúp xã hội 25

1.1.4 Nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội 26

1.2 TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN 27

1.2.1 Bản chất và mục tiêu trợ giúp xã hội thường xuyên 27

1.2.2 Nguyên tắc và tiêu chí đánh giá chính sách TGXH thường xuyên 29

1.2.3 Đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên 31

1.2.4 Nội dung trợ giúp xã hội thường xuyên 34

1.2.5 Các nhân tố tác động đến TGXH thường xuyên 40

1.2.6 Vai trò của TGXH thường xuyên đối với sự phát triển bền vững 43

Chương 2:THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN Ở TỈNH THÁI BÌNH 49

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÁI BÌNH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TGXH THƯỜNG XUYÊN 49

Trang 4

2.2 TÌNH HÌNH ĐỐI TƯỢNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 52

2.2.1 Phân theo địa giới hành chính 53

2.2.2 Phân theo từng nhóm đối tượng 53

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỰC HIỆN TGXH THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 57

2.3.1 Công tác quản lý đối tượng bảo trợ xã hội, việc điều tra, rà soát, thống kê đối tượng theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ 57

2.3.2 Công tác tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và xét duyệt hưởng chính sách TGXH thường xuyên của tỉnh 58

2.3.3 Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách TGXH thường xuyên 59

2.4 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TGXH THƯỜNG XUYÊN TẠI TỈNH THÁI BÌNH 60

2.4.1 Thực trạng thực hiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 60

2.4.2 Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp y tế, phục hồi chức năng 76 2.4.3 Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp giáo dục đào tạo 77

2.4.4 Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp về đào tạo, dạy nghề và việc làm 79

2.5 ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN TGXH THƯỜNG XUYÊN Ở TỈNH THÁI BÌNH 80

2.5.1 Những kết quả đạt được 80

2.5.2 Những hạn chế chủ yếu 89

2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 91

Chương 3 : GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN Ở TỈNH THÁI BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 94

3.1 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TGXH THƯỜNG XUYÊN Ở THÁI BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 94

Trang 5

3.1.1 Trợ giúp xã hội thường xuyên phải hướng tới đảm bảo sự ổn định xã

hội và sự phát triển bền vững 94

3.1.2 Trợ giúp xã hội thường xuyên cần đặt trong mối quan hệ tương tác với tăng trưởng kinh tế của tỉnh 96

3.1.3 Chính sách TGXH thư ờng xuyên phải bảo đảm sự tương đồng với các chính sách xã hội khác của tỉnh 97

3.1.4 Từng bước nâng cao chất lượng chính sách, đảm bảo thực hiện quyền cho đối tượng được hưởng lợi 98

3.2 CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TGXH THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI 99 3.2.1.Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách 99

3.2.2 Mở rộng đối tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân cư khó khăn cần TGXH trong tỉnh 101

3.2.3 Từng bước điều chỉnh chính sách trợ giúp xã hội theo hướng nâng mức trợ cấp xã hội thường xuyên tiếp cận nhu cầu mức sống tối thiểu 102

3.2.4 Huy động nguồn lực cho việc thực thi chính sách TGXH thường xuyên theo tinh thần xã hội hóa và chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng 103

3.2.5 Hoàn thiện, nâng cao năng lực tổ chức b ộ máy, cán bộ thực hiện chính sách 104

3.2.6 Phát triển hệ thống các cơ sở trợ giúp, bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh 105

3.3 KIẾN NGHỊ 107

3.3.1 Kiến nghị với cơ quan Trung Ương 107

3.3.2 Kiến nghị với địa phương 108

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo giá so sánh phân

theo khu vực kinh tế 49 Bảng 2.2: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn Thái Bình theo giá thực tế phân

theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế 50 Bảng 2.3: Phân theo địa giới hành chính đối tượng trợ giúp xã hội thường

xuyên ở Thái Bình năm 2010 53 Bảng 2.4: Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2006-2010 54 Bảng 2.5: Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng ở cộng đồng do

xã, phường quản lý 61 Bảng 2.6: Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng cho các đối tượng Bảo trợ xã hội

sống trong các cơ sở Bảo trợ xã hội công lập do tỉnh quản lý 62 Bảng 2.7: Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tượng BTXH theo Nghị định

67/ 2007/NĐ-CP năm 2008 67 Bảng 2.8: Đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2009 68 Bảng 2.9 : Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tượng BTXH theo Nghị định 67/

2007/NĐ-CP năm 2009 71 Bảng 2.10: Đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2010 72 Bảng 2.11: Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tượng BTXH theo Nghị định 67/

2007/NĐ-CP năm 2010 75 Bảng 2.12: Số đối tượng được cấp thẻ BHYT năm 2007 – 2011 76

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trợ giúp xã hội (TGXH) là một trong những chính sách xã hội thể hiện tính ưu việt và là một trong những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) hiện nay ở nước ta Trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội ở nước ta được hình thành từ khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 Mục tiêu của chính sách là cứu đói cho những người chịu hậu quả của chiến tranh, hậu quả của thiên tai, dịch bệnh Mặc dù chiến tranh đã qua đi từ lâu, hậu quả kinh tế

có thể khắc phục được, nhưng hậu quả về mặt xã hội rất nặng nề chưa được giải quyết dứt điểm Hậu quả của chiến tranh đã để lại hàng triệu người khuyết tật, hàng trăm nghìn trẻ em mồ côi không người nuôi dưỡng, hàng triệu người nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng Các đối tượng này cần

sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng để ổn định cuộc sống và tham gia các hoạt động của cộng đồng để cùng phát triển

Quá trình đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường sẽ phân bố và sử d ụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng cao , nhưng cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề đặt ra, nhiều thách thức to lớn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như: thất nghiệp, chạy theo lối sống thực dụng, suy giảm đạo đức, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, tệ nạn

xã hội gia tăng…đã dẫn đến có một bộ phận yếu thế không đủ khả năng để tự

lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, họ cần được TGXH về đời sống, giáo dục, y tế, nhà ở….TGXH là một hoạt động nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của con người, đồng thời cũng mang tính chất nhân đạo, nhân văn, tương thân tương ái giúp đỡ nhau của con người trong cộng đồng, xã hội TGXH bao gồm các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên

Trang 9

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá về kinh tế, Nhà nước phải thực hiện song song chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, thúc đẩy kinh

tế tăng trưởng và bảo đảm cho nền kinh tế thị trường vận hành theo định hướng XHCN, đồng thời với quản lý xã hội, bảo đảm cho xã hội sự ổn định về chính trị, trật tự, an toàn xã hội thông qua hệ thống ASXH, hệ thống phúc lợi xã hội

và dịch vụ xã hội để đất nước phát triển ổn định và bền vững Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải gắn liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội và ngày càng quan tâm nhiều hơn đến công tác TGXH

Thái Bình là một tỉnh ven biển ở Đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam Kinh tế Thái Bình trong những năm vừa qua phát triển nhanh, tổng sản phẩm GDP trong tỉnh năm 2010 đạt gần 12.500 tỉ, nhịp độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2006 - 2010 bình quân là 11% Thái Bình là tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao ở khu vực Đồng bằng sông Hồng Thái Bình đang đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại Nhưng, Thái Bình là tỉnh đông dân, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, đối tượng cần bảo trợ xã hội rất lớn , nhất là nạn nhân của chất độc màu da cam, tệ nạn xã hội đang gia tăng…nên có một bộ phận dân cư không nhỏ cần được trợ giúp Thái Bình có số người tàn tật lớn, tỷ lệ người khuyết tật chiếm 5,1% dân cư trong tỉnh Theo Sở lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, năm 2011 có hơn 57.000 đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ giúp Thái Bình cũng đã ban hành những chính sách TGXH nói chung và TGXH thường xuyên nói riêng nhằm quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa cho các đối tượng yếu thế trên địa bàn có cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt hơn vào c ộng đồng Tuy nhiên, chính sách TGXH vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện đòi hỏi của xã hội Công tác TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế, chưa bao phủ hết bộ phận dân cư cần được trợ giúp, hiệu quả của chính sách chưa cao, những đối tượng yếu thế trên địa bàn vẫn

Trang 10

chưa được quan tâm đúng mức…Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện kịp thời chính sách ASXH góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, để công tác TGXH thường xuyên của tỉnh đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả, tạo được niềm tin, niềm vui và chỗ dựa vững chắc cho đối tượng thiệt thòi, yếu thế góp phần đảm bảo ASXH thì việc nghiên cứu chính sách TGXH thường xuyên, đưa ra cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết Từ cách đặt vấn đề trên, học viên lựa chọn nghiên

cứu đề tài “Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay’’ làm

luận văn thạc sĩ

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về ASXH, trong đó có đề cập đến công tác TGXH thường xuyên ở góc

độ lý luận, chính sách, thực tiễn… Cũng có những công trình, bài viết riêng

về TGXH nhưng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:

Về sách và tạp chí:

- Năm 2000, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã

hội, Hệ thống các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội, NXB Lao động – Xã

hội Cuốn sách hệ thống hóa các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về Bảo trợ xã hội tại Việt Nam

- Năm 2002, Nguyễn Đình Liêu, “Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh

xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế Luật (số 1), Đại học Quốc gia Hà Nội Tác

giả nêu lên vai trò của trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

- Năm 2004, Lê Thị Hoài Thu, “Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở

Việt Nam”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội (số 6) Bài viết đề cập đến hệ thống

pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2004 Từ đó tác giả đưa

ra một số ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, trong đó có pháp luật về trợ giúp xã hội

Trang 11

- Năm 2005, Lê Bạch Dương và các tác giả đã xuất bản cuốn sách “Bảo

trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam”, NXB Thế giới, Hà Nội

Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các nhu cầu và những vấn đề có liên quan đến các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam Nhìn nhận chức năng trợ giúp xã hội thường xuyên như hệ thống bảo trợ xã hội Đồng thời các tác giả đưa ra những dẫn chứng về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của hệ thống bảo trợ xã hội của Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế, thiệt thòi cần được trợ giúp

- Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu, chủ biên cuốn “Giáo trình nhập môn an

sinh xã hội”, NXB Lao động- xã hội, Hà Nội Tác giả có quan điểm cho rằng,

trợ giúp xã hội là trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội và trợ giúp khẩn cấp

- Năm 2008, Nguyễn Văn Định biên soạn cuốn “Giáo trình an sinh xã

hội”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Cuốn sách hệ thống các chính

sách ASXH trong đó có TGXH Tác giả cho rằng TGXH là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu được cuộc sống cho bản thân, gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống cộng đồng

- Năm 2008, Nguyễn Hữu Dũng, “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội

ở nước ta trong quá trình hội nhập”, Tạp chí Lao động xã hội (số 332),

4/2008 Tác giả phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách ASXH ở nước ta trong quá trình hội nhập, đưa ra kiến nghị cần xây dựng mức chuẩn trợ cấp chung và từ mức chuẩn trợ cấp này xác định mức cho mỗi loại chính sách cụ thể của hệ thống chính sách ASXH Tác giả còn cho rằng TGXH là hợp phần của hệ thống ASXH và phải được xây dựng trên cơ sở quan điểm gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế và phát triển hệ thống ASXH Quốc gia

Trang 12

- Năm 2009, Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền,

Nguyễn Anh Dũng, Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực tiễn ở

Đồng Nai), NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Các tác giả đã trình bày những

bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển

hệ thống ASXH Đồng thời các tác giả phân tích chính sách ASXH thực tiễn

ở tỉnh Đồng Nai

Về đề tài, công trình nghiên cứu:

- Năm 2002, Nguyễn Tiệp, Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên

cứu thực trạng về xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội và đề xuất các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội

- Năm 2009, Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của

việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề tài cấp Nhà nước, chương trình KH và CN trọng điểm

cấp Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ 2009 Công trình làm rõ những vấn đề cơ bản về ASXH và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng của hệ thống chính sách và thực thi chính sách ASXH Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2006-2015

- Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toản, Chính sách trợ giúp xã hội thường

xuyên cộng đồng ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân

Công trình nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng; đánh giá thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội và nhu cầu trợ giúp thường xuyên; thực trạng chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng Từ đó tác giả nêu kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách

- Năm 2010, Hà Thị Thanh Lê, Chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn

tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và

Trang 13

quản lý, Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu chính sách bảo trợ xã hội ở Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng; đánh giá thực trạng chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó tác giả đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm tốt hơn cho các hoạt động cần được bảo trợ xã hội trên địa bàn

- Năm 2011, Phạm Đại Đồng, Chính sách bảo trợ xã hội đối với một số

đối tượng yếu thế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh

doanh và quản lý, Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách bảo trợ xã hội đối với những người yếu thế; đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo trợ

xã hội đối với một số đối tượng yếu thế ở nước ta trong thời gian qua Từ đó tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hội đối với một số đối tượng yếu thế ở nước ta trong thời gian tới

Những công trình, bài viết trên đã nghiên cứu tổng quát về ASXH, trong đó có chính sách về TGXH, song chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào hệ thống các chính sách TGXH thường xuyên ở Việt Nam nói chung

và tổ chức thực hiện chính sách TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thực thi chính sách một cách hiệu quả Nghiên cứu về TGXH trong luận văn này của học viên tập trung vào chính sách TGXH thường xuyên và dưới góc độ kinh tế chính trị trên cơ sở làm rõ chính sách TGXH tiếp cận từ quyền con người , trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và phân chia lợi ích đảm bảo công bằng xã hội Đây là vấn đề rất mới và phứ c tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Thái Bình

3 Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về TGXH thường xuyên, khẳng định vai trò quan trọng của TGXH thường xuyên trong bối cảnh phát

Trang 14

triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam nói chung và phát triển kinh tế bền vững ở Thái Bình nói riêng Đánh giá thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ giúp và tổ chức thực hiện TGXH thường xuyên trên địa bàn Thái Bình; đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn

TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan và làm rõ hơn cơ sở lý luận TGXH thường xuyên

- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách TGXH thường xuyên (những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế) trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2007 đến năm 2011

- Đề xuất những giải pháp để triển khai thực hiện chính sách TGXH

thường xuyên trong giai đoạn 2010-2020

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các đối tượng bảo trợ xã hội sống trên địa bàn tỉnh Thái Bình cần được trợ giúp: nghiên cứu 3 nhóm đối tượng chính (nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhóm người cao tuổi, nhóm người khuyết tật nặng)

- Các quy định của chính quyền địa phương và các biện pháp thực thi của các chủ thể làm công tác liên quan đến chính sách TGXH thường xuyên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn tỉnh Thái Bình bao gồm:

- Về phạm vi chính sách: Nghiên cứu về chính sách TGXH thường xuyên (chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, chính sách trợ giúp y tế, chính sách trợ giúp giáo dục đào tạo, chính sách về dạy nghề và việc làm)

- Về thời gian: từ năm 2007 đến 2011

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Trang 15

- Phương pháp cụ thể:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,

mô hình hóa…trong đó chú trọng hai phương pháp sau:

+ Phương pháp thống kê: Luận văn sử dụng phương pháp này để thống

kê thực trạng các nhóm đối tượng cần được trợ giúp và thống kê các nguồn lực để thực hiện chính sách TGXH

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận văn phân tích đối tượng nghiên cứu thành từng bộ phận, từng lĩnh vực, để thấy rõ hơn thực trạng chính sách TGXH thường xuyên, từ đó khái quát, tổng hợp những kết quả đạt được, những thành tựu và hạn chế của chính sách TGXH thường xuyên

6 Đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về TGXH nói chung và TGXH thường xuyên nói riêng

- Đánh giá thực trạng theo một phương pháp phù hợp và phát hiện những vấn đề tồn tại cần xử lý trong tổ chức thực hiện chính sách TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Đưa ra cách thức tổ chức thực hiện TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp thực hiện chính sách TGXH thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Bình

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về TGXH thường xuyên Chương 2: Thực trạng thực hiện TGXH thường xuyên ở tỉnh Thái Bình Chương 3: Giải pháp tổ chức thực hiện TGXH thường xuyên ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRỢ GIÚP

XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN

1.1 Trợ giúp xã hội

1.1.1 Khái niệm

TGXH được hiểu theo các quan điểm, tiếp cận, tính chất, chức năng và

mô hình khác nhau Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chưa lý giải một cách toàn diện khái niệm TGXH Tuy nhiên, cũng đã giải thích những thuật ngữ gần với TGXH như: ASXH, bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội, cứu tế xã hội, bảo hiểm xã hội, dịch vụ xã hội Cụ thể:

Nguyễn Hải Hữu (2007) định nghĩa: “An sinh xã hội là một hệ thống các

cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các chính sách về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sải, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch

vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt”[44]

Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) giải thích: “Phúc lợi xã hội là một

bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động Phúc lợi xã hội bao gồm: những chi phí xã hội như trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi

an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo”[67]

Trang 17

Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng: “Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của

xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn tật, già yếu… dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn, túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được quyền sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường”[37]

Chuyên gia Unicef (2006) định nghĩa: “Công tác xã hội là sự thúc đẩy thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt mà ở đó con người tác động trực tiếp tới môi trường sống của họ Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội

là cốt lõi của công tác xã hội”[68]

Mai Ngọc Cường (2009) cho rằng: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người lao động từ hoạt động nghề nghiệp của họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động Vì vậy, thông qua bảo hiểm xã hội nhà nước và xã hội có các giải pháp để bù đắp hoặc thay thế khoản thu nhập cho người lao động”[26]

Khái niệm cơ bản về TGXH “Trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp

đỡ của Nhà nước, của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế hoặc hững hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình” [26, tr 47]

Trang 18

Có nhiều cách hiểu khác nhau về TGXH Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam trang 641: “Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình” Theo đó, những người già yếu cô đơn không có nhười nôi dưỡng, trẻ mồ côi cha mẹ, người tàn tật không có nguồn nuôi dưỡng, người bị bệnh hiểm nghèo không có người chăm sóc nuôi dưỡng, người và gia đình bị thiên tai, địch họa, gây tác hại nặng nề…được Nhà nước và cộng đồng cứu giúp [26, tr 47-48]

Cũng theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Trợ giúp xã hội là sự giúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình

và gia đình, sớm hòa nhập cộng đồng” Theo đó, việc trợ giúp thường tiến hành cho các đối tượng bị suy giảm mức thu nhập, sức khỏe yếu, mất hay thiếu phần lớn phương tiện sinh sống, nơi cư trú, người già yếu, người tàn tật không có nguồn sống ổn định, hoặc gia đình thiếu người trụ cột về thu nhập

do ốm đau, tàn tật, chết, người thiếu ăn [26]

Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng “Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng”[37]

Nguyễn Ngọc Toản (2010) cho rằng: “Trợ giúp xã hội là các biện pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng”[65]

Trang 19

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999) cho rằng: “Bảo trợ xã hội

là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” Đây là khái niệm tiếp cận dưới góc độ quản lý Nhà nước, có tính chất tổng quát nhất và rất gần hoặc có thể nói là gần đồng nghĩa với khái niệm TGXH Học viên đồng quan điểm với khái niệm này, nhưng cho rằng bảo trợ xã hội có phạm vi đối tượng bao trùm hơn, còn TGXH tập trung vào những đối tượng đặc biệt khó khăn không tự mình đảm bảo cuộc sống của bản thân mà cần phải có sự trợ giúp của cộng đồng để tự mình vươn lên hòa nhập vào cộng đồng để cùng phát triển Từ đó,

có thể hiểu TGXH như sau : Trợ giúp xã hội là hệ thống các chính sách, chế

độ, hoạt động của Nhà nước , chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương có điều kiện ổn định cuộc sống và có cơ hội hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng để cùng phát triển

1.1.2 Quan điểm tiếp cận trợ giúp xã hội

1.1.2.1 Tiếp cận theo quan điểm quyền con người

Quan điểm này lấy con người là trung tâm của mục tiêu các chính sách TGXH hướng vào phát triển con người Con người sinh ra có các quyền sống

và phát triển Nhà nước và xã hội cần có biện pháp trợ giúp những cá nhân không có năng lực thực hiện quyền và tự bảo đảm nhu cầu cơ bản của mình

để duy trì cuộc sống và có cơ hội phát triển

Một trong những quyền sống cơ bản của con người là th ỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu ASXH, trong đó có TGXH và thúc đ ẩy hòa nhập xã hội nhóm yếu thế, nhất là nhóm có nguy cơ cao bị loại trừ xã hội (người già

Trang 20

không nơi nơng tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS…) thông qua phát triển hoàn chỉnh hệ thống an sinh xã hội quốc gia Xã hội càng phát triển, đời sống con người càng phong phú, nhu cầu đáp ứng về an sinh xã hội, bao gồm cả TGXH càng đa dạng và tăng lên Các nhu cầu về ASXH cơ bản bao gồm Bảo hiểm xã hội (BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp, BH y tế…), tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản, nước sạch sinh hoạt…), cứu trợ xã hội đột xuất và trợ giúp xã hội thường xuyên, phục hồi chức năng người khuyết tật, người nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS Mở rộng đối tư-ợng thụ hưởng, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội, tái hòa nhập tốt hơn đối tượng vào cộng đồng sẽ góp phần quan trọng đối với phát triển con người và thực hiện công bằng xã hội

TGXH là sự can thiệp hỗ trợ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các cá nhân chẳng may gặp phải rủi ro trở thành nhóm xã hội yếu thế và dễ bị tổn thương Đó là trách nhiệm xã hội của Nhà nước và cộng đồng , không phải là sự ban ơn Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội là bảo vệ sự an toàn cho tất

cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị suy giảm, hoặc bị mất nguồn thu nhập, trước các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội Chính sách TGXH xây dựng trên cơ sở bảo đảm cho bộ phận dân cư khó khăn thực hiện các nhu cầu về đời sống như: lương thực, thực phẩm; có nước sạch sinh hoạt;

có nơi ở; bảo đảm vệ sinh cá nhân và môi trường; được chăm sóc y tế; được tiếp cận giáo dục và các hoạt động cộng đồng Với các nhu cầu ở bậc cao hơn thì trợ giúp gián tiếp để xã hội cung cấp dịch vụ bảo đảm, hoặc thông qua việc khuyến khích để các cá nhân tự bảo đảm Quan điểm tiếp cận này còn được các tổ chức xã hội vận dụng để huy động nguồn lực và cung cấp dịch vụ TGXH tác động là giảm bớt sự thiếu thốn vật chất, sự tách biệt với môi trường và sự tổn thương cá nhân TGXH được thực hiện thông qua việc cung

Trang 21

cấp các dịch vụ xã hội làm thay đổi vị thế, tăng sự tham gia, có điều kiện kinh

tế và giảm bớt sự tổn thương do hoàn cảnh khó khăn

1.1.2.2 Tiếp cận theo quan điểm quản lý rủi ro

Cơ sở của quan điểm này là mọi thành viên trong xã hội luôn có nguy

cơ bị rủi ro trong cuộc sống , nhất là rủi ro trong kinh tế thị trường , rủi ro do

một trong những công cụ, biện pháp quan trọng trong hệ thống quản lý rủi ro

và thực hiện các chức năng phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro Với quan điểm này, TGXH bao gồm nhiều cấp độ chính sách khác nhau và có các loại hình dịch vụ riêng Cấp cao nhất là trợ giúp phát triển, sau đó là trợ giúp

ổn định và cuối cùng là trợ giúp để duy trì Trong mỗi cấp độ trợ giúp lại được chia thành các hình thức khác nhau Ví dụ như, để duy trì cuộc sống đối với người khuyết tật không có khả năng lao động, không tự phục vụ được thì Nhà nước có chính sách trợ cấp hàng tháng, còn nếu như họ không tự bảo đảm được cuộc sống của mình tại gia đình thì được nuôi dưỡng trong các cơ sở xã hội do cấp cộng đồng quản lý, trong trường hợp vẫn chưa bảo đảm thì được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước Đối với cách tiếp cận này đối tượng của TGXH là những cá nhân bị rủi ro và những cá nhân có nguy cơ bị rủi ro

1.1.2.3 Tiếp cận theo quan điểm phân phối lại thu nhập, chia sẻ lợi ích

Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phân phối vừa phải theo

những nguyên tắc thị trường để phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời chịu sự quản lý, điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm

công bằng xã hội, giữ vững định hướng XHCN

Phân phối lại thu nhập là vấn đề liên quan đến lợi ích của các chủ thể trong xã hội Nhà nước thực hiện phân phối lại là để điều tiết thu nhập nhằm bảo đảm công bằng xã hội , ổn định và phát triển xã hội bền vững Thực hiện

Trang 22

phân phối lại thông qua chính sách xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đảm bảo mọi người đều hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng, làm cho mọi thành viên xã hội đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhất là người nghèo, nhóm

xã hội yếu thế và dễ bị tổn thương ph ải được hưởng lợi nhiều hơn để giảm dần khoảng cách giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng và các tầng lớp dân cư, giữ khoảng cách này ở mức hợp lý, không trở thành vấn

đề xã hội bức xúc

Để nâng cao mức sống về vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt

là tầng lớp nhân dân lao động, sự phân phối lại thu nhập của mọi thành viên trong xã hội được thực hiện bằng nhiều hình thức ; trong đó có sự phân phối lại thông qua chính sách xã hội , ASXH (trong đó có TGXH ) và phúc lợi xã hội là các hình thức phân phối mang tính chia sẻ lợi xã hội rất cần thiết cho phát triển xã hội hài hòa Chính sách TGXH (trong chính sách ASXH ) là một trong những hình thức phân ph ối lại của cải xã hội (thu nhập ) nhằm hỗ trợ nhóm xã hội yếu thế , dễ bị tổn thương Sự phân phối này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó góp phần phát huy tính tích cực cộng đồng của mọi thành viên trong xã hội; nâng cao thêm mức sống toàn dân, đặc biệt đối với những người

có thu nhập thấp, có hoàn cảnh khó khăn, làm giảm sự chênh lệch quá đáng

về thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, xã hội, đảm bảo công bằng

xã hội; giáo dục ý thức cộng đồng, xây dựng chế độ xã hội mới

Với quan điểm này TGXH là kết quả của phân phối lại của cải xã hội Nhà nước sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực thông qua chính sách TGXH để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, cho các đối tư ợng yếu thế, dễ bị tổn thương , tạo nên sự phát triển hài hòa giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong xã hội

Tăng đầu tư cho phát triển xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội;

Trang 23

nhất là cho chính sách TGXH, để bảo đảm công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con người, đặc biệt bảo đảm đời sống đối tượng ít nh ất ở mức đáp ứng nhu cầu tối thiểu và từng bước được cải thiện là quan điểm tiếp cận rất cơ bản của chính sách TGXH trong kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

1.1.2.4 Tiếp cận theo quan điểm phổ cập

TGXH trong hệ thống ASXH có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia ASXH là nhằm thực hiện quyền cơ bản của con người, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội, góp phần xây dựng một

xã hội ổn định, hài hòa, đồng thuận và phát triển bền vững đất nước

Chính sách ASXH bao gồm cả TGXH , dựa trên cơ sở chia sẻ trách nhiệm xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và biện pháp khác nhau Phấn đấu để có được một hệ thống chính sách ASXH phát tri ển với diện bao phủ rộng, tiến tới bao phủ toàn dân , đủ sức phòng ngừa, hạn chế

và khắc phục các r ủi ro xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của mỗi quốc gia Mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu bảo đảm ASXH, nhất là trong các trường hợp bị rủi ro

đến trợ giúp các thành viên trong xã hội thuộc nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương phòng ngừa, giảm và khắc phục rủi ro dẫn đến bị giảm hoặc bị mất sinh kế, nguồn thu nhập, tạo cơ hội cho họ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng thông qua đảm bảo những quyền cơ bản của con người về ăn, mặc, ở, học tập, chăm sóc sức khỏe, nước sạch, v.v…và cơ hội để mở rộng diện bao phủ của

các chính sách

Vì vậy chính sách TGXH hướng vào phổ cập đối với tất cả đối tượng, không có sự ràng buộc về điều kiện cũng như các tiêu chí ưu tiên Theo quan điểm này, tiêu chí xác định rất đơn giản, chi phí quản lý thấp Nhưng hạn chế,

do đông đối tượng hưởng trợ cấp nên mức trợ cấp thường thấp không gắn với

Trang 24

bảo đảm mức sống tối thiểu, nhưng tổng kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng năm thì vẫn lớn, trong quá trình thực hiện thường ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả của chính sách mà chỉ quan tâm đến số người được hưởng Tuy nhiên ,

TGXH là rất cơ bản, song phải đi đôi với bảo đảm chất lượng và hiệu quả của chính sách thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ công về TGXH

1.1.3 Phân loại trợ giúp xã hội

1.1.3.1 Theo phương thức thực hiện

- Trợ giúp xã hội thường xuyên: là hình thức trợ cấp xã hội đối với những đối tượng không thể tự lo liệu được cuộc sống (đối tượng bảo trợ xã hội) được duy trì trong khoảng thời gian dài (một hoặc nhiều năm)

- Trợ giúp xã hội đột xuất: là hình thức TGXH tức thì, khẩn cấp do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị rủi ro bất thường không thể tự mình khắc phục được (thiên tai, mất mùa, dịch bệnh dẫn đến bị

đe dọa về lương thực, thực phẩm, nhà ở, chữa bệnh,…) trong khoảng thời gian xác định

1.1.3.2 Theo đối tượng cần trợ giúp

- Người cao tuổi: Bao gồm người già cô đơn không nơi nương tựa, không nguồn thu nhập, không được trợ cấp bảo hiểm xã hội…

- Người tàn tật: Bao gồm người không có khả năng lao động, không có khả năng tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân, không có nơi nương tựa, hộ

có hai người tàn tật nặng…

- Trẻ mồ côi: trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng hoặc không có người thân thích để nương tựa, …

- Người nhiễm HIV - AIDS: Không có khả năng lao động, nghèo khó,…

- Đối tượng khó khăn khác

1.1.3.3 Theo nơi ở của đối tượng trợ giúp

Trang 25

- Trợ giúp tại cộng đồng: Trợ giúp tại các hộ gia đình, cộng đồng nơi các đối tượng sinh sống Trợ giúp tại cộng đồng do cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện

- Trợ giúp tại cơ sở bảo trợ xã hội: Chăm sóc nuôi dưỡng tập trung đối tượng trong các trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội

1.1.4 Nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội

Đây là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần giúp

đỡ những thành viên của xã hội khi bị rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống Nguồn lực TGXH bao gồm:

- Nguồn lực từ Nhà nước: Đây là nguồn lực chính trong công tác TGXH Nguồn lực này được sử dụng để trợ giúp thường xuyên cho các đối tượng ở gia đình hoặc nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước

và hỗ trợ nuôi dưỡng tại gia đình, cộng đồng thông qua một cơ quan quản lý của Nhà nước, được cân đối trong ngân sách Nhà nước phân cấp cho các đơn

vị, ngành, địa phương quản lý

- Nguồn lực từ các tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức kinh tế - xã hội,

tổ chức từ thiện, nhân dân

Bên cạnh các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, hiệp hội, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức từ thiện, nhân dân tham gia vào hoạt động TGXH góp phần thúc đẩy và mở rộng tính xã hội và đa dạng hóa các hoạt động trợ giúp Nguồn kinh phí nuôi dưỡng quản lý do các tổ chức đứng

ra thành lập tự huy động, hoặc được tài trợ

Đối với cứu trợ đột xuất thì nguồn do các địa phương (tỉnh, thành phố), các cơ quan, các tổ chức quyên góp ủng hộ Việc ủng hộ cho các địa phương

bị thiệt hại do thiên tai có thể bằng tiền hay hiện vật như gạo, thuốc men, thực phẩm…và cũng chỉ diễn ra trong trường hợp thiên tai trên diện rộng, gây thiệt

Trang 26

hại nghiêm trọng về người và tài sản của nhân dân và các cơ sở hạ tầng Việc quyên góp ủng hộ có thể diễn ra trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn, huyện, quận, tỉnh, thành phố, song có thể diễn ra trên địa bàn toàn quốc

- Nguồn trợ giúp quốc tế: trong những năm gần đây nhiều tổ chức quốc

tế của Liên hợp quốc và của các tổ chức phi Chính phủ, cá nhân nước ngoài quan tâm và ủng hộ hoạt động TGXH Đối với cứu trợ đột xuất thì nguồn trợ giúp quốc tế, thông qua các cơ quan của Chính phủ (các Bộ, Ngành), các tổ chức đoàn thể hoặc trực tiếp cho các địa phương thiệt hại do thiên tai gây ra

1.2 Trợ giúp xã hội thường xuyên

1.2.1 Bản chất và mục tiêu trợ giúp xã hội thường xuyên

1.2.1.1 Bản chất trợ giúp xã hội thường xuyên

TGXH thường xuyên là hợp phần chính của TGXH và do Nhà nước là chủ thể chính tổ chức thực hiện TGXH thường xuyên bao gồm TGXH thường xuyên cộng đồng và nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội TGXH thường xuyên là hình thức trợ giúp đối với những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài hoặc trong suốt cuộc đời của đối tượng được trợ giúp TGXH thường xuyên là hình thức trợ giúp bằng tiền hoặc bằng hiện vật mà Nhà nước định ra để trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện TGXH thường xuyên Đối tượng TGXH thường xuyên là những người không may gặp rủi ro, bất hạnh, gặp khó khăn trong cuộc sống

Đó là những người thiệt thòi, yếu thế trong xã hội như người già cô đơn không nơi nương tựa, người khuyết tật nặng, trẻ em mồ côi không có nguồn

nuôi dưỡng chăm sóc…

Như vậy, có thể hiểu TGXH thường xuyên là các biện pháp, giải pháp

đảm bảo của Nhà nước để giúp cho các đối tượng yếu thế, gặp hoàn cảnh khó khăn có thể tự lo liệu được cuộc sống của mình, khắc phục được khó khăn

Trang 27

vươn lên hòa nhập cộng đồng Việc đảm bảo này thông qua việc cung cấp nguồn trợ cấp hàng tháng, dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, dạy nghề và các dịch vụ trợ giúp xã hội khác

1.2.1.2 Mục tiêu trợ giúp xã hội thường xuyên

Quá trình phát triển của xã hội với những quy luật vốn có của nó, quy luật phát triển không đồng đều, có người tạo cơ hội vươn lên thành đạt trong cuộc sống, có người không may mắn trong cuộc sống Trong xã hội luôn tồn tại một bộ phận thành viên xã hội rơi vào cảnh “rủi ro” bị suy giảm kinh tế hoặc không còn khả năng về kinh tế để tự bảo đảm cuộc sống Nhà nước, xã hội, cộng đồng và gia đình cũng như từng thành viên trong xã hội phải chia sẻ trách nhiệm với họ Sự chia sẻ trách nhiệm xã hội không những để giảm thiểu rủi ro mà cũng là để duy trì cuộc sống cho mọi người dân , nhất là nhóm xã hội yếu thế, đảm bảo hài hòa , đồng thuận xã hội Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Như vậy xã hội càng phát triển, cuộc sống của con người càng được cải thiện, càng bớt rủi ro và nếu có gặp rủi ro thì vẫn bảo đảm được cuộc sống và cũng dễ dàng vượt qua rủi ro với sự trợ

giúp của Nhà nước, cộng đồng và xã hội

Mục tiêu tổng quát của TGXH thường xuyên là hướng vào phát triển con người, thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững của quốc gia Chính vì vậy, sự phát triển của chính sách TGXH phải hướng tới góp phần duy trì sự ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Mục tiêu cụ thể của TGXH thường xuyên là giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội bảo đảm các điều kiện sống ổn định, tự mình vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập, tham gia đóng góp tích cực vào quá trình phát triển xã hội

Như vậy xã hội càng phát triển, cuộc sống con người ngày càng được cải thiện, giảm thiểu được rủi ro, bảo đảm được cuộc sống và nếu một bộ phận yếu thế không may gặp khó khăn thì sẽ được Nhà nước, cộng đồng và xã

Trang 28

hội giúp đỡ để họ có cuộc sống ổn định , thấp nhất cũng phải đảm bảo cho họ thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu và không ngừng được cải thiện

1.2.2 Nguyên tắc và tiêu chí đánh giá chính sách TGXH thường xuyên

1.2.2.1 Nguyên tắc trợ giúp xã hội thường xuyên

Trợ giúp xã hội thường xuyên là một bộ phận chính sách TGXH của Nhà nước do vậy phải tuân thủ nguyên tắc chung và phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

- Mức độ bao phủ đối tượng

Nguyên tắc này phải hướng đến bao phủ mọi thành viên yếu thế, thiệt thòi, khó khăn nhằm đảm bảo an toàn cuộc sống cho họ khi họ gặp rủi ro làm suy giảm về kinh tế hoặc làm mất khả năng bảo đảm về kinh tế Cần thiết lập

hệ thống tiêu chí xác định đối tượng tham gia vào hợp phần TGXH (trong đó

có TGXH thường xuyên ) của hệ thống ASXH phù hợp và mỗi loại đối tượng

có quyền lợi và trách nhiệm khác nhau

- Bảo đảm công bằng

Đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên có nhiều hoàn cảnh, mức độ khó khăn khác nhau Vì vậy khi nghiên cứu, xây dựng chính sách phải bảo đảm sự công bằng ngay trong các nhóm đối tượng được hưởng lợi Đồng thời chính sách TGXH phải được xem xét trong mối quan hệ với các chính sách khác như: chính sách tiền lương, chính sách giảm nghèo, chính sách bảo hiểm xã hội…

- Bảo đảm công khai, minh bạch

Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phải bảo đảm tính công khai, minh bạch ngay từ việc hoạch định chính sách, hồ sơ xét duyệt đối tượng hưởng lợi chính sách, giám sát kết quả thực hiện chính sách

- Bảo đảm bền vững về tài chính

TGXH thường xuyên phải thiết lập thể chế về tài chính cho phù hợp và phải bảo đảm tính bền vững về tài chính Nguồn lực chủ yếu của TGXH

Trang 29

thường xuyên là từ ngân sách Nhà nước Ngoài ra, còn huy động nguồn lực từ các tổ chức kinh tế , đoàn thể xã hội , các cá nhân; từ các tổ chức phi chính phủ; nguồn lực từ hợp tác và hỗ trợ quốc tế

- Nhà nước phải bảo trợ cho TGXH thường xuyên

Nhà nước phải là người bảo trợ cho TGXH thường xuyên thì mọi hoạt động của nó mới bảo đảm hiệu quả và đúng pháp luật Nhà nước không chỉ với vai trò quản lý Nhà nước đối với chính sách TGXH thường xuyên mà còn bảo trợ khi TGXH thường xuyên gặp rủi ro về tài chính

1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá chính sách TGXH thường xuyên

- Tiêu chí về tính phù hợp của chính sách

Tính phù hợp của chính sách TGXH thường xuyên là k ết quả của quá trình tiếp tục đ ổi mới tư duy , quán triệt quan đi ểm cơ bản, nhất quán của Đảng ta là: Phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đặt phát triển xã hội ngang tầm với phát triển kinh tế Quan điểm này trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách TGXH ,

trong đó có chính sách TGXH thường xuyên Đặc biệt đã hình thành hệ thống

thang giá trị, quy tắc, chuẩn mực mới làm căn cứ để trợ giúp xã hội nhóm yếu thế phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như công ước và thông lệ quốc

tế trong hội nhập Đồng thời, chính sách TGXH từng bước đáp ứng nhu cầu sống ở mức tối thiểu của đối tượng , không một ai bị gạt ra bên lề xã hội và hỗ trợ đối tượng tự mình nỗ lực vươn lên h òa nhập tốt hơn vào c ộng đồng để cùng phát triển

- Tiêu chí về tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của chính sách

Mục đích đánh giá chính sách là làm rõ tính khả thi , hiệu lực, hiệu quả của chính sách , cũng như các tác đ ộng tích cực và hạn chế của chính sách Đồng thời phát hiện những nội dung chính sách không phù hợp để có thể bổ sung, hoàn thiện chính sách

Đánh giá tính khả thi , hiệu lực chính sách chính là xem xét mục tiêu

Trang 30

của chính sách có đạt được mong muốn hay không , nhất là ph ạm vi ảnh hưởng của chính sách đến đời sống của đối tượng

Tính hiệu quả của chính sách đo lường bằng cách so sánh giữa đầu ra với đầu vào của chính sách, hay đo lường giữa đầu vào với quá trình chuyển hóa thành đầu ra như thế nào

- Tiêu chí về tính công bằng của chính sách

Tính công bằng của chính sách là thể hiện ở cơ hội phát triển của đối tượng TGXH, sự thuận lợi về điều kiện hưởng lợi của đối tượng, sự hợp lý về chế độ trợ cấp gi ữa các nhóm đối tượng Chính sách TGXH thường xuyên hướng tới việc bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng hưởng lợi Mục tiêu của chính sách là bảo đảm bộ phận dân cư khó khăn sống ở mức sống từ t ối thiểu trở lên và v ới nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm của c ộng đồng , xã hội , nhưng Nhà nước vẫn là chủ yếu

Để bảo đảm sự công bằng giữa các nhóm dân cư thì chính sách TGXH thường xuyên phải hướng tới việc bảo đảm sự tương quan các mức chính sách trong mặt bằng chung, không quá chênh lệch và thông thường phải bảo đảm mối tương quan với các chính sách xã hội khác

- Tiêu chí về tính bền vững của chính sách

Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên luôn đư ợc điều chỉnh để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cho nên khó có thể định lượng thành các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá Chỉ có thể xem xét tính bền vững về thời gian, bền vững về không gian với các chính sách bộ phận Tuy nhiên, một chính sách TGXH thường xuyên chỉ bền vững khi nó phù hợp với khả năng của n ền kinh tế , khả năng của ngân sách nhà nước và sự tham gia tích cực của cộng đồng, xã hội theo tinh thần xã hội hóa và sự nỗ lực vươn lên của bản thân đối tượng Trọng đó bảo đảm bền vững về tài chính là đặc biệt quan trọng

1.2.3 Đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên

Trang 31

Đối tượng TGXH thường xuyên là bộ phận của đối tượng bảo trợ xã hội và có nhu cầu trợ giúp thường xuyên

Đối tượng Bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp thường xuyên hàng tháng tại cộng đồng do xã, phường, thị trấn quản lý theo điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và được sửa đổi theo khoản 1, 2 và 3 điều 1 Nghị định số 13/2010/ NĐ-CP bao gồm:

(1) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại điều 78 của Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo

Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hoá, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên

(2) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn

vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ)

(3) Người từ 85 tuổi trở lên (theo luật Người cao tuổi có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 là 80 tuổi trở lên) không có lương hưu hoặc trợ cấp Bảo hiểm xã hội

Lương hưu hoặc trợ cấp Bảo hiểm xã hội gồm: lương hưu theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội (kể cả lương hưu theo quy định tại Nghị định

số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ); trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng; trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ - TTg ngày 4 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ; trợ cấp hàng tháng của công nhân cao su nghỉ việc; trợ cấp hàng tháng của cán bộ xã nghỉ việc theo quy định tại

Trang 32

Quyết định số 130-CP ngày 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ; Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng

và Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ; trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

(4) Người từ 85 tuổi trở lên (từ ngày 1/1/2011 là 80 tuổi trở lên ) đang hưởng trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng mà không có lương hưu hoặc trợ cấp Bảo hiểm xã hội nêu trên vẫn được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định

(5) Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ

Người tàn tật nặng không có khả năng lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể lao động, được bệnh viện huyện, thành phố xác nhận hoặc Hội đồng xét duyệt xã, phường, thị trấn công nhận

Người tàn tật không có khả năng tự phục vụ là người tàn tật không có khả năng tự phục vụ sinh hoạt cá nhân được bệnh viện huyện, thành phố xác nhận hoặc Hội đồng xét duyệt xã, phường, thị trấn công nhận

Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm

(6) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động thuộc hộ gia đình nghèo là người bị nhiễm HIV/AIDS theo xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền, không còn khả năng lao động được Hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được chính phủ quy định cho từng thời kỳ)

(7) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (8) Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng

Trang 33

tự phục vụ; Người mắc bệnh tâm thần quy định tại điều đ, khoản 1, mục 1 phần B của Kế hoạch này

(9) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi, trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi

Người đơn thân là người không có chồng hoặc vợ; chồng hoặc vợ đã chết; chồng hoặc vợ mất tích theo quy định tại điều 78 Bộ Luật Dân sự

Đối tượng Bảo trợ xã hội được xem xét, tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, bao gồm:

- Những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống, không có điều kiện sống tại gia đình (kể cả gia đình thay thế) hoặc nhà xã hội tại cộng đồng được xem xét tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội

- Các đối tượng xã hội cần sự bảo vệ khẩn cấp theo khoản 2 điều 5 Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ thực hiện theo Công văn số 215/SLĐTBXH - BTXH ngày 18/8/2009 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và thực hiện một số điều Nghị định số 68/2008/NĐ-

CP của Chính phủ

- Các đối tượng xã hội khác theo khoản 4 điều 5 Nghị định số

68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định

1.2.4 Nội dung trợ giúp xã hội thường xuyên

1.2.4.1 Trợ cấp xã hội hàng tháng (chăm sóc đời sống vật chất)

Trợ cấp xã hội hàng tháng là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng chính sách hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Chế độ trợ cấp được tính dựa vào mức chi tiêu tối thiểu đảm bảo cuộc sống cho đối tượng Trợ cấp xã hội hàng tháng được xác định là nội dung chính sách quan trọng và trụ cột của cả hệ thống chính sách TGXH thường xuyên Các chế độ trợ cấp thường xuyên có sự đổi mới phù hợp với quá trình phát triển của đất nước Trong những năm qua,

Trang 34

chính sách trợ cấp xã hội và nuôi dưỡng đối tượng xã hội trong các cơ sở bảo trợ xã hội có một số mốc thay đổi, đánh dấu sự đổi mới của chính sách

Năm 1994, Chính phủ ban hành 2 văn bản quan trọng (Quyết định số 167/TTg và Nghị định số 05/CP ngày 26/1/1995) thay thế các quy định tại Thông tư số 202/CP và Nghị định số 236/HĐBT Quyết định số 167/TTg quy định cụ thể mức trợ cấp xã hội cộng đồng đối với người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, người tàn tật nặng không có thu nhập, không có người nuôi dưỡng với mức là 24.000đồng/người/tháng, còn Nghị định số 05/CP quy định mức nuôi dưỡng tập trung trong các cơ sở bảo trợ xã hội nhà nước là 84.000đồng/người/tháng Quy định này cho thấy có sự đổi mới về nội dung trợ cấp mức trợ cấp bằng hiện vật (gạo) trước đây thay bằng tiền

Năm 2000, là mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi và đổi mới chế độ trợ cấp xã hội cộng đồng và nuôi dưỡng đối tượng xã hội tập trung trong các cơ

sở Bảo trợ xã hội Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 về chính sách trợ giúp xã hội Có ba nội dung lớn trong việc sửa đổi: Nâng mức trợ cấp cộng đồng thấp nhất là 45.000đồng/người/tháng, ở mức trung tâm là 100.000đồng/người/tháng và mức 115.000đồng/người/tháng đối với người tâm thần; bổ sung đối tượng là trẻ em dưới 18 tháng tuổi nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội với mức riêng là 150.000đồng/trẻ/tháng; các mức quy định chỉ là mức tối thiểu, các địa phương chủ động nâng mức nếu như đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện chính sách

Năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001 về quy chế thành lập và hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội Hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội được quản lý theo hệ thống các quy định cụ thể

từ việc thành lập, tổ chức hoạt động hay giải thể

Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày

Trang 35

26/3/2002 về quy định hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh người cao tuổi Đối tượng trợ cấp xã hội cộng đồng và nuôi dưỡng tập trung trong các

cơ sở được mở rộng thêm

Năm 2004, Chính phủ ban hành Quyết định số 16/2004/QĐ-TTg ngày 5/2/2004 về trợ giúp đối với gia đình có hai người trở lên không tự phục vụ được

do hậu quả chất độc hóa học của Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam: Hộ gia đình có 2 người không tự phục vụ được hỗ trợ 200.000đồng/hộ; hộ có 3 người không tự phục vụ được hỗ trợ 300.000đồng/hộ; trường hợp hộ có 4 người không

tự phục vụ trở lên được hỗ trợ 400.000đồng/hộ Chính phủ ban hành Quyết định

số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình,

cá nhân nuôi dưỡng trẻ mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi quy định hộ gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi được hỗ trợ 200.000đồng/trẻ/tháng, nếu trẻ dưới 18 tháng tuổi mức trợ cấp 270.000đồng/trẻ/tháng Nghị định số 168/NĐ-CP

về nâng mức trợ cấp cộng đồng lên 65.000đồng/người/tháng, tại Trung tâm bảo trợ xã hội là 150.000 đồng/người/tháng (riêng đối với người tâm thần mãn tính là 165.000đồng/người/tháng, trẻ em dưới 18 tháng tuổi và trẻ em bị HIV là 210.000 đồng/trẻ/tháng)

Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 313/2005/QĐ-TTg quy định chế độ đối với đối tượng là người có HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo được trợ cấp xã hội tại cộng đồng thấp nhất là 65.000 đồng/tháng và ở Trung tâm bảo trợ xã hội là 210.000 đồng/người/tháng

Từ năm 2007 đến nay: Trước các vấn đề lạm phát, giá cả sinh hoạt hàng ngày tăng cao, đời sống của đối tượng chính sách xã hội gặp nhiều khó khăn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007

về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 67, Quyết định số 32/2010QĐ-TTg ngày 25/3/2010 phê duyệt đề án phát

Trang 36

triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách được mở rộng, mức trợ cấp được nâng lên, các dịch vụ công tác xã hội được cung cấp đến các đối tượng có nhu cầu

1.2.4.2 Trợ giúp y tế, chỉnh hình phục hồi chức năng

Trợ giúp y tế nhằm giúp những người yếu thế tiếp cận với các dịch vụ y

tế, bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh miễn phí, phục hồi chức năng Chính sách trợ giúp y tế được thực hiện bằng việc cung cấp tiền để thanh toán các dịch vụ khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc cấp giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí

Chính sách khám chữa bệnh được quy định ở nhiều văn bản khác nhau

cụ thể Nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí và Thông tư số 27/TT-LĐTBXH ngày 24/10/1995 của Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội, Thông tư liên Bộ số 05/1999/TTLB-BLĐTBXH-BYT-BTC ngày 29/1/1999 hướng dẫn việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo Theo quy định tại nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ ban hành kèm theo Điều lệ bảo hiểm y tế thì các đối tượng thuộc nhóm 1,4,5,6,7,9 được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế giá trị bằng 3% mức lương tối thiểu, đối tượng thuộc nhóm 2,3 được Nhà nước cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế mức 70.000 đồng/năm Khi luật bảo hiểm y tế ra đời với chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với dịch vụ y

tế ngày càng tốt hơn

Cùng với chính sách y tế, chính sách chỉnh hình phục hồi chức năng cho người khuyết tật cũng đóng vai trò quan trọng và được Nhà nước quan tâm Thông tư số 06/TT-LĐTBXH ngày 20/8/1997 về việc cấp phát, sử dụng, thanh toán tiền chân tay giả và dụng cụ chỉnh hình Trong những năm qua,

Trang 37

chính sách hỗ trợ phục hồi chức năng được quan tâm và phát triển mạnh mẽ

1.2.4.3 Trợ giúp giáo dục đào tạo

Chính sách trợ giúp giáo dục và đào tạo với mục tiêu tạo điều kiện để đối tượng tiếp cận và sử dụng dịch vụ giáo dục Chính sách này khuyến khích trẻ em đến trường và hỗ trợ các gia đình có trẻ đặc biệt khó khăn để đảm bảo các em được đến trường Nội dung của chính sách trợ giúp giáo dục đào tạo là: miễn giảm học phí, trợ cấp xã hội và các khoản đóng góp xây dựng trường lớp…Những trường hợp đặc biệt hỗ trợ sách vở, dụng cụ học tập Theo quy định các văn bản pháp luật (Luật giáo dục, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ

em, Luật phổ cập giáo dục tiểu học; Luật dạy nghề, Pháp lệnh người cao tuổi, Nghị định số 90/CP ngày 15 tháng 12 năm 1995, Thông tư số 32/TC-TT, Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg, Thông tư liên Bộ 53/1998/TT-LB/BDĐT-BTC-BLĐTBXH…) thì trẻ em mồ côi, người tàn tật, trẻ em nghèo khi học các cấp học tiểu học, phổ thông, trung học dạy nghề, cao đẳng và đại học được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác Học sinh là trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, được nuôi dưỡng trong cơ sở giáo dục nội trú, được miễn giảm học phí Trong thời gian nội trú, được trợ cấp xã hội là 100.000đồng/người/tháng và được cấp sách vở, đồ dùng học tập phù hợp với bậc học Ngoài ra một số tỉnh đã có trung tâm giáo dục trẻ em bị thiệt thòi (dạy trẻ câm, điếc) trực thuộc Sở giáo dục và Đào tạo và các trường, lớp chuyên biệt và giáo dục hòa nhập ở các cấp mầm non, giáo dục phổ thông và dạy nghề Đối tượng trợ giúp xã hội được thực hiện kết hợp phục hồi chức năng, dạy văn hóa, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề

1.2.4.4 Trợ giúp học nghề, việc làm

Xuất phát từ quan điểm mọi người đều có quyền sống và làm việc, kết hợp với chủ trương Nhà nước bảo đảm quyền học nghề , làm việc cho đối tượng TGXH còn khả năng lao động , nhất là người khuyết tật, trẻ em có hoàn

Trang 38

cảnh đặc biệt

Nhà nước hỗ trợ người khuyết tật và có chính sách khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người khuyết tật Nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người khuyết tật phục hồi khả năng lao động, học nghề, cho người khuyết tật vay vốn với lãi suất ưu đãi để họ tự tạo việc làm, có thu nhập ổn định đời sống Người khuyết tật học nghề được hỗ trợ học nghề với mức tối thiểu 540.000đồng/người/tháng tối đa trong 9 tháng Theo quyết định 1956/2009/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 thì người tàn tật được hỗ trợ học sơ cấp nghề hoặc nghề dưới 3 tháng mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học đồng thời được hỗ trợ tiền năm mức 15.000đồng/người/ngày thực học và đi lại với đối tượng học nghề cách nơi cư trú 15km trở lên theo giá vé phương tiện công cộng song tối đa 200.000đồng/người/khóa Ngoài ra người khuyết tật học nghề còn được xem xét cấp học bổng và trợ cấp xã hội, được miễn hoặc giảm học phí căn

cứ mức độ khuyết tật và mức độ suy giảm khả năng lao động

Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm trẻ em lang thang, trẻ

em bị xâm hại tình dục và trẻ phải lao động nặng nhọc độc hại nguy hiểm từ

13 tuổi trở lên được hỗ trợ học nghề mức 200.000đồng/em/tháng nhưng không quá 1 triệu đồng/em/khóa học; đối với trẻ em không nơi nương tựa, trẻ

em bị nhiễm chất độc hóa học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ học nghề mức thấp nhất 540.000đồng/tháng tối đa trong 4 tháng và được hỗ trợ kinh phí tự tìm việc làm mức tối thiểu 1.000.000đồng/em

Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về dạy nghề từ Trung ương đến địa phương Nhà nước quan tâm kiện toàn Cả nước có 280 cơ sở dạy nghề đóng trên địa bàn 58 tỉnh, thành phố, trong đó 58 cơ sở chuyên biệt và 222 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật Trong những năm qua Nhà nước đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo

Trang 39

dục và đào tạo để đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật được ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi; các cơ sở dạy nghề khác nhận người khuyết tật vào học nghề, nâng cao trình độ tay nghề được ưu tiên vào đầu tư, bảo đảm định mức kinh phí đào tạo

1.2.5 Các nhân tố tác động đến TGXH thường xuyên

1.2.5.1 Nhóm nhân tố kinh tế

Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách điều tiết … ảnh hưởng lớn đến TGXH thường xuyên

Nhân tố kinh tế là nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả, hiệu lực của chính sách TGXH thường xuyên Kinh tế tăng trưởng có tác động rất lớn đến chính sách xã hội nói chung , chính sách TGXH thường xuyên nói riêng

Sự tăng trưởng kinh tế giúp chúng ta có thêm nguồn lực chăm lo cho sự phát triển về xã hội mà trọng tâm là phát triển hệ thống an sinh xã hội, trong đó có trợ giúp xã hội thường xuyên Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực để Nhà nước thực hiện từng bước mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội, mở rộng chính sách trợ cấp xã hội Khi các đối tượng này vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cuộc sống cộng đồng thì bản thân đối tượng cũng tạo ra thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế

Kinh tế tăng trưởng nhanh, thu nhập của người dân nâng lên tức là mức sống của đại đa số nhân dân được cải thiện, tăng cao và như vậy mức sống tối thiểu của người dân cũng phải từng bước được nâng lên Chính vì vậy, nó tác động trực tiếp đến chính sách TGXH Mức trợ cấp xã hội thường xuyên cũng được nâng lên bảo đảm mức sống tối thiểu cho các đối tượng bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống trung bình của cộng đồng dân cư

Thu nhập của người dân tăng cao, bằng chính sách thuế phù hợp, Nhà

Trang 40

nước đóng vai trò thực hiện phân phối lại thu nhập góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế cũng nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc xã hội như vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội…làm đối tượng bảo trợ gia tăng

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Đảng ta đã xác định mục tiêu tổng quát là “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được

nâng lên rõ rệt…”

1.2.5.2 Nhóm nhân tố phi kinh tế

Nhóm nhân tố phi kinh tế bao gồm: Nhận thức của xã hội, yếu tố dân

số, yếu tố chính trị và lịch sử, yếu tố truyền thống văn hóa…

Các nhân tố phi kinh tế cũng tác động không nhỏ đến chính sách TGXH thường xuyên Những nơi nhận thức của người dân cho rằng nhóm người yếu thế là gánh nặng của xã hội, có cái nhìn phân biệt thì ở đó đối tượng yếu thế sẽ chịu nhiều thiệt thòi và không đủ tự tin hòa nhập cộng đồng Như vậy công tác trợ giúp xã hội thường xuyên sẽ gặp nhiều khó khăn

Dân số Việt Nam đang có xu hướng biển đổi mạnh mẽ về số lượng, chất lượng Mức sinh đã giảm đáng kể trong khi đó tuổi thọ trung bình ngày càng tăng làm cho dân số nước ta có xu hướng già hóa với tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng Cùng với xu hướng già hóa dân

số, từ khi mở cửa nền kinh tế, phát triển kinh tế theo hướng thị trường thì luồng di cư của nước ta thay đổi đáng kể Từ năm 2006 trở lại đây, luồng di

cư nông thôn - thành thị tăng một cách nhanh chóng Yếu tố dân số ảnh hưởng lớn công tác TGXH thường xuyên

Hệ thống chính trị sẽ quyết định quan điểm và định hướng phát triển

Ngày đăng: 09/07/2015, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Trợ giúp xã hội với phát triển kinh tế - xã hội - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Hình 1.1. Trợ giúp xã hội với phát triển kinh tế - xã hội (Trang 44)
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo giá so sánh - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo giá so sánh (Trang 48)
Bảng 2.3. Phân theo địa giới hành chính đối tượng trợ giúp xã hội thường - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.3. Phân theo địa giới hành chính đối tượng trợ giúp xã hội thường (Trang 52)
Bảng 2.5. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tƣợng - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.5. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tƣợng (Trang 60)
Bảng 2.6.Mức trợ cấp nuôi dƣỡng hàng tháng cho các đối tƣợng Bảo trợ - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.6. Mức trợ cấp nuôi dƣỡng hàng tháng cho các đối tƣợng Bảo trợ (Trang 61)
Bảng 2.7: Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2008 - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.7 Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2008 (Trang 66)
Bảng 2.8. Đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2009 - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.8. Đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2009 (Trang 67)
Bảng 2.9 : Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2009 - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.9 Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2009 (Trang 70)
Bảng 2.11: Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH  theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2010 - Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Bảng 2.11 Báo cáo kết quả trợ giúp cho đối tƣợng BTXH theo Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP năm 2010 (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm