Kinh nghiệm lịch sử thế giới đã chỉ ra rằng, một đất nước cũng như một địa phương muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, có chất lượng thì phải giải quyết tốt được các vấn đề xã hội như tạo
Trang 1FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
WB Ngân hàng thế giới
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế Vĩnh Phúc từ 2001 –
7 Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2010
42
8 Biểu đồ 2.3 Quy mô và tốc độ tăng trưởng GO ngành
công nghiệp giai đoạn 2001-2010
15 Bảng 2.12 Một số chỉ báo phát triển mẫu giáo năm 2010 66
16 Bảng 2.13 Một số chỉ báo về hiện trạng giáo dục tiểu
Trang 3MỤC LỤC (Chỉnh lại)
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ……… 8
1.1 Tăng trưởng kinh tế bền vững và ý nghĩa của nó……….…….8
1.1.1 Khái niệm……… 8
1.1.2 Ý nghĩa của việc tăng trưởng kinh tế bền vững đối với việc giải
quyết các vấn đề xã hội……… 11
1.2 Một số vấn đề xã hội chủ yếu nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế và ý nghĩa của nó đối với tăng trưởng bền vững ………12
1.2.1 Khái lược về các vấn đề xã hội chủ yếu……… 12
1.2.1.1Vấn đề đói nghèo……… …12
1.2.1.2 Vấn đề công bằng trong phân phối thu nhập……… 14
1.2.1.3 Vấn đề việc làm……….15
1.2.1.4 Vấn đề phát triển giáo dục, y tế……….16
1.2.2.Tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề xã hội……… 17
1.2.3 Nội dung của việc giải quyết các vấn đề xã hội trên……… …19
1.3 Kinh nghiệm giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinhtế ở một số tỉnh khác……… 24
1.3.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng……… 24
1.3.2.Kinh nghiệm của Bình Dương……….…27
1.3.3 Bài học kinhnghiệm………30
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VĨNH PHÚC TỪ 1997 ĐẾN NAY……… 32
Trang 42.1 Khái quát về quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc từ 1997 đến
nay……… 32
2.1.1 Giai đoạn từ 1997 – 2000………32
2.1.2.Giai đoạn từ 2001 đến nay……… 33
2.2 Thực trạng các vấn đề xã hội và việc giải quyết chúng ở Vĩnh Phúc từ 1997 đếnnay……… ……….…… ….49
2.2.1Xóa đói giảm nghèo……….….49
2.2.2 Thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập……… 53
2.2.3Giải quyết việc làm……… …55
2.2.4 Phát triển y tế, giáo dục……… 58
2.3 Đánh giá chung về thành tựu và hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề xã hội ở Vĩnh Phúc trong thời gian qua………… ……….……… 73
2.3.1.Thành tựu đạt được……… 73
2.3.2 Hạn chế……… 74
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT TỐT HƠN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG Ở VĨNH PHÚC TRONG THỜI GIAN TỚI……… 77
3.1 Quan điểm, phương hướng giải quyết các vấn đề xã hội vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc……….….77
3.1.1 Phương hướng, mục tiêu kinh tế – xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc……… ……….77
3.1.2 Quan điểm về việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế của tỉnh VĩnhPhúc………… ……… ….79
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết các vấn đề xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới……….…80
3.2.1 Hoàn thiện thể chế và chính sách………80 3.2.2 Thực hiện các chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế
Trang 5gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội……… 82 3.2.3 Thực hiện xã hội hóa việc giải quyết các vấn đề xã hội…… …83 3.2.4 Tạo ra nhiều việc làm tăng thu nhập cho người lao động……84 3.2.5 Quan tâm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa tạo điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội……….88
KẾT LUẬN……… ……… 90 DANHMỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………….……… 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay tăng trưởng kinh tế cao là một trong những mục tiêu kinh tế
vĩ mô quan trọng của tất cả các quốc gia trên thế giới Với hầu hết các nước, chỉ tăng trưởng kinh tế cao mới tạo ra được nhiều của cải vật chất và tinh thần thỏa mãn nhu cầu nhân dân, do đó nó cũng là tiền đề cho sự giàu có của một quốc gia Đối với các nước đang phát triển thì tăng trưởng kinh tế lại càng có
ý nghĩa cấp thiết hơn vì đó là nhân tố quyết định để đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, là điều kiện để phát triển kinh tế, tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực và là cơ sở để giải quyết hàng loạt các vấn đề kinh tế -
xã hội
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với mọi quốc gia nhưng không phải vì thế mà người ta lựa chọn tăng trưởng bằng mọi giá Tăng trưởng mà làm cho tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, làm ô nhiễm môi trường, tạo ra sự phân hóa giàu nghèo, gia tăng lạm phát, thất nghiệp, bất bình đẳng
xã hội… thì tăng trưởng như vậy sẽ không bền vững Vì vậy, việc kết hợp đúng đắn giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội là rất quan trọng, và cần thiết đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và mỗi địa phương
Kinh nghiệm lịch sử thế giới đã chỉ ra rằng, một đất nước cũng như một địa phương muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, có chất lượng thì phải giải quyết tốt được các vấn đề xã hội như tạo ra nhiều việc làm, đảm bảo công bằng xã hội, phát triển y tế và giáo dục…và ngược lại giải quyết tốt các vấn
đề xã hội sẽ góp phần cho tăng trưởng kinh tế bền vững hơn Bởi vậy có thể nói tăng trưởng kinh tế và giải quyết đồng thời các vấn đề xã hội có mối quan
hệ với nhau và đây là mối quan hệ qua lại, tác động biện chứng lẫn nhau
Trang 7Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thể hiện ở mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X xác định “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” [5, tr.216] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01 – 2011) khẳng định thêm: kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Từ năm
1997 (tái lập tỉnh Vĩnh Phúc) đến nay, kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc luôn phát triển nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1998 – 2000 rất cao, đạt 18,12% Giai đoạn 2001 – 2005 tăng trưởng GDP đạt 15,02% Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt là 18,0%/năm Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc luôn đạt mức cao trong số các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc, tăng gấp 2 lần so với tốc độ trung bình của cả nước Có được những thành tựu này
là do tỉnh đã phát huy tốt lợi thế của mình và có chính sách thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư FDI vào tỉnh Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng ở Vĩnh Phúc các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, việc làm, vấn đề phân phối công bằng, y tế, giáo dục vẫn còn là những vấn đề nhức nhối như: chênh lệch giữa nhóm người có thu nhập cao nhất và thấp nhất đang có xu hướng doãng ra (năm 2008 chỉ tiêu này là khoảng 7 lần, cao hơn nhiều so với mức 5,02 lần của năm 2006), công tác giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải công nghiệp, dân sinh và
tệ nạn xã hội ngày càng có xu hướng tăng Làm thế nào để giải quyết tốt các
Trang 8vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế thời gian tới, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ, với những thuận lợi và khó khăn mới để Vĩnh Phúc tăng trưởng bền vững và trở thành một tỉnh giàu có và phồn vinh nhất miền Bắc như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn thì đó vẫn là vấn đề lớn, có ý nghĩa đối với sự phát triển của tỉnh cần tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu
Chính vì những lý do trên nên tác giả chọn đề tài “Giải quyết các vấn
đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc” làm đề tài
nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, thất nghiệp, công bằng xã hội…trong quá trình tăng trưởng kinh tế đã và đang thu hút không ít sự quan tâm của các học giả với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận án, luận văn, các đề tài khoa học và các công trình dưới dạng tài liệu tham khảo như:
Lê Văn Sang, Kim Ngọc “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳ đổi mới”, NXB, CTQG, 1999
Lê Bộ Lĩnh “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam”, NXB, CTQG, 1998
Đinh Xuân Lý “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách
xã hội trong 25 năm đổi mới (1986 – 2011)”, NXB, ĐHQG Hà Nội, 2011
“Tăng trưởng và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ 1991 đến nay – kinh nghiệm của các nước Asean”, của tác giả Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Trí (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương); NXB, Hà Nội, 2001
Phạm Xuân Nam, “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”, tạp chí cộng sản 2007
Trang 9Nguyễn Quốc Phẩm “Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ và công bằng xã hội” , Tạp chí cộng sản, 2006
Vũ Viết Mỹ, Tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá’, Tạp chí cộng sản, 2006
Đề tài KX.07.03: “Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do
GS Lê Hữu Tầng chủ nhiệm
Luận án tiến sĩ Nguyễn Tấn Hùng: “Phương pháp phân tích mâu thuẫn
và sự vận dụng nó nghiên cứu mâu thuẫn trong quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội ở nước ta”
Luận án tiến sĩ Nguyễn Duy Thục: “Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho Bình Định”
Trong thời gian gần đây cũng có nhiều cuốn sách, bài viết của các học giả khác nhau bàn về vấn đề này
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến mối quan hệ của tăng trưởng kinh tế với một vấn đề xã hội cụ thể như công bằng
xã hội ở phạm vi quốc gia như cuốn “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳ đổi mới”, NXB, CTQG, 1999 của tác giả Lê Văn Sang và Kim Ngọc và cuốn “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam”, NXB, CTQG, 1998 của tác giả Lê Bộ Lĩnh, hay một số bài báo như “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”, tạp chí cộng
sản 2007 của Phạm Xuân Nam, “Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội” , Tạp chí cộng sản, 2006 của Nguyễn Quốc Phẩm Còn cuốn “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986 – 2011)” của tác giả Đinh Xuân Lý lại chủ yếu bàn về cơ sở hình thành, nội dung của những chủ trương, chính sách xã
Trang 10hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới, cũng như đánh giá và rút ra một số kinh nghiệm của Đảng đối với việc thực hiện các chính sách xã hội
Riêng đối với tỉnh Vĩnh Phúc, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về việc giải quyết các vấn đề
xã hội trong quá trình tăng trưởng trong tỉnh Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu với mong muốn làm rõ thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội ở tỉnh và đưa ra các giải pháp để giải quyết tốt hơn các vấn
đề xã hội trong quá trình tăng trưởng ở Vĩnh Phúc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở chỉ ra một số khía cạnh còn tồn tại trong việc giải quyết các vấn đề xã hội ở Vĩnh Phúc, luận văn sẽ đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm xử lý tốt hơn các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, cũng như kinh nghiệm của các địa phương khác về việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc từ 1997 đến nay
- Trên cơ sở lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm của một số địa phương khác đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt hơn các vấn
đề xã hội nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững ở Vĩnh phúc trong những năm tiếp theo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề xã hội nảy sinh và việc giải quyết chúng trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề xã hội có nội dung rất rộng, luận văn chỉ giới hạn khảo cứu, phân tích một số vấn đề xã hội chủ yếu nảy sinh, gắn bó trực tiếp với quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc từ 1997 đến nay như là: Vấn đề việc làm, xóa đói giảm nghèo, vấn đề phân phối công bằng, vấn đề y tế và giáo dục
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài xem chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác – Lênin như cơ sở lý luận để khảo cứu việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế Cùng với nó, đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát thực tiễn, điều tra xã hội học… Các phương pháp này giúp đề tài chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc, những giải pháp có tính định hướng để giải quyết tốt các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế
6 Đóng góp mới của đề tài
Góp phần làm rõ thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc thời gian qua
Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính phương pháp luận nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc giải quyết các
vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế
Trang 12Chương 2: Thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng
trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc từ 1997 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm giải quyết tốt hơn nữa các vấn đề xã
hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tăng trưởng kinh tế bền vững và ý nghĩa của nó
1.1.3 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng của một quốc gia trong quá trình phát triển nền kinh tế, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển
Cùng với thời gian, quan niệm về tăng trưởng kinh tế ngày càng được hoàn thiện hơn Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được hiểu một cách phổ quát nhất theo quan điểm của kinh tế học là sự tăng thêm về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng các thước đo chủ yếu như mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và một vài chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác
Tăng trưởng kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ quốc gia nào, nhưng sẽ là sai lầm nếu theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế ngắn hạn quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng” gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng cao làm cho dân cư giàu lên nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên Vì vậy, vấn đề đặt ra là đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng
Trang 14thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp
lý, bền vững, tức là tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng của nó
Theo P.A Samuelson thì tăng trưởng bền vững là quá trình tăng trưởng
ổn định, kéo dài liên tục trong một thời gian dài (dài hạn), khoảng 20-30 năm Khái niệm này đề cập chủ yếu tới khả năng kéo dài tăng trưởng trong một thời gian dài, mang tính định tính, chưa đi sâu vào định lượng cụ thể trong cấu trúc tăng trưởng, phạm vi các nước được coi là tăng trưởng bền vững có khả năng không chính xác
Quan điểm thứ hai về tăng trưởng được đưa ra do sự tổng hợp quan điểm chung gần đây “Tăng trưởng bền vững là tăng trưởng có chất lượng, gắn chặt với các vấn đề phát triển xă hội”.Quan điểm này chủ yếu đề cập rộng tới chất lượng tăng trưởng kinh tế, vấn đề tạo tính đồng thuận của tăng trưởng với các vấn đề xă hội, con người hướng dần tới phát triển bền vững
Quan điểm thứ ba cho rằng tăng trưởng bền vững là tăng trưởng đạt được trong dài hạn, xuất phát từ đảm bảo được chất lượng tăng trưởng (xét cả
về cấu trúc nội tại và cấu trúc đầu ra), ảnh hưởng đồng thuận với các mục tiêu phát triển xă hội trong từng giai đoạn phát triển
Như vậy, có thể thấy điểm chung của các quan điểm đều cho rằng: tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (thường là từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Theo đó, tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng GDP,
mà phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả 3 nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo Tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao mà chỉ cần cao ở mức hợp lý nhưng bền vững
Trang 15Nếu tăng trưởng kinh tế chỉ là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (nghĩa là chỉ về mặt số lượng của tăng trưởng) thì tăng trưởng kinh tế bền vững đã được gắn với chất lượng tăng trưởng Từ khái niệm (tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (thường là từ 20 –
30 năm) và giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái), có thể thấy nội hàm của tăng trưởng kinh tế bền vững gồm 3 nội dung
cơ bản sau
- Tăng trưởng cao, ổn định, trong một thời gian dài
Đây là nội dung đầu tiên và quan trọng quyết định đến tăng trưởng kinh
tế bền vững, nếu tăng trưởng nhanh, nóng trong một thời gian ngắn hay tăng trưởng chỉ chú trọng đến số lượng, dựa nhiều vào gia tăng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên thì tăng trưởng như vậy sẽ không thể duy trì trong một thời gian dài và ổn định Tăng trưởng kinh tế muốn ổn định và duy trì được trong một thời gian dài thì cần dựa vào việc phát triển các nguồn lực,
sử dụng hiệu quả các nguồn lực dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ, bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, coi trọng tăng trưởng theo chiều sâu, chất lượng, năng suất, hiệu quả, kinh tế tri thức
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Một nền kinh tế sẽ không có được sự tăng trưởng bền vững nếu không giải quyết được các vấn đề xã hội Giải quyết tốt các vấn đề xã hội có nghĩa là thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo ra nhiều việc làm giảm thất nghiệp cho người lao động đến mức thất nghiệp tự nhiên, đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối, phát triển giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với nhóm người yếu thế trong xã hội cũng như phòng chống, hạn chế được các tệ nạn xã hội
Trang 16- Bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái
Bên cạnh việc duy trì được tăng trưởng kinh tế trong một thời gian dài,
ổn định và giải quyết tốt các vấn đề xã hội thì tăng trưởng bền vững còn có một nội dung nữa đó là bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái Bảo vệ, phát triển môi trường sinh thái có nghĩa là bảo vệ khả năng tái sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp hơn tốc độ tái sinh đó, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy thuộc khả năng sáng chế tài nguyên thay thế Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn khả năng tái tạo của môi trường – môi sinh Bảo vệ tốt môi trường sẽ tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội được thuận lợi
Ba mặt trên đây của tăng trưởng kinh tế bền vững có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu thiếu 1 trong 3 nội dung thì sẽ không có tăng trưởng kinh
tế bền vững Trong 3 nội dung trên thì tăng trưởng kinh tế tương đối cao và
ổn định trong thời gian dài (thường là từ 20 – 30 năm) là yếu tố điều kiện, cơ bản còn giải quyết tốt các vấn đề xã hội và giữ gìn được môi trường sinh thái
là điều kiện quyết định làm nên tăng trưởng bền vững
1.1.2 Ý nghĩa của việc tăng trưởng kinh tế bền vững đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Tăng trưởng kinh tế nhanh và dài hạn là cơ sở, tiền đề quyết định giải quyết các vấn đề xã hội Tăng trưởng cao đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều việc làm, giảm thất nghiệp cho người dân Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp
đã được biết đến ở quy luật Okum1 (hay quy luật 2,5% - 1) Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1% Tăng trưởng kinh tế cũng tạo thu nhập cho người dân từ đó sẽ giảm bớt đói nghèo, tạo điều kiện cho sức mua
Trang 17của người dân tăng lên, người dân cũng có điều kiện tiếp cận những dịch vụ tốt về giáo dục, y tế…
Tăng trưởng kinh tế làm cho tích lũy xã hội được nâng cao, ngân sách nhà nước được mở rộng, tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện các chính sách
xã hội về giáo dục, y tế, văn hóa, nâng cao phúc lợi xã hội, quan tâm nhiều hơn đến các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội
Tăng trưởng kinh tế cao cũng đồng nghĩa với việc khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được tạo ra ngày càng nhiều với mẫu mã đa dạng, chất lượng ngày càng cao, làm cho đời sống của nhân dân về vật chất và tinh thần được cải thiện, là tiền đề giảm bớt tình trạng đói nghèo
1.2 Một số vấn đề xã hội chủ yếu nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế và ý nghĩa của nó đối với tăng trưởng bền vững
1.2.1 Khái lược về các vấn đề xã hội chủ yếu
Vấn đề xã hội là những vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực xã hội và có ảnh hưởng đến đời sống con người Đây là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực như việc làm, thu nhập, bất bình đẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, cung ứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình… Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chưa có đủ điều kiện để làm sáng tỏ tất cả các vấn đề xã hội mà chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề
xã hội chủ yếu như: xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội trong phân phối thu nhập, việc làm, giáo dục và y tế hay chăm sóc sức khỏe cho người dân
1.2.1.1 Vấn đề đói nghèo
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và đang thu hút nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế nhằm từng bước xóa bỏ đói nghèo và nâng cao phúc lợi của người dân Tuy nhiên, rất khó để có thể đưa ra một khái niệm chung, thống nhất về thế nào là đói nghèo Rất nhiều công trình nghiên
Trang 18cứu vấn đề này đã cố gắng đưa ra các khái niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng tựu chung đều coi nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, được tổ chức tại Copenhaghen, Đan Mạch (1995) đã đưa ra một định nghĩa về đói nghèo như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1USD/người/ngày,
là số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại
Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băngcốc, Thái Lan (9/1998), cho rằng nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phương
Một quan niệm khác về nghèo đói: nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư có mức sống không thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành 2 loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức sống trung bình của địa phương, ở một thời kỳ nhất định
Trang 19Như vậy, những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh 3 khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức sống tối thiểu dành cho con người, có mức sống thấp hơn cộng đồng, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
1.2.1.2 Vấn đề công bằng trong phân phối thu nhập
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia Công bằng xã hội là sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, bình đẳng trong chế độ phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phương Tây, khái niệm công bằng xã hội được tiếp cận dưới hai góc độ
Công bằng xã hội theo chiều ngang: nghĩa là đối xử như nhau, đối với những cá nhân có hoàn cảnh như nhau và đóng góp như nhau
Công bằng xã hội theo chiều dọc: nghĩa là đối xử khác nhau đối với những người có điều kiện khác nhau như khác biệt bẩm sinh hay có những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau
Nếu như công bằng ngang có thể được thực hiện bởi cơ chế thị trường, thì công bằng dọc cần có sự điều tiết của nhà nước Chính phủ thực thi chính sách phân phối theo công bằng dọc nhằm giảm chênh lệch về phúc lợi giữa các cá nhân Điều này được thể hiện rõ nhất trong chính sách thuế và trợ cấp, đặc biệt là thuế lũy tiến (hoặc trợ cấp lũy thoái), trong đó người có thu nhập càng cao thì thuế suất phải chịu càng cao (hoặc tương ứng là trợ cấp càng thấp, thậm chí âm) và ngược lại
Nguyên nhân của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thì có nhiều nhưng chủ yếu tập trung ở hai nhóm nguyên nhân là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản và từ lao động
Trang 20Như vậy, có thể thấy công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thước đo chủ yếu đối với công bằng xã hội bao gồm: hệ số GINI, đường cong Lorenz, chỉ số Theil
L, so sánh phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư, mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người; hay tiêu chuẩn “40” của WB…
1.2.1.3 Vấn đề việc làm
Việc làm là một trong những mối quan tâm hàng đầu của con người trong cuộc sống vì có việc làm con người mới có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của mình
Theo quan điểm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề đem lại một lợi ích nào
đó cho xã hội không bị pháp luật ngăn cấm đem lại thu nhập để nuôi sống bản than và gia đình
Luật Lao động năm 2012 điều 9 định nghĩa “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc làm khi người ấy chiếm được 1 vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo
ra sản phẩm và thu nhập của người ấy
Quan niệm về việc làm cũng thay đổi theo các giai đoạn phát triển kinh
tế xã hội Trước đây, người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong biên chế nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn lại thì không được coi là có việc làm Ngày nay, quan điểm này không tồn tại nhiều trong số những người đi tìm việc làm Những người này sẵn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là
Trang 21hoạt động lao động của họ được nhà nước khuyến khích không ngăn cấm và đem lại thu nhập mong muốn cho họ là được
Phân loại việc làm:
Nếu xét ở góc độ xã hội, trong một nền kinh tế:
+ Việc làm đầy đủ có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
+ Thiếu việc làm là tỷ lệ thất nghiệp cao hơn mức thất nhiệp tự nhiên Còn khi xét ở góc độ cá nhân người lao động thì:
+ Việc làm đầy đủ là những việc làm, làm đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành
+ Thiếu việc làm là những việc làm không sử dụng hết quỹ thời gian lao động và mang lại thu nhập dưới mức lương tối thiểu hiện hành
Khi nói về việc làm thì khái niệm thất nghiệp cũng thường được người
ta nhắc tới Thất nghiệp theo cách hiểu chung nhất thì đó là tình trạng người lao động có khả năng lao động, mong muốn được làm việc mà không tìm được việc làm
Đào tạo là quá trình phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
và thái độ, tư cách… đòi hỏi ở mỗi cá nhân để thực hiện nhiệm vụ chuyên
Trang 22môn nhất định Như vậy, đào tạo được hiểu là một dạng đặc thù của giáo dục, trong đó nó hướng về giáo dục chuyên môn nghề nghiệp, và nó cũng tuân theo những quy luật chung của giáo dục
Đối tượng của giáo dục chính là con người, là vốn quý nhất, là nguồn nội lực cốt lõi của sự tồn tại và phát triển của đất nước, cho nên phát triển giáo dục đào tạo là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, là một trong những chính sách xã hội cơ bản trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước
Y tế là lĩnh vực việc chăm sóc sức khỏe cho người dân, nâng cao thể lực cũng như kéo dài tuổi thọ, và chất lượng dân số cho mọi người trong xã hội Y tế công cộng là khoa học và nghệ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội Y tế công cộng có nhiều lĩnh vực nhỏ nhưng có thể chia ra các phần: dịch tễ học, sinh thống kê và dịch vụ y tế Những vấn đề liên quan đến môi trường,
xã hội, nhân chủng học và sức khỏe nghề nghiệp cũng là lĩnh vực quan trọng trong y tế công cộng
1.2.2 Tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề xã hội
Để có được tăng trưởng kinh tế bền vững thì cần có sự đóng góp của rất nhiều yếu tố, nhưng trong các yếu tố đó thì giải quyết tốt các vấn đề xã hội có một vai trò rất to lớn
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là khi xóa được đói, giảm được nghèo, tạo ra nhiều việc làm, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, phát triển giáo dục, y tế… thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng nhanh và bền vững Ngược lại, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết như thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, giáo dục, y tế không được phát triển… sẽ tạo nên sự bất ổn định về mặt xã hội, nên
Trang 23kinh tế không sử dụng được một cách hiệu quả lực lượng lao động, từ đó sẽ trở thành những lực cản đối với tăng trưởng kinh tế bền vững
Khi giáo dục, y tế được phát triển thì chất lượng nguồn nhân lực sẽ được cải thiện cả về thể lực và trí lực, kỹ năng sản xuất của mọi người được nâng cao, từ đây sẽ thúc đẩy việc gia tăng vốn nhân lực của xã hội, mà như chúng ta đã biết, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng hàng đầu của tăng trưởng kinh tế Do đó, nền kinh tế sẽ có điều kiện tăng trưởng bền vững trong dài hạn
Trong ngắn hạn, sự gia tăng chênh lệch và bất bình đẳng trong thu nhập
có thể là cần thiết để khởi động quá trình tăng trưởng Tuy nhiên, nếu xét trong dài hạn, thì gia tăng khoảng cách về thu nhập lại có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và đe dọa tính chất bền vững của nó Không những thế nó
có thể dẫn đến phân hóa giàu nghèo, căng thẳng và bất ổn về xã hội Và điều này chính là thực tế đã xảy ra ở một số nước Nam Mỹ như Argentina, Peru, Venezuela
Không thể nói rằng một nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ đói nghèo cao lại là 1 nền kinh tế tăng trưởng bền vững được Thất nghiệp và đói nghèo là cặp bài trùng, là nguy cơ của các cuộc xung đột xã hội, phân cực xã hội và trong dài hạn sẽ làm cho nền kinh tế không thể tăng trưởng nhanh được chứ không cần nói đến tăng trưởng bền vững
Hơn nữa, khi giải quyết tốt các vấn đề xã hội, quốc gia sẽ có được sự
ổn định về chính trị, từ đó tạo ra môi trường đầu tư an toàn để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể yên tâm tiến hành sản xuất kinh doanh
Như vậy, có thể thấy rằng việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tạo ra nhiều việc làm, phát triển giáo dục, y tế, đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối thu nhập có vai trò rất lớn (cùng với tăng
Trang 24trưởng kinh tế trong thời gian dài và bảo vệ môi trường sinh thái) trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững của một nền kinh tế
1.2.3 Nội dung của việc giải quyết các vấn đề xã hội trên
Giải quyết các vấn đề xã hội là một công việc phức tạp và cần sử dụng tổng hợp, đồng thời các biện pháp Giải quyết các vấn đề xã hội phải dựa trên
cơ sở kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế, của địa phương + Đối với vấn đề đói nghèo thì nội dung giải quyết là xóa đói giảm nghèo Xuất phát từ những nội dung cơ bản của đói nghèo, Ngân hàng thế giới (WB) đã đề xuất một chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm vào những nội dung sau
- Mở rộng cơ hội cho người nghèo Người nghèo rất cần được trao đổi những cơ hội vật chất như việc làm, tín dụng, đường sá, điện nước, thị trường tiêu thụ, trường học, dịch vụ vệ sinh và y tế - vì đó là những cơ hội để tăng cường sức khỏe học vấn và những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của họ Đồng thời cần có những cơ chế để tạo thêm cơ hội mới và đền bù cho những người bị thua thiệt Trong xã hội có sự bất bình đẳng cao thì tăng cường sự bình đẳng là yếu tố đặc biệt quan trọng để có được tiến bộ nhanh chóng trong việc giảm đói nghèo
- Tăng cường quyền lực cho người nghèo Việc mở rộng cơ hội cho người nghèo phụ thuộc rất lớn vào vào các thể chế nhà nước và xã hội, vì thế những thể chế này phải rất nhạy bén và có trách nhiệm với người nghèo Muốn vậy, người nghèo phải có tiếng nói và quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến họ, nhất là ở cấp địa phương
- Tăng cường an sinh xã hội An sinh xã hội là các chương trình giúp giảm bớt nguy cơ người nghèo bị tổn thương trước những cú sốc kinh tế, thiên tai,
ốm đau, bệnh tật và bị ngược đãi
Trang 25Ở Việt Nam nội dung của xóa đói giảm nghèo được chính phủ xác định ở những nội dung sau
Một là, xóa đói, giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh,
hiệu quả và bền vững, tạo nguồn lực trợ giúp cho người nghèo
Hai là, xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn thể
nhân dân, mà trước hết là của chính người nghèo
Ba là, phải triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xóa đói, giảm
nghèo bằng các nguồn lực trong và ngoài nước
Bốn là, việc hỗ trợ cho vay vốn phải gắn với đào tạo, hướng dẫn và phải
căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, từng vùng
Năm là, phải luôn quan tâm đến vấn đề tái nghèo trong dân
+ Đối với vấn đề thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập Để thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập thì chúng ta phải hạn chế, xóa bỏ được tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và cách tốt nhất là hạn chế và xóa bỏ những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập (bất bình đẳng trong phân phối tài sản và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập) Thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, chuyển giao trực tiếp hoặc trợ cấp lương thực, giáo dục, y tế, dạy nghề… hay tăng cường việc cung cấp công cộng các hàng hóa và dịch vụ công cộng hướng tới người nghèo cũng sẽ làm giảm sự bất bình đẳng trong thu nhập
Ngoài ra tạo cơ hội cho tất cả mọi người được tiếp cận với các nguồn lực
xã hội, phát huy hết khả năng của bản thân cũng là việc cần thực hiện để đảm bảo công bằng trong thu nhập
Theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả
Trang 26lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [6, tr.74]
+ Với vấn đề việc làm, nội dung giải quyết lại là tạo ra nhiều việc làm, giảm thất nghiệp
Tạo việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tức là bao gồm cả giáo dục, đào tạo, phổ cập nghề nghiệp cho người lao động Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp
Muốn giảm bớt thất nghiệp xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm, và
có mức tiền công tốt hơn, ưu tiên sử dụng công nghệ có sử dụng nhiều lao động Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, nơi lao động dư thừa nhiều, nhưng vốn lại tương đối khan hiếm việc làm có thể tạo ra nhiều hơn, nhanh hơn với việc ưu tiên phát triển các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp sử dụng công nghệ thâm dụng lao động
Hoàn thiện, phát triển thị trường lao dộng để đáp ứng kịp thời, nhanh chóng cả yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động Tạo ra những cầu nối, nơi gặp gỡ của người sử dụng lao động và người lao động Cần phát triển hệ thống định hướng nghề nghiệp; phát triển hệ thống dịch vụ việc làm; phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động
Tăng cường, hoàn thiện và hỗ trợ các chương trình dạy nghề, đào tạo lại tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận được với thị trường lao động và
tổ chức tốt thị trường lao động sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thể rút ngắn được thời gian tìm việc bởi cơ cấu và trình
Trang 27độ của người tìm việc ngày càng sát hơn với cơ cấu kinh tế và sự đòi hỏi của doanh nghiệp
+ Về nội dung phát triển giáo dục, y tế
- Giáo dục
Trong xã hội hiện đại, giáo dục là điều kiện quan trọng để hình thành những phẩm chất cần thiết cho con người sống, tham gia vào thị trường lao động Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, người dân phải tự trả tiền cho các dịch vụ giáo dục Do đó, không phải ai cũng có điều kiện để tiếp cận các dịch vụ giáo dục, nhất là những người nghèo, tuy nhiên, đây lại chính là mầm mống của sự bất bình đẳng xã hội, nghèo đói Chính vì vậy mà ngày nay giáo dục đã trở thành quốc sách của các quốc gia trên thế giới Để phát triển giáo dục cần:
Có chính sách giáo dục hợp lý, đảm bảo chất lượng giáo dục cho phù hợp với yêu cầu của thời đại Thay đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, cần có nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng đảm bảo chất lượng của phát triển giáo dục, không làm giáo dục theo kiểu “phong trào”, không chạy theo số lượng, mở rộng quy mô đơn thuần
Xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục công trở thành hệ thống xương sống của nền giáo dục quốc dân theo hướng mở, hiện đại và liên thông, tạo điều kiện cho mọi người được học tập, học tập suốt đời Phát triển một trình độ giáo dục tối thiểu rộng khắp để mọi người có thể tiếp cận
Bên cạnh hệ thống giáo dục công, cần tạo điều kiện cho giáo dục tư nhân phát triển theo định hướng của quốc gia
Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường, nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp
Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên có chất lượng, tâm huyết với nghề đây là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển
Trang 28Mở rộng và phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chế độ đãi ngộ tương xứng để cho nhà giáo yên tâm công tác, nâng cao chất lượng, dốc hết tâm huyết với nghề
Đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục theo hướng hiện đại, thường xuyên đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục
- Y tế
Phát triển y tế có vai trò rất lớn đối với việc nâng cao thể lực và chất lượng giống nòi Nếu có một hệ thống y tế công cộng rộng khắp, chất lượng sức khỏe người dân sẽ được đảm bảo tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động tốt hơn Để phát triển y tế cần có một số biện pháp như:
Đa dạng hóa các hình thức chăm sóc sức khỏe y tế, mở rộng mạng lưới khám chữa bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân bên cạnh hỗ trợ một số đối tượng nhất định
Thực hiện xã hội hóa y tế, cho phép tư nhân hành nghề y dược dưới sự quản lý của nhà nước
Thực hiện chế độ bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện, tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế, bác sỹ, y tá vừa có tài vừa có đức, đồng thời thực hiện nâng cao chính sách đãi ngộ với họ
Đầu tư có trọng điểm, nâng cao chất lượng trang thiết bị, cơ sở hạ tầng các bệnh viện
Có thể nói các vấn đề xã hội nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, việc thực hiện tốt nội dung này cũng làm góp phần hỗ trợ cho những nội dung còn lại được thực hiện tốt hơn Nếu người dân được giáo dục, đào tạo để có một trình độ nhất định và có một sức khỏe tốt thì họ sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận đến một việc làm, và có việc làm là họ đã có thu nhập, từ đó vấn đề
Trang 29sẽ được giải quyết, các tệ nạn xã hội cũng sẽ giảm, phân phối thu nhập được đảm bảo hơn
1.3 Kinh nghiệm giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở một số tỉnh khác
1.3.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng
Từ khi trở thành đơn vị hành chính mới trực thuộc Trung ương (1997) đến nay, Thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển toàn diện cả về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là công tác quy hoạch chỉnh trang
đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng… gắn liền với các vấn đề an sinh xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của đa số nhân dân được cải thiện không ngừng, diện mạo của Thành phố ngày càng khang trang
Trong quá trình phát triển của mình, Đà Nẵng luôn xác định: Phối kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển các lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục để phát triển ổn định, cải thiện đời sống, nâng cao sức khoẻ và dân trí nhân dân Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái, phát triển bền vững Gắn phát triển kinh tế với thực hiện công bằng
xã hội và ổn định chính trị, trật tự xã hội bảo đảm quốc phòng an ninh
Thành phố đã triển khai rất nhiều những biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề xã hội như: Năm
2000, Đà Nẵng đã triển khai chương trình “5 không, 3 có”, đó là không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người cướp của và ba có
là có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị đã làm nên thương hiệu và bản sắc riêng của Đà Nẵng Ngày 10/08/2009 Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 24-CT/TU về tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học
và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Hưởng
Trang 30ứng thực hiện chủ trương của Thường vụ Thành ủy, ngày 15/09/2009 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố tổ chức lễ phát động “60 ngày hành động cao điểm vì người nghèo” năm 2009 nhằm tiếp tục huy động các nguồn lực từ cộng đồng để giúp đỡ những người nghèo khó Bên cạnh đó, Thành phố còn tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình trọng điểm, công trình quan trọng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Thành phố Vào đầu tháng 1 năm 2010, Đà Nẵng đã triển khai chương trình nhà ở cho công nhân, chung cư cho người thu nhập thấp, kí túc xá sinh viên, theo đó Thành phố đã khởi công xây dựng chung cư cho người thu nhập thấp tại các vị trí đã được phê duyệt
Đặc biệt, Đà Nẵng đã có chính sách hỗ trợ người lao động học nghề mới từ năm 2010 Đây là chính sách hỗ trợ người lao động được ưu đãi nhất
từ trước tới nay ở Đà Nẵng và so với các quy định hiện hành của Nhà nước Theo đó, Đà Nẵng đã bổ sung nhiều đối tượng được hưởng hỗ trợ là hộ nghèo, bộ đội xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người cai nghiện ma túy, mại dâm đã và đang hòa nhập cộng đồng, những người thuộc diện bị thu hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa còn những người nghiện ma túy đang cai nghiện tập trung, thanh thiếu niên hư đang được giáo dưỡng, Thành phố cấp kinh phí trực tiếp cho các trung tâm để đào tạo nghề cho họ Cùng với đó, danh mục ngành nghề được mở rộng với 25 nghề phù hợp với các ngành, nghề thị trường lao động đang cần và nhiều ngành nghề mới như sửa chữa điện thoại di động, xe gắn máy, vệ sĩ, trồng cây cảnh, chăm sóc người già…
Thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương sớm hưởng ứng, triển khai các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hóa
ở khu dân cư”, và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khởi xướng Đó là sự đóng góp ngày lương
Trang 31của các công nhân, của mỗi cán bộ công nhân viên chức, các chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang, của bà con nông dân, của các cháu thiếu nhi, nhất là sự hưởng ứng của các doanh nghiệp… Với sự đóng góp này cùng với các nguồn
hỗ trợ khác, Thành phố đã tập trung xây dựng mới và sửa chữa được 7.150 căn nhà Đại đoàn kết (trong đó xây dựng mới 4874 căn) giúp cho hộ nghèo có chỗ ở ổn định, nhiều hộ nghèo đã thực sự đổi đời nhờ sự cưu mang đùm bọc này Đồng thời Quỹ “Vì người nghèo” đã góp phần giúp các cháu thiếu nhi bị tim bẩm sinh có thêm kinh phí để phẫu thuật, giành lại sự sống; giúp phụ nữ nghèo đơn thân có cơ hội vươn lên; giúp học sinh nghèo trong diện nguy cơ
bỏ học có điều kiện đến trường
Đà Nẵng cũng đã thực hiện xã hội hóa rất rộng rãi các vấn đề xã hội tiêu biểu như việc kêu gọi các nhà hảo tâm trong và ngoài nước xây dựng bệnh viện ung thư, bệnh viện phụ nữ cho các bệnh nhân chữa bệnh miễn phí
Từ cuối năm 2000, nhờ thực hện tốt Chương trình “5 không”, Đà Nẵng
đã hoàn thành mục tiêu không có hộ đói; cuối năm 2004, cơ bản hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo, trong 2 năm 2001 và 2002 hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ đến người cuối cùng trong độ tuổi 6-35, tập trung 1.537 lượt người lang thang xin ăn vào Trung tâm Bảo trợ xã hội, giải quyết cho 14.570 lượt đối tượng xã hội được hưởng chế độ trợ cấp cứu trợ thường xuyên, giải quyết cứu trợ đột xuất cho 101.964 lượt người gặp khó khăn, hoạn nạn Về tội phạm ma túy, từ năm 2001 đến 2005, Công an thành phố đã bắt và xử lý 245
vụ, gồm 705 đối tượng, kiềm chế được sự gia tăng tội phạm về ma túy Sau "5 không", Đà Nẵng cũng đạt được nhiều kết quả từ chương trình "3 có", bình quân hằng năm Đà Nẵng đã giải quyết công ăn việc làm cho 30 - 32 nghìn lao động, hơn 9.000 căn hộ được dành cho những người thiếu chỗ ở Trong khi
đó, "Thành phố môi trường", một đề án mới đang được triển khai cũng có thể
Trang 32coi là hướng phát triển của việc xây dựng nếp sống văn hóa - văn minh đô thị
1.3.2 Kinh nghiệm của Bình Dương
Sau 15 năm tái lập tỉnh đến nay, kế thừa và phát huy thành quả của tỉnh Sông Bé, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Dương đã không ngừng phát triển kinh tế, tạo bước đột phá và trở thành một tỉnh phát triển có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa cao trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hội nhập kinh tế quốc tế Kinh tế của tỉnh luôn giữ mức tăng trưởng cao Tổng sản phẩm năm 2011 tăng 6,5 lần so với năm 1997 Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng 62,2% - 33,7% - 4,1%;
so với năm 1997 là 50,4% - 26,8% - 22,8% Ở giai đoạn 2006 – 2010, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng trưởng bình quân 14%/năm, GDP bình quân đầu người đạt 30,1 triệu đồng/người/năm (gấp 2,2 lần năm 2005); cơ cấu kinh
tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, ổn định tỷ trọng công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2010 cơ cấu kinh tế của tỉnh
là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng 63% - 32,6% - 4,4%
Bên cạnh phát triển nhanh về kinh tế Bình Dương cũng đã giải quyết rất tốt các vấn đề xã hội theo quan điểm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh
có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Về giải quyết việc làm cho người lao động, tỉnh Bình Dương đã ban hành rất nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động như gần đây nhất ngày 24/5/2012, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1392/QĐ-UBND quy định chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn
Trang 33tỉnh giai đoạn 2012-2015 và trong những năm qua mỗi năm tỉnh đã giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động trên địa bàn tỉnh Năm 1997, khi tái lập tỉnh, thu nhập bình quân đầu người 5,8 triệu đồng; sau 15 năm thu nhập bình quân đã tăng 6,4 lần với 36,9 triệu đồng/người đây là kết quả nói lên thành tích đạt được của tỉnh trong việc giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động
Về công tác xóa đói giảm nghèo Bình Dương cho đến nay không còn
hộ đói, chất lượng hộ nghèo của Bình Dương cũng cao hơn bởi tiêu chí hộ nghèo Bình Dương cao gấp đôi tiêu chí hộ nghèo Trung ương và là một trong những tỉnh, thành có tiêu chí hộ nghèo cao nhất nước (chuẩn nghèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 cao gấp 2 lần chuẩn nghèo của Trung ương Theo đó, hộ nghèo theo tiêu chí mới của tỉnh có thu nhập từ 800.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn và có thu nhập từ 1.000.000 đồng/người/tháng ở thành thị) Kết quả 100% hộ nghèo đã được thụ hưởng chính sách này với số tiền 2.938 triệu đồng, đồng thời chi tiền trợ cấp khó khăn cho 10.882 hộ nghèo với số tiền 2.721 triệu đồng và cấp bảo hiểm y tế cho người nghèo, bảo đảm cho người nghèo được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, toàn tỉnh đến nay đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 53.882 người nghèo, tổng số tiền là 19,768 tỷ đồng Thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ về thực hiện 6 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, giữ vững kinh tế vĩ mô
và bảo đảm an sinh xã hội, ngành LĐ-TB&XH Bình Dương thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội cho người nghèo và các đối tượng xã hội Năm
2011, tổng kinh phí từ ngân sách và vận động đã chi hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn trên 121 tỷ đồng (không kể các nguồn hỗ trợ vay vốn)
Thêm vào đó, Bình Dương còn thực hiện chính sách hỗ trợ học phí, sinh hoạt, chi phí học tập theo Quyết định số 56/2010/QĐ-UBND ngày 22-12-2010 của ủy ban nhân dân tỉnh, đến nay các huyện, thị đã cấp kinh phí hỗ
Trang 34trợ miễn, giảm học phí cho học sinh, sinh viên gia đình chính sách, mồ côi, hộ nghèo tổng số đối tượng được hỗ trợ là 19.755 người, số tiền 20,932 tỷ đồng Cho vay vốn giải quyết việc làm với doanh số cho vay 15.541 triệu đồng với
870 lượt hộ vay Vận động xây tặng 377 căn nhà đại đoàn kết với tổng kinh phí 10,469 tỷ đồng cho hộ nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh
Về giáo dục và đào tạo Sự nghiệp giáo dục – đào tạo liên tục phát triển, chất lượng giáo dục và tỷ lệ học sinh giỏi các cấp ngày càng chuyển biến rõ nét Nếu những ngày đầu tái lập tỉnh, Bình Dương được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; năm 2004 được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; thì đến nay, Bình Dương đã có 72/91 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học, chiếm tỷ lệ 79,1% và đến cuối năm 2011 có 109/327 trường mầm non và phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ
lệ 33,3% tổng số trường công lập toàn tỉnh Hệ thống giáo dục – đào tạo tiếp tục phát triển, trình độ của đội ngũ giáo viên cơ bản đạt chuẩn hóa, cơ sở vật chất và chủ trương xã hội hóa giáo dục được quan tâm; chất lượng giáo dục – đào tạo được nâng lên, đáp ứng nhu cầu học tập, làm việc, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hiện toàn tỉnh có 369 đơn vị, trường học (tăng 58 đơn vị so với đầu nhiệm kỳ), 08 trường Đại học, 06 trường Cao đẳng, 12 trường Trung cấp và 30 Cơ sở đào tạo nghề
Về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đầu tư trang thiết bị, củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở Đến nay, 100% trạm y tế xã có bác
sĩ phục vụ; 100% xã có nhân viên y tế khu, ấp hoạt động Có 88/91 trạm y tế
Trang 35xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế , đạt tỷ lệ 96,7% Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 0,5% so cùng kỳ
Sau 15 năm tái lập tỉnh, Bình Dương luôn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đáp nghĩa đền ơn Bình Dương luôn làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các gia đình chính sách, bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, thương binh, các gia đình nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng neo đơn Từ năm 1997 đến nay, Bình Dương đã xây dựng và sửa chữa 4.383 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí hơn 72 tỷ đồng; xây tặng 5.856 căn nhà đại đoàn kết với tổng kinh phí hơn 67 tỷ đồng Và tiếp theo là năm 2011, đã xây tặng 46 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 29 ngôi nhà với tổng trị giá trên 3 tỷ đồng, tặng 83 sổ tiết kiệm trị giá 41,5 triệu đồng
1.3.3 Bài học kinh nghiệm
Từ kinh nghiệm của Đà Nẵng và Bình Dương về giải quyết các vấn đề
xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ta có thể rút ra một số bài học
Về vấn đề nhận thức, phải luôn coi trọng giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, tạo việc làm cho người lao động… trong quá trình tăng trưởng kinh tế Kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Về các biện pháp thực hiện có thể kể đến một số biện pháp như:
Triển khai các chính sách trợ cấp cho người nghèo, các đối tượng khó khăn, dễ bị tổn thương để đảm bảo công bằng xã hội
Thực hiện chương trình xây nhà ở cho những người có thu nhập thấp, xây kí túc xá cho học sinh, sinh viên và công nhân
Triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động, nhất
là các đối tượng là người nghèo, bộ đội xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người thuộc diện bị thu hồi đất sản xuất, di dời giải tỏa
Trang 36Đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng cho giáo dục và y tế từ cơ sở Xây dựng phát triển hệ thống giáo dục, y tế công cộng đồng thời khuyến khích tư nhân tham gia vào phát triển y tế, giáo dục theo định hướng của nhà nước
Thực hiện xã hội hóa trong giải quyết các vấn đề xã hội Kêu gọi, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia vào giải quyết các vấn đề
xã hội như hỗ trợ người nghèo, người tàn tật
Trang 37
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VĨNH PHÚC TỪ 1997 ĐẾN NAY
2.1 Khái quát về quá trình tăng trưởng kinh tế ở Vĩnh Phúc từ
1997 đến nay
2.1.1 Giai đoạn từ 1997 – 2000
Ngày 1/1/1997 khi mới được tái lập (theo Nghị quyết ngày 26/11/1996
về việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ của Quốc hội khóa IX), Vĩnh Phúc
là một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điểm xuất phát thấp, GDP bình quân đầu người là 140USD, chỉ bằng 47,8% mức bình quân của cả nước, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 52% giá trị GDP, công nghiệp chỉ chiếm có 12,86% Trình độ công nghệ, thiết bị của hầu hết các doanh nghiệp còn lạc hậu, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt dưới 100 tỷ đồng
Trong giai đoạn 1997 – 2000, tốc độ tăng GDP của Vĩnh Phúc đạt 17,8%/năm (mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII là 18 – 20%) trong đó: Công nghiệp – xây dựng tăng 42,55%/năm, dịch vụ tăng 11,85%, nông nghiệp tăng 5,7%/năm Đặc biệt trong thời kỳ 1998 – 2000 tốc độ tăng trưởng GDP của toàn tỉnh đạt 18,12% Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 1997 –
2000 tăng bình quân 75,7%, giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tăng bình quân 5,8%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 13,7%, sản lượng lương thực bình quân đạt 35,6 vạn tấn/năm, đặc biệt năm 2000 đạt 40,2 vạn tấn Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 20,978 triệu USD, trong đó xuất khẩu địa phương 7,75 triệu USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng tăng từ 12,86% năm 1997 lên 39,18% năm 2000, tương ứng tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm từ 52,54% xuống còn 29,3%
Trang 38Cùng với mức tăng trưởng nhanh về kinh tế thì thu nhập bình quân đầu người GDP/người của tỉnh cũng tăng đáng kể Năm 1995, thu nhập bình quân đầu người của Vĩnh Phúc mới chỉ có 1,23 triệu đồng (bằng 40,9% mức bình quân cả nước); năm 1997 tăng lên 1,89 triệu đồng (bằng 53,5 mức bình quân
cả nước); nhưng năm 2000 con số này của tỉnh đạt 3,83 triệu đồng (bằng 67,2% của cả nước)
2.1.2 Giai đoạn từ 2001 đến nay
Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, kinh tế Vĩnh Phúc đã có những bước chuyển vượt bậc và toàn diện, tốc độ tăng trưởng của tỉnh luôn đạt ở mức cao Tính chung cả giai đoạn 2001 – 2010, GDP Vĩnh Phúc tăng trưởng bình quân 16,5%/năm, trong đó: nông, lâm thủy sản tăng 60%/năm; công nghiệp – xây dựng tăng 20,7%/năm; dịch vụ tăng 17,1%/năm
Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế Vĩnh Phúc từ 2001 – 2011 Đơn vị tính: %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Mức
Nguồn: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc
Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc
từ 2001 – 2011 hầu hết đều đạt trên 11% (trừ năm 2009 là 8,34% do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra năm 2008), năm đạt tốc độ
Trang 39tăng trưởng cao nhất là 2007 (21,86%), tiếp theo là các năm 2006 (19,76%),
2010 (19,1%), 2008 (17,77%), 2005 và 2003 (17,50%), 2011 (14,83%), 2004 (14%), 2002 (12,9%), 2001 (11,93%), và năm thấp nhất là 2009 với mức tăng chỉ có 8,34% Nhìn chung tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao trong số các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tăng gấp 2 lần so với tốc độ trung bình của cả nước
Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, GDP bình quân đầu người trong tỉnh cũng tăng khá nhanh Năm 2000 GDP/người của tỉnh (tính theo giá thực tế) mới chỉ đạt 3,83 triệu đồng, bằng 78,2% so với Vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 67,2% so với mức bình quân cả nước Năm 2002, con số này là 4,62 triệu đồng, quy ra USD theo tỷ giá hối đoái chính thức đạt 302USD, năm 2005 đạt 515USD Nhưng đến năm 2007 GDP/người của tỉnh
đã đạt 15,74 triệu đồng cao hơn mức trung bình đồng bằng sông Hồng (14,5 triệu đồng) và mức bình quân của cả nước (13,421 triệu đồng) Năm 2008 GDP/người (theo giá thực tế) đạt 22,2 triệu đồng (tương đương 1.300USD, cao gấp 1,29 lần so với mức bình quân cả nước 17,2 triệu đồng) Năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 33,6 triệu đồng (tương đương 1.630USD, gấp 3,45 lần so với năm 2005 và gấp gần 12 lần so với năm 1997), cao hơn nhiều
so với dự kiến bình quân cả nước là 22,5 triệu đồng và mức bình quân các tỉnh đồng bằng sông Hồng là 25,5 triệu đồng
Trang 40Biểu đồ 2.1 GDP/người tỉnh Vĩnh Phúc so với cả nước và vùng ĐBSH
Đơn vị: Triệu đồng, giá hiện hành
Nguồn: Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ - Bộ KH & ĐT, 2009
Như vậy, xét về GDP/người Vĩnh Phúc có ưu thế khá thuận lợi so với nhiều tỉnh trong cả nước, GDP bình quân đầu người của tỉnh năm 2007 xếp thứ 11 và năm 2008 xếp thứ 6 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nước (chỉ thấp hơn các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa – Vùng Tàu và Cần Thơ)